Steve Wozniak không ngồi gần khu vực phía trước hội trường SLAC cùng với Lee Felsenstein trong các cuộc họp của Homebrew. Anh cũng không thường xuyên tham gia các phiên lập bản đồ. Anh không có một kế hoạch xã hội vĩ đại nào, không ấp ủ bất kỳ kế hoạch nào cho cuộc công kích vào nền tảng của hội xử lý theo lô. Ở mỗi buổi họp, Steve Wozniak sẽ ngồi ở phía cuối hội trường, cùng với nhóm nhỏ những người theo dõi ngẫu nhiên hâm mộ những khám phá kỹ thuật số của anh – hầu hết là những cậu nhóc choai choai nghiện máy tính đang trong độ tuổi học phổ thông bị thu hút bởi uy tín tuyệt đối từ các hack của anh. Trông anh như một kẻ vô công rồi nghề với mái tóc lòa xòa trên vai, nuôi râu chỉ vì ngại tốn thời gian cạo hơn là mong muốn cải thiện vẻ bề ngoài, còn quần áo – chủ yếu là quần bò, áo phông thể thao – chưa bao giờ có vẻ gì vừa vặn với dáng người.
Dù vậy, đó vẫn là Steve Wozniak, hay Wozniak hoặc “Woz” như cách bạn bè anh thường gọi, là biểu tượng điển hình cho tinh thần và tính hiệp trợ của Câu lạc bộ Máy tính Homebrew. Chính Woz và chiếc máy tính mà anh thiết kế sẽ đưa Đạo đức Hacker, ít nhất là về phương diện hack phần cứng, vươn tới đỉnh cao nhất. Và nó sẽ trở thành di sản của Homebrew.
Stephen Wozniak không có được cái nhìn về chủ nghĩa hacker thông qua những nỗ lực cá nhân và những suy tư chính trị như Lee Felsenstein. Anh giống Richard Greenblatt và Stewart Nelson hơn: một hacker bẩm sinh. Anh lớn lên ở Cupertino, California, giữa những con phố quanh co cùng những ngôi nhà nhỏ dành cho một hộ gia đình, và các tòa nhà một tầng với cửa sổ thưa thớt, nơi gieo mầm silicon và sau này trở thành trung tâm cuộc sống của anh. Ngay từ khi còn học phổ thông, Woz đã để đầu óc trôi theo những suy nghĩ toán học tới mức mẹ anh phải gõ đầu đưa anh trở về với thực tại. Anh đã giành chiến thắng trong một cuộc thi khoa học ở tuổi 13 khi chế tạo một cỗ máy giống như máy tính có thể thực hiện được phép cộng và phép trừ. Alan Baum, bạn của anh, sau này đã thuật lại thời gian ở trường phổ thông Homestead như sau: “Tôi thấy một thằng nhóc đang nguệch ngoạc các biểu đồ rõ ràng này trên một mảnh giấy. Tôi hỏi, ‘Cái gì thế?’ và cậu ấy đáp: ‘Tôi đang thiết kế một chiếc máy tính.’ Cậu ấy đã tự học lập trình.”
Baum ấn tượng tới mức anh cũng tham gia vào công cuộc tiếp cận máy tính cùng cậu bạn cùng lớp kỳ lạ này, và thông qua các mối quan hệ ở Thung lũng Silicon đậm chất kỹ thuật, họ đã xoay xở để tiếp cận được những cỗ máy tính chia sẻ thời gian khác nhau. Vào thứ Tư hàng tuần, họ sẽ rời trường và nhờ một người bạn giúp lỉnh vào một phòng máy tính ở công ty Sylvania. Họ sẽ lập trình để những chiếc máy tính đó thực hiện các công việc như in ra tất cả các lũy thừa của 2 hay tìm số nguyên tố. Hai người bạn đã theo đuổi ngành công nghiệp máy tính với niềm đam mê đầy nghiêm túc giống như cách mà những người hâm mộ thể thao theo dõi các đội tuyển ưa thích của họ. Mỗi khi nghe tin một chiếc máy tính mới ra lò, họ sẽ viết thư cho nhà sản xuất, dù đó là Digital hay Control Data, xin một cuốn hướng dẫn sử dụng, và yêu cầu của họ thường được đáp ứng ngay. Khi cuốn sách được chuyển tới, họ sẽ đọc ngấu nghiến nó. Ngay lập tức, họ giở tới phần mô tả tập lệnh của máy tính. Họ ghi lại số lượng thanh ghi, cũng như cách mà nó thực hiện phép cộng, nhân và chia. Từ tập lệnh của chiếc máy tính, họ có thể biết được đặc điểm của nó và liệu nó có dễ sử dụng hay không. Và liệu đó có phải là một cỗ máy mà họ vẫn hằng ao ước? Nếu đúng là như vậy, Woz nhớ lại, anh “dành hàng giờ trên lớp để viết mã dù không thể kiểm thử nó”. Một lần, sau khi nhận được một cuốn sách sử dụng máy tính Data General Nova, anh và Baum đã tự nhận trách nhiệm thiết kế lại nó, thậm chí còn gửi thiết kế mới cho công ty, để phòng trường hợp Data General muốn triển khai ý tưởng của hai cậu bé học sinh phổ thông.
“Việc đó [thiết kế máy tính] có vẻ hết sức rõ ràng,” Baum hồi tưởng. “Dường như đó là một việc rất quan trọng. Chúng tôi thấy chúng thật hấp dẫn. Và thú vị nữa.” Trong thời gian học phổ thông, Wozniak tiếp tục ăn cắp thêm thời gian sử dụng máy tính để hoàn chỉnh kỹ năng của mình, Baum thường kinh ngạc trước các mẹo lập trình mà Woz sáng tạo ra. “Dường như cậu ấy luôn phát minh ra tất cả các mẹo vặt cho riêng mình,” Baum kể lại. “Steve nhìn nhận mọi việc theo một cách hoàn toàn khác. Anh ấy thường nói: ‘Sao mình không thử cái này nhỉ?’ Anh ấy luôn có xu hướng sử dụng tất cả các kỹ năng giải quyết vấn đề có thể bởi các thiết kế thông thường thôi không đủ. Steve phải là người giỏi nhất. Anh ấy sẽ làm những việc mà không ai nghĩ tới, sử dụng mọi mẹo lập trình có thể. Bằng cách sử dụng tất cả các mẹo lập trình, đôi khi bạn có thể tìm ra các phương pháp tốt hơn để thực hiện những công việc ấy.”
Woz tốt nghiệp phổ thông trước Baum, sau đó học đại học luôn. Nhưng vài năm sau, cả hai đều cùng làm việc trong hãng máy tính Hewlett-Packard (HP), một hãng công nghệ cao, dành hết nguồn lực cho máy tính hiệu năng cao, giống như những chiếc Mercedes so với những chiếc Caddies của IBM, công việc này thực sự vĩ đại và Woz cảm thấy rất hài lòng. Dù đã kết hôn nhưng máy tính vẫn là ưu tiên số một của anh. Bên cạnh công việc thiết kế các con chip tính toán và mạch số học tại HP, anh cũng làm một vài công việc thiết kế khác cho công ty trò chơi điện tử Atari, nơi Steve Jobs, một người bạn học phổ thông khác của anh đang làm việc. Việc này mang đến thêm nhiều lợi ích, giống như khi anh chơi điện tử xèng ở các trung tâm bowling để nhận được phần thưởng là một chiếc pizza cho người vượt qua một mức điểm nhất định. Sau khi ăn vài chiếc pizza, những người bạn đã sửng sốt hỏi anh làm cách nào để chiến thắng trò chơi dễ dàng đến thế. “Vì tôi đã thiết kế nó chứ sao,” Woz nói giữa những tràng cười thắt ruột.
Là một người hay đùa và có khiếu hài hước, Woz đã vận hành một dịch vụ “gọi điện truyện cười” ở nhà, cung cấp kho tàng các câu chuyện cười kiểu Ba Lan. Đó không phải là thú vui duy nhất mà anh làm với điện thoại. Anh và Jobs đã được truyền cảm hứng sau khi đọc một bài viết trên tờ Esquire số ra năm 1971 về một huyền thoại được biết đến với cái tên Đội trưởng Răng rắc, nhà sáng chế những chiếc hộp xanh – các thiết bị cho phép thực hiện các cuộc gọi đường dài miễn phí. Jobs và Woz đã xây dựng một thiết bị tương tự cho riêng họ, và họ không chỉ dùng nó để thực hiện các cuộc gọi đường dài mà sau này còn bán chúng cho tất cả các phòng trong các ký túc xá của Berkeley. Woz từng dùng chiếc hộp của anh để xem liệu có thể gọi cho Giáo hoàng hay không; anh đã giả vờ là Henry Kissinger và suýt nữa có thể gặp được Đức Ngài trước khi Vatican bắt kịp anh.
Đó là cuộc sống tự do tự tại của Woz, tất cả đều xoay quanh việc hack HP, tự mình hack và chơi trò chơi điện tử. Anh thích chơi điện tử, đặc biệt là những trò như Pong. Anh cũng chơi tennis; giống như cách mà Bill Gosper chơi bóng bàn, Woz rất thích những quả bóng xoáy. Như sau này, anh trả lời phỏng vấn rằng: “Chiến thắng không quan trọng bằng việc đuổi theo quả bóng.” Quan điểm đó đã được anh áp dụng với cả việc hack máy tính và chơi tennis.
Anh luôn mơ tới việc thiết kế một chiếc máy tính cho riêng mình. Anh đã tự chế tạo cho mình một chiếc máy chữ TV, và đó quả là bước khởi đầu tốt đẹp. Tất nhiên, mục tiêu của anh là chiếc máy tính được tạo ra để khuyến khích hack – đó là một Công cụ để Chế tạo Công cụ, một hệ thống để chế tạo hệ thống. Nó sẽ thông minh hơn tất cả những gì đi trước.
Đó là năm 1975, và hầu hết mọi người khi nghe kể về giấc mơ của anh đều nghĩ đầu óc anh có vấn đề.
Sau khi thấy thông báo về cuộc họp của Homebrew trên bảng tin, Alan Baum đã thông báo cho Woz biết. Cả hai đều tới dự cuộc họp. Baum, người tự nhận rằng mình quá lười để có thể xây dựng một chiếc máy tính trong khi vẫn bị vây quanh bởi những cỗ máy tối tân tại HP. Nhưng Woz thì run lên vì sung sướng. Ở đây có 30 người giống anh – họ là những người gắn bó sâu sắc tới mức viển vông với việc chế tạo những chiếc máy tính cho riêng họ. Khi Marty Spergel phát các bảng số liệu về chip 8008, Woz đã mang một bản về nhà và xem xét nó cho tới khi nhận ra rằng, hóa ra những chiếc máy tính mà anh đang nghĩ tới thiết kế – những cỗ máy lớn như của Digital Equipment sản xuất – đều không cần thiết. Bạn có thể chế tạo nó bằng vi chip, giống như chiếc Altair mà anh chứng kiến tối hôm đó. Anh tìm cách thu thập tất cả các tài liệu có thể về vi xử lý và xin thêm thông tin bổ sung, tạo các tập tin trên đủ loại thiết bị và chip đầu vào/đầu ra, rồi bắt đầu thiết kế mạch cho những chiếc máy tính mới nhất này. Bản tin Câu lạc bộ Máy tính Homebrew thứ hai đã đăng báo cáo của anh về tất cả các hoạt động:
Có thiết kế TVT của tôi… có phiên bản Pong của tôi, một trò chơi đột phá, một đầu đọc NRZI cho cát-sét rất đơn giản! Tôi đang tập trung vào một màn hình hiển thị cờ vua TV 17 chip (bao gồm ba bảng mạch lưu trữ); một màn hình TV 30 chip. Kỹ năng: thiết kế kỹ thuật số, giao diện, thiết bị đầu vào/đầu ra, cần gấp, có giản đồ.
Với Woz, không khí tại Homebrew vô cùng hoàn hảo; có các hoạt động và nguồn năng lượng tập trung vào thử nghiệm, và sáng tạo điện tử giữ vai trò thiết yếu đối với anh như hơi thở và đồ ăn. Một người thường không hay kết giao cũng có thể kết bạn ở đây. Woz thường dùng thiết bị đầu cuối tại nhà để truy cập vào tài khoản được thiết lập cho các thành viên Homebrew trên dịch vụ Call Computer. (Đây là dịch vụ cho phép mọi người sử dụng thiết bị đầu cuối tại nhà để truy cập một chiếc máy tính lớn qua điện thoại). Có một chương trình trên máy tính giống như chức năng trên hệ thống ITS của MIT cho phép hai người “trò chuyện” với nhau và chia sẻ thông tin. Woz không chỉ sử dụng nó để giao tiếp với mọi người qua mạng mà anh còn hack sâu vào bên trong hệ thống để tìm cách đột nhập vào các cuộc trò chuyện của người khác. Vì thế, khi Gordon French đang bịa chuyện về những mẹo vặt mới của mình trên chiếc 8008 Chicken Hawk thì không hiểu sao thiết bị đầu cuối tại nhà anh lại in ra Các câu chuyện cười Ba Lan tục tĩu, và anh không bao giờ biết được rằng Steve Wozniak ở cách đó hàng dặm đang ôm bụng cười.
Woz cũng gặp Randy Wigginton, một vận động viên điền kinh, một cậu nhóc tóc vàng yêu máy tính mới 14 tuổi nhưng đã xoay xở kiếm được một công việc tại Call Computer. Wigginton sống cùng khu phố với khu nhà vườn huyên náo mà Wozniak đang sống cùng vợ, và anh thường lái xe đưa cậu bé tới các buổi họp của Homebrew. Từ trước khi học phổ thông, Wigginton đã đem lòng yêu máy tính. Woz là thần tượng của cậu vì những hiểu biết sâu sắc của anh về máy tính, và cậu cũng vô cùng trân trọng việc Woz, anh chàng 25 tuổi, “muốn nói chuyện với tất cả mọi người về kỹ thuật”, ngay cả với một cậu bé 14 tuổi như Wigginton. Dù bố mẹ Wigginton thường lo lắng rằng máy tính đang kiểm soát cuộc sống của con trai họ, nhưng sự ám ảnh đó ngày càng lớn trong cậu khi cậu thường nhận được những hướng dẫn không chính thức của Woz tại nhà hàng Denny trên đường Foothill sau khi cả hai cùng tham dự cuộc họp. Họ sẽ lái chiếc Malibu đã nát bươm của Woz với núi rác ở ghế sau – hàng chục chiếc túi của McDonald’s cùng các tạp chí kỹ thuật, tất cả đều ướt sũng do thói quen không kéo cửa sổ lên khi trời mưa của Woz – và dừng lại để mua Coca, thịt rán và vòng hành rán. “Tôi sẽ hỏi Woz bất kỳ câu hỏi ngu ngốc nào chỉ để khiến anh ấy nói luôn mồm – kiểu như ‘Trình phiên dịch BASIC hoạt động như thế nào?’ – và ngồi đó nghe anh ấy nói mãi,” Wigginton nhớ lại.
Wozniak nhanh chóng làm quen với một thành viên Homebrew khác làm việc tại Call Computer – John Draper. Là một kỹ sư thời vụ, John Draper được biết đến nhiều hơn với biệt danh “Đội trưởng Răng rắc”, anh chính là người hùng “hack điện thoại” trong bài báo trên tờ Esquire đã truyền cảm hứng cho Woz vào năm 1971. Draper, với giọng nói khó kiểm soát, đôi khi đều đều giống như những hồi cuối cùng của chiếc còi báo cháy, ăn mặc lôi thôi và có vẻ không bao giờ dùng lược chải mái tóc đen dài của mình, nhận được biệt danh đó sau khi phát hiện ra rằng, nếu ta thổi cái còi có trong hộp ngũ cốc ăn sáng Captain Crunch – Đội trưởng Răng rắc, thì đó chính là tông 2.600 chu kỳ mà công ty điện thoại sử dụng để truyền các tín hiệu đường dài qua đường dây điện thoại. John Draper, sau này trở thành một phi công đóng quân tại nước ngoài, đã sử dụng kiến thức này để gọi cho bạn bè ở quê nhà.
Nhưng mối quan tâm của Draper còn vượt ra ngoài những cuộc gọi miễn phí – là một kỹ sư với khuynh hướng hacker ngầm hướng về những khám phá sẽ sớm bộc lộ tầm ảnh hưởng lớn, anh vô cùng đam mê hệ thống của công ty điện thoại. “Tôi hack hệ thống vì một và chỉ một lý do duy nhất,” anh trả lời phóng viên của Esquire, tờ báo đã giúp anh trở nên nổi tiếng hồi năm 1971. “Tôi đang tìm hiểu về một hệ thống. Công ty điện thoại là một Hệ thống. Máy tính cũng là một Hệ thống. Anh có hiểu ý tôi nói không? Khi làm những việc tôi đang làm thì đó chỉ là khám phá Hệ thống mà thôi. Đó là trách nhiệm của tôi. Công ty điện thoại chẳng có ý nghĩa gì ngoài việc là một chiếc máy tính.” Đó chính là sự mê hoặc mà các hacker ở TMRC, đặc biệt là Stewart Nelson (chàng hacker MIT đã hack điện thoại từ thời thơ ấu), cùng chia sẻ. Nhưng Draper không có được sự tiếp cận giống như của Nelson đối với các công cụ khám phá phức tạp, anh phải chế tạo ra các công cụ truy cập của riêng mình. (Tại thời điểm Nelson gặp Draper, các hacker MIT không mấy ấn tượng với khả năng kỹ thuật của Draper). Anh đã được hỗ trợ khi khám phá ra mạng lưới hack điện thoại cùng sở thích với mình, nhiều người trong số họ là những người mù có khả năng xác định một cách dễ dàng các tông có thể được truyền qua hệ thống. Draper kinh ngạc khi biết rằng còn có các hệ thống điện thoại luân phiên mà bạn có thể dùng để tiếp cận các bảng mạch kiểm thử, các đường truyền xác thực để thâm nhập vào các cuộc gọi của người khác (anh từng khiến cô gái mà anh thích giật mình bằng cách xen vào cuộc gọi của cô ấy với một người đàn ông khác), và cả các thiết bị chuyển mạch nước ngoài. Anh nhanh chóng tìm ra cách nhảy từ mạch này sang mạch khác và làm chủ các bí mật của “hộp xanh”, giống như điều chỉnh của Stewart Nelson trên PDP-1 trước đó một thập kỷ, anh có thể gửi tín hiệu qua đường điện thoại để có được vô số cuộc gọi đường dài miễn phí.
Nhưng John Draper, người thường hành xử bốc đồng tới mức trông anh như thể một đứa trẻ to xác khóc lóc đòi các kiến thức hệ thống như đòi sữa mẹ, đã không nhận được sự chú ý của các hacker MIT – anh có thể bị phỉnh phờ một cách dễ dàng nhằm moi móc thông tin về hộp xanh từ những người muốn bán hộp tới những ai muốn có các cuộc gọi miễn phí – như Woz và Jobs đã làm với từng phòng trong các ký túc xá ở Berkeley.
Những cuộc du ngoạn điện thoại của riêng Draper thì dễ dàng hơn. Hành động điển hình của anh là tìm kiếm và “vạch ra” các mã truy cập khác nhau tới các nước khác, rồi sử dụng các mã này để nhảy cóc từ một đường trục này tới đường trục khác, lắng nghe một loạt các cú gõ có tính chất gợi mở khi tín hiệu của anh nảy từ một vệ tinh truyền thông này sang vệ tinh truyền thông khác. Dù vậy, sau bài viết trên tờ Esquire, các nhà chức trách đã nhắm tới anh và vào năm 1972, anh bị bắt khi đang thực hiện một cuộc gọi bất hợp pháp tới một số điện thoại ở Sydney, Australia để mang tới cho người gọi các giai điệu đỉnh cao của nước này. Trong lần phạm tội đầu tiên này, anh được hưởng án tù treo.
Sau đó, anh quay sang lập trình máy tính và nhanh chóng trở thành một hacker hợp thức. Ấn tượng của mọi người về anh trong các buổi tiệc tối ở công ty People’s Computer là anh thường lấy thức ăn chất cao như núi rồi ăn lấy ăn để. Là người kịch liệt bài xích việc hút thuốc, anh sẽ hét toáng lên khi ai đó châm thuốc hút. Anh vẫn quan tâm đến hack điện thoại, và các chủ đề sẽ nói ở các bữa tiệc tối, bao gồm những thứ như giành quyền truy cập mạng ARPAnet, việc mà anh coi là hoàn toàn chính đáng – “Tôi có một số tích hợp cần phải thực hiện phân tích. Chiếc máy tính ở MIT [có một chương trình giúp tôi làm được việc đó]. Vì thế, tôi đã dùng nó,” anh giải thích.
Khi tàn tiệc, anh lại lao đến Homebrew. Anh là cố vấn của Call Computer và là người sắp xếp để Câu lạc bộ Homebrew có được tài khoản riêng. Anh trở thành người hâm mộ cuồng nhiệt các hack của Woz, còn Woz sướng rơn khi được gặp hacker điện thoại nổi tiếng đã tạo cảm hứng cho những cuộc phiêu lưu hộp xanh của mình. Chẳng có gì lạ khi thấy họ bên cạnh nhau phía sau hội trường vào một đêm cuối năm 1975 khi Dan Sokol tiếp cận họ. Sokol là anh chàng có mái tóc vàng rất dài, người sẽ đứng lên trong một buổi họp Homebrew và kiểm tra xem có ai đến từ Intel ở đó không, rồi đem những con chip 8080 ra xem ai có món đồ tốt nào muốn trao đổi không.
Khi đó, Sokol sắp phá sản vì sử dụng thiết bị đầu cuối gia đình truy cập vào tài khoản của Call Computer. Do Sokol sống ở Santa Cruz còn Call Computer ở Palo Alto nên hóa đơn điện thoại của anh tốn rất nhiều tiền; anh thường truy cập máy tính 40-50 giờ mỗi tuần. Giải pháp xuất hiện khi Sokol được giới thiệu với Woz và John Draper ở sau hội trường SLAC.
“Có phải Đội trưởng Răng rắc không?”
“Đúng, là tôi đây!” Draper xác nhận rồi Sokol ngay lập tức hỏi dồn các câu hỏi về chế tạo hộp xanh để cho phép anh thực hiện các cuộc gọi từ Santa Cruz tới Palo Alto miễn phí. Dù án treo của Draper cấm anh tiết lộ bí mật hack điện thoại nhưng anh không thể cưỡng lại được yêu cầu của mọi người; chất hacker trong huyết quản của anh cứ thế để dòng thông tin được tuôn chảy. “15 phút sau, anh ấy tiếp tục cho tôi biết tất cả những gì cần biết [để chế tạo một chiếc hộp xanh],” Sokol kể lại. Nhưng khi Sokol hoàn thành chiếc hộp xanh của mình, nó lại không hoạt động được; anh thông báo cho Draper rồi thứ Bảy sau đó, Draper cùng Steve Wozniak đã tới. Sau khi nhìn vào chiếc hộp của Sokol, Draper nói: “Trông có vẻ ổn đấy,” rồi bắt đầu hiệu chỉnh tín hiệu bằng tai. Lần này, khi Sokol thử lại, chiếc hộp đã hoạt động. Sokol chỉ dùng chiếc hộp để kết nối với máy tính – một hành động mà các hacker dùng để biện minh cho việc phá luật – mà không dùng cho các mục đích cá nhân như gọi điện cho họ hàng ở xa.
Woz đã xem chiếc “kluge” của Sokol, đó là một chiếc máy tính mà anh có được nhờ trao đổi các linh kiện tự do và cả hai đã phàn nàn về chi phí đắt đỏ của việc hack phần cứng. Woz phàn nàn rằng dù làm việc cho Hewlett-Packard nhưng các nhân viên bán hàng không cung cấp cho anh bất kỳ một con chip nào. Trong buổi họp Homebrew tiếp theo, Dan Sokol đã giới thiệu cho Woz một chiếc hộp chứa đầy linh kiện có thể hoạt động được nhờ bộ vi xử lý Motorola 6800. Woz đã có cuốn sách hướng dẫn cho 6800, và bắt đầu thiết kế một chiếc máy tính giao tiếp với chiếc máy chữ TV mà anh đã chế tạo. Khi ai đó mang một chiếc máy tính có bao gồm video tới cuộc họp Homebrew, anh biết rằng chiếc máy tính của mình cũng sẽ có video dựng sẵn như thế. Anh thích ý tưởng về một chiếc máy tính mà mọi người có thể chơi trò chơi điện tử trên đó. Vào thời điểm đó, chương trình máy tính Wescon đang được tổ chức, Woz đã tới khoang của MOS Technology và phát hiện ra rằng họ đang bán các bản mẫu đầu tiên của con chip vi xử lý mới, chiếc 6502 với giá chỉ 20 đô-la. Vì con chip đó không khác nhiều lắm so với chiếc Motorola 6800, nên anh đã mua cả lố chip và quyết định rằng 6502 sẽ là trái tim trong chiếc máy mới của mình.
Woz không định chế tạo máy tính vì mục đích thương mại. Anh chỉ chế tạo máy tính để chơi và trình diễn với bạn bè. Anh đã chia sẻ những việc mình đang làm với người bạn Steve Jobs ở công ty Atari, người rất quan tâm tới các thiết bị đầu cuối và đang nghĩ tới việc mở một công ty để chế tạo chúng. Cứ hai tuần một lần, Woz lại tới Homebrew, xem hoặc nghe các tin tức mới, anh không bao giờ gặp rắc rối với việc theo dõi các chi tiết kỹ thuật vì thông tin là tự do và miễn phí với tất cả mọi người. Có một vài thứ mà anh muốn tích hợp vào chiếc máy tính của mình; chẳng hạn như khi nhìn thấy bảng mạch Dazzler, anh muốn có giao diện đồ họa có màu. Tất nhiên, anh cũng muốn một chương trình BASIC, và do chương trình BASIC duy nhất chạy được trên 6502 khi đó là chương trình BASIC Rút gọn của Tom Pittman, nên anh đã tự viết một chương trình BASIC “lớn”. Anh đưa mã nguồn cho bất kỳ ai muốn và thậm chí còn cho in một số chương trình con của mình trên Dr. Dobbs Journal.
Sau khi hoàn thành, thứ anh có được không phải là bộ linh kiện thực sự hay một chiếc máy tính đã lắp ráp mà là một bảng đầy mạch và chip. Bạn không thể làm được gì với bảng mạch đó, nhưng khi gắn nó với một bộ nguồn, bàn phím, màn hình và máy phát băng cát-sét, bạn sẽ có ngay một chiếc máy tính hoạt động với màn hình video, bộ nhớ lớn và thiết bị đầu vào/đầu ra. Sau đó, bạn có thể tải chương trình “Basic Số nguyên” của Steve Wozniak để viết chương trình. Chiếc máy tính của anh có nhiều điểm đặc biệt, và một trong số đó là anh đã truyền sức mạnh cũng như khả năng cho một chiếc Altair, và một vài bảng mạch khác trên một bảng mạch nhỏ hơn rất nhiều, những thứ mà người khác cần hai chip thì Woz chỉ cần một. Việc này không chỉ khôn ngoan về mặt tài chính mà còn phần nào khiến ta nhớ đến những ngày tháng tối giản mã ở TMRC, khi Samson, Saunders và Kotok không ngừng cố gắng để trau chuốt một chương trình con về số lượng câu lệnh ngắn nhất có thể.
Woz giải thích lý do tại sao anh dùng rất ít chip: “Tôi làm việc đó vì các mục tiêu thẩm mỹ và tôi muốn thể hiện sự thông minh. Thách thức mà tôi đặt ra cho mình là phải tạo ra thiết kế cần ít chip nhất có thể. Tôi sẽ nghĩ cách để làm việc này nhanh hơn hay cần bảng mạch nhỏ hơn hoặc thông minh hơn. Nếu [đang làm việc với thứ gì đó] coi 6 câu lệnh là đủ tốt rồi, tôi sẽ cố gắng chỉ dùng 5, 3 hoặc 2 câu lệnh nếu muốn thắng [lớn]. Tôi muốn làm những thứ tinh tế và không phổ biến. Mọi vấn đề đều có thể có giải pháp tốt hơn khi bạn bắt đầu nghĩ về nó khác với cách thông thường. Và tôi xem xét chúng – hằng ngày tôi xem xét một số vấn đề và tự hỏi liệu đó có phải là vấn đề phần cứng hay không, sau đó tôi sẽ bắt đầu xem lại các kỹ thuật mà tôi đã thực hiện trước đó như bộ đếm hồi tiếp hay thanh ghi chip… Đó là cách tiếp cận then chốt, tìm kiếm điểm cuối nhỏ bé cụ thể từ một hệ thống… việc đó về cơ bản đã tạo ra một loại toán học khác. Các khám phá đã thúc đẩy tôi bởi khi muốn trình diễn thứ gì đó, tôi hy vọng rằng những người khác cũng nhìn vào đó và nói rằng: ‘Ơn Chúa, đó là cách mà tôi muốn làm việc đó,’ và đấy là thứ mà tôi có được từ Câu lạc bộ Homebrew.”
Woz đã mang tới Homebrew bảng mạch của mình cùng các phần cứng giúp nó hoạt động. Anh không có máy ghi âm cát-sét và trong khi cuộc họp diễn ra, anh ngồi bên ngoài gõ điên cuồng các mã thập lục phân – khoảng 3.000 byte – để nhập trình phiên dịch BASIC 3K vào chiếc máy. Anh sẽ kiểm thử một phần chương trình, và nếu chương trình kiểm thử thất bại, anh sẽ làm lại từ đầu. Cuối cùng, nó cũng chạy được dù chỉ là một phiên bản sơ lược không có đầy đủ tập lệnh, và khi được hỏi, Woz sẽ giải thích bằng giọng nói nhanh và gấp gáp của mình về những gì mà bảng mạch này có thể làm được.
Không lâu trước khi Woz nói chuyện với toàn bộ Câu lạc bộ Máy tính Homebrew, giơ bảng mạch của anh lên và nhận được câu hỏi từ các thành viên Câu lạc bộ, hầu hết mọi người đều hỏi anh đã chế tạo nó như thế nào, và liệu anh có bổ sung tính năng này hoặc tính năng kia cho nó hay không. Đó là những ý tưởng hay, và Woz sẽ mang thiết lập của mình tới hai tuần một lần, ngồi ở phía sau hội trường nơi có ổ cắm điện, thu thập các gợi ý cải tiến rồi về thực hiện chúng.
Steve Jobs rất phấn khích với bảng mạch; anh cho rằng, giống như Processor Technology và Cromemco, họ nên sản xuất bảng mạch với số lượng lớn và bán chúng. Anh chàng Jobs 22 tuổi khi đó, trẻ hơn Woz vài tuổi, nhưng chẳng sạch sẽ hơn là bao. Anh sở hữu “bộ râu kiểu Fidel Castro”, thường đi chân trần, đam mê triết học Phương Đông theo kiểu California và theo chủ nghĩa ăn chay. Anh là một người rất có tổ chức, giỏi hùng biện và có tài thuyết phục người khác. Cặp đôi nhanh chóng được biết đến với danh hiệu “hai anh chàng Steve” và chiếc máy tính của Woz được đặt tên là Apple, một cái tên do Jobs, người từng làm việc trong một trang trại cây ăn quả, nghĩ ra. Dù địa chỉ chính thức của công ty Apple vẫn chưa thành lập là một hòm thư, nhưng Jobs và Woz đã thực sự làm việc trong một chiếc ga-ra. Để có vốn hoạt động, Jobs đã bán chiếc Volkswagen còn Woz đã bán chiếc máy tính HP lập trình được của anh. Job đặt quảng cáo trên các tờ báo dành cho người yêu thích máy tính và bắt đầu bán những chiếc máy tính Apple với giá 666,66 đô-la. Bất kỳ ai ở Homebrew đều có thể xem sơ đồ thiết kế của nó, chương trình BASIC của Woz được cung cấp miễn phí khi mua một thiết bị kết nối máy tính với máy ghi âm cát-sét, và Woz đã đăng các chương trình con cho “màn hình” 6502 để người dùng có thể nhìn vào bộ nhớ và xem các câu lệnh đang được lưu trữ trên các tạp chí như Dr. Dobbs. Quảng cáo của Apple thậm chí còn cho hay: “Triết lý của chúng tôi là cung cấp phần mềm miễn phí hoặc với mức phí tối thiểu cho những chiếc máy của mình.”
Trong quá trình kinh doanh, Steve Wozniak bắt đầu tập trung vào thiết kế mở rộng cho bảng mạch, thứ thậm chí còn gây ấn tượng nhiều hơn với các thành viên của Homebrew. Steve Jobs đã lên kế hoạch bán thật nhiều máy tính được chế tạo dựa trên thiết kế mới này nên anh bắt đầu chuẩn bị tiền, tìm kiếm sự giúp đỡ và những hỗ trợ chuyên nghiệp để chuẩn bị cho ngày sản phẩm ra mắt. Phiên bản máy tính mới của Steve Wozniak được gọi là Apple II, và khi đó, không ai dám ngờ rằng nó sẽ trở thành chiếc máy tính quan trọng nhất trong lịch sử.
☆ ☆ ☆
Chính môi trường đầy sáng tạo tại Homebrew đã giúp Steve Wozniak có được hướng đi trong quá trình ấp ủ Apple II. Việc trao đổi thông tin, được tiếp cận với các gợi ý kỹ thuật bí mật, năng lượng sáng tạo không ngừng nghỉ và cơ hội khiến mọi người kinh ngạc bằng các chương trình hoặc thiết kế được hack rất tốt… đã trở thành động cơ tiếp thêm sức mạnh cho khát khao cháy bỏng mà Steve Wozniak vốn đã có từ trước: chế tạo ra một chiếc máy tính mà anh muốn dùng. Điện toán là ranh giới của những khát khao trong anh; anh không hề bị ám ảnh bởi sự giàu sang hay danh vọng, hoặc mơ về một thế giới mà người dùng cuối được tiếp xúc với máy tính. Anh thích công việc của mình ở HP và yêu không khí hăng say khi được làm việc cùng những kỹ sư hàng đầu trong ngành công nghiệp máy tính. Có lúc, Wozniak đã hỏi các sếp của anh ở HP xem liệu họ có muốn anh thiết kế máy tính Apple cho họ không – nhưng họ lại nghĩ chúng rất khó bán và để anh được tự bán nó. Khi HP định thiết lập một bộ phận máy tính cá nhân có kích thước nhỏ, Wozniak đã ứng tuyển; nhưng, theo lời Alan Baum, “Trưởng phòng Thí nghiệm không mấy ấn tượng vì anh ấy chẳng có bằng cấp gì cả.” (Woz đã rời Berkeley trước khi tốt nghiệp.)
Vì thế, anh lại tập trung vào Apple II, thường là tới 4 giờ sáng – và anh nhanh chóng trở thành thành viên Homebrew tiếp theo phải ly hôn. Thiết kế Apple II không hề đơn giản. Có hàng trăm vấn đề khi chế tạo một tổ hợp máy tính và thiết bị đầu cuối độc lập và sẵn sàng để lập trình; Woz thậm chí còn không có các nguồn lực và dòng tiền đều đặn mà Bob Marsh và Lee Felsenstein có khi thiết kế Sol, tổ hợp máy tính và thiết bị đầu cuối đầu tiên đồng thời cũng là nguồn cảm hứng cho Apple II. Nhưng anh có tầm nhìn về cỗ máy mà anh muốn, và có thể nhận được sự giúp đỡ từ Homebrew cùng các chuyên gia khác ở Thung lũng. Cuối cùng, anh cũng đã hoàn thành một sản phẩm mẫu có khả năng hoạt động. Anh và Randy Wigginton đã mang nó – một mớ bòng bong lỏng lẻo nhưng được kết nối đầy đủ các linh kiện và bảng mạch – tới một cuộc họp của Homebrew vào tháng 12 năm 1976 trong một vài chiếc hộp, cùng một chiếc TV màu cũ mèm của Sears.
Nhiều năm sau, những người từng tham dự buổi họp Homebrew hôm đó lại hồi tưởng theo những phiên bản khác nhau về phản ứng mà mọi người dành cho phần biểu diễn của Stephen Wozniak về chiếc Apple II. Wozniak và những người hâm mộ khác của chip 6502 có ấn tượng rằng máy tính sẽ khiến tất cả mọi người hứng thú. Những người khác cho rằng nó chỉ đơn giản là một bước tiến nữa trong những nấc thang điên cuồng hướng về mục tiêu tối thượng là máy tính sản xuất tại gia. Như Lee Felsenstein nói: “Mọi người ở Homebrew không ngồi yên chờ mọi thứ liên quan đến Apple xảy ra: Họ đã chế tạo ra chúng, thảo luận về chúng và trình diễn chúng.”
Có một thứ không khiến các thành viên Câu lạc bộ hứng thú là việc mô hình sản xuất của Apple chỉ cung cấp dạng lắp ráp đầy đủ – các hacker phần cứng tự hỏi tại sao mọi người lại phải mua máy tính khi mà bạn không thể tự lắp ráp nó cho riêng mình? Những người bảo thủ khó tính, tôn trọng sự chắc chắn, và khả năng có thể tiên đoán như các sản phẩm của Processor Technology và Cromemco cho rằng chiếc Apple thật thú vị, đặc biệt là các bảng mạch rút gọn và khả năng hiển thị màu của nó, nhưng nó vẫn không tốt bằng Sol, cỗ máy dựa trên bus Altair quen thuộc (mới được đặt lại tên là bus S-100 với sự đồng thuận của các nhà sản xuất, đặc biệt là Marsh và Garland, khi họ đã chán ngấy việc phải nhắc tới một linh kiện trong chiếc máy tính của mình bằng tên của đối thủ, người không mang tinh thần hacker và có vẻ bực bội về sự tồn tại của họ.) Chiếc Apple có bus hoàn toàn mới cùng một hệ điều hành mới tinh, cả hai đều được Woz thiết kế; thêm vào đó, bộ não của nó là con chip 6502 không mấy quen thuộc. Đồng thời, một công ty đã được chứng minh năng lực như Processor Technology sẽ có khả năng hỗ trợ một chiếc máy tính trong lĩnh vực này tốt hơn so với Apple, vốn chỉ gồm hai gã trai trong một ga-ra.
Dù vậy, về cơ bản, sự bất đồng lại đến từ các vấn đề liên quan đến tín ngưỡng của thiết kế. Chiếc Sol phản ánh nỗi sợ hãi cố hữu của Lee Felsenstein, được định hình bởi khoa học viễn tưởng hậu hủy diệt mà nền tảng công nghiệp có thể sẽ chộp lấy bất kỳ lúc nào, và mọi người cần phải có khả năng đánh cắp các linh kiện để duy trì sự hoạt động của chiếc máy trong đống đổ nát của một xã hội đã bị phá hủy; lý tưởng nhất là thiết kế của cỗ máy cần phải đủ rõ ràng để người dùng biết cần phải đặt các linh kiện đó ở đâu.
“Tôi đã thiết kế sao cho bạn có thể lấy linh kiện từ một thùng sắt vụn và ghép chúng lại với nhau,” Felsenstein kể lại. “Một phần vì đó là những gì mà tôi đã bắt đầu, nhưng lý do chính là bởi tôi không tin tưởng cấu trúc công nghiệp – họ có thể coi chúng tôi là những kẻ lập dị và không cung cấp những linh kiện mà chúng tôi cần.” Triết lý này biểu hiện trong VDN và bản thân chiếc Sol, cả hai sản phẩm đều được thực hiện sạch sẽ và rõ ràng, theo cách không quá hào nhoáng đi kèm với một sự thiếu ủy mị kiểu vô sản.
Chiếc Apple của Steve Wozniak là một câu chuyện khác. Lớn lên trong một gia đình bình thường ở vùng ngoại ô xa xôi của California, thế giới của những ngôi nhà một hộ gia đình, các hội chợ khoa học và bánh mì của McDonald’s, Woz đã sinh ra trong sự an toàn và chở che. Anh luôn cảm thấy thoải mái khi nắm bắt các cơ hội, để thiết kế của mình tự do bay bổng theo trí tưởng tượng. Anh đã tạo ra một kỳ quan thẩm mỹ bằng cách tối ưu hóa một số lượng hữu hạn các linh kiện điện tử có sẵn sao cho khi được bố trí và kết nối một cách tài tình, chúng không chỉ đem đến sức mạnh của một chiếc PDP-1 mà còn cả màu sắc, chuyển động và âm thanh nữa.
Nếu được làm theo những gì mình muốn, Woz sẽ bổ sung tính năng mãi mãi. Chỉ hai ngày trước cuộc họp, anh đã chỉnh sửa để chiếc máy có thể hiển thị các hình ảnh đồ họa màu với độ phân giải cao. Anh không làm việc đó theo cách thông thường là bổ sung các con chip đặc biệt giúp thực hiện việc đó, mà thay vào đó, anh đã tìm ra cách để bộ xử lý trung tâm, con chip 6502, có thể làm gấp đôi công việc.
Tài năng của Woz trong việc tối ưu hóa đôi khi có các hiệu ứng kỳ lạ. Chẳng hạn, cách mà chiếc Apple hiển thị một hình ảnh lên màn hình rất khác so với phương pháp hiển thị theo một thứ tự thích hợp của Sol; chiếc Apple vẽ màn hình theo một cách có vẻ ngẫu nhiên và lộn xộn. Việc này không hề ngẫu nhiên chút nào mà là do Woz phát hiện ra rằng làm theo cách đó có thể giúp tiết kiệm một câu lệnh cho mỗi dòng hiển thị lên màn hình. Đó là một mẹo thông minh, dù bị một số người khinh bỉ khi cho rằng nó biểu thị cho sự không thể đoán định và “tính dễ bong tróc” của Apple, nhưng có rất nhiều người ngưỡng mộ điều đó khi họ biết trân trọng vẻ đẹp của một thiết kế đã được tối ưu hóa. Hơn tất cả, thiết kế này phản ánh sự biểu dương sức mạnh của việc hack, và một kỹ sư vô cùng hiểu biết có thể thấy những điều chỉnh thiết kế thông minh, sự bay bổng đầy lạc quan của trí tưởng tượng và các câu chuyện cười kỳ cục gắn liền với cỗ máy.
Chris Espinosa, người quen nhỏ tuổi của Randy Wigginton, cho rằng Apple II là chiếc máy tính siêu việt. Espinosa là một cậu bé gầy gò, mới 14 tuổi và đang học phổ thông, cậu yêu máy tính nhưng lại trượt các môn toán, bởi cậu cho rằng làm bài tập về nhà là sử dụng thời gian không đúng cách. Cậu đã bị thiết kế máy tính mới mẻ của Steve Wozniak mê hoặc. Từ những giải thích cú pháp về các câu lệnh BASIC đặc biệt của Woz được trình bày trong buổi họp, và những giải thích về phác thảo của các thành phần bên trong cỗ máy được phát tán khắp nơi, Espinosa đã viết một vài chương trình BASIC và trong thời gian tiếp xúc ngẫu nhiên của cuộc họp, khi mọi người tụ tập xung quanh chiếc máy tính mới, cậu đã giành lấy bàn phím và điên cuồng nhập vào một số chương trình tạo ra các trình diễn đầy màu sắc trên chiếc TV Sears to đùng, cũ rích mà Woz mang theo. Woz đã vô cùng xúc động: “Tôi không nghĩ sẽ có ai đó khác có thể chỉ cho tôi thấy điều đó”, rồi vô cùng phấn khích khi nói với mọi người: “Nhìn xem, rất đơn giản, cậu chỉ cần nhập câu lệnh này vào là được.” Đây chính là cậu học sinh phổ thông đang chạy chương trình trên chiếc máy tính nhỏ bé mà Wozniak vừa mới chế tạo. Phản ứng của Steve Jobs thì thực dụng hơn – anh đã thuê Chris Espinosa trở thành một trong những nhân viên đầu tiên của công ty. Giống với các chuyên gia phần mềm thiếu niên khác, như Randy Wigginton, cậu có thể kiếm được 3 đô-la mỗi giờ.
Steve Jobs đã tập trung hoàn toàn vào việc xây dựng công ty Apple để sẵn sàng phân phối Apple II trong năm tới nhằm gây tiếng vang lớn trên thị trường. Jobs cũng là một người giỏi ba hoa, theo như Alan Baum thì anh cũng “làm việc đến kiệt sức... anh ấy nói với tôi mức giá mà anh ấy đã mua linh kiện và chúng cũng phù hợp với mức giá mà HP đã trả.” Jobs chỉ là một kỹ sư bình thường; sức mạnh của anh nằm ở vai trò của một nhà hoạch định, người có tầm nhìn về cách mà máy tính có thể trở nên hữu dụng tới mức vượt ra khỏi những gì mà một hacker thuần túy như Steve Woz có thể mơ thấy. Anh cũng đủ thông minh để nhận ra rằng một gã tóc dài 22 tuổi với trang phục thông thường là đồ bò và chân đất không thể là người đứng đầu một tập đoàn máy tính lớn; hơn tất cả, anh còn thiếu kỹ năng quản trị và kinh nghiệm thị trường. Jobs đã quyết định sẽ tuyển mộ một tài năng quản trị hàng đầu và sáng giá để giúp anh vận hành công ty Apple Computer.
Đó không phải là một quyết định dễ dàng trong thời kỳ đó, khi mà các kỹ sư như Ed Roberts và Bob Marsh đều nghĩ rằng việc chế tạo một cỗ máy chất lượng tốt chính là điều quan trọng nhất dẫn đến thành công, và việc quản trị có thể tự lo nốt phần còn lại. Ed Roberts đã học được bài học về sự dại dột đó một cách khó nhọc. Vào giữa năm 1976, Roberts đã chán ngấy “các vở kịch ủy mị” (theo cách anh nói) đang diễn ra ở MIT như việc khách hàng chán nản, dây chuyền khó hiểu của các phiên bản mới và cải tiến của chiếc Altair, nhân viên lên tới hàng trăm người, nội bộ thì lục đục, nhân viên kinh doanh thì sợ hãi, tài chính hỗn loạn một cách vô vọng và anh không có nổi một đêm ngủ tử tế trong suốt cả năm trời. Anh đang thiết kế một chiếc máy tính mới đầy thú vị gọi là Altair 2 – một cỗ máy gọn gàng, hiệu năng cao có thể đựng vừa trong một chiếc va-li – nhưng hầu hết năng lượng của anh đã phải dùng để xử lý những rắc rối quản trị. Vì thế, anh quyết định gọi nó, như cách mà anh kể lại, là “một trang trong cuộc đời tôi – và đã tới lúc tôi phải lật sang một trang mới”, đồng thời khiến cho thế giới của các hacker phần cứng choáng váng khi bán công ty của mình cho một hãng lớn có tên là Pertec. Vào cuối năm đó, Roberts, với khoản tiền thu được trị giá hơn 1 triệu đô-la từ thương vụ mua bán, đã rời bỏ công việc kinh doanh để trở thành một nông dân ở miền nam Georgia.
Ý nghĩa của câu chuyện này là các kỹ sư không nhất thiết phải là người vận hành công ty. Nhưng việc tìm ra người có thể làm việc đó không hề dễ dàng, đặc biệt là khi công ty của bạn, ít nhất là qua bề ngoài, trông giống như một đám thanh niên lập dị với những cậu bé học sinh phổ thông. Chris Espinosa sau này lưu ý rằng, vào đầu năm 1977, Jobs trông luộm thuộm tới mức “người ta còn không để anh ấy lên xe buýt và máy bay, chứ nói gì đến hành lang quyền lực của ngành công nghiệp bán dẫn”, nhưng anh vẫn thực hiện được một việc táo bạo là mời Mike Markkula gia nhập đội ngũ Apple. Markkula nguyên là một thiên tài marketing, khi đó ngoài 30 tuổi, vừa từ bỏ công việc ở Intel trước đó vài năm; kể từ lúc đó, anh dành thời gian theo đuổi các công việc khác nhau, một số liên quan đến hướng kinh doanh, số khác kỳ lạ như chế ra một biểu đồ tròn để biểu diễn các thế tay khác nhau cho các hợp âm guitar. Jobs đã nhờ anh lập kế hoạch kinh doanh cho Apple, và Markkula cuối cùng đã giúp tìm kiếm nhà đầu tư mạo hiểm cho công ty, đồng thời trở thành chủ tịch thứ nhất của hội đồng quản trị. Thông qua Markkula, Jobs cũng tuyển mộ được một người quản lý kỳ cựu đến từ Fairchild Semiconductor tên là Mike Scott để trở thành chủ tịch công ty. Nhờ đó, trong lúc Apple đã sẵn sàng phát triển và đang thu hút sự chú ý của thị trường với chiếc máy tính-thiết bị đầu tiên, thì Processor Technology phải vật lộn với khả năng quản lý kém cỏi của các hacker phần cứng như Bob Marsh và Gary Ingram.
Bước tiến ra ngoài thị trường này không gặp phải khó khăn giống như những gì Steve Wozniak lo lắng. Chris Espinosa và Randy Wigginton sẽ đến nhà anh để dùng phiên bản Apple II mới hoàn thành được một nửa của Wigginton, và ở đó, trên sàn phòng khách trong căn nhà nhỏ của Woz, họ đã gỡ lỗi các chương trình và phần cứng, viết chương trình phát tín hiệu và hàn bảng mạch. Công việc đó thật thú vị. Trong khi đó, tại ga-ra của mình, Jobs đang vận hành các hoạt động hằng ngày. “Anh ấy sẽ đến bất chợt để xem chúng tôi đang làm gì, đưa ra các gợi ý nhưng không thiết kế gì cả,” Espinosa kể lại. “Anh ấy sẽ thể hiện một trong những tài năng quan trọng của mình là đưa ra nhận xét về bàn phím, thiết kế vỏ, logo, linh kiện cần mua, cách bố trí bảng mạch PC để trông sao cho đẹp, việc sắp xếp các linh kiện, các đại lý mà chúng tôi lựa chọn… phương pháp lắp ráp, cách thức phân phối, về mọi thứ.”
Jobs đã được một người giàu kinh nghiệm và đang tham gia hoạt động kinh doanh nghiêm túc cùng Apple như Mike Markkula hướng dẫn. Ngay lập tức anh nhận ra rằng những gì mà Steve Wozniak đang cống hiến là dành cho máy tính chứ không phải cho công ty. Với Woz, Apple chỉ là một hack tuyệt vời chứ không phải là một sự đầu tư. Đó là một nghệ thuật chứ không phải là một công việc kinh doanh. Woz đã thu được câu trả lời cho các câu đố, tiết kiệm việc sử dụng những con chip và gây ấn tượng với mọi người ở Homebrew. Hack thì tốt đấy nhưng Markkula muốn ít nhất là sự tham gia toàn thời gian của Woz vào công ty. Anh yêu cầu Jobs nói với cộng sự của mình là nếu Woz muốn có một chỗ đứng trong Apple Computer, thì anh phải từ bỏ công việc ở HP để tập trung toàn lực cho phiên bản tiền chính thức của Apple II.
Đó là một quyết định khó khăn với Woz. “Việc này khác với năm mà chúng tôi dành thời gian để chế tạo Apple I cùng nhau trong ga-ra,” Woz hồi tưởng. “Đây là một công ty thực sự. Tôi đã thiết kế một chiếc máy tính chỉ vì thích công việc thiết kế, và để trình diễn trước Câu lạc bộ. Động cơ của tôi không phải là thành lập công ty và kiếm tiền. Mike đã cho tôi ba ngày để trả lời liệu tôi có rời HP hay không. Tôi thích HP. Đó là một công ty tốt, tôi cảm thấy an toàn và có rất nhiều công việc tốt ở đó. Vì không muốn rời bỏ nó nên câu trả của tôi là không.”
Khi Steve Jobs biết dược quyết định ấy, anh liền gọi cho bạn bè và họ hàng của Woz, năn nỉ họ thuyết phục Woz nghỉ việc ở HP để làm việc toàn thời gian cho Apple. Một số người đã làm như vậy, và khi Woz nghe thấy các luận điểm ấy, anh đã suy nghĩ lại. Tại sao không nỗ lực để đưa Apple II ra thế giới? Nhưng ngay cả khi đồng ý nghỉ việc ở HP để dành toàn thời gian với Jobs, anh nhận ra việc mình làm không còn là hack thuần túy nữa. Sự thật là thành lập một công ty mới chẳng liên quan gì tới hack hay thiết kế sáng tạo. Đó là việc kiếm tiền. Nó đã “vượt ra khỏi ranh giới”, như Woz kể lại. Woz tin tưởng vào chiếc máy tính của mình và tự tin rằng cả đội sẽ sản xuất và bán được nó – nhưng “trong đầu tôi chẳng có cách nào liên hệ Apple với việc thực hiện các thiết kế máy tính cả. Đó không phải là lý do thành lập của Apple. Lý do thực sự cho việc thành lập Apple đằng sau thiết kế máy tính này là một việc khác – đó là kiếm tiền.”
Đó là một quyết định then chốt tượng trưng cho sự chuyển dịch đang diễn ra trong những chiếc máy tính cỡ nhỏ. Giờ đây, các hacker như Woz sẽ chế tạo những cỗ máy với thiết bị đầu cuối và bàn phím, những thứ được cho là hữu ích với tất cả mọi người chứ không phải riêng những người đam mê máy tính, hướng đi của ngành công nghiệp mới chớm nở không còn nằm trong tay của họ nữa. Đã gần 20 năm sau ngày các hacker TMRC được giới thiệu với chiếc TX-0. Giờ đây, kinh doanh mới là Điều Đúng đắn.
Tháng 1 năm 1977, khoảng nửa tá nhân viên của công ty mới này, thực ra nó vẫn chưa thành lập cho tới tận tháng Ba, đã di chuyển tới một nơi chật chội trên đại lộ Stevens Creek ở Cupertino, rất gần một cửa hàng tiện ích 7-Eleven và một tiệm đồ ăn có lợi cho sức khỏe Good Earth. Woz thích đi bộ xuống phố tiệm Big Boy của Bob hơn. Cứ mỗi sáng, việc đầu tiên mà anh và Wigginton làm sẽ là tới đó, mua một cốc cà-phê, nhấp một ngụm rồi phàn nàn rằng nó dở tệ, và bỏ lại gần như cả cốc trên bàn. Việc này giống như một nghi thức. Woz thích dùng các túi Fizine, một loại bọt làm giảm axit dạ dày, và trộn chúng vào các hộp đường ở tiệm của Bob, ở đó anh sẽ ngồi chờ tới khi một khách hàng xấu số nào đó tưởng thứ anh ta sắp cho vào trong cốc cà-phê của mình là đường. Khi nó bùng lên như một ngọn núi lửa nhỏ, Woz sẽ rất phấn khích. Nhưng thường thì Woz sẽ chỉ nói chuyện chủ yếu là các vấn đề về kỹ thuật, rất hiếm khi anh nhắc đến Apple. Wigginton và Espinosa, cả hai vẫn còn học phổ thông, đã đón nhận những câu chuyện cường điệu hóa kiểu nhà hoạch định của Jobs một cách nhiệt tình – đến một mức độ nào đó – và tin tưởng rằng chiến dịch Homebrew sẽ tập trung ở ngay tại đó trên đại lộ Stevens Creek. “Tất cả mọi người đều rất tin tưởng vào điều đó,” Wigginton kể lại. “Chúng tôi bị thôi thúc bởi giấc mơ về những gì sắp xảy đến hơn là những thứ đang thực sự diễn ra lúc này. Chúng tôi sẽ là một công ty thành công và cho ra những sản phẩm tuyệt vời nhất chưa từng được sản xuất.”
Họ thường làm việc suốt cả ngày, cặm cụi hàn mạch, thiết kế và lập trình. Một trong những người bạn của Woz được thuê làm chuyên gia phần cứng hay huýt sáo giả tiếng chim trong khi làm việc. Woz thì nghịch ngợm, chơi điện tử rồi sau đó lại thực hiện cả núi công việc cùng lúc. Woz và bạn của anh đang chuẩn bị cho một kiểu máy tính mới khác biệt hoàn toàn với những chiếc máy tính bán chạy nhất trước đó như Altair, Sol và IMSAI. Steve Jobs và Mike Markkula cảm thấy thị trường của Apple đã vượt ra ngoài cộng đồng những người yêu máy tính, và muốn chiếc máy tính của mình trông thân thiện hơn. Jobs đã thuê một nhà thiết kế công nghiệp giúp xây dựng một lớp vỏ nhựa nhẹ và bóng bẩy ấm áp màu be. Nhà thiết kế kia đảm bảo rằng bố trí của Woz sẽ trông rất hấp dẫn khi những chiếc đèn bên trong lớp vỏ sáng lên. Bus của Apple, giống như bus S-100, có khả năng chấp nhận các bảng mạch bổ sung để có thể thực hiện các công việc thú vị hơn, nhưng Woz đã làm theo một số lời khuyên từ người bạn Alan Baum của mình và chế tạo nó sao cho 8 “khe cắm mở rộng” bên trong của Apple II sẽ hỗ trợ các nhà sản xuất tạo ra các mạch tương thích. Tất nhiên, họ sẽ được giúp đỡ nhờ vào kiến trúc “mở” của cỗ máy; đó là Đạo đức Hacker đích thực, Woz đảm bảo rằng không có bí mật nào có thể cản trở việc mọi người sáng tạo với nó. Mọi điều chỉnh trong thiết kế của anh hay mọi mẹo lập trình trong trình phiên dịch BASIC (được tích hợp bên trong cỗ máy, ở một con chip tùy chỉnh đặc biệt) đều được ghi chép và phân phối cho bất kỳ ai cần.
Ở một số thời điểm nhất định, Woz và Jobs đã trông cậy vào sự giúp đỡ đến từ các mối quan hệ của họ ở Homebrew. Một ví dụ điển hình là khi có vấn đề trong việc lấy được giấy phép của Ủy ban Truyền thông Liên bang (Federal Communications Commission – FCCC) liên quan đến chiếc máy tính. Rod Holt, một kỹ sư đến từ Atari, người giúp thiết kế bộ cấp điện, buồn bã thông báo rằng bộ kết nối giữa máy tính và tivi – được gọi là Bộ điều chế Tần số Radio – có quá nhiều nhiễu và sẽ không thể vượt qua được bài kiểm tra của FCC. Vì vậy, Steve Jobs đã đến gặp Marty Spergel, Quý ông Đồng nát.
Spergel thường xuất hiện ở các buổi họp của Homebrew với một vài linh kiện bí mật. “Tôi sẽ ngó qua hộp đồ cũ với ‘đủ thứ từ A tới Z’, và mọi người thường lao tới với tốc độ chóng mặt, trước khi tôi kịp thả chiếc hộp ra, mọi thứ đã biến mất.” Anh có khả năng “đánh hơi” được mọi ngóc ngách trong thị trường điện tử, và gần đây, anh đã kiếm được một khoản không nhỏ nhờ nhập khẩu các tay cầm điều khiển từ Hong Kong để mọi người có thể sử dụng để chơi các trò chơi điện tử như Target của Steve Dompier trên máy Altair hoặc Sol. Có lúc, công ty của anh, M&R Electronics, thậm chí còn giới thiệu một bộ linh kiện máy tính nhưng sản phẩm đó không mang lại thành công. Một hôm, Marty tới thăm trụ sở văn phòng của Apple ở Cupertino và nói chuyện với Woz, Jobs cùng Rod Holt về vấn đề của bộ điều chế. Rõ ràng, Apple không thể xuất xưởng chiếc máy tính cùng các bộ điều chế hiện tại, vì thế họ quyết định rằng Holt sẽ cung cấp cho Marty Spergel các đặc tả bộ điều chế để anh ta có thể chế tạo chúng. “Công việc của tôi là khiến FCC không thể cản đường của Apple Computer,” Spergel kể lại. “Vì thế, tôi đã tự bán các bộ điều chế của mình, còn Apple tự bán những chiếc máy tính của họ. Còn ở các đại lý, họ sẽ bán kèm một bộ điều chế cho người dùng cuối và khi về tới nhà, người dùng sẽ cắm bộ điều chế vào. Nhờ vậy, việc phòng chống nhiễu tần số radio giờ đây đã trở thành vấn đề của người dùng.”
Đó là một trường hợp điển hình về tính chia sẻ trong Homebrew, với việc tất cả mọi người đều được hưởng lợi nhờ tránh né các rào cản của hệ thống quan liêu. Spergel đã hỏi Jobs cần bao nhiêu bộ điều chế mà M&R sẽ bán dưới tên “Sup’r Mod” ở mức 30 đô-la mỗi chiếc. Jobs hứa sẽ đặt hàng số lượng lớn. Khoảng 50 chiếc mỗi tháng.
Trên thực tế, sau vài năm, Spergel ước tính đã bán được 400.000 thiết bị Sup’r Mod.
☆ ☆ ☆
Đầu năm 1977, thành viên Câu lạc bộ Máy tính Homebrew kiêm biên tập viên tờ Dr. Dobbs, Jim Warren, đã nảy ra một kế hoạch lớn. Warren là anh chàng tóc ngắn với khuôn mặt vuông vắn đầy râu, chuyên lấy việc thu thập “chuyện phiếm công nghệ” làm thú vui, và coi Homebrew là nơi để xả ra đủ loại lời đồn về các hãng trong “Khe Silicon”, theo cách gọi của anh. Thường thì các lời đồn của anh khá chính xác. Bên cạnh nhiệm vụ biên tập và các hoạt động của mộtyenta 73 silicon, Warren đang ở “chế độ viết luận án” ở Stanford. Nhưng mức độ tăng trưởng chóng mặt của lĩnh vực máy tính cá nhân đã thu hút anh hơn một tấm bằng tiến sĩ. Anh cũng là một người hâm mộ, coi phong trào máy tính tự chế là một kiểu học sau đại học miễn phí, là việc xắn tay áo lên và sẵn sàng lấm bẩn, cũng như là một tình yêu đầy nhân văn.
73 Ý chỉ người hay ngồi lê đôi mách. (ND)
Việc tham dự chương trình máy tính PC’76 ở Atlantic City đã củng cố thêm niềm tin đó của anh. Ban đầu, anh không muốn đi khi coi khu nghỉ dưỡng mờ nhạt đó là “điểm đáy của cả nước”, nhưng người tổ chức chương trình đã gọi cho anh và kể về tất cả những con người thú vị sẽ có mặt ở đó, chưa tính đến sự vinh dự của họ khi được làm biên tập viên của tờ Dr. Dobbs; Jim Warren cũng cảm thấy có chút khó hiểu bởi với việc Bob Albrecht trả anh 350 đô-la mỗi tháng để biên tập tờ báo, thì hẳn anh phải xin tiền cho chuyến đi chứ. Anh cho rằng chương trình lớn nên được tổ chức ở ngay đó, tại California. Một đêm nọ, anh nói chuyện với Bob Reiling, một kỹ sư tại Philco đang âm thầm đảm nhiệm vai trò biên tập của Fred Moore cho bản tin Homebrew. Warren đã hỏi làm thế quái nào mà những thứ đó lại diễn ra ở nhầm bờ biển khi mà rõ ràng rằng trung tâm của thế giới vi tính đang ở ngay đây. Reiling đồng ý và Warren quyết định rằng họ nên làm điều đó, tổ chức một chương trình, theo tinh thần hacker, tập trung vào việc trao đổi thông tin, thiết bị, kiến thức kỹ thuật và những rung cảm tích cực. Nó mang không khí bình dị của “Hội chợ Phục hưng” được tổ chức thường niên tại Hạt Marin – một “Computer Faire” (Hội chợ Điện toán) đích thực.
Anh đã nghĩ về chương trình này khi tới Atlantic City, và bất chấp độ ẩm kinh khủng ở đó cùng sự xuống cấp của cơ sở vật chất, anh kể lại, đó là “một sự kích thích toàn diện. [Bạn gặp được] tất cả những người mà bạn đã nói chuyện qua điện thoại hay thư từ… [bạn có được] sự phấn khích tột cùng với việc gặp gỡ những người đang thực hiện các chiến tích.” Quả là một tính năng giao tiếp mới đầy mạnh mẽ, những cuộc gặp mặt trực tiếp này đã góp phần mang lại thông tin tươi mới hơn rất nhiều so với những gì thu được từ các văn bản. “Dr. Dobbs vướng vào một khoảng thời gian trễ 6 tuần và điều đó khiến tôi phát điên. Chết tiệt, 6 tháng đã là nửa thế hệ máy tính rồi. Cơ hội được nói chuyện với mọi người về những gì họ đang làm vào tuần đó là một cải tiến triệt để. Chính trong môi trường kiểu như vậy, tôi đã công bố rằng chúng tôi sẽ tổ chức Hội chợ Điện toán ở Bờ Tây.”
Cùng với Reiling, Warren sẵn sàng tổ chức sự kiện này. Anh sớm nản chí khi biết rằng địa điểm lý tưởng là Hội trường Thành phố ở San Francisco có giá thuê khá cao, lên tới hàng nghìn đô-la mỗi ngày! Sau khi biết tin đó, Warren và Reiling đã lái xe xuống vùng bán đảo, dừng chân tại Pete’s Harbor, một quán cà-phê ngoài trời ở bến du thuyền bên bờ vịnh, nơi tụ tập ưa thích của Albrecht và mọi người tại PCC. Warren nhớ lại: “Tôi nhớ mình đã nói, ‘Này các cậu, chúng ta đã thực sự lún sâu vào chuyện này. Liệu chúng ta có thể chi trả cho nó không?’ Rồi tôi kéo một một tờ giấy ăn ra khỏi một chiếc hộp lớn và vội vàng viết. Chúng tôi kỳ vọng có bao nhiêu vật trưng bày. Bao nhiêu khách tham dự. Nếu hội chợ thu hút được 3.500 người tới Atlantic City, thì chúng ta có thể tăng gấp đôi số đó lên khoảng… khoảng 7.000 người. Chúng ta sẽ thu phí của những người tham dự là bao nhiêu? Nhân hết lên rồi cộng lại…” Jim Warren sửng sốt khi thấy rằng họ không chỉ có khả năng chi trả cho hội chợ mà còn có thể kiếm lời từ đó. Và chắc hẳn việc này chẳng có vấn đề gì với nó cả.
Jim Warren lấy điện thoại và bắt đầu gọi cho chủ tịch của các công ty lớn nhất trong ngành mà anh biết qua Homebrew hoặc tạp chí của anh. “Tôi gọi cho Bob Marsh và nói: ‘Này, chúng tôi sắp sửa tổ chức Hội chợ Điện toán đấy, anh có quan tâm không?’ Anh ấy sẽ trả lời: ‘Có chứ.’ ‘Được rồi, gửi tiền đi rồi chúng tôi sẽ dành cho anh một gian trưng bày.’ ‘Tuyệt vời.’ Sau đó, chúng tôi gọi cho Harry Garland ở Cromemco. ‘Jim Warren đây, chúng tôi sắp sửa tổ chức một Hội chợ Điện toán. Anh có muốn tham gia không?’ ‘Chắc chắn rồi.’ ‘Tốt, tốt, chúng tôi sẽ sắp xếp gian hàng cho anh sớm nhất có thể. Hãy đặt tiền trước vì chúng tôi sẽ cần một chút.’ 4 ngày sau, chúng tôi nhận được tiền vào tài khoản.”
Warren hóa ra là một tài năng trong lĩnh vực tổ chức. Anh đã khởi xướng một tờ báo khổ nhỏ chuyên để bơm thông tin về Hội chợ và qua đó truyền bá thương hiệu “buôn dưa lê” về công nghệ của mình. Đó là tờ Silicon Gulch Gazette (Nhật báo Khe Silicon) chuyên cung cấp những câu chuyện về việc Hội chợ sẽ trông như thế nào cùng tiểu sử ngắn gọn của các diễn giả, thậm chí còn có cả một hồ sơ về “người tổ chức” Jim Warren. Tờ báo khoe khoang về mối quan hệ “đồng tài trợ” giữa Hội chợ và các nhóm phi lợi nhuận như Câu lạc bộ Máy tính Homebrew, SCCS, PCC, Trung tâm Máy tính Cộng đồng (CCC), cùng các nhóm khác. (Joanne Koltnow, người trợ giúp Hội chợ từ công việc tại CCC, kể lại rằng “tất cả mọi người đều bất ngờ” khi sau này họ nhận ra rằng Hội chợ là một tổ chức vì lợi nhuận). Với đội ngũ gồm hai thứ ký, Warren và các cộng sự đã làm việc thâu đêm suốt sáng cho tới khi Hội chợ diễn ra.
Cũng làm việc một cách điên cuồng trước khi Hội chợ diễn ra còn có 8 nhân viên của Apple Computer. Apple đã giành được hai vị trí với giá 700 đô-la và bằng cách nào đó, họ đã xoay xở được vị trí tốt gần lối vào sảnh trưng bày. Ý tưởng ở đây là tận dụng khoảng trống đó để chính thức ra mắt Apple II ở Hội chợ. Dù nhiều người ở Câu lạc bộ Homebrew không mấy nghiêm túc với sự có mặt của Apple trên thị trường (Gordon French bỗng nhiên xuất hiện rồi vừa bỏ đi vừa cuời cợt cho rằng công ty này về cơ bản chỉ là hai anh chàng làm việc cùng nhau trong ga-ra), nhưng giờ đây, Apple đã nhận được dòng tiền nghiêm túc. Một hôm, Chủ tịch mới, Mike Scott, đã yêu cầu Chris Espinosa chép một bản phần mềm trình diễn chạy trò chơi Breakout (Phá tường). Đó là trò mà Jobs đã viết cho Atari rồi sao đó Woz viết lại cho Apple BASIC, và ở cuối trò chơi, chương trình sẽ chấm điểm cho bạn kèm với một nhận xét. Scott nói, tiện đây, liệu Espinosa có thể sửa các lời nhận xét, chẳng hạn để màn hình in ra nhận xét với nội dung “Không tốt” thay vì “Kém vãi”? Lý do là có một số nhân viên của Bank of America đã tới để nói chuyện về mức tín dụng.
Các nhân viên của Apple đã sẵn sàng đầu tư cho buổi trình diễn. Họ thuê một người trang trí giúp thiết kế gian hàng và chuẩn bị các tấm biển trông có vẻ chuyên nghiệp cùng logo mới bắt mắt, một quả táo bảy sắc cầu vồng với một góc bị cắn dở. Họ làm việc điên cuồng cho tới phút chót, trước khi bắt buộc phải lái xe mang cỗ máy tới San Francisco; họ đã chuẩn bị để có 4 chiếc Apple II ở đó, và tất cả đều chỉ là các sản phẩm mẫu có sẵn. Vào đêm 15 tháng 4, chiếc vỏ được mang tới ngay sau khi được đúc ra từ khuôn. Khi mọi người lắp các bộ phận vào trong những chiếc vỏ đó thì chiếc Apple II đã trở nên khác biệt rõ ràng so với các đối thủ của nó (với một ngoại lệ duy nhất có lẽ là chiếc Sol). Máy tính của những người khác trông như thứ mà một binh sĩ thông tin chiến trường đeo trên lưng. Chiếc Apple II không có bất kỳ đinh vít hay chốt nào lộ ra (10 chiếc đinh vít chủ yếu được móc vào từ bên dưới): Nó là một biến thể thân thiện, ấm áp và tinh tế của một chiếc máy chữ, gợi về tương lai với đường dốc thấp, nhưng bo góc không quá gấp để đem lại cảm giác hăm dọa. Bên trong chiếc máy là bằng chứng của phong cách hàn kiểu hacker của Woz. Anh đã khiến số chip giảm xuống 62 cái một cách đáng kinh ngạc, trong đó đã bao gồm cả bộ xử lý trung tâm 6502. Quả thực, khi bạn mở nắp trên của chiếc máy thì thứ đập vào mắt sẽ là “bo mạch chủ” của Woz – bảng mạch xanh chứa chip của Apple I đã được cải tiến – một bộ nguồn phủ bạc có kích thước bằng một đống bánh Ritz, với 8 khe cắm mở rộng cho thấy khả năng ứng dụng vô tận mà bạn có thể đem lại cho cỗ máy. Vào lúc các đinh vít đóng lớp vỏ lại, bo mạch chủ được gắn vào, tấm đế được đóng lại, mọi thứ đã được kiểm thử và những chiếc đèn cũng được ghép xong xuôi thì cũng đã đến 1 giờ sáng của ngày mà Apple lần đầu tiên chính thức xuất hiện.
Buổi sáng hôm đó, những chiếc Apple đã được đặt trong gian hàng gần lối vào. Hầu hết các công ty khác đều dùng phông rèm màu vàng cùng một tấm bảng được gắn tên công ty bằng chữ in hoa. Còn gian hàng của Apple thì lấp lánh với logo 6 màu làm bằng thủy tinh hữu cơ.
Tất nhiên, Jim Warren có mặt từ rất sớm vào buổi sáng hôm đó, anh đã phải vô cùng nỗ lực sau chuỗi ngày làm việc 16 tiếng không ngừng nghỉ để chuẩn bị cho Hội chợ. Chỉ mới 2 ngày trước, anh và Reiling đã thống nhất Hội chợ là một tổ chức vì lợi nhuận. Dù coi đó toàn là một “đống nhảm nhí quan liêu, tuân thủ luật pháp tuyệt đối”, nhưng Reiling đã chỉ ra rằng với tư cách là một công ty, họ sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý riêng rẽ về bất kỳ tổn thất nào, và Warren đã đồng ý. Định hướng sau này của Jim Warren đã thực sự trở nên rõ ràng – anh là người tường tận về Đạo đức Hacker, đồng thời cũng thấy được những gì đang diễn ra ở sân sau Khe Silicon của chính mình. Thế giới thực đã có mặt ở đó và giờ là lúc cần hòa trộn hai thứ văn hóa đó lại với nhau, hacker và công nghiệp, bởi nếu có một cuộc đụng độ xảy ra, không rõ ai sẽ là người thất bại. Các hacker phần cứng đã để những chiếc máy tính cỡ lớn vô tình tiết lộ một bí mật lớn và doanh thu trước thuế trị giá hàng triệu đô-la mỗi năm ở MITS, Processor Technology và IMSAI vào năm 1976 chính là những bằng chứng không thể chối cãi rằng đó là một ngành công nghiệp đang tăng trưởng, xứng đáng với số tiền khổng lồ và những thay đổi đi kèm. Jim Warren yêu thích tinh thần hacker nhưng đồng thời anh cũng là kẻ sống sót. Nếu anh để mất tiền hoặc trải qua một tai họa vì ám ảnh bài xích sự quan liêu, lý tưởng thái quá, hậu hippie, việc đó sẽ không giúp ích được gì cho chủ nghĩa hacker. Trong khi đó, việc anh kiếm chút tiền chẳng gây hại gì tới Đạo đức Hacker. Vì thế, theo anh kể lại, dù “không quan tâm đến các gian hàng, quyền lực, hợp đồng và tất cả những thứ đó”, nhưng anh vẫn thực hiện. Thế giới vi mô đang thay đổi. Anh không cần thêm bất kỳ bằng chứng nào cho điều đó ngoài cảnh tượng đang diễn ra tại quầy bán vé ở bên ngoài dinh thự uy nghi kiểu Hy Lạp của Hội trường Thành phố San Francisco.
Vào một ngày nắng đẹp tháng 4 năm 1977, hàng nghìn người đã xếp thành 5 hàng dài, uốn lượn quanh hai dãy hội trường và tụ hợp ở phía sau. Đó là một chiếc “vòng cổ” dài cả dãy phố được kết bằng các hacker, những người sẽ trở thành hacker và cả những người tò mò về hacker hoặc muốn biết điều gì đang xảy ra trong cái thế giới mới kỳ quái đó, nơi máy tính là một thứ gì đó khác biệt so với những gì mà một anh chàng diện sơ mi trắng, cà vạt đen, ví dày cộp cùng vẻ ngoài chậm chạp nói về IBM. Đúng vậy, hiện tượng này là do sự thiếu kinh nghiệm của Jim Warren trong việc cho phép đăng ký sớm và bán vé. Chẳng hạn, thay vì để một mức giá cố định vào ngày bán, anh đã đưa ra các mức giá khác nhau – 8 đô-la cho vé phổ thông, 4 đô-la cho sinh viên, 5 đô-la cho thành viên Câu lạc bộ Máy tính Homebrew… Và do phải trả 10 đô-la/giờ cho các thu ngân nên anh đã không tuyển nhiều người. Giờ đây, số người xuất hiện đã nhiều gấp đôi so với mong đợi, và không những thế, mọi người còn đến sớm nên tình hình có vẻ vượt ra ngoài tầm kiểm soát.
Nhưng mọi việc không vượt ra ngoài tầm kiểm soát. Mọi người đều nhìn quanh và không thể tin nổi rằng tất cả những người này đều quan tâm đến máy tính, rằng những cám dỗ bí ẩn kiểu hacker mà họ dành cho những chiếc máy tính này, thường thấy ở những đứa trẻ khác thường như Greenblatt hay Woz, suy cho cùng cũng chẳng có gì gọi là lầm lạc. Dành tình yêu cho điện toán đã không còn là một điều cấm kỵ đối với công chúng. Vì thế, việc đứng xếp hàng cùng những con người này để tham dự Hội chợ Máy tính Bờ Tây lần thứ nhất cũng không mấy khó khăn. Jim Warren hồi tưởng lại: “Những người xếp hàng nối đuôi nhau quanh tòa nhà chết tiệt này mà không hề cảm thấy khó chịu. Không ai huênh hoang. Chúng tôi không biết điều gì đang xảy ra, những người tham gia triển lãm không biết họ đang làm gì còn những người đến tham dự càng không biết những gì sắp xảy ra nhưng mọi người đều phấn khích, hợp tác, không đòi hỏi và điều đó thật tuyệt vời. Mọi người chỉ đứng đó và nói chuyện – ‘Ồ, cậu có một chiếc Altair hả? Tuyệt đấy!’ ‘Cậu đã giải quyết được vấn đề này chưa?’”
Khi mọi người bước vào bên trong sảnh, họ như lạc vào xứ sở của những công nghệ kỳ dị, âm thanh giọng nói trộn lẫn với tiếng máy in và những tín hiệu li ti của 3 hay 4 giai điệu khác nhau do máy tính tạo ra. Nếu muốn di chuyển từ nơi này tới nơi khác, bạn sẽ phải tính toán xem từng nhóm người trong dòng chảy đang di chuyển theo hướng nào để rồi hòa mình vào dòng người thích hợp cho tới khi đến đích. Gần 200 gian hàng triển lãm hôm đó đều chật cứng người. Đặc biệt là Processor Technology với trò chơi Target của Steve Dompier chạy trên máy Sol. Mọi người đã đổ tới gian hàng của IMSAI để được vẽ biểu đồ nhịp sinh học. Và ngay gần lối vào là tiếng gọi của tương lai với chiếc máy tính Apple đang chạy chương trình đồ họa hình ảnh kính vạn hoa trên màn hình Advent khổng lồ. “Thật điên rồ,” Randy Wigginton nhớ lại thời gian làm việc trong gian hàng cùng với Woz, Chris Espinosa và những người khác. “Tất cả mọi người đều tới và yêu cầu máy tính thể hiện, thật thú vị khi thấy mọi người đều phấn khích với chúng.”
Apple không phải là thứ duy nhất khiến mọi người phấn khích. Đó là chiến thắng của các hacker phần cứng trong việc biến niềm đam mê của họ thành một ngành công nghiệp. Bạn có thể thấy sự hứng khởi khi mọi người nghi hoặc nhìn quanh – tất cả mọi người đây sao? – và tất cả đã ồ lên khi Jim Warren thông báo với những người tham dự qua hệ thống phát thanh rằng tổng số người tham gia vào dịp cuối tuần là gần 13.000 người. Ngay lập tức, tác giả Ted Nelson của Computer Lib cũng tiếp lời, như thể bậc thầy cô độc chỉ cần một bước đã hòa nhập với tất cả các đệ tử. “Đây chính là thuyền trưởng Kirk 74 ,” Nelson nói. “Chuẩn bị phóng nào!”
74 Một nhân vật trong loạt phim Star Trek (tạm dịch: Du hành giữa các vì sao). (BTV)
Bản thân Warren đã cất cánh từ lâu. Anh lượn vòng quanh Hội chợ trên đôi giày pa-tin, đầy ngạc nhiên trước khả năng đi xa của phong trào máy tính. Với anh, cũng như những người ở Apple, Processor Technology và hàng tá những nơi khác, thành công này cũng ám chỉ những khoản lợi nhuận sắp tới; chẳng bao lâu sau khi Hội chợ kết thúc, khi đã phục hồi sau khoảng thời gian “suy sụp đầy đê mê”, Warren sẽ bắt đầu cân nhắc xem liệu có nên dành hết lợi nhuận vào một chiếc Mercedes SL không. Cuối cùng, anh quyết định mua 4 hecta đất mà mình hằng ao ước trên những ngọn đồi nhìn xuống vùng Woodside, và trong vòng một vài năm, anh sẽ xây dựng một kiến trúc bằng gỗ khổng lồ với sàn gỗ đỏ và bồn tắm nhìn ra Thái Bình Dương; đó sẽ là ngôi nhà của anh cũng như các khu làm việc điện toán với đội ngũ hơn chục người đã sẵn sàng cho một đế chế nhỏ các ấn bản và sự kiện điện toán. Jim Warren đã đoán trước được tương lai.
Đối với các hacker phần cứng, Hội chợ Máy tính lần đầu tiên là một sự kiện có thể sánh với liên hoan âm nhạc Woodstock trong phong trào của những năm 1960. Giống như buổi hòa nhạc tại trang trại của Max Yasgur, sự kiện này vừa là một sự xác thực về văn hóa vừa là một tín hiệu cho thấy phong trào đã phát triển lớn tới mức nó không còn thuộc về những người khởi xướng ban đầu nữa. Vế thứ hai được chấp nhận chậm hơn nhiều. Tất cả mọi người đang lâng lâng, đi hết từ gian hàng này tới gian hàng khác, ngắm nhìn đủ loại phần cứng đột phá cùng những phần mềm tuyệt vời, gặp gỡ những người mà họ có thể trao đổi các chương trình con cũng như các sơ đồ dây, đồng thời tham gia vào một vài trong số hàng trăm hội thảo, có cả Lee Felsenstein nói về phong trào Community Memory, Tom Pittman bàn về ngôn ngữ máy tính, Bob Kahn trình bày về lập trình điện toán tại Viện Khoa học Lawrence, Marc LeBrun giới thiệu về âm nhạc điện toán và Ted Nelson diễn thuyết về tương lai thắng lợi sắp tới.
Nelson là một trong những diễn giả chính tại bữa tiệc lớn được tổ chức gần khách sạn St. Francis. Chủ đề bài nói chuyện của anh là “2 năm không thể nào quên sắp tới”, và khi nhìn xuống đám đông bên dưới, anh đã mở đầu bằng câu nói: “Tại đây, chúng ta đang sắp sửa bước vào một thế giới mới. Những chiếc máy tính cỡ nhỏ đang sắp sửa tái thiết xã hội, và các bạn biết điều đó.” Đúng như Nelson nghĩ, các hacker đã chiến thắng trong cuộc chiến với Nhà tiên tri ma quỷ. “IBM sẽ bị xáo trộn,” Nelson nói trong niềm vui chiến thắng. Một thế giới vô cùng tuyệt vời sắp sửa lộ diện:
Giờ đây, những chiếc máy tính ưa nhìn đang vận hành theo cách đầy ma thuật. Chúng sẽ mang tới những thay đổi triệt để trong xã hội như những gì mà điện thoại và xe hơi từng làm. Những chiếc máy tính nhỏ bé đang ở đây, bạn có thể mua chúng bằng những tấm thẻ trả tiền bằng nhựa, và các phụ kiện sẵn có bao gồm ổ cứng, màn hình đồ họa, các trò chơi tương tác, các thiết bị được lập trình có thể vẽ tranh trên giấy ráp, và có Chúa mới biết chúng còn những khả năng gì nữa. Ở đây, chúng ta có mọi thứ được làm nên từ thứ mốt nhất thời, rồi nhanh chóng bùng nổ thành một thứ tôn giáo, và rồi chẳng mấy chốc nó sẽ phát triển thành một thị trường tiêu thụ đầy đủ.
MỐT NHẤT THỜI! TÔN GIÁO! THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ! Cuộc tấn công ồ ạt sẽ diễn ra. Những cỗ máy được ra mắt của ngành sản xuất Mỹ sẽ bắt đầu trở nên phổ biến. Xã hội Mỹ sẽ thay đổi. Và hai năm tiếp theo sẽ là quãng thời gian không thể nào quên.