Hacker Lược Sử

Lượt đọc: 444 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 13
những điều bí mật

Bài phát biểu của Ted Nelson không phải là sự bột phát điên cuồng của một nhà hoạch định quá trông đợi vào sự hợp thành trên quy mô lớn. Hai năm đáng nhớ tiếp theo quả thực đã đánh dấu sự phát triển chưa từng thấy của ngành công nghiệp được các hacker phần cứng khởi xướng một cách gần như không chủ tâm. Các hacker tại Homebrew hoặc nhanh chóng gia nhập một trong các công ty mới thành lập vào giai đoạn mở màn của cuộc bùng nổ máy tính, hoặc tiếp tục những gì họ vẫn đang làm từ trước: hack. Các nhà hoạch định, những người coi sự có mặt của những chiếc máy tính cá nhân là công cụ truyền bá tinh thần hacker, về cơ bản đã không dừng lại để đánh giá tình huống này: Mọi thứ đang diễn ra nhanh tới mức không kịp suy tính. Bị bỏ lại bên lề là những người theo chủ nghĩa thuần túy như Fred Moore – người từng viết chuyên luận “Put Your Trust in People. Not Money” (tạm dịch: Hãy đặt niềm tin của bạn vào con người, chứ không phải tiền), rằng tiền bạc là thứ “lỗi thời, không có giá trị và đi ngược lại với cuộc sống”. Tiền chính là thứ đã giúp quyền lực điện toán bắt đầu phát tán, và những hacker bỏ qua sự thật đó sẽ làm việc (có lẽ là đầy sung sướng) trong chủ nghĩa duy ngã, trong các cộng đồng kín được ARPA tài trợ, hoặc trong các khu tập thể nghèo nàn mà ở đó khái niệm “giật gấu vá vai” là một so sánh mỹ miều cho tình trạng “giật chip vá máy”.

Hội chợ Điện toán Bờ Tây đã trở thành bước đi đầu tiên mang lại tiếng vang lớn về việc các hacker phần cứng đã thực hiện bước chuyển từ các ga-ra tại Thung lũng Silicon tới các phòng ngủ và phòng làm việc trên khắp nước Mỹ. Trước dịp cuối năm 1977, một sự kiện tương tự như vậy đã diễn ra. Các công ty trị giá hàng triệu đô-la đã giới thiệu những tổ hợp máy tính - thiết bị đầu cuối không đòi hỏi hợp ngữ và bày bán chúng như những thiết bị gia dụng. Một trong các cỗ máy đó là Commodore PET, được thiết kế bởi người đã phát minh ra con chip cốt lõi của máy tính Apple, chip 6502. Một chiếc khác là Radio Shack TRS-80, chiếc máy tính bằng nhựa, được lắp ráp theo dây chuyền và được bán với số lượng lớn trong hàng trăm cửa hàng của Radio Shack trên khắp nước Mỹ.

Chế tạo máy tính không còn là một nỗ lực hay một quá trình học hỏi nữa. Vì thế, trong số những người tiên phong của Homebrew, nhiều người đã chuyển từ chế tạo máy tính sang sản xuất máy tính, và giờ đây thay cho mối liên kết chung là sự cạnh tranh để duy trì thị phần giữa họ. Điều đó đã làm chậm lại tiến trình đã được vinh danh qua thời gian của Homebrew trong việc chia sẻ mọi kỹ thuật hay từ chối các bí mật và giữ cho dòng chảy thông tin không bị gián đoạn. Vào thời điểm Altair BASIC của Bill Gates xuất hiện, việc duy trì Đạo đức Hacker vẫn dễ dàng. Giờ đây, khi cổ đông chính của các công ty đang phải chu cấp cho hàng trăm nhân viên, các hacker bắt đầu thấy rằng mọi việc không còn đơn giản như thế. Đột nhiên, họ đã có những bí mật cần phải giữ kín.

“Thật thú vị khi quan sát những người vô chính phủ thực hiện các vai trò khác nhau,” Dan Sokol nhớ lại. “Mọi người đã thôi không tới Câu lạc bộ nữa. Homebrew [vẫn được điều hành bởi Lee Felsenstein, người luôn giữ được nhiệt huyết với hacker] vẫn mang chủ nghĩa vô chính phủ: Mọi người sẽ hỏi bạn về công ty và bạn sẽ phải nói rằng: ‘Tôi không thể cho anh biết điều đó.’ Tôi đã giải quyết việc đó theo cách khác – Tôi không ra đi. Tôi không muốn đi mà không nói gì với mọi người. Sẽ chẳng có nơi nào ngoài kia khiến ta có thể dễ dàng cảm thấy thoải mái về điều đó.”

Homebrew vẫn thu hút hàng trăm người tới các buổi họp và danh sách người nhận thư đã lên tới 1.500 người – nhưng ở đó vẫn còn nhiều người học việc cùng với các vấn đề không phải là thử thách đối với những người cũ từng chế tạo những chiếc máy khi mà việc đó gần như là bất khả thi. Việc đến các buổi họp không còn cần thiết nữa. Những người đã gia nhập các công ty như Apple, Processor Tech và Cromemco thì lại quá bận rộn. Bản thân các công ty cũng tự tạo ra các cộng đồng chia sẻ thời gian của riêng họ.

Apple là một ví dụ điển hình. Steve Wozniak và hai người bạn trẻ tuổi của anh, Espinosa và Wigginton, đã quá bận rộn với doanh nghiệp non trẻ này tới mức không thể đến Homebrew nữa. Chris Espinosa giải thích: “[Sau Hội chợ Điện toán], sự có mặt của chúng tôi ở Homebrew bắt đầu giảm dần và hoàn toàn chấm dứt vào cuối mùa hè năm 1977. Vì thế, chúng tôi đã tạo ra Câu lạc bộ máy tính của riêng mình [tại Apple] để tập trung và chú trọng hơn vào việc sản xuất sản phẩm. Khi bắt đầu gia nhập Apple, chúng tôi đã biết mình muốn làm việc với điều gì, và đã dành tất cả thời gian của mình để hoàn thiện, mở rộng cũng như thực hiện nó nhiều hơn nữa; đồng thời chúng tôi muốn đi sâu vào một vấn đề thay vì bao phủ toàn bộ lĩnh vực, và loanh quanh với những gì mà mọi người đang làm. Đó là cách chúng tôi tạo ra một công ty.”

Theo nhiều nghĩa, “Câu lạc bộ máy tính” tại trụ sở Cupertino của Apple đã phản chiếu chính xác cảm giác cộng đồng và chia sẻ của Homebrew. Mục tiêu chính thức của công ty mang tính truyền thống – kiếm tiền, tăng trưởng, giành thị phần – và việc đó đòi hỏi cần phải giữ một số bí mật ngay cả đối với những người như Steve Wozniak, người luôn coi sự cởi mở là nguyên lý trung tâm trong Đạo đức Hacker mà anh đã điên cuồng theo đuổi. Nhưng điều đó cũng đồng nghĩa với việc mọi người trong công ty có thể trở nên thân thiết hơn. Họ sẽ phụ thuộc vào nhau trong việc trao đổi các gợi ý về chương trình BASIC phẩy động hay thẻ máy in song song. Và đôi khi, cộng đồng đó cũng đủ lỏng lẻo để chấp nhận một vài người bạn cũ tại Homebrew. Chẳng hạn, vào giữa năm 1977, John Draper đã xuất hiện.

Cựu “Đội trưởng Răng rắc” đã gặp rắc rối. Có vẻ có một số nhà chức trách cảm thấy khó chịu với việc anh tự nguyện chia sẻ các bí mật của công ty điện thoại với bất kỳ ai yêu cầu; các đặc vụ FBI đã lần theo dấu vết và theo báo cáo của anh về vụ việc. Họ đã gài một kẻ chỉ điểm để lừa anh nói về hộp xanh trong khi các đặc vụ đã phục sẵn để ập vào bắt anh. Với bản án lần thứ hai này, anh bị tuyên án tù ngắn hạn, và việc bị tống vào tù không hề dễ dàng với vị Đội trường hay thích gây gổ này, người từng rống lên như bò nếu ai đó châm một điếu xì gà trong bán kính phạm vi 5-6m chỗ anh ngồi. Sau khi được thả, anh cần một công việc hợp pháp, và Woz đã giúp anh bằng cách thuê anh làm cố vấn, thiết kế một bảng mạch giao tiếp điện thoại có thể cắm vào một trong các khe cắm mở rộng của máy tính Apple, cho phép người dùng kết nối điện thoại với máy tính.

Draper vui vẻ làm việc với bảng mạch đó. Mọi người ở Apple rất thích phong cách lập trình của anh với sự đan xen thú vị giữa những lần thông minh đột xuất và những chuyến đi vòng mô phạm lạ kỳ. Draper là một lập trình viên kiểu “phòng thủ”. Chris Espinosa, người phải miễn cưỡng trông chừng anh chàng Đội trưởng khó đoán ấy, giải thích: “Giả sử, bạn đang viết chương trình thì phát hiện ra mình vừa phạm phải sai lầm, chẳng hạn như mỗi lần cố gắng sử dụng chương trình, bạn lại đột nhiên thấy xuất hiện một nút bấm. Hầu hết các lập trình viên sẽ ngồi xuống, phân tích chương trình, tìm ra nguyên nhân khiến nút đó xuất hiện và sửa lại. Còn Draper thì sẽ lao vào sửa đoạn mã liên quan đến nút bấm đó sao cho khi có lỗi xảy ra, chương trình sẽ phát hiện ra lỗi và tự sửa, thay vì tránh lỗi đó ngay từ đầu. Buồn cười là, nếu chương trình con thực hiện phép tính cộng của Draper cho ra kết quả 2 + 2 = 5, anh ấy sẽ đặt một mệnh đề trong chương trình là, nếu 2 + 2 = 5 thì câu trả lời là 4. Đó thường là cách viết chương trình của anh.”

Trong khi các hacker tại Apple cảm thấy thích thú với phong cách kỳ lạ của John Draper và coi nó như một sản phẩm giàu tính năng thì những người chịu trách nhiệm về kinh doanh của công ty lại nghe phong thanh về những khả năng trong thiết kế của anh. Họ không thích nó. Apple không phải là nơi để trình diễn các mẹo vặt; đây không còn là Homebrew nữa. Và bảng mạch của John Draper có thể thực hiện một số mẹo khá tinh vi – đó là một chiếc hộp xanh được điều khiển bằng máy tính. Điều Stewart Nelson đã làm với PDP-1 hơn một thập kỷ trước giờ đây đã có thể được thực hiện ở nhà. Bản năng hacker là khám phá khả năng của phần cứng này, thứ sẽ cho phép bạn khám phá các hệ thống trên toàn thế giới. Dù Apple cảm thấy có thể thu lợi từ Đạo đức Hacker thông qua việc cung cấp thông tin về cấu trúc bên trong của chiếc máy, và phân phối máy tính dưới dạng các hệ thống hoàn chỉnh để khám phá, nhưng họ lại chẳng màng đến việc thúc đẩy chủ nghĩa hacker thuần túy. Sau tất cả thì đây là một doanh nghiệp, với dòng tín dụng và vô vàn nguồn vốn đầu tư mạo hiểm được những người mặc comple ba mảnh chẳng hề liên can gì tới hack điện thoại cung cấp. “Khi Mike Scott phát hiện ra những điều mà [bảng mạch của Draper] có thể làm được,” Espinosa kể lại, “ông ấy đã ngay lập tức dừng dự án. Nó nguy hiểm tới mức không thể phát tán ra thế giới để ai cũng có thể có nó.”

Triệt tiêu dự án đó là điều đương nhiên với công ty Apple Computer đang bùng nổ, khi những chiếc máy tính của họ đang bán rất chạy, và ngày càng mở rộng quy mô với tốc độ làm lóa mắt các đồng môn tại Homebrew. Chẳng hạn, vào cuối mùa hè năm 1977, Randy Wigginton đã nhận ra rằng Apple Computer đã dẹp tan câu chuyện tăng trưởng thông thường mà chúng ta vẫn biết. Đó là khi mọi người tới nhà của Mike Markkula để dự bữa tiệc chúc mừng việc xuất xưởng số lượng thiết bị trị giá 25.000 đô-la trong tháng đó. Đây chỉ là bước khởi đầu của việc đưa Apple trở thành một doanh nghiệp tỷ đô trong vòng 5 năm tới.

Trong lúc tất cả mọi người tại Apple đang ăn mừng việc tăng trưởng doanh số bán hàng – những núi tiền sẽ khiến nhiều người trong số họ trở thành tỷ phú – thì John Draper lại ở nhà chơi với chiếc Apple của mình. Anh cắm bảng mạch hoàn chỉnh vào chiếc Apple II rồi kết nối nó với đường dây điện thoại. Anh cũng thiết lập để nó có thể “quét” toàn bộ các chuyển mạch điện thoại, tìm kiếm các tín hiệu chỉ báo cho anh biết rằng ở phía bên kia đường dây là một chiếc máy tính. Và đó là một chiếc máy tính mới tinh mà một hacker có thể thâm nhập và khám phá. Anh đã hack một chương trình, mà ở đó máy tính có thể tự quay số. “Đó có vẻ là một việc vô thưởng vô phạt,” anh kể lại. Chiếc máy tính đã tự thực hiện 150 cuộc gọi mỗi giờ. Mỗi khi phát hiện ra một chiếc máy tính ở đầu dây bên kia, chiếc máy in gắn với nó sẽ in ra số điện thoại của chiếc máy tính ấy. Sau 9 giờ, John Draper đã in ra số điện thoại của tất cả những chiếc máy tính cùng nằm trong bộ chuyển mạch ba chữ số. “Tôi chỉ thu thập rồi để đấy,” anh giải thích. Thiết lập của anh cũng có thể phát hiện các số dịch vụ WATS Extenders, qua đó có thể thực hiện các cuộc gọi đường dài. (Hệ thống của John Draper sau này sẽ trở thành hình mẫu cho cuộc tấn công điện toán của các hacker trẻ tuổi trong bộ phimWarGames.)

Thật không may, công ty điện thoại đã thận trọng phát triển một thiết bị phát hiện hack điện thoại. Kết quả chưa từng có của John Draper với hơn 20.000 cuộc gọi trong chưa đầy một tuần không chỉ cảnh báo rằng có gì đó đang làm cạn kiệt giấy in của các công ty điện thoại khi họ ghi nhận nhật ký về những điều bất thường này. John Draper đã phải đối mặt với các nhà chức trách một lần nữa. Đó là lần bị kết án thứ ba của anh và là lần đầu tiên với một chiếc máy tính tại nhà. Đây quả là một khởi đầu đầy đen đủi cho kỷ nguyên mới của việc hack điện thoại bằng máy tính cá nhân.

☆ ☆ ☆

Một số người cho rằng sự ra đời của ngành công nghiệp máy tính giá rẻ đồng nghĩa với chiến thắng. Họ tin rằng sự phát triển rộng rãi của máy tính cùng các bài học nội tại của nó về sự cởi mở và sáng tạo sẽ tự thúc đẩy Đạo đức Hacker. Nhưng với Lee Felsenstein thì cuộc chiến mới chỉ bắt đầu.

Lee vẫn luôn đau đáu mong muốn khôi phục lại nhóm CM. Anh vẫn không thoát ra được hào quang mà anh từng được trải nghiệm thoáng qua tại Leopold’s Record. Thật vô cùng trớ trêu khi biết rằng sự phát triển của ngành công nghiệp máy tính cá nhân đã được hỗ trợ một phần nhờ sự xuất hiện của modem Pennywhistle, bảng mạch video VDM, máy tính Sol, tất cả các phần của Thiết bị đầu cuối Tom Swift huyền thoại, một chiếc máy tính chỉ có thể được sử dụng ở các thiết bị đầu cuối truy cập công khai tại các chi nhánh của Community Memory. Trớ trêu ở chỗ ngày càng nhiều đồng sự của Lee nhất trí rằng khái niệm từng mang tính táo bạo của Community Memory – và bản thân Thiết bị đầu cuối Tom Swift – đã bị thay thế bởi việc mọi người nhanh chóng chấp nhận những chiếc máy tính gia đình. Không có vấn đề gì khi mong muốn một thiết bị đầu cuối công khai trở thành yếu tố cốt lõi của trung tâm thông tin vốn là “hỗn hợp của các thư viện nhánh, trung tâm trò chơi, các quán cà phê, công viên thành phố và bưu điện”. Sao lại phải ra khỏi nhà để tìm một thiết bị đầu cuối của Community Memory trong khi họ có thể sử dụng một chiếc máy tính Apple, cùng với giao diện điện thoại ngay tại nhà để kết nối với bất kỳ cơ sở dữ liệu nào trên thế giới?

Bản thân Thiết bị đầu cuối Tom Swift có thể được xếp xó nhưng Lee vẫn giữ nguyên mục tiêu của mình. Cuốn tiểu thuyết khoa học viễn tưởng mà ở đó anh là nhân vật chính đang trải qua một bước ngoặt lớn, xác thực rằng đó quả thực là một công việc trọng đại. Trong “2 năm không thể nào quên” kể từ sau thành công của Hội chợ Điện toán, anh đã chứng kiến sự sụp đổ của công ty. Processor Technology (PT) đã tăng trưởng quá nhanh nhưng việc quản lý lại quá thiếu sót để có thể tồn tại. Trong suốt năm 1977, các đơn đặt hàng Sol đã vượt quá khả năng đáp ứng của công ty. Theo Bob Marsh sau này ước tính, là trong năm tài chính đó, công ty đã bán được lượng hàng trị giá 500.000 đô-la, tương đương với khoảng 8.000 chiếc máy. Họ đã dọn tới một trụ sở ở phía đông Vịnh với diện tích hơn 3.000 mét vuông.

Nhưng ngay cả khi tương lai có vẻ tươi sáng, Bob Marsh và Gary Ingram đã dự tính rằng nếu doanh thụ đạt mức 15-20 triệu đô-la, họ sẽ bán công ty và trở nên giàu có, thì công ty vẫn phải chịu số phận bi đát do thiếu kế hoạch và không thể đương đầu với áp lực cạnh tranh đến từ những chiếc máy tính mới rẻ hơn và bóng bẩy hơn như Apple, PET, TSR-80. Marsh kể lại rằng công ty đã xem xét việc gia nhập phân khúc giá rẻ của thị trường, nhưng nó đã phải đương đầu với sức mạnh của các công ty cạnh tranh khi họ tuyên bố đã hoàn thành những chiếc máy tính với tầm giá dưới 1.000 đô-la. Anh nhận ra PT có thể bán Sol dưới dạng một thiết bị đắt đỏ nhưng chất lượng hơn, giống như những bộ khuếch đại MacIntosh trong lĩnh vực âm thanh. Nhưng công ty đã bỏ lỡ cơ hội phát triển sản phẩm hiệu quả khi hệ thống lưu trữ ổ đĩa của họ được chứng minh là không đáng tin cậy. Và họ cũng không thể phát hành phần mềm cho những chiếc máy của mình đúng hạn. Sau đó, sẽ có các thông báo về sản phẩm sắp tới trong bản tin PT, một ấn bản sinh động xen lẫn báo cáo lỗi với nhữngtrích dẫn khó hiểu. Sau nhiều tháng trễ hẹn, các sản phẩm, cả chương trình phần mềm lẫn các thiết bị ngoại vi phần cứng đều chưa sẵn sàng. Khi PT nhận được lời đề nghị bán máy tính Sol thông qua một chuỗi cửa hàng máy tính mới có tên là Computerland thì Marsh và Ingram đã từ chối và nghi ngờ rằng chủ của chuỗi cửa hàng ấy cũng là những người vận hành công ty (cũng đang phải tự vật lộn và sắp sửa phá sản) sản xuất máy tính IMSAI. Vậy là thay vì Sol, Apple mới là những chiếc máy tính được bán dưới dạng máy tính-thiết bị đầu cuối tại Computerland.

“Thật xấu hổ khi thỉnh thoảng chúng tôi lại có những suy nghĩ ngớ ngẩn như vậy,” Marsh thú nhận. Họ không có một kế hoạch kinh doanh nào. Mọi thứ không được đưa ra đúng hạn, tín dụng không được mở rộng tới các khách hàng ưu tiên và những sai lầm thường xuyên của PT trong việc giao hàng cũng như sự thiếu chuyên nghiệp với các nhà cung cấp đã đem đến cho công ty tai tiếng về sự kiêu căng và tham lam.

“Chúng tôi chỉ vi phạm một số luật cơ bản của tự nhiên,” Marsh kể lại. Doanh số bán hàng giảm, nguồn tiền để vận hành công ty cũng không còn nữa. Và lần đầu tiên, họ phải đi tìm tới nhà đầu tư. Adam Osborne, một người hay châm chọc có tiếng của ngành công nghiệp non trẻ, đã giới thiệu họ với những người sẵn sàng đầu tư, nhưng Marsh và Gary Ingram không muốn từ bỏ lượng cổ phần đáng kể của công ty. “Họ thật tham lam,” Osborne sau này kể lại. Vài tháng sau, khi công ty sắp phá sản, Marsh đã quay lại để chấp nhận đề xuất đó. Nhưng mọi chuyện đã quá muộn.

“Chúng ta có thể đã ngang hàng với Apple,” Bob Marsh nói sau nhiều năm. “Nhiều người nói rằng năm 1975 là năm của Altair, năm 1986 là của IMSAI còn năm 1977 là năm của Sol. Đó là những cỗ máy thống trị thị trường.” Nhưng giai đoạn cuối “2 năm không thể nào quên” đó, những công ty chế tạo máy tính dưới dạng bộ linh kiện, những thứ mà các hacker phần cứng từng thích sử dụng… không còn nữa. Những chiếc máy tính cá nhân thống trị thị trường là Apple, PET, TRS-80, mà ở đó việc tạo ra phần mềm về cơ bản đã được thực hiện sẵn cho bạn. Mọi người mua những cỗ máy này để hack phần mềm.

Lee Felsenstein có lẽ là người thụ hưởng lớn nhất về mặt tài chính trong lịch sử ngắn ngủi của Processor Technology. Anh chưa từng là nhân viên chính thức, và tiền bản quyền của anh với Sol cuối cùng ở mức hơn 100.000 đô-la. Anh không bao giờ nhận được 20.000 đô-la tiền bản quyền cuối cùng. Hầu hết số tiền đã được chi cho hiện thân mới của CM khi họ vừa thiết lập một trụ sở mới tại một ngôi nhà hai tầng có gác xép trông như kho thóc, và rộng rãi ở một khu công nghiệp phía Tây Berkeley. Efrem Lipkin và Jude Milhon của nhóm ban đầu nằm trong số các thành viên tận tụy của Tập thể CM mới, và tất cả đều thề sẽ làm việc nhiều giờ với mức lương đủ để sống qua ngày nhằm tái lập các trải nghiệm ly kỳ mà họ đã có hồi đầu thập kỷ. Họ cần nỗ lực rất nhiều để phát triển một hệ thống mới; vì thế, nhóm cho rằng họ sẽ tích lũy vốn từng chút một thông qua việc viết các sản phẩm phần mềm cho những chiếc máy tính cỡ nhỏ này.

Trong khi đó, Lee đã bị phá sản. “Công việc phù hợp nhất với tôi lúc này là dừng việc [chế tạo] lại và kiếm một việc làm. Nhưng tôi đã không làm thế,” anh kể lại. Thay vào đó, anh làm một việc gần như vô nghĩa khi thiết kế một phiên bản tiếng Thụy Điển cho Sol. Năng lượng của anh được phân chia giữa các cuộc họp sốt sắng một cách vô vọng của Community Memory với các cuộc họp của Homebrew mà anh vẫn điều hành một cách đầy tự hào. Câu lạc bộ giờ đây đã nổi tiếng khi máy vi tính được ca ngợi là ngành công nghiệp tăng trưởng chính trên toàn nước Mỹ. Và ví dụ điển hình cho điều đó là việc Apple Computer đã thu về lợi nhuận 139 triệu đô-la trong năm 1980, năm công ty này được niêm yết ra công chúng, giúp tổng tài sản của Jobs và Wozniak vượt qua con số 300 triệu đô-la. Họ đã chuyển sang Chế độ Triệu đô.

Đó là năm mà Lee Felsenstein tình cờ gặp Adam Osborne tại Hội chợ Điện toán. Màn trình diễn của Jim Warren giờ đây đã trở thành một sự kiện thường niên thu hút khoảng 50.000 người trong một cuộc họp cuối tuần. Osborne là một người Anh sinh ra ở Bangkok, có thói quen gọn gàng, khoảng 40 tuổi với bộ râu màu nâu cùng thói kiêu căng hống hách đã khiến chuyên mục của anh trên các tạp chí thương mại (có tên “From the Fountainhead” (tạm dịch: Từ suối nguồn)) mang tiếng xấu. Nhờ trước đây từng là một kỹ sư nên Osborne đã kiếm được bộn tiền nhờ xuất bản các cuốn sách đầu tiên về máy tính. Đôi khi, anh mang theo các thùng sách tới các buổi họp của Homebrew và ra về với chiếc thùng rỗng cùng một đống tiền mặt. Hàng trăm ngàn bản sách của anh đã được bán ra, nhà phát hành của anh đã được McGraw-Hill mua lại, và giờ đây, “với số tiền có trong tay”, anh đang xem xét tới việc sản xuất máy tính.

Triết lý của Osborne là tất cả các sản phẩm hiện tại đều hướng quá nhiều tới hacker. Anh không tin rằng mọi người quan tâm tới những điều kỳ diệu mà các hacker tìm thấy bên trong chiếc máy tính. Anh không hề đồng cảm với những người muốn biết cách thức hoạt động của chúng, hay những người muốn khám phá và cải tiến các hệ thống mà họ đã nghiên cứu hoặc từng mơ về. Theo anh, việc truyền bá Đạo đức Hacker chẳng giúp thu được lợi gì; máy tính chỉ đơn giản là các ứng dụng, giống như công cụ xử lý văn bản hay tính toán tài chính. Ý tưởng của anh là cung cấp một chiếc máy tính không tỳ vết đi kèm với tất cả những gì bạn cần – Osborne cho rằng mọi người sẽ trở nên hạnh phúc nhất khi được giải thoát khỏi các lựa chọn gây khó hiểu, chẳng hạn như phải mua chương trình soạn thảo văn bản nào. Nó sẽ phải rẻ và đủ nhỏ để mang lên máy bay. Đó chính là một chiếc Volkscomputer di động. Và anh đã nhờ Lee Felsenstein thiết kế nó. Do chiếc máy mà anh muốn chỉ cần “vừa đủ” nên việc thiết kế nó không phải là nhiệm vụ quá khó khăn. “Có khoảng 5.000 người ở vùng bán đảo có thể làm được,” Osborne sau này kể lại. “Và tôi chỉ tình cờ biết đến Lee.”

Và thế là để đổi lấy 25% cổ phần công ty chưa thành lập này, Lee Felsenstein đã thiết kế cỗ máy. Anh đã diễn dịch yêu cầu của Osborne về chiếc máy tính “vừa đủ” trở thành kiểu công việc chế tạo đồng nát mà anh thường làm, đảm bảo sao cho thiết kế đủ chắc chắn để hỗ trợ các thành phần được kiểm thử cẩn thận trong một kiến trúc tránh được nhiều vấn đề lắt léo. “Việc có thể tạo ra một thiết kế tuyệt vời, đầy đủ, có thể hoạt động tốt, giá rẻ, dễ chế tạo và không có điều gì khác thường là một công việc mang tính nghệ thuật,” anh kể lại. Nhưng Lee biết rằng anh có thể thỏa mãn tất cả các yêu cầu. Lee thừa nhận anh luôn có một sự sợ hãi phi lý đối với Adam Osborne; anh nghĩ mình đã coi Adam là một hình tượng quyền lực suốt thời thơ ấu. Chẳng có cách nào để hai người này có thể giao tiếp một cách sâu sắc với nhau. Một lần, Lee đã cố gắng giải thích về Community Memory với Osborne – sự nghiệp thực thụ của anh – nhưng Osborne “không tài nào hiểu được”, Lee bùi ngùi nói. “Có lẽ anh ấy là một trong những người cuối cùng hiểu về Community Memory khi thấy nó và sử dụng nó.” Dù vậy, Lee đã làm việc chăm chỉ cho Adam Osborne tại trụ sở của Community Memory, và anh đã hoàn thành công việc trong 6 tháng.

Anh cho rằng mình đã thỏa mãn được các yêu cầu kỹ thuật cũng như nghệ thuật trong việc chế tạo chiếc máy sau này được biết đến dưới cái tên Osborne 1. Các nhà phê bình sau này nói rằng chiếc vỏ nhựa có màn hình nhỏ 12,7cm không mấy thoải mái cùng một vài vấn đề khác, nhưng khi xuất hiện lần đầu tiên, chiếc máy đã nhận được rất nhiều lời khen ngợi, và Osborne Computer nhanh chóng trở thành một công ty trị giá hàng triệu đô-la. Và đột nhiên Lee Felsenstein đã có hơn 20 triệu đô-la. Tất nhiên là chỉ trên giấy tờ.

Anh vẫn giữ nguyên phong cách sống trong suốt nhiều năm: Vẫn sống trong một căn hộ đơn giản trên tầng hai với giá thuê chưa đến 200 đô-la mỗi tháng; vẫn sử dụng dịch vụ giặt là ở một tiệm nhỏ gần văn phòng của Osborne ở Hayward. Nhượng bộ duy nhất là anh đã lái chiếc BMW mới của công ty. Nhưng có lẽ là do tuổi tác, một số buổi vật lý trị liệu, sự trưởng thành cũng như thành công trông thấy của mình đã khiến anh trưởng thành theo nhiều cách khác nhau. Khi gần 40 tuổi, anh đã tự mô tả mình là kẻ “vẫn đang bám đuổi, trải qua những trải nghiệm mà bạn thường thấy đầu những năm đôi mươi.” Anh có bạn gái, một đồng nghiệp ở Osborne Computer, và họ gắn bó với nhau trong một thời gian dài.

Trong số cổ phần mà Lee đã bán, phần lớn được dành cho CM, nơi đã cùng anh trải qua những khoảng thời gian khó khăn ngay giữa giai đoạn bùng nổ máy tính.

Nhóm đã dành nhiều công sức để phát triển phần mềm và bán chúng để kiếm tiền phục vụ cho việc thiết lập hệ thống phi lợi nhuận của CM. Nhưng một cuộc tranh luận đã nổ ra trong nhóm về sự đúng đắn của việc bán phần mềm cho bất kỳ ai quan tâm tới việc sử dụng nó hay chỉ giới hạn sao cho nó không mang lại bất kỳ lợi ích quân sự nào. Chẳng có gì rõ ràng về việc quân đội muốn mua phần mềm này, thứ chỉ có một cơ sở dữ liệu cùng các ứng dụng truyền thông hữu ích cho các doanh nghiệp nhỏ hơn là những tay buôn vũ khí. Nhưng đây là những người Berkeley cấp tiến đầy cứng rắn nên các thảo luận kiểu như vậy là không thể tránh khỏi. Người lo lắng nhiều nhất về quân đội là Efrem Lipkin, một hacker được trời phú cho tài năng điện toán nhưng lại ghê tởm đến mức ám ảnh các ứng dụng của nó.

Lee và Efrem không đồng quan điểm với nhau. Efrem không bị ngành công nghiệp máy tính cá nhân mê hoặc, anh chỉ coi nó như thứ “đồ chơi xa xỉ cho tầng lớp trung lưu”. Anh nghĩ chiếc máy tính Osborne thật “ghê tởm”. Anh đã phẫn nộ trước những gì Lee làm với Osborne trong khi anh và những người khác đang làm việc ở CM với mức lương rẻ mạt. Việc đổ rất nhiều tiền vào CM vì công việc của Lee có liên quan đến cỗ máy mà Lipkin ghét giống như một lỗi chương trình, một lỗi nghiêm trọng không thể sửa chữa. Lipkin là một hacker thuần túy; dù thống nhất với Lee trên tinh thần của CM – sử dụng máy tính để đưa mọi người xích lại gần nhau hơn – nhưng anh không thể chấp nhận được việc bán bất kỳ phần mềm nào mà anh viết cho quân đội.

Vấn đề còn phức tạp hơn thế. Những chiếc máy tính cá nhân như Apple và Osborne, cùng với những modem mang phong cách chiếc Pennywhistle của Lee, là minh chứng khác về những gì mà Community Memory đang hướng tới. Mọi người đã sử dụng máy tính để giao tiếp. Chẳng còn những chiếc hộp đen ma quỷ đến phát khiếp. Họ thậm chí còn chán nản, công nghệ điện toán không chỉ phổ biến quanh cửa hàng Leopold’s Record, mà thậm chí còn được bán ở đó dưới dạng phần mềm thay thế cho đĩa hát trên một số kệ. Jude Milhon, bạn thân của cả Lee và Efrem, người đã cống hiến một phần đáng kể cuộc đời cho Community Memory, khó khăn lắm mới thốt nên lời khi trao đổi về việc này, nhưng cô biết: đó là một sự bùng nổ. Cuộc cách mạng năm 2100 đã kết thúc khi mà năm 1984 còn chưa qua đi. Máy tính được chấp nhận như những công cụ hữu ích và những ai có khả năng chi trả có thể tiếp cận được sức mạnh của nó thông qua hàng nghìn cửa hàng bán lẻ.

Efrem Lipkin đã vỡ mộng và “phát hỏa” trong một cuộc họp. Anh đã chỉ ra các thất bại của nhóm. “Về cơ bản, tôi cho rằng nhóm đã không còn hoạt động hiệu quả,” anh kể lại. Anh đặc biệt gay gắt với hành động tài trợ tài chính của Lee dành cho nhóm.

Lee nói với anh rằng những đồng tiền bẩn thỉu này đang được dùng để trả lương cho Efrem.

“Giờ thì không còn nữa,” Efrem nói. Và anh đã rời đi.

Chỉ trong vòng chưa đầy một năm, Osborne Computer đã biến mất. Những sai lầm cẩu thả trong quản trị còn tồi tệ hơn cả ở Processor Technology đã khiến công ty trở thành một trong những thảm họa tài chính lớn đầu tiên trong “Cuộc cải tổ Điện toán Vĩ đại”. Hàng triệu đô-la trên giấy tờ của Lee đã nhanh chóng bốc hơi.

Nhưng những giấc mơ của anh thì vẫn còn đó. Một cuộc chiến lớn đã thắng lợi. Giờ đây, khi hai phần ba cuốn tiểu thuyết khoa học viễn tưởng của anh đã hoàn thành, đã tới lúc anh cần tập trung lực lượng cho cú đánh cuối cùng để đến với sự vĩ đại. Vào thời điểm trước khi Osborne Computer phá sản, Lee đã than vãn về bản chất mờ nhạt của hầu hết các loại máy tính hiện hành, chúng đều thiếu đi sự cần thiết bắt buộc mọi người phải thực sự thâm nhập vào các con chip và bảng mạch để chỉnh sửa. Anh nói rằng việc xây dựng phần cứng là một cách tư duy khách quan. Thật xấu hổ nếu việc đó bị gạt sang bên lề và chỉ giới hạn ở một vài người. “[Sự kỳ diệu] sẽ luôn ở đó trong một chừng mực nào đó. Khi nhắc tới cỗ máy thần thánh, nghĩa là bạn đang nói về vị thần bên trong chiếc máy. Bạn sẽ bắt đầu với việc nghĩ rằng có một vị thần bên trong chiếc hộp. Và rồi bạn phát hiện ra chẳng có thứ gì trong đó cả. Bạn chính là vị thần đó,” Lee nói.

Lee Felsenstein và các hacker phần cứng đã giúp tạo ra cuộc chuyển đổi từ thế giới của hacker MIT, nơi Đạo đức Hacker chỉ có thể phát triển rực rỡ bên trong những cộng đồng giới hạn có phong thái kiểu tu sĩ xung quanh máy tính, sang một thế giới mà máy tính phổ biến ở khắp mọi nơi. Giờ đây, hàng triệu chiếc máy tính đang được sản xuất, mỗi chiếc là một lời mời lập trình, khám phá và huyền thoại hóa nó bằng ngôn ngữ máy, để mang đến những thay đổi cho thế giới này. Máy tính đã bước ra khỏi dây chuyền sản xuất như những tờ giấy trắng; một thế hệ hacker mới sẽ lại xuất hiện; và những phần mềm mà họ tạo ra sẽ được giới thiệu với thế giới mà ở đó máy tính được nhìn nhận theo cách thức hoàn toàn khác so với một thập kỷ trước đó.

« Lùi
Tiến »