Thuần đi rồi, bà Huấn quay sang tôi :
– Đấy, cậu xem cháu có dại-dột không? Cử-nhân Luật thì bổ tri-phủ, tri-huyện. Lại có của, có thần-thế, mấy chốc rồi lên án-sát, tổng-đốc. Một bước lên bà lớn, không muốn, còn muốn cái gì ? Chả nhẽ cha mẹ biết mà không bảo con. Bảo nó thì nó cho là mình ép-duyên nó. Ừ, bảo phán Tâm bên cạnh, nó không lấy đã đành, bởi dù nhà giầu có, nhưng chẳng qua chỉ là anh thông-phán làm ti-thuộc người ta. Chứ đằng này những Cử-nhân Luật, một bước làm quan. Cậu thử tính xem ở nước nhà có mấy Cử-nhân Luật. Có phải Cử-nhân Luật thì phải thông-minh và dầy công học-tập lắm mới đỗ được không ? Cậu thì cũng như người nhà, thôi cậu cố khuyên nó cho tôi.
Tôi không biết nói thế nào, đành phải nói xuôi:
– Vâng, để con bảo cô ấy.
Nhưng nào bà Huấn đã buông tha cho tôi đâu, bà còn tả cho tôi phần hạnh-phúc và cái tương-lai rực-rỡ nếu Thuần bằng lòng lấy cái ông Cử-nhân Luật ấy :
– Cậu tính, con dâu một quan Tuần, vợ một ông Cử du-học ở Tây về, đi đến đâu không kẻ quý, người nể. Mà mình làm dâu-da với chỗ ấy thì mình cũng được mát mặt, con mình cũng được mát mặt.
Tôi còn hi-vọng ở ông Huấn về chỗ ông hiểu biết lòng người và việc đời hơn, nhưng sau xét ra ông chẳng hiểu gì hết. Từ lúc nãy đến giờ, bà Huấn nói, ông chỉ ngồi nghe. Mãi bây giờ, ông mới nói… nói một câu độc-đoán nó như lưỡi dao chém đứt cái hi-vọng cuối-cùng của tôi :
– Bà đã xét là phải, thì cứ gả, việc gì còn phải hỏi nó. Trẻ con biết gì.
– Thôi, hẵng cứ để cậu Cung cậu ấy lên giảng-giải lợi-hại cho nó nghe, xem nó bảo thế nào. Chứ gả thì hẳn là gả đứt đi rồi.
– Đã thế thì bà còn phải bàn làm gì ?
– Bàn thì cứ bàn, mà làm thì cứ làm.
Sau khi nói cái câu vô-lý ấy, bà Huấn quay lại nói với tôi một câu khiến cho tôi có cái cảm tưởng bị người ta nhổ bãi nước bọt vào mặt :
– Cậu cố khuyên bảo con Thuần giùm tôi, chóng, tôi làm mối cháu Thịnh cho cậu. Nó cũng có vô-số vốn.
Cô Thịnh là con ông em họ của bà, buôn bán ở phủ Kiến-Xương. Cô Thịnh lâu lâu có về chơi Hanoi, tôi có được gặp mặt mấy lần.
Thì ra bấy lâu nay bà vẫn coi tôi chỉ là thằng học-trò kiết, một nhân-vật số hai. Sở-dĩ bà dùng tôi trong nhà, chẳng qua chỉ để làm cái việc một thằng đầy-tớ trí-thức dạy Ân, Ấn và Thuần mà thôi. Chứ không bao giờ bà cho tôi là ngang hàng với Thuần cả. Tôi nghe bà nói thế mà tôi mừng…, mừng rằng tôi chưa nói thực ra với bà. Đã hèn, đã nhát, tôi lại còn nói một câu hèn, nhát hơn :
– Bà cứ để rồi con sẽ bảo cô ấy. Cám ơn bà, con chưa muốn lấy vợ, con còn cần phải lập công-danh.
Công-danh ? Thiếu-niên chỉ nói công-danh, nhưng họ có hiểu cái công-danh quý nhất ở đời là cái quái gì đâu ! Trong cái đầu óc hủ-lậu của họ, họ cứ nghĩ đỗ được cái bằng thành-chung, đỗ được cái bằng tú-tài, đỗ dược cái bằng cử-nhân, tiến-sĩ, rồi ra làm việc nhà nước, ra làm quan là công-danh đấy hẳn.
Ở đời, không có công-danh, chỉ có sự-nghiệp. Mà cái sự-nghiệp quý nhất là cái sự-nghiệp gây ra bởi trái tim : làm thế nào cho những người mình yêu và yêu mình được hoàn-toàn sung-sướng.
Những câu nói của bà Huấn làm cho tôi đã phân-vân, bối-rối lại phân-vân, bối-rối thêm. Trong đầu tôi bỗng nẩy lên mấy câu hỏi ngớ-ngẩn :
– Mình có quyền phá vỡ cái tương-lai rực-rỡ của nàng không ? Mình có thể để vì mình mà mẹ con người ta chia rẽ không ?
Khốn-nạn! thì đã bảo tuổi-trẻ không hiểu ái-tình và không biết tin ở ái-tình! Họ còn tưởng-tượng rằng hạnh-phúc của một người con gái đã yêu có thể tìm thấy ở ngoài ái-tình.
Những câu giả nhời toàn là do một trái tim ươn-hèn, nhưng lại không tự biết là ươn-hèn, mà còn tự cho là cao-thượng, biết hi-sinh:
– Không, mình không thể phá vỡ cái tương lai rực-rỡ của nàng. Mình không thể bắt nàng phải chịu chung cảnh nghèo-nàn của mình. Mình không thể gây ra những sự ngang-trái để cho mẹ con người ta chia rẽ nhau.
Tuổi trẻ không hiểu rằng một trái tim đã yêu, nếu bất-đắc-dĩ phải đi lấy một người khác thì sẽ bị một vết thương nó làm đen tối cả một đời. Họ không hiểu rằng: cái tương-lai rực-rỡ ở tiền-tài, ở danh-phận không phải là chân hạnh-phúc. Đó chỉ là lớp vàng mạ ngoài. Chân hạnh-phúc của người tình-nhân là yêu và được yêu mà thôi.
Tôi lúc ấy có một ý-định :
– Mình phải hi-sinh, mình phải hi-sinh !
Chỉ có tuổi trẻ điên-cuồng và ngu-tối mới có những lối hi-sinh khốn-nạn như thế. Thế có là hi-sinh đâu! Thế là hèn, thế là tỏ ra mình không xứng-đáng với hạnh-phúc.
Tôi biết tôi còn ở đây thì không khi nào nàng phụ tôi mà đi lấy người khác. Tôi nghĩ lẩn-thẩn – chỉ có tuổi trẻ mới có những điều nghĩ lẩn-thẩn như thế :
– Yêu nhau thì cứ gì lấy được người yêu mới là sung-sướng. Yêu nhau là thấy nhau có một tương-lai rực-rỡ, thấy nhau sung-sướng là mình sung-sướng rồi.
Nhưng còn một điều là nàng có thể tìm thấy sung-sướng khi xa tôi không thì tôi không dò hỏi tới.
Bây giờ chỉ còn một cách là tôi bỏ cái nhà này mà đi để cho nàng được thảnh-thơi gây tương-lai đời nàng. Với sự phú-quý, với người chồng đỗ-đạt, nàng sẽ quên tôi. Rồi… rồi một ngày kia, cạnh một người chồng xứng-đáng, trên một địa-vị cao sang, biết đâu nàng lại không cám ơn mình về chỗ mình biết vì hậu-vận nàng mà hi-sinh cho nàng.
Chí tôi đã quyết, nhưng đến khi thực-hành, nó mới khó làm sao !
Tôi dùng-dằng bốn năm lần mới đi được. Nguyên chiều nào từ ba giờ đến năm giờ nàng cũng đến nhà một người cô ở hàng Bột để học thêu, tôi bèn đem hết quần áo để vào va-li, rồi tôi xuống nói với ông bà Huấn rằng thầy tôi cho gọi tôi về có việc cần.
Lúc tôi xách va-li đi qua cửa buồng nàng, tôi tưởng chừng như có thể ngã gục xuống mà chết ngay ở đấy.
Thấy cửa buồng hé mở, tôi lẻn vào để nhìn chỗ nàng ngủ, để nhìn chăn, đệm, màn, gối, đồ-đạc mà nàng đã mó tay vào, để hít cái hơi hướm của nàng một lần cuối cùng nữa. Những đồ vật trong gian buồng ấy đã được chứng-kiến những cảm-giác của nàng lúc mong nhớ tôi, đau khổ vì tôi. Nghĩ đến đấy, máu tôi hình như đọng lại không chạy nữa.
Tôi đứng lặng, trố mắt nhìn, cái nhìn mất hết trí-khôn của người điên. Tôi đang như sống trong giấc mê thì bỗng con mèo tam-thể ở ngoài đi vào. Rồi một tiếng meo…eo làm cho tôi bừng tỉnh. Nó như những tiếng của con quỷ quát đuổi tôi ra. Tôi vội-vàng giật một tấm ảnh của nàng treo trên tường, rồi rảo bước xuống thang.
Sau khi chào mọi người, tôi đi ra. Nhưng tuy đi mà người lảo-đảo, các đồ-vật trong nhà như múa tít, hai vai như có vật gì nặng đè trĩu lên. Ra đến cửa thì hai chân như có bù-loong sắt tán chặt xuống đất không tài nào nhắc lên được. Tôi ngơ-ngác nhìn mọi người, nhìn đường, nhìn xe cộ qua lại mà chẳng hiểu mình đã làm gì, đương làm gì, sắp phải làm gì. Đầu tôi như một bãi sa-mạc nóng dậy, mà tim tôi lại như một khối băng lạnh giá. Tôi đứng ngây người ra đấy không biết bao nhiêu lâu. Mấy anh phu xe thấy tôi cầm va-li xô nhau chạy đến mời, tôi cũng không hay. Mãi sau, tiếng mợ Cả bảo :
– Kia, cậu lên xe đi không nhỡ tầu !
Tôi mới vội-vàng như người máy, bước lên xe. Anh xe hỏi tôi đi đâu, tôi chỉ trỏ tay ra phía Bờ-hồ. Nhìn thấy nước Hồ Gươm xanh biếc, tôi sực nghĩ đến bao nhiêu người bị thất-vọng vì tình đến chết ở đây. Trong đầu tôi, vụt nẩy ra ý-định tự-tử. Tự-tử là…hết mọi sự đau-đớn. Tự-tử là yên thân.
Trông làn nước xanh mát-mẻ như mời, như gọi, tôi toan bảo xe đỗ, nhưng sực nhớ ra rằng mình biết bơi, tôi lại bảo xe chạy về phố Hà-trung, đến nhà anh Hiển là người bạn thân nhất của tôi ở trường.
Tôi kể hết sự tình cho bạn rõ. Bạn tôi lẳng-lặng nghe đến khi tôi kể hết, bạn vùng đứng dậy vỗ vai tôi :
–Tu as bien fait! Tu as bien fait !
Khốn-nạn ! Bạn tôi cũng đương tuổi như tôi, cái tuổi giầu lòng tự-ái, cái tuổi hiểu danh-dự một cách sai lầm, cái tuổi ngu-dốt chẳng rõ một tí gì về lòng người và việc đời, cái tuổi không biết yêu, không xứng-đáng được yêu. Trong cái tuổi ấy, thiếu-niên chỉ giầu một tấm lòng bồng-bột hão-huyền mà thôi.
Tôi nghe bạn nói thế mà muốn tát ngay cho một cái vào mặt. Tôi không rõ lúc ấy tôi nghĩ-ngẫm thế nào mà lại có cái ý-muốn kỳ-quái thế. Giá lúc ấy, anh Hiển nghe tôi nói xong liền chửi tôi “Mày là đồ khốn-nạn, mày không biết yêu, về ngay đi, về ngay với người yêu mày đi!” thì có lẽ tôi đã quỳ xuống hôn chân anh.
– C’est très chevaleresque, c’est très chevaleresque !
Những câu khen ấy đã chẳng làm cho tôi vui, lại còn làm cho tôi khổ thêm, đau thêm. Những câu ấy làm cho tôi thấy sự xa Thuần là nên, là phải. Mà trong thâm-tâm tôi thì tôi không muốn xa Thuần một tí nào.
– Thế bây giờ anh định thế nào ?
– Tôi định đi thật xa, vì ở Hanoi tôi không thể nào không kiếm cách để gần nàng. Nhìn nàng sum-hiệp với kẻ khác thì tôi chết được.
– Anh định đi đâu ?
– Vào Cao-mên. Tôi có quen một ông Hoàng Cao-mên lúc còn học ở Hanoi. Tôi đã viết giấy cho y nhờ giúp tôi. Nhưng chưa nhận được giấy giả nhời.
– Nhỡ y không thể giúp anh ?
– Thì đi đâu thì đi, miễn sao cho thật xa. Cái đời tôi bây giờ còn kể gi ! Giầu, nghèo, sướng, khổ, tôi không quan-tâm nữa !
Chiều hôm ấy, Hiển rủ tôi đi chơi phố, tôi từ chối. Nhìn cảnh tưng-bừng ở ngoài phố, tôi không chịu được. Tôi chỉ muốn một mình một nơi, không muốn nhìn thấy ai mà cũng không muốn nói chuyện với ai.
Tôi tuy muốn để cho nàng được thảnh-thơi gây tương-lai, tìm hạnh-phúc, nhưng sao lúc ấy, tôi lại ao-ước: giá nàng biết chỗ tôi ở, nàng đến gọi là tôi về ngay. Còn về rồi kiếm cách nào cho được gần-gũi nhau thì tôi không nghĩ tới, cũng không dám nghĩ tới, vì tôi biết chắc rằng chẳng còn cách gì.
Có lúc tôi nghĩ giá nàng đến đây thì tôi sẽ rủ nàng đi trốn, mặc cha mẹ nàng muốn coi tôi là gì thì coi, mặc thiên-hạ muốn dị-nghị thế nào thì dị-nghị. Nhưng ý-tưởng ấy vừa vụt hiện ra trong óc, tôi lại có xua-đuổi đi ngay.
Chiều hôm ấy, tôi lên cơn sốt. Hôm sau thì bệnh đã trầm-trọng, có lúc tôi mê đi. Anh Hiển đối với tôi thật là tử-tế : anh săn-sóc, trông nom tôi cực-kỳ chu-đáo. Anh chỉ lo đến kỳ thi bằng thành-chung, tôi không khỏi để đi thi.
Những lúc tôi tỉnh, anh đem điều lo-ngại ấy nói với tôi, tôi lắc đầu bảo anh :
– Thi với cử thì làm gì, tôi dù được làm vua mà không được gần nàng thì sự làm vua cũng không có nghĩa, huống-hồ cái bằng thành-chung.
Tôi ốm kịch-Iiệt. Trong cơn mê, tôi gọi tên nàng, rồi tôi khóc. Nhiều lúc tôi khóc ngất đi. Anh Hiển lo cho tính-mệnh tôi, đem hết câu chuyện nói với mẹ để cầu-cứu phương-kế. Bà cụ cho là tôi ốm tương-tư, chỉ làm cách nào cho tôi gặp nàng là tôi khỏi. Nhiều lúc bệnh tôi trầm-trọng, anh Hiển muốn lại hàng Đào nói cho Thuần biết để Thuần lại thăm tôi, nhưng anh lại sợ tôi giận, vì làm như thế thì sự hi-sinh của tôi không còn nghĩa gì nữa.
Những lúc tôi tỉnh, Hiển đem cái ý ấy nói với tôi, tôi liền cương-quyết bảo bạn :
– Nếu có phải tôi chết thì anh cũng nên để yên cho tôi chết, đừng cho nàng biết. Như thế có hại đến tương-lai của nàng về sau. Tôi chỉ cầu mong sao cho nàng quên tôi, và nếu có thể, làm thế nào cho nàng ghét tôi, khinh tôi thì càng hay hơn nữa.
Tôi còn ốm thì anh Hiển đi thi. Anh đỗ. Tôi còn nhớ mãi hôm ấy, anh về, anh ngồi đầu giường tôi, anh khóc. Anh khóc vì anh thương số kiếp tôi lận-đận, chẳng được may mắn bằng anh.
– Anh khổ-sở từ tấm bé. Những tưởng rằng khổ mãi rồi sướng, ai ngờ cái số anh bị khổ suốt đời, nên giời mới giun-giủi cho anh gặp một cuộc tình-duyên ngang-ngửa như thế này. Bây giờ anh yêu cũng dở, mà không yêu cũng không được. Thật không còn cách nào…
– Còn một cách, anh ạ, là tôi chết đi.
Nhưng khốn-nạn, tôi không chết được. Giời vẫn còn bắt tôi phải sống. Sống để nhìn trái tim mình héo đi. Và để nhìn cái kết-quả khốc-liệt gây ra bởi sự hèn-nhát của tôi.