Hận Nghìn Đời

Lượt đọc: 7645 | 3 Đánh giá: 9,3/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- 9 -

Chúng tôi đều chưa nói với nhau nỗi-niềm ân-ái ấp-ủ ở trong lòng, thì một chuyện xảy đến bắt nàng phải nói khiến tôi càng rõ tấm lòng nàng thương yêu tôi thật không bờ bến.

Ngày ấy sắp đến ngày tôi thi bằng thành-chung. Một hôm tôi đi học về, không thấy Thuần ở cửa hàng. Tôi rất lấy làm ngạc-nhiên vì bao giờ tôi đi học về, Thuần cũng ngấp-nghé chờ tôi. Mà khi nào tôi về chậm thì nàng lấy làm khó chịu lắm. Tôi đương băn-khoăn tự hỏi duyên-cớ vì sao Thuần không có ở đấy để đón tôi thì bà Huấn đã vẫy tôi lại gần mà nói thầm một thôi một hồi:

– Sáng hôm nay, bà Tuần Thái có về đây hỏi con Thuần cho con giai. Tôi xét ra thật là môn đăng hộ đối. Gia-dĩ ông Tuần bà Tuần lại có gia-tư hàng vạn, cậu ấy lại đi học tây về đỗ cử-nhân luật, chỉ nay mai là ra làm quan. Mặt mũi trông khôi-ngô như ngọc. Tôi xét chẳng còn đám nào hơn nữa. Tôi đã nhận lời. Cậu tính con gái mười bẩy mười tám rồi, nào còn bé bỏng gì nữa. Kén chọn được đến thế là cùng thôi. Cơ-hội ấy mà bỏ đi, còn bao giờ gặp được. Và còn đâu hơn. Được cả bố mẹ lẫn con, được cả người lẫn của. Từ trước đến giờ cũng có lắm đám đến xin, tôi chưa bằng lòng vì có chỗ đỗ-đạt, nhưng bố mẹ bần-tiện. Mà chỗ quyền cao chức trọng thì con cái chẳng ra gì. Đằng này thì hoàn-toàn cả. Thế mà tôi bảo nó, nó không nghe, chê thế này, thế khác. Em nó nể cậu lắm, cậu làm ơn dỗ nó giùm cho tôi.

Bà còn nói những gì gì nữa, nhưng đầu tôi đã choáng-váng, tai tôi ù, tôi không còn nghe thấy gì.

Thì ra từ trước đến giờ tôi chưa có cơ-hội dò hỏi lòng mình, tôi không ngờ tôi yêu Thuần đến thế.

Tôi cũng không hiểu tại làm sao tôi yêu nàng. Vì tình bè-bạn, vì tình anh em, hay chúng tôi gần nhau mà thành thói quen, hay vì hàm-ân nàng đem lòng xót-thương đến đứa bé vô cô xưa nay bị người ta hất-hủi, hay vì nàng đẹp, nàng thông-minh hay vì tất cả ngần ấy cái hợp lại mà tôi yêu nàng, tôi không biết.

Nhưng tưởng-tượng rằng đương gần-gũi, nay bỗng chia-lìa, tưởng-tượng cái tình keo sơn ấy nay phải tan vỡ, tưởng-tượng rằng bỗng chốc người ta đem nàng gả cho người khác, tưởng-tượng rằng nàng đang là người em rất thân-ái của tôi, bỗng vì tình-thế bắt-buộc phải xử nhạt-nhẽo với tôi, tưởng-tượng rằng nàng không ở cái nhà này nữa, tôi không được thấy mặt nàng nữa, tôi không được nghe tiếng nàng gọi tôi nữa, tôi không được hai con mắt nhu-mì kia nhìn tôi nữa, tưởng-tượng rằng nàng không còn ngủ ở cái buồng ngoài kia nữa rồi chồng nàng đem nàng đi nơi khác, mà cái buồng tôi nằm này từ nay nàng không bước vào nữa, tưởng-tượng cái ghế kia từ nay bỏ trống khiến tôi không còn được ngồi cạnh nàng nữa, tưởng-tượng đến bãi Đồ-sơn là chỗ mà chúng tôi đã sống một cách thân-mật, từ nay tôi phải thui-thủi ra một mình để khóc với mây nước đã nhìn thấy chúng tôi yêu nhau, tưởng-tượng cái bàn tay nõn-nà kia từ nay cầm tay kẻ khác, cái thân ngọc ngà kia thuộc về kẻ khác, mớ tóc mây kia để cho kẻ khác vuốt-ve, làn má hây-hây kia để cho kẻ khác hôn-hít… Tất cả những hình-ảnh ấy, những ý nghĩ ấy, những cảm-tưởng ấy làm cho tôi như hóa điên, hóa dại. Tôi thấy một sự cần-dùng phải kêu, phải gào, phải khóc, phải đập đầu vào tường.

Tôi mới biết rằng mấy năm nay ở đây tôi được sung-sướng, tôi thiết-tha với cái nhà này không phải vì thằng Ân, thằng Ẩn quý tôi, không phải vì ông Huấn, bà Huấn mến tôi, không phải vì tôi ở đây được sung-túc. Tôi sở-dĩ được sung-sướng vì tôi được gần nàng. Tôi thiết-tha với cái nhà này là vì cái nhà này có nàng. Ngày nay, nàng bỏ cái nhà này đi lấy chồng thì cái nhà này đối với tôi lạnh-lẽo hơn bãi tha-ma. Trong đời khốn-khổ đau-đớn của tôi, không lúc nào tôi cảm thấy khốn-khổ đau-đớn bằng lúc này. Đời tôi không có nàng, cái gì cũng là vô-duyên, cái gì cũng là không nghĩa. Mất nàng là mất hết. Có nàng là có hết.

Tôi lủi-thủi lên gác, nằm vật xuống giường. Rồi tôi lại chồm dậy. Tôi đọc, tôi viết, tôi hát, tôi muốn cố làm một việc gì để nén lòng đau-thương đi. Nhưng đều vô-hiệu. Ruột gan tôi lúc ấy như sôi lên. Cơ-thể tôi hình như bị đau thương đè bẹp, nghiền tan. Chân tôi như rời như rụng. Người ta dọn cơm lên, tôi cố làm ra vẻ điềm-tĩnh, cố ngồi ăn, nhưng không tài nào ăn được.

Tôi cáo đau bụng lên giường nằm. Nhưng nằm không được lại bị giật dậy như kẻ tội phạm bị đánh bằng roi điện

Không lúc nào tôi thấy em Thuần yêu quý của tôi đẹp như lúc này. Có lẽ trước kia, tôi được thỏa-thích nhìn cả ngày mà tôi không biết cho nàng là đẹp, ngày nay tôi sắp không được nhìn nữa, nên vẻ đẹp càng tăng lên bội phần.

Tôi quằn-quại giẫy-giụa mãi rồi không biết làm sao cho hết buồn, hết khổ, tôi úp mặt xuống giường khóc, tưởng chừng rằng thôi đến đây là chết, tan-tác mà chết không còn bao giờ ngóc dậy nữa thì vừa lúc ấy có hai cánh tay ôm lấy cổ tôi, rồi một giọng êm như ru nói một cách cương-quyết như rót vào tai tôi :

– Bao giờ em cũng là vợ anh. Em chỉ có thể là vợ anh.

Tôi vùng quay lại, thấy Thuần mặt mũi nhợt-nhạt mà mắt thì đầm-đìa những nước mắt. Tôi ôm choàng ngay lấy nàng. Tôi khóc to, nàng cũng khóc.

Khốn-nạn, cái tuổi trẻ chỉ biết có khóc. Mà không biết chiến-đấu để cướp lấy đắc-thắng. Chúng tôi chỉ ôm nhau thút-thít khóc mà không nói được câu gì. Chúng tôi ngồi ôm nhau khóc như thế mấy giờ không biết, chỉ biết rằng rất lâu. Mãi sau, Thuần thấy tôi đau-đớn quá, không còn có sức chống lại với Định-mệnh nó đạp bẹp tôi, nàng sẽ an-ủi :

– Anh ơi, em biết rằng anh yêu em lắm nhưng anh có biết rằng em cũng yêu anh không ? Em phải xa anh thì em không sống được đâu.

Bốn bề yên-lặng, chỉ có tiếng tíc-tắc của cái đồng-hồ như đếm những giọt nước mắt của chúng tôi, như cầm canh cho thổn-thức của lòng.

Quá nửa đêm, tôi giục Thuần về buồng ngủ, Thuần nhất-định không về.

– Em cứ ở đây, nhỡ thầy me biết thì chết.

Nàng ngửng đầu nhìn tôi :

– Anh sợ chết lắm à ?

– Không, anh sợ cho em.

– Em chẳng sợ gì cả, em chỉ sợ phải xa anh thôi.

Nàng nói xong lại ôm chặt lấy tôi.

Tôi không dám giục nàng về nữa, tôi bế nàng đặt nằm xuống. Rồi tôi nhìn. Nhìn chán lại hôn. Hôn chán lại gục đầu vào ngực nàng khóc. Nàng lùa những ngón tay vào tóc tôi :

– Chúng ta không bao giờ xa nhau nghe không, chúng ta cứ sống như thế này nghe không, anh?

– Chúng ta cứ sống như thế này.

Miệng tôi tuy nói thế, nhưng tôi không biết nghĩ cách gì cho khỏi lìa tan.

Chúng tôi còn nhỏ dại quá, chúng tôi còn ít nghị-lực quá, chúng tôi chỉ biết oán trách số kiếp mà không biết làm gì để thắng số kiếp.

Mãi đến khi ở dưới nhà có tiếng mợ Cả đánh thức đầy-tớ dậy quét dọn, chúng tôi mới bừng tỉnh giấc mê. Trước khi về buồng, Thuần còn cố an-ủi tôi :

– Anh cứ an-tâm đừng buồn, thế nào chúng ta cũng không xa nhau. Thế nào em cũng là vợ anh.

Bảo rằng chúng tôi đã sống một thế-kỷ, một thế-kỷ đau-thương của cuộc tình-duyên ngang trái, hay là chúng tôi đã sống một thế-kỷ sung-sướng của một cuộc tình-ái nồng-nàn, cũng thế thôi, bởi vì trong lúc ấy, chúng tôi không biết rằng chúng tôi sướng hay chúng tôi khổ. Nghĩ đến sự cản-trở nó làm cho chúng tôi phải chia-lìa thì ruột chúng tôi như xé, nhưng nhìn nỗi yêu-đương chan-chứa trong con mắt nhau, chúng tôi là sướng đến cực-điểm.

Bây giờ, tôi mới hiểu lý-do làm sao cái vui có thể lẫn với cái đau, cái sướng có thể trộn với cái khổ. Mà sống một phút sôi-nổi như thế, người ta đã tiêu-pha nghị-lực và tình-cảm bằng một người sống cả năm.

Nàng đi rồi, tôi nghĩ vẩn-vơ tìm cách thế nào cho chúng tôi có thể lấy nhau. Thấy ông bà Huấn có lòng thương tôi, tôi bèn nổi lên một ý-định :

– Mai tôi sẽ nói thực hết với ông bà.

Tôi sở-dĩ có cái ý-định ấy là vì tôi xét chẳng còn cách nào hơn.

Sáng hôm sau, lại trúng vào một ngày chủ-nhật. Tôi định đến khi bà Huấn dậy, còn đang ngồi uống nước trong nhà khách, tôi sẽ xuống nói với bà. Nhưng tôi dùng-dằng e-lệ mãi, hết lên rồi lại xuống, xuống rồi lại lên mà thành thử vẫn chưa dám bước chân vào buồng khách. Tôi đứng thẩn-thơ ở sân giả bộ nhìn cá vàng, cây cảnh để cho đầu tôi có đủ thì giờ mà quả-quyết, chứ thực ra thì nào tôi có trông thấy gì đâu. Mãi đến lúc tôi thấy con u-em mang tráp giầu ra cửa hàng, nghĩa là lúc bà Huấn sắp ra ngồi hàng, tôi mới mạnh bạo bước vào. Nhưng tôi chưa kịp mở mồm thì bà Huấn đã vội hỏi:

– Thế nào, cậu đã khuyên cháu cho tôi chưa ?

Bao nhiêu lời thú của tôi liền chết ngay trong cổ họng, tôi nghẹn-ngào giả nhời buông xuôi:

– Thưa bà, chưa.

Tôi rất tức-bực với tôi vì sự nói dối ấy. Nói cho chí-tình ra, tôi còn khinh-bỉ tôi là hèn-mạt nữa. Tôi ngồi xuống ghế, chờ dịp sẽ nói.

Nhưng tôi chưa kịp nói thì Thuần vào, có lẽ nàng cũng muốn xuống thú với mẹ như tôi. Nhưng sau vì những lời qua tiếng lại, chúng tôi biết rõ cái quan-niệm của bà Huấn đối với cuộc nhân-duyên của con, nên đều không dám nói.

Nàng không nói vì nàng muốn tránh cho tôi một cái nhục.

Mà tôi không dám nói vì tôi khốn-nạn, vì tôi đê-hèn, không đủ nghị-lực để che-chở, bênh vực cho tấm lòng yêu của mình, vì tôi không đủ can-đảm để đối-đầu với những nỗi khó-khăn của đời, vì tôi không có gan nhận trước lấy cái nhục, cái đau để yêu, vì tôi còn giầu một tấm lòng tự-ái «trẻ ranh». Vì tấm lòng tự-ái ấy mà tôi không dám liều để thắng. Vì tôi ngu dại, nên không hiểu rằng hạnh-phúc của đời người phải mạo-hiểm xông ra mà giật lấy, chứ không bao giờ tự-nhiên nó tiến đến cho mình . Hạnh phúc chỉ là thứ phần thưởng dành riêng cho kẻ nào có gan chiến-đấu, có gan nhận trước lấy những chẳng may, nhận trước lấy những phũ-phàng mà người ta đem ném vào mặt mình.

Người ta ném vào mặt mà mình vẫn trơ như đá, vững như đồng, lăn xả vào để tiến lên thì thế nào rồi cũng phải đắc-thắng. Chân-lý ấy, tuổi trẻ làm gì đã biết.Thế cho nén ngày nay tôi dám nói quyết răng: tuổi trẻ không đủ lực-lượng để yêu, tuổi trẻ không đáng yêu, không biết yêu.

Ái-tình là một trận giặc kịch-liệt mà tuổi trẻ không dám làm tên quân xung-phong, cảm-tử. Tuổi trẻ chưa đánh đã chịu thua. Họ cởi giáp trước khi giặc đến. Họ sợ máu, sợ xương người, sợ thương tích, sợ nhục-nhã của chiến-bại. Họ quên rằng nếu không dấn mình trong máu, không dày xéo lên xương thì không có một chiến-công hiển-hách bao giờ. Họ không có cái hùng-khí nhận trước lấy rằng việc đời chỉ có: một thua, hai được. Ươn-hèn họ muốn được nhưng lại sợ thua, nên bao giờ họ cũng bị thua, thua một cách nhục-nhã. Họ không biết rằng với kiên-nhẫn một trái tim mãnh-liệt và quả-cảm có thể thắng, thắng hết.

Lúc ấy, ông Huấn cũng ngồi xem sách ở đấy. Thấy Thuần vào, bà Huấn liền bảo ông Huấn :

– Đấy, ông xem con nhà có khó bảo không? Con quan Tuần, đỗ cử-nhân, lại sắp đi làm quan, nhà giầu mà nó còn chê thì chê cái gì?

Thuần quả-quyết cãi :

– Giầu có mà làm gì, quan sang mà làm gì, cử-nhân mà làm gì, con lấy chồng là lấy người chứ có phải lấy tiền-tài, danh-diện, bằng-cấp đâu !

– Thế người làm sao? Mặt mũi đầy như mâm xôi mà mầy còn chê. Đây, cậu Cung, cậu thử xem cái ảnh mà xem. Mày không bằng lòng, bà cũng gả .

Bà vừa nói, vừa mở cái tráp của ông Huấn cầm bức ảnh đưa cho tôi xem. Tôi đã hoa cả mắt, cầm cái ảnh mà chẳng trông rõ gì hết, chỉ thấy trắng trắng, đen đen.

Tôi chưa kịp giả nhời bà Huấn, Thuần đã lên tiếng :

– Con vẫn biết thầy me thương con nên mới lo đến bề gia-thất cho con, nhưng thầy me vội-vàng quá. Người ta đến hỏi, thầy me chỉ biết người ta con quan, người ta giầu, người ta đỗ, thầy me nhận lời. Me không xem xét người ta tính-nết thế nào, có chí-khí gì không. Con thì con chẳng cần quan tư, tiền-tài, đỗ-đạt đâu. Cứ người nào tử-tế, thương yêu con là con lấy. Me không xét kỹ…

– Tao chả phải xét. Con rồng lại nở ra rồng. Bố mẹ người ta thế, tất-nhiên là người ta khá. Mà không khá, sao lại đỗ được cử-nhân. Chí-khí ở cái chỗ làm được quan ấy (!) chứ chí-khí ở đâu nữa. Mày phải biết kén được một chỗ đáng cha, đáng mẹ, khó lắm. Mày không xem bây giờ thiên-hạ chỉ bòn của, chứ nhà người ta như thế, người ta chẳng yêu-thương mày, thì dễ người ta yêu-thương của. Của nhà người ta không thiếu. Mày phải biết thời buổi này kén được một chỗ xứng-đáng khó lắm. Nhà tao thế này, chả nhẽ tao lại gả mày cho con nhà thường-dân khố rách áo ôm.

– Me nghĩ thế nào thì nghĩ, con nhất quyết không thuận.

Nàng nói xong, vùng-vằng lên gác

Mỗi một lời nói vô-tình của bà Huấn như kim đâm vào lòng tự-ái của tôi. Tôi xét gia-thế tôi với gia-thế bà thì xa nhau một vực một trời. Bà lại là người cho rằng trên đời chỉ có giầu sang phú-quý mới là đáng kể thì dẫu mình có nói ra cũng chẳng khi nào bà đoái-thương đến mình

Mình là hạng người gì lại dám có cái ngưỡng-vọng cao xa như thế. Mình chỉ là đứa con lẽ mọn, bồ-côi bồ-cút, con nhà bạch-đinh tiền nong đã không, bằng-cấp đã không, tài-cán cũng lại không.

Nếu mình nói ra. người ta không hiểu, người ta lại cho mình đã dùng lời đường-mật quyến-rủ con gái người ta để bòn của thì còn ra thế nào.

Mình nói ra, nếu người ta không thuận, người ta lại mỉa-mai mình, người ta chỉ nói mình một câu :

– Mày có những điều-kiện gì mà dám chơi trèo như thế ?

Mình giả nhời ra làm sao ?

Người ta có thể trách mình đã lợi-dụng lòng tin-cẩn, sự tử-tế của người ta để dỗ-dành con gái người ta thì mình giả nhời làm sao ? Mà người ta thì tin-cẩn mình hết chỗ nói. Người ta nhờ mình đưa con gái người ta đi Đồ-sơn. Người ta tử-tế với mình đến tột bực. Người ta nuôi cơm và giả tiền học cho mình trong mấy năm giời. Người ta hỏi mình danh-dự làm người của mình đâu mà mình lại thế, thì mình nói làm sao ?

Chỉ có cái tuổi trẻ ươn-hèn và dở-hơi mới có những điều nghĩ kỳ-quái về danh-dự như thế.

Cái danh-dự của họ ở đây chỉ là tấm lòng tự-ái bành-trướng ra đến cực-điểm mà thôi. Họ quên rằng đã yêu nhau chỉ có một danh-dự : phải làm thế nào cho không tủi thẹn khối tình mà người yêu đã giao-phó cho mình. Và phải kiếm hết cách bảo-toàn hạnh-phúc cho người yêu.

Tuổi trẻ không thể hiểu ái-tình. Họ không nhìn rõ mầm rễ sâu xa của ái-tình, nên họ tưởng rằng người yêu có thể tìm thấy hạnh-phúc ngoài mình ra. Tuổi trẻ ngu-dốt không hiểu rõ giá-trị của một trái tim yêu-đương. Vì thế, họ không biết đến sự cần dùng của trái tim yêu-đương.

Tuổi trẻ ươn-hèn không biết tự tin ở mình, nên họ không tin đến cái sức có thể làm được của một trái tim yêu-đương. Cái bản-ngã của thiếu-niên? nó mong-manh lắm; lòng tín- ngưỡng của họ vất-vơ lắm, có bề rộng mà không có bề sâu. Chỉ vô-phúc cho ai yêu những người có cái bản-ngã mập-mờ như thế ! Hỡi ôi ! thật đúng như câu châm-ngôn Pháp : les jeunes sont incapables d’aimer.

« Lùi
Tiến »