Tôi lên bến Saigon, đi qua thành-phố Saigon đông-đúc mà tôi có cái cảm-giác là đi qua một sa-mạc. Ở những chỗ đông người tôi càng thấy lòng hiu-quạnh. Tôi chỉ muốn vắng-vẻ để nghĩ đến nàng mặc dầu sự nghĩ-ngợi ấy làm cho tôi khổ-sở. Khổ-sở, tuy là khổ-sở nhưng cũng còn là sống.
Tôi thuê một phòng ngủ nằm chúi ở đó để mai chờ tầu lên Phnompenh, chứ không đi đâu cả. Khi tôi mở va-li lấy quyển sách tôi đang xem dở ra đọc thì thấy một phong thư rơi ra. Đó là phong thư của anh Hiển viết cho tôi để giấu vào đấy lúc nào.
Anh Cung,
Trước sự đau buồn của anh, tôi đành phải để cho anh đi. Tôi chỉ khuyên anh một điều, nên bảo-trọng sức khỏe, bởi vì ở đời, trừ khi có chết mới hết hi-vọng, chứ còn sống một ngày là ta còn có thể hi-vọng.
Biết đâu, trước sự bền vững của chị Thuần, mà thầy me chị ấy không phải bằng lòng cho anh chị lấy nhau. Tôi chỉ sợ lòng người không bền-vững mà thôi, chứ đã bền-vững thì rồi việc trắc-trở đến đâu ta cũng thắng được. Tôi xem ra thì rồi thế nào anh chị cũng thắng vì hai người đã yêu nhau đến thế thì không còn cái gì có thể chia-rẽ được nữa.
Tôi khuyên anh giữ-gìn sức khỏe là để hưởng hạnh-phúc sau này. Chứ nếu anh buồn-bực mà chết đi thì chẳng những anh tự phá hạnh-phúc của anh, mà anh, anh lại giết cả chị Thuần nữa đấy. Yêu anh như chị ấy đã yêu, chị ấy không thể sống sau khi anh chết. Anh nên nhớ lấy và nghe lời người bạn tâm-huyết của anh.
HIỂN
Bức thư của anh Hiển thật là một viên thuốc dấu cho vết thương lòng của tôi. Tôi cũng hi-vọng ở sự bền lòng của Thuần – tuy tôi vẫn xui và đi xa để cho nàng quên tôi – Tôi mong-mỏi một bất ngờ sẽ làm cho ông bà Huấn biết mối tình của chúng tôi, rồi trước sự chung-tình của Thuần, phải buộc lòng cho chúng tôi sum-hiệp.
Khốn-nạn, tôi chỉ hi-vọng vào bất-ngờ mà không dám hi-vọng vào mình bao giờ cả. Lúc ấy, tôi lại càng thấy rõ sự hèn-nhát của tôi. Anh Hiển nói đến hạnh-phúc, nhưng anh quên không tính đến sự chịu đựng đau-khổ của con người ta.
Tôi vào Cao-mên được bảy tháng, thì một hôm tôi đi vắng năm bữa về, bỗng bắt được hai cái dây-thép. Một cái của ông bà Huấn, một cái của anh Hiển.
«Thuần mệt, cậu về ngay. Bằng lòng cho lấy nhau. Cậu về ngay lập tức.»
Cái dây-thép của ông bà Huấn làm cho tôi mừng khôn-xiết, nhưng cái dây-thép của anh Hiển lại làm cho tôi ngã chúi xuống.
«Chị Thuần đã thú hết với cha mẹ. Ông bà Huấn đã bằng lòng. Chị ấy đang ngắc-ngoải chờ anh, anh về mau, nếu không sợ không kịp »
Thuần ngắc-ngoải! Thuần ngắc-ngoải! Không có chữ gì của loài người có thể tả hết nỗi lo-sợ bồn-chồn của tôi lúc bấy giờ. Lúc ấy, tôi, tôi. . tôi muốn san bằng cả rừng rú, sông núi để lấy một con đường thẳng cho xe chạy từ Phnompenh đến Hanoi. Tôi muốn biến làm khí giời để bay ngay ra. Tôi nắm đầu bứt tóc, chửi rủa mình sao đã đi vắng để nhận cái dây-thép chậm mất năm ngày. Tôi chỉ lo tôi về thì nàng đã chết rồi. Nghĩ đến nàng chết, tôi có cảm-tưởng người tôi tan-tác ra như một cái pháo. Tôi sầm-sầm từ thang gác chạy xuống du ngã một người mà tôi cũng chẳng quay đầu nhìn lại xem là ai. Cứ quần áo ngủ như thế, tôi nhảy lên xe, ra ngay nhà dây-thép đánh một cái dây-thép bảo cho ông bà Huấn biết rằng tôi sẽ về ngay. Xong, tôi đi hỏi xem bao giờ có xe chạy Saigon và tầu từ Saigon chạy ra Bắc. Nghe người thư-ký sở tầu nói với tôi rằng những bốn hôm nữa mới có tầu ở Saigon chạy ra Bắc, tôi bỗng tắc hơi không thở được.
Về đến nhà, tôi nhẩy bổ vào, định lên nói cho ông Hoàng Pradja Pok rằng tôi phải đi ngay, thì thấy một bọn người đang xúm quanh ở phòng khách, mà ông Hoàng cũng đang đứng đấy. Thì ra lúc tôi chạy vội, va phải đứa em ông làm cho ngã từ trên thang xuống, chảy máu đầu. Tôi cũng chẳng để ý, đến nắm lấy ông Hoàng mà bảo :
– Tôi phải ra Bắc ngay ! tôi phải ra Bắc ngay!
Ông trố mắt nhìn tôi tưởng là tôi phát điên. Tôi cũng chẳng biết lúc ấy ông ta giả nhời ra sao, vì tôi nói xong thì chạy ngay lên buồng thu xếp hành-lý.
Tôi đang thu-xếp, ông Hoàng vào :
– Ông có việc gì vội thế ?
Tôi trả lời phăng :
– Vợ tôi đang ngắc-ngoải ở nhà.
– Thế bao giờ có tầu ?
– Những bốn hôm nữa.
– Thế thì việc gì ông phải vội ?
Câu nói ấy làm cho tôi định-thần lại. Tôi bỗng ôm mặt khóc nức-nở. Rồi tôi mới xin lỗi ông vì sự hấp-tấp đã làm ngã em ông.
– Thôi, việc nhỏ ấy có kể gì. Hẵng nói đến việc ông, bà ấy mệt nặng lắm sao ? Sao trước kia ông bảo với tôi rằng ông chưa có vợ ?
Tôi đứng lặng yên một lát, rồi tôi bỗng tiến lên nắm tay ông Hoàng kể một hồi đoạn tình-sử của mình cho ông ấy biết. Tôi nói ra được như thế, tôi rất lấy làm khoan-khoái.
– Tầu những bốn hôm nữa mới chạy thì hai hôm nữa ông ở đây đi cũng kịp, vội cũng đến thế thôi.
Tôi không nghe, tôi hi-vọng đến Saigon tôi sẽ tìm được cách gì về cho chóng. Mà dù chẳng tìm được cách gì thì về Saigon cũng là đã gần nàng thêm một chút.
– Đành vậy, nhưng bây giờ đã hai giờ, chẳng còn chuyến xe ô-tô nào chạy Saigon cả, thế nào ông cũng phải chờ đến sáng mai.
Tôi đành bó tay trước sự thực. Tôi lại ra nhà dây-thép đánh một cái dây-thép nữa nói rằng tầu bốn hôm nữa mới chạy, vậy bệnh-tình nàng thế nào trả lời ngay cho tôi biết.
Tôi về đến nhà, đã thấy anh Hiển chờ tôi ở phòng khách. Thì ra ông bà Huấn sợ tôi có đi đâu, hoặc đổi chỗ ở, không nhận được dây-thép, nên sau khi đánh dây-thép liền nhờ anh vào tìm tôi. Tôi thấy anh vội ôm chầm ngay lấy mà hỏi:
– Thế nào ?
Câu ấy đủ cả các nghĩa. Anh Hiển chỉ giả nhời tôi bằng một câu :
– Chưa chết.
Câu giả nhời ấy cũng đủ các ý-nghĩa. Nó quét sạch hết những nỗi lo-sợ của tôi. Tôi ôm lấy anh, nỗi mừng không biết lấy gì mà tả cho hết.
– Chị ấy ốm nặng, lâu lâu mê đi, lúc tôi vào đây thì tỉnh. Tôi nói với chị ấy rằng tôi vào đây tìm anh thì chị ấy chỉ ứa nước mắt mà không giả nhời.
– Thế anh xem bệnh-tình có nguy-kịch lắm không ? Anh phải nói thực cho tôi biết.
– Bệnh này là tâm-bệnh, lức mê, lúc tỉnh, nên không thể biết mà nói trước được. Nếu anh kịp về ngay cho chị ấy trông thấy mặt thì may ra không hề gì cả.
– Thế đầu đuôi làm sao mà ông bà Huấn biết ? Làm sao mà biết chuyện đến hỏi anh ? Anh nói hết, anh nói hết cho tôi biết.
– Anh đi được bốn tháng thì chị ấy bắt đầu ốm. Lúc đầu, không lấy gì làm nặng, chỉ ngây-ngấy sốt, không ăn được nhiều cơm. Nhưng được hai tháng bỗng mê đi. Từ đó lúc mê, lúc tỉnh, bao nhiêu thầy thuốc gia công chữa chạy thế nào cũng không thuyên-giảm…
– Thế ai nói với ông bà Huấn ?
– Hình như lúc chị ấy mê cứ gọi tên anh khóc, nên ông bà Huấn đâm nghi, tra hỏi chị ấy, nhưng chị ấy chỉ khóc mà không nói.
– Thế làm sao biết được ?
– Thì anh cứ để yên tôi nói, anh cứ hỏi đốc tôi thế, tôi giả nhời sao kịp. Một hôm, sau một cơn mê, tỉnh lại chị ấy viết mấy chữ cho tôi, sai u-già đem đến, nhưng u-già lại đưa cho ông bà Huấn.
– Viết những gì cho tôi, anh có biết không?
– Có, sau ông Huấn đến nhà tôi, đưa cái thơ cho tôi xem, rồi tra-vấn tôi. Tôi thấy chị ấy mệt nặng, sợ nếu không có anh ở gần thì nguy đến tính-mệnh, nên tôi phải nói hết sự-tình. Đây, mảnh thơ ấy còn đây, anh có xem thì xem.
Tôi vồ lấy mảnh giấy: chỉ có mấy chữ viết nguệch-ngoạc.
Anh Hiển,
Tôi biết mình tôi khó sống lắm. Vậy khi nào tôi chết, anh làm ơn viết thư bảo anh Cung của tôi rằng tôi vì yêu anh ấy mà chết, chết vì anh ấy, chết mà vẫn yêu .
THUẦN
Tôi đọc xong mắt hoa lên, khóc rũ xuống.
– Thì anh có muốn nghe hết chuyện hay không. Và phải kiếm cách gì về ngay thì may ra… chứ khóc ích gì ?
– Chẳng có cách gì cả. Tầu bốn hôm nữa mới ra Bắc mà bây giờ thì không có chuyến xe nào đi Saigon cả. Anh liệu xem tôi về còn kịp không? Anh xem liệu có thể chết được không? Khổ quá, tại tôi rồ-dại và nghĩ luẩn-quẩn bỏ ra đi, chứ không thì đâu đến nông-nỗi này!… Thế nào, anh kể rõ từng ly, từng tý cho tôi nghe.
– Hôm ấy, tôi đang tập võ ở sân thì thằng nhỏ lên gọi xuống có khách. Thoạt mới nhìn thấy vẻ mặt thảm-đạm của ông Huấn, tôi đã đồ chừng có một việc gì chẳng lành xảy ra, vì từ khi anh đi, ngày nào tôi cũng lượn qua hàng Đào, nhưng chẳng thấy bóng chị ấy đâu. Ông Huấn thấy tôi, đưa mảnh giấy cho tôi xem rồi hỏi:
– Bây giờ cháu nó mệt nặng lắm, cậu phải nói thực cho tôi biết hết mới may ra có kế mà cứu cháu được.
Trước tôi còn chối nhưng sau…
Bạn tôi nói đến đây thì tôi liền lại nắm áo bạn tôi mà gắt :
– Sao anh lại chối ?
Bạn tôi gỡ tay tôi ra :
– Kìa, kìa… anh quên rồi, anh bắt tôi thề phải giữ kín dù thế nào cũng không được nói cơ mà.
Lúc ấy, tôi mới hối-hận rằng mình kỳ-quái, nhưng bạn tôi biết tôi đau-đớn quá cũng không giận, chỉ nói tiếp :
– Sau tôi thấy nói bệnh-tình trầm-trọng quá, tôi đành phải thú-thực hết. Ông Huấn nghe tôi kể lại chỉ chắc lưỡi bảo tôi :
– Chúng nó đã yêu nhau thế mà sao lại không nói gì cho vợ chồng tôi biết cả ?
Tôi liền nói rõ vì những lẽ gì anh phải im-lặng mà rứt ruột ra đi. Ông Huấn có hỏi địa-chỉ anh, tôi nhất-định không nói. Nhưng sau khi tôi đến thăm chị ấy, tôi thấy yếu quá, chỉ còn có một cách gọi anh về may ra mới qua khỏi nên tôi nói hết. Ông bà Huấn liền nhờ tôi đánh dây-thép cho anh. Sau bà Huấn lại sợ anh hoặc đi đâu không ở đây, nên nhờ tôi vào tìm anh cho chắc. Bà Huấn thương chị ấy lắm. Nếu trước kia anh có can-đảm nói thì may ra… Nhưng thôi, việc đã qua, còn nói làm gì !
– Thế trước khi anh vào đây thì bệnh-tình ra làm sao? dung-nhan ra thế nào ? có nhận được anh không ?
– Gầy lắm và xanh lắm. Lúc tôi đến thì hình như có nhận được tôi.
– Thế có nói gì với anh không ? Có hỏi gì anh không ?
– Chị ấy chỉ nhìn tôi mà ứa nước mắt. Mãi sau mới mấp-máy môi hỏi tôi anh đi tự bao giờ và tình-hình anh ra làm sao ?
– Đã yếu đến thế rồi cơ à ?
– Thì anh tính ốm mấy tháng giời rồi.
– Thế thì không khéo tôi về không kịp mất!
Tôi nói xong bỗng khóc òa.
– Anh cứ yên-tâm. Chẳng có lẽ giời lại nỡ tâm giết hai người đã yêu nhau như anh chị? Tôi tin rằng số-mệnh không đến nỗi tàn-khốc với anh đến thế.
Cả đêm hôm ấy, tôi không ngủ, mà anh Hiển cũng không ngủ được với tôi. Tôi hỏi chuyện thì mới rõ bây giờ cả nhà đang chờ mong tôi về, và hết thảy ai ai cũng trách-oán tôi sao đã yêu nhau như thế mà không nói ra.
Không phải bây giờ tôi nói ra để gỡ tội. Tôi, tôi mắc cái tội hèn-nhát, tôi là một thằng khốn-nạn đã đành rồi. Nhưng chính tôi, tôi cũng không ngờ rằng nàng yêu tôi đến xa tôi mà đến chết dần, chết mòn đi. Tôi đã không tin như thế thì vị-tất ông bà Huấn đã có thể tin như thế. Tôi cũng tưởng rằng xa nàng để cho nàng được tự-do mà gây-dựng cuộc đời, ai ngờ đâu nàng không thể gây-dựng cuộc đời, nếu cuộc đời ấy không có tôi! Tôi không thể ngờ trái tim con người ta lại có thể héo dần đi được sau một thất-vọng về tình-ái.
Bốn hôm sau, chúng tôi xuống tầu. Chà chà, sao tôi thấy tầu đi chậm như thế.
Một đêm, tôi nằm ở tầu, mê thấy Thuần về ôm lấy tôi khóc-lóc, kể-lể…Tôi giật mình, toát mồ-hôi, đánh thức anh Hiển dậy :
– Hay là đã chết rồi, không chết sao tôi lại thấy hiện về ? !
– Chỉ nói gở, vì anh tơ-tưởng quá nên nằm mê thay thế. Chứ chết thế nào được. Tôi tin rằng giời không nỡ chôn sống cái đời anh.
– Thế anh nói thực với tôi, hôm vào đây bệnh có trầm-trọng không ?
– Trầm-trọng thì có trầm-trọng, nhưng không đến nỗi chết. Tôi tin rằng ông giời không đến nỗi độc-ác như thế.
Nghe lời anh Hiển, tôi mới hoàn hồn. Nhưng thấy mắt tôi máy luôn, thịt tôi giật luôn, tôi lại đâm lo:
– Anh ạ, tôi nóng ruột lắm, không khéo…
– Thì mong-mỏi như thế, tài nào cho khỏi nóng ruột. Anh cứ yên-tâm, chỉ nay mai là đến nơi. Tôi chắc chị ấy thấy anh sẽ khỏi liền.
Ba hôm thì tầu đến bến Haiphong. Chúng tôi nhẩy lên Hanoi. Đến phố hàng Đào, thấy cửa nhà Thuần đóng kín, tôi đã trợn. Tôi liền hỏi anh Hiền :
– Hôm anh đi, nhà có đóng cửa không ?
Anh Hiển tái mặt, muốn giả nhời tôi, nhưng không nói ra hơi.
Tôi bổ xuống xe, gõ cửa, cửa chỉ khép, tôi giu mạnh xông vào thì thấy bà Huấn đang lăn ra khóc, có mấy người vừa dìu, vừa khuyên-dỗ. Tôi bỗng run bắn cả người, tôi vội-vàng nắm lấy cánh cửa cho khỏi ngã.
Mọi người thấy tôi, rú lên. U nuôi Thuần, mặt đầm-đìa những nước mắt, chạy lại ôm tôi khóc mà bảo :
– Cậu về chậm mất rồi ! Cô con về từ sáng hôm qua!
Ngày nay, tôi cũng lấy làm lạ, sao được cái tin ấy, tôi không chết ngay đi. Bà Huấn đang khóc, thấy tôi về, vùng dậy, chạy đến nắm lấy tôi cấu, xé và chửi rủa :
– Mày giết con bà! Mày giết con bà ! Giời ơi ! nó giết con tôi!
Lúc ấy, tôi thực là mất hồn, tôi cũng chẳng biết rằng bà Huấn nói những gì và mọi người lúc ấy xử-trí ra làm sao.
Tôi chỉ biết rằng khi bà Huấn buông tôi ra, tôi ù té chạy lên buồng nàng. Mấy người toan cản tôi lại, đều bị tôi gạt ngã. Tôi chạy lên ôm chầm lấy tử-thi nàng mà hôn-hít, lay gọi, tôi không có thể tin rằng nàng có thể chết được. Tôi hôn chân, tôi hôn tay, tôi hôn mắt rồi tôi khẽ gọi:
– Em Thuần! Em Thuần!
Tôi gọi, tôi gọi mãi….Đến lúc tôi tin rằng nàng đã chết, nàng đã chết thực, tôi bỗng hét lên một tiếng. Tôi quay lưng ra thì thấy mọi người đã đứng quanh ở cửa buồng.
– Tôi giết em tôi ! Toi giết em tôi !
Nói được mấy câu ấy rồi tôi ngồi vật xuống cái ghế, ôm đầu khóc. Rồi tôi nghe văng-vẳng như có tiếng ai quát tháo :
– Đuổi cổ nó ra, đuổi cổ nó ra, không tôi chết mất.
Tôi bâng-khuâng chưa biết xử-trí ra sao thì liền lúc ấy anh Hiển lại nắm vai tôi, giọng nói có vẻ nghiêm-khắc :
– Anh đã giết người ta, anh không có quyền đến làm nhơ-nhuốc cái hương-hồn người ta, anh không có quyền làm cho đau-đớn thêm cái gia-đình đã đau-đớn vì anh này.
Rồi anh Hiển xốc nách tôi lôi đi. Lúc ấy, tôi đã hết cả sức-lực, hết cả ý-định, chỉ còn như một đứa bé con, người ta muốn lôi đi đâu thì đi
Tôi nhớ mang-máng khi tôi xuống đến cầu thang thì thằng Ân, thằng Ấn chạy đến ôm chầm lấy tôi, ai kéo ra cũng nhất-định không buông. Sau mẹ chúng nó phải quát mắng, chúng nó mới buông cho tôi đi. Mẹ chúng nó có bảo tôi:
– Thôi cơ-sự đã ra dường này, cậu đừng nên đến đây nữa. Người ngoài người ta biết chuyện, chẳng còn ra thế nào.
Rồi quay sang anh Hiển :
– Cậu nên khuyên cậu ấy đừng có đến đây nữa. Ông bà tôi trông thấy cậu ấy thì khổ lắm.
Anh Hiển dìu tôi về đến nhà anh. Cả ngày đêm hôm ấy, tôi không nói năng một lời nào. Tôi cũng chẳng biết anh ấy và người nhà anh ấy nói với tôi những gì.
Anh ấy tưởng tôi sắp hóa điên, cho gọi đốc-tờ. Nhưng khi đốc-tờ đến, giơ tay toan xem mạch cho tôi, tôi liền hắt tay ra :
– Tôi không làm sao cả.
Rồi tôi nhờ anh Hiển đi hỏi hộ tôi xem hôm nào đưa ma.
Anh Hiển liền ôn-tồn bảo tôi:
– Anh nên nghĩ chín một chút. Anh đi đưa ma có điều không tiện. Tôi rất sợ anh khi thấy quang-cảnh đám ma, đau-đớn quá lại làm.. những… thì coi nó không tiện. Anh phải nên cư-xử làm sao cho chị ấy khỏi bị người ngoài dị-nghị. Anh nên thương đến gia-đình nhà người ta.
– Thế anh bắt tôi không được đưa tiễn em tôi một lần cuối cùng ư ? Tôi chịu làm sao được !
– Tôi chỉ sợ gia-đình nhà người ta trông thấy anh thì…
– Thế người ta cho gọi tôi về đây làm gì ?
– Anh đã đau-đớn đến như thế mà anh không hiểu sự đau-đớn của lòng người ư ? Anh không biết kính-trọng sự đau-đớn của kẻ khác ư ? Nếu anh có phải thật yêu chị ấy thì anh phải biết thương đến cha mẹ chị ấy ngày nay đang khóc con. Cứ để đám ma đưa xong, tôi sẽ đưa anh ra huyệt sau, cũng không muộn. Anh tưởng nắm đất ấy, nắm xương ấy đáng quan-tâm lắm ư ? Cái huyệt chính-thức của chị ấy ngày nay là trái-tim anh. Linh-hồn chị ấy ngày nay đã phảng-phất đâu ở quanh mình anh rồi. Anh nên nghe tôi.
Những lời nói của bạn, tôi đều cho là phải. Tôi gật đầu vâng chịu.
Mấy hôm sau, tôi thấy bạn tôi mua về một bó hoa tươi rồi bảo tôi :
– Chúng ta đi.
Tôi mặc quần áo rồi theo bạn. Bạn đưa tôi xuống nghĩa-trang trao bó hoa cho tôi, trỏ một cái mả còn rắc đầy vàng :
– Đấy !
Tôi cầm bó hoa đặt lên trên mộ, rồi quỳ xuống. Tôi không biết tôi quỳ như thế bao nhiêu lâu. Tôi nhớ rằng tôi không khóc, vì còn nước mắt đâu mà khóc nữa! Đến lúc bạn đến vỗ vai tôi, tôi mới mở mắt nhìn. Thì ra giời đã tối. Bạn tôi lôi tôi dậy :
– Anh có quỳ ở đây mấy năm đi chăng nữa, chị ấy cũng không sống lại được nữa. Tôi dám chắc chị ấy ở dưới mồ có nghe tôi nói thì cũng đồng-ý với tôi mà bảo anh nên quên đi, số-mệnh đã tàn-khốc đến như thế này thì chỉ còn có một cách quên đi mà thôi.
Rồi anh Hiển đến vái trước mồ mà khấn :
– Chị có khôn thiêng xin phù-hộ cho anh ấy có đủ nghị-lực để sống. Một người oan-uổng đã là nhiều lắm rồi!
Anh Hiển khấn đến đấy bỗng ôm mặt khóc. Một lúc lâu, anh ngửng đầu bảo tôi :
– Anh phải sống, phải sống để giữ mãi cái kỷ-niệm của chị ấy ở trong lòng. Anh mà tự-tử chết đi thì trước là anh hèn-nhát, sau là anh phụ người chết đó. Chị ấy còn cha mẹ già. Ông bà Huấn trong lúc đau-đớn có hắt- hủi anh thật, nhung mấy hôm nữa, cơn giận nguôi đi, biết đâu chẳng gọi anh đến. Rồi hai cụ trông thấy anh, tức là trông thấy chị ấy.
Tôi chẳng giả nhời, vì lúc ấy còn trí-khôn đâu để hiểu biết mà giả nhời nữa.