Tôi đứt ruột mà bước chân xuống tầu. Người ta sống trăm năm hồ dễ mấy ai đã biết một lần đứt ruột như thế.
Tâm-hồn tôi lúc ấy như tê-liệt, tê-liệt bởi cái đau, cái khổ, cái buồn, cái tiếc, cái tức bực. Tôi như một thằng ngây đứng trước mọi cảnh hoạt-động của đời, như một thằng ngốc đứng trước mọi cảnh biến-chuyển của giời. Làn mây bay, tôi tưởng đó là ảnh-hình của linh-hồn con người ta tan-tác. Dòng sông chảy xiết, đó là vận-mệnh mình bị xô đẩy đến bến Đau-thương. Mặt bể mà người ta ca-tụng ầm-ỹ là đẹp-đẽ, tôi chỉ coi là một cái mồ rộng-rãi, giời đặt bày ra để chôn lấp một cách chắc-chắn và kín-đáo những cực-khổ ở đời. Đâu đâu tôi cũng chỉ nhìn thấy cái chết, cái chết bẩn-thỉu và tàn-khốc, đâu đâu tôi cũng chỉ nhìn thấy những cái vô-vị, những cái trống-rỗng của một cuộc đời lầm-than, không sinh-thú.
Miếng cơm tôi và vào miệng, sao nó khô-khan như đá sỏi, đói muốn ăn mà lúc ăn thì không nuốt được. Ngụm nước, khát muốn uống, nhưng uống vào mồm thấy nó tanh như mùi máu.
Máu trong người, tôi tưởng là đã cạn hết, một bàn tay ác-nghiệt như mới đem rót chì sôi vào. Phải đi đứng, phải nói năng, tôi thấy nó nặng nề khó chịu làm sao ! Có khi cả ngày tôi không nói mà có nói thì tôi cũng chẳng rõ là tôi đã nói gì. Tôi cũng không hiểu tôi làm thế nào mà đi được từ Hanoi xuống Haiphong, tôi lấy vé ra sao, tôi lên tầu ra sao, những ai đã ra tiễn tôi, người ta nói những gì, tôi nói những gì, tôi cũng không nhớ nữa. Tôi chỉ nhớ là tôi bị chìm trong một khoảng không tối-đen mà cái gì cũng hiện ra trước mặt tôi sau một làn sương mù hắc-ám. Tôi lấy làm lạ sao cái ô-tô nặng trĩu kia không đè lên tôi để cho bẹp nát đi. Tưởng-tượng khi cái ô-tô kia đè lên gẫy nát chân tay, giập tan tim phổi, tôi cũng không thấy đau-đớn và ghê sợ một tí nào. Chiếc tầu nặng hàng vạn cân sắt, có lúc tôi tưởng-tượng thấy đổ nhào, tôi và hành-khách bị ép chỉ còn là một đống thịt đầm-đìa những máu, tôi nhắm mắt lại, sung-sướng rằng đã được chết. Nhưng quái, khi tôi thấy trong người tôi chẳng có cái gì khác, tôi mở mắt thì thấy chung-quanh tôi một bọn người ngớ-ngẩn vẫn cười nói như thường. Tôi bỗng nổi giận muốn lại đấm cho mỗi người mấy quả và hỏi họ: sao chúng mày còn cười nói được?
Một sự lạ nhất là sao tôi còn sống cho được đến ngày nay, sau những ngày thất-vọng như thế. Thất-vọng, thất-vọng? loài người đặt ra hai chữ ấy, nhưng tôi dám chắc một vạn người không có một người hiểu cái thất-vọng nó ra thế nào ?
Muốn tưởng-tượng thấy sự thất-vọng ấy ư ? phải đập cho tan tương-lai, quá-khứ và hiện-tại, bởi lúc ấy người ta không còn phân- biệt gì được về thời-gian nữa. Tương-lai, quá-khứ và hiện-tại họp thành một khối buồn mênh-mông như không-gian nó đè trĩu lên đầu, lên cổ, nó làm cho các giác-quan ta cóng cả lại, không nhận xét thấy gì hết, ngoài cái buồn nó kéo rút ruột gan ta, cấu xé linh-hồn ta, bới móc tim gan ta.
Lúc tôi bước chân lên chiếc tầu bể, tôi tưởng chừng như tôi đã để hết các nguồn sống ở dưới bến mà chỉ đem độc một cái xác chết lên tầu. Tôi ngơ-ngác đứng nhìn thủy-thủ chạy lăng-xăng mà tự hỏi : sao tôi lại ở đây ?
Kịp đến khi tầu kéo neo, quay mũi, tưởng-tượng từ đây tôi sẽ phải vĩnh-viễn xa nàng, con tầu sẽ đưa tôi qua mấy lần bể để cho tôi chết vùi, chết dập trong một đồng đất xa lạ …, tôi bỗng kêu rú lên một tiếng, rồi tôi chạy ra lan-can, toan nhẩy xuống bể bơi vào bờ. Nhưng chưa tới lan-can thì tôi bỗng tối-tăm mặt mũi, chân tay mềm-nhũn, rồi hình như có bao nhiêu cánh tay mạnh-mẽ nắm lấy tôi tôi trở lại. Lúc tôi mở mắt thì tầu đã gần đến bến Tourane, tôi thấy hai ba người ngồi quây ở đầu giường tôi. Thì ra tôi mê mất một ngày, một đêm. Một người bồi trên tầu nói cho tôi biết lúc tôi xăm-xăm chạy ra đâm đầu xuống bể, có mấy người trông thấy vội-vàng ra cản tôi lại, tôi giằng co, tôi đánh đập, tôi khóc-lóc, người ta phải khó-nhọc lắm mới dìu được tôi vào buồng. Người ta tiêm thuốc cho tôi, người ta đổ sữa cho tôi, tôi chẳng hay gì hết. Thấy tôi vật-vã nhiều quá, người ta cho là tôi phát điên. Người ta định khi đến Tourane thì cho khiêng tôi lên nhà thương trên ấy.
Một lát sau, thầy thuốc trên tầu đến. Tôi giả nhời rằng tôi không điên, tôi chỉ bị cảm và nay đã khỏi rồi. Tôi yêu cầu đừng đem tôi lên nhà thương Tourane. Rồi muốn chứng thực rằng tôi đã bình-phục, tôi vùng dậy, nhưng mệt quá, tôi lại ngã giúi xuống. Thì ra tôi đói quá. Sau khi uống một cốc sữa nóng, tôi thấy hơi hồi-hồi. Sáng hôm sau thì tôi dậy được, lên «pông». Hành-khách tò-mò kéo đến nhìn tôi như một quái-tượng. Mà tôi là một quái-tượng thật : tôi là một người chết trong đám người sống.
Giời hôm ấy nắng to. Mặt bể Iong-lanh, vòm trời xanh ngắt. Mây trắng từng hàng thướt-tha bay như những dải lụa mỏng. Những dải lụa mỏng ấy, tôi nhìn thành những cái thòng-lọng để thắt cổ. Lắm lúc tôi tưởng-tượng, một dải lụa ấy là-là xuống gần tôi, phủ qua đầu tôi, thòng vào cổ tôi, rồi một bàn tay bí-mật kéo tôi phăng lên lưng chừng giời, để cho tôi chết cứng giữa khoảng mây nước vui tươi ấy.
Những con yến đen đen bay lượn trên đầu, tôi chỉ coi là những vật bẩn-thỉu giời sinh ra chỉ để làm vẩn-đục những ngày đẹp đẽ như ngày hôm ấy. Nếu không có những con yến kia, mây, nước sẽ đẹp-đẽ và sạch-sẽ biết mấy. Điểm mấy cái chấm đen vào, giời hình như cố-ý không cho loài người được hưởng một cái thú gì hoàn-toàn cả. Những con yến ấy là tượng-hình của thần Số-mệnh tàn-khốc chỉ chăm chăm chờ cơ-hội để dệt nên cho loài người những tràng ngày đen-tối và sầu- thảm.
Nhìn mây nước, tôi cũng biết là đẹp, nhưng khổ thay, tôi lại cảm thấy rằng từ khi tôi rời khỏi đất Bắc, tôi không còn có thể hưởng được một cái đẹp gì ở đời nữa.
Tôi tưởng đến quá-khứ, quá-khứ chỉ là một cái bể đen ngòm; tôi nhìn đến hiện-tại, hiện-tại là một bầu giời mờ-mịt; tôi nghĩ đến tương-lai, tương-Iai là một chuỗi ngày giá-lạnh. Tôi chỉ còn sống ở đời với một tấm lòng giá-lạnh với cái giá-lạnh của cảnh-vật. Không-khí tôi thở như nặng-nề sắp đóng lại thành băng, thành tuyết.
Tôi đang đứng nhìn vơ-vẩn, nghĩ liên-miên thì có một người hành-khách ăn mặc lam-lũ bị cụt một chân đến ngửa tay xin tiền tôi. Tôi móc túi lấy mấy hào để vào bàn tay ghẻ-lở của y. Khi y quay đi, nhìn thấy cái chân cụt, tôi choáng người sờ lên ngực. Thì ra trái tim tôi cũng bị tàn-tật như cái chân kia. Một định-mệnh khốc-liệt đã cưa nó đi như nhà giải-phẫu đã cưa cái chân kia mà lắp vào đấy một chiếc chân gỗ. Tôi bỗng ứa hai hàng nước mắt. Tôi thương tôi, tôi thương người, tôi cảm thấu đến những nỗi đau-đớn ở đời từ đấy. Tôi bồi-hồi nhìn những cơ-cực của loài người, tôi thấy rõ-ràng rằng tôi cũng một số-kiếp hẩm-hiu như họ, sinh ra suốt đời chịu những thống-khổ mà chỉ được nếm một vài ngày hoan lạc thôi. Mà một vài ngày hoan-lạc ấy một khi đã hưởng rồi thì chao ôi! ta lại càng cảm thấy những thống-khổ kia một cách thấm-thía hơn. Những thống-khổ ấy lại càng thống-khổ một khi ta đã rõ mùi-vị của yêu-đương.
Trong một lúc, những thống-khổ của lòng tôi như bay ra mà hòa vào với những thống-khổ của nhân-loại, rồi tôi tưởng chừng như tôi với nhân-loại chỉ là một. Tôi nhận thấy cả cái não-nùng của những kiếp người: sinh ra, lo nghĩ, đau-khổ rồi chết. Một phút thương-cảm lâm-ly nó đã làm cho tôi quên sự đau-buồn riêng của mình.
Tôi tưởng-tượng bây giờ đây Thuần đang nhớ tới tôi, đang khóc sự biệt-ly, đang đau-buồn vì tôi mà tôi run bắn người lên. Thì ra bao giờ tôi cũng lo sự đau-buồn xảy đến cho nàng hơn là những sự đau buồn xảy đến cho tôi.
Mất nàng, tôi mất hết những lẽ sống ở trên đời. Nhưng nàng mất tôi ? Trong thâm-tâm thì tôi muốn rằng nàng sẽ quên được tôi đi để theo được cuộc đời mà cha mẹ nàng đã xếp đặt cho nàng, nhưng không biết có một sức bí-mật khốn-nạn gì lại xui tôi ao-ước nàng đừng quên tôi mà cứ đau-khổ vì tôi mãi. Có lẽ đó là lòng ích-kỷ. Lúc tôi nhận thấy lòng tôi như thế, tôi khinh-bỉ tôi, ghê-tởm tôi một cách lạ-lùng. Tôi cho vì tôi khốn nạn như thế, nên bây giờ phải khổ-sở như thế này là rất đáng, ông trời rất có mắt.
Sụ mình tự khinh mình ấy làm cho tôi nhẹ nỗi đau buồn đi một lát.
Tôi xuống buồng viết cái giây thép, để khi đến Saigon đánh cho ông Hoàng Cao-mên và một bức thơ cho anh Hiển, dặn anh dù tình-cảnh Thuần ra sao cũng đừng viết thơ cho tôi, mà nàng có hỏi địa-điểm tôi thì bảo là không biết. Tuy tôi viết thơ dặn anh Hiển thế mà tôi vẫn ước-thầm: giá anh cứ trái lời tôi, cứ viết thơ kể tình-cảnh Thuần cho tôi biết và bảo Thuần địa-điểm của tôi để thỉnh-thoảng nàng viết thơ thăm tôi. Và biết đâu… rồi nàng chẳng vì không thể sống xa tôi được mà phải vào với tôi?
Thì đã bảo thiếu-niên là khốn-nạn, không bao giờ có một ý-định rõ-rệt. Họ chỉ thuần hi-vọng ở bất-ngờ, ở giời, mà không bao giờ biết hi-vọng ở mình.
Họ muốn hạnh-phúc ? nhưng hạnh-phúc ấy, họ chỉ mong người làm cỗ sẵn để họ đến ăn, chứ họ không có đủ can-đảm và nghị-Iực để tự-tạo ra hạnh-phúc cho mình bao giờ. Họ quên rằng sống đã là tàn-nhẫn thì muốn có kết-quả tốt đẹp bất cứ một việc gì cũng phải nỗ-lực, cũng phải trăm cay nghìn đắng, trải bao khó nhọc mới có, chứ chẳng có kết-quả tốt đẹp gì lại êm-đềm mà đến bao giờ.
Huống-hồ kết-quả ấy lại là hạnh-phúc. Lại là hạnh-phúc yêu-đương của cả một đời, thì người ta có thể nào cứ an-nhàn mà có được. Người ta cứ bảo thiếu-niên hăng-hái. Câu ấy là câu nói láo. Thiếu-niên có hăng-hái chẳng qua chỉ hăng-hái ở ngoài miệng, chỉ hăng-hái ở chỗ xuẩn-động vì họ có biết họ muốn gì đâu. Đã không biết rằng mình muốn gì thì còn đâu có cái gan mạo-hiểm cố làm để cho có ? Họ có hăng-hái cũng chỉ hăng-hái như lũ quân ô-hợp, lúc chưa ra trận thì hò reo, đến lúc nghe tiếng súng, nhìn thấy máu chảy, đầu người rơi thì so vòi lại vội chạy trốn ngay. Đã không có cái gan muốn được thì không cò cái gan liều thua. Mà không liều thua thì ở đời còn được cái gì ?
Cái hăng-hái của thiếu-niên chẳng qua… chẳng qua là một mớ lửa rơm, là một tang-chứng yếu-ớt của cái tuổi thơ ngây dại-dột, không có đủ bình-tĩnh để đi tới mà thôi. Thiếu-niên hèn nhát. Thì chí phải rồi, bởi nếu tôi không hèn-nhát, thì đâu tôi có phải đeo mối hận nghìn đời như thế này!