19.
Ngày nào tôi cũng tới bệnh viện. Mẹ chỉ nằm một chỗ và thở. Mẹ nằm ở phòng điều trị đặc biệt chẳng được bao lâu đã bị chuyển sang phòng bệnh dành cho sáu người. Mỗi ngày tôi đều đến ngồi bên mẹ, sưởi nắng rồi về.
Bác sĩ lạnh lùng nói rằng mẹ không còn hy vọng tỉnh lại. Sau này họ cũng chẳng làm được gì hơn ngoài kéo dài sự sống của mẹ. Các y tá ngày ngày đến thay vệ sinh cho mẹ với biểu cảm thờ ơ. Thỉnh thoảng họ cùng tôi hợp sức lật người mẹ lại để cơ thể mẹ nằm lâu không bị lở loét. Tựa như vật lộn với một chiếc vali to đùng. Bác sĩ bảo tôi sau khi quyết định xong hãy báo lại với họ. Tôi chẳng hiểu câu đó nghĩa là gì nên hỏi lại. Bác sĩ giảng giải lại rằng không biết tôi định tiếp tục trả viện phí ở đây hay chuyển sang một viện điều dưỡng tiết kiệm hơn ở vùng ngoại ô.
Số tiền bảo hiểm tử vong của bà cũng đủ giúp tôi tạm thời sống yên ổn. Giờ tôi mới biết mẹ đã chuẩn bị sẵn những thứ đó đề phòng trường hợp tôi có thể bị bỏ lại một mình bất cứ lúc nào.
Tôi đi khai tử cho bà. Nhân viên ở ủy ban nhân dân tặc lưỡi, lẳng lặng quay mặt đi. Cách đây không lâu có một nhà phúc lợi xã hội từ ủy ban nhân dân đến tìm tôi. Người đó nói rằng vì tôi là trẻ vị thành niên nên có thể được bàn giao tới cơ sở của họ và hỏi ý kiến của tôi thế nào. Đó là nơi giống như trại trẻ hay trung tâm bảo trợ trẻ em. Tôi xin thêm thời gian suy nghĩ. Nhưng xin thời gian suy nghĩ cũng không có nghĩa là tôi sẽ suy nghĩ trong khoảng thời gian đó. Tôi chỉ đơn giản là xin thêm thời gian thôi.
20.
Nhà rất hiu quạnh. Cả ngày chỉ nghe thấy tiếng thở của tôi. Những dòng chữ của bà ngoại và mẹ vẫn dán trên tường nhưng giờ chẳng ai dạy tôi nữa nên chúng chỉ còn là vật trang trí, chẳng có chút ý nghĩa gì. Tôi biết thừa nếu tới trung tâm bảo trợ thì đời mình sẽ thành ra thế nào. Tôi thì không có vấn đề gì nhưng còn mẹ thì sao.
Tôi tò mò không biết mẹ sẽ khuyên mình thế nào. Nhưng mẹ lại chẳng thể cất lời. Tôi đành tìm kiếm manh mối trong những câu mẹ vẫn thường nói. Tôi nhớ ra câu mẹ nói nhiều nhất. Hãy sống thật “bình thường”.
Tôi đành tìm kiếm các ứng dụng trong điện thoại. Ứng dụng “trò chuyện với điện thoại” lọt vào mắt tôi. Tôi vừa mở ứng dụng thì một cửa sổ nhỏ nhảy ra và xuất hiện một biểu tượng.
Xin chào.
Tôi vừa nhấn vào nút gửi thì đáng sợ thay câu trả lời đến ngay tức khắc.
Xin chào.
Tôi viết.
Bạn khỏe chứ?
Tôi cũng vậy.
Tốt.
Bình thường tức là sao?
Là giống với người khác.
Lặng im một hồi. Lần này tôi quyết định viết dài hơn.
Giống với người khác là thế nào?
Mỗi người đều khác nhau vậy lấy ai làm tiêu chuẩn?
Nếu là mẹ thì mẹ sẽ nói gì với mình nhỉ?
Xong cơm rồi. Ra ăn đi.
Không biết có phải bên kia chạm nhầm nút gửi không mà một câu trả lời cụt lủn xuất hiện. Tôi thử thêm vài lần nữa nhưng chỉ toàn nhận lại những câu trả lời vô nghĩa. Tôi bỏ cuộc tìm kiếm manh mối, liền tắt ứng dụng không thèm gõ lại một lời tạm biệt.
Vẫn còn một thời gian nữa mới phải đi học. Từ giờ tới lúc đó tôi phải làm quen với cuộc sống một mình.
Sau nửa tháng tôi mở lại hiệu sách. Tôi đi giữa những kệ sách, phủi bụi trên giá. Thi thoảng lại có khách đến. Cũng có những người đặt hàng qua trang web trên mạng. Có một bộ truyện cổ tích mà mẹ đã định mua từ trước khi sự việc xảy ra, tôi mua lại nó với giá khá tốt rồi xếp ở nơi dễ nhìn thấy nhất.
Kể ra một ngày chỉ phải nói vài câu cũng khá thoải mái. Chẳng cần suy nghĩ, không cần đau đầu đối đáp cho hợp với hoàn cảnh. Chỉ cần nói với khách hàng những câu như “Vâng”, “Không ạ”, “Đợi một chút” là được. Ngoài ra thì tôi quẹt thẻ, đếm tiền, và nói vài ba câu “Mời vào, Tạm biệt” như một cái máy.
Một hôm, có bà cô quản lý phòng đọc sách thiếu nhi gần đó ghé qua. Ngày trước thi thoảng bà ngoại tôi vẫn thường chuyện trò với bà cô này.
“Nghỉ hè nên cháu làm thêm đấy à? Bà đâu rồi?”
“Chết rồi ạ.”
Bà cô há hốc miệng. Hai hàng lông mày nhíu lại.
“Cô biết trẻ con ở tuổi cháu vẫn hay đùa cợt như vậy, nhưng dù sao cũng không nên nói câu đó. Bà cháu sẽ nghĩ sao chứ?”
“Cháu nói thật mà.”
Bà cô khoanh tay lại, cao giọng nói.
“Vậy cháu nói xem. Bà đã mất khi nào, mất như thế nào?”
“Bà cháu bị đâm dao, vào đêm Giáng sinh ạ.”
“Ôi trời…”
Bà cô lấy hai tay che miệng.
“Thì ra là cái vụ đã lên thời sự. Ông trời sao thật nhẫn tâm…”
Sau khi đưa tay làm dấu thánh, bà cô vội vã chạy ra ngoài. Như thể phải chạy thật nhanh trước khi bị lây bệnh gì đó từ tôi. Tôi gọi với theo.
“Đợi một chút, cô chưa thanh toán ạ.”
Mặt bà ta đỏ lựng.
Một lúc sau khi bà cô rời khỏi, tôi thử nghĩ xem nếu là mẹ thì mẹ sẽ muốn tôi nói gì trong hoàn cảnh vừa rồi. Nhìn thái độ của bà cô thì chắc chắn tôi đã phạm sai lầm gì đó. Thế nhưng tôi không hề biết mình sai ở chỗ nào và phải sửa thế nào để không mắc lại sai lầm ấy. Lẽ nào tôi nên nói bà ngoại đã đi du lịch nước ngoài? Không được. Nếu tôi làm vậy thì bà cô thích tọc mạch đó nhất định sẽ liên tục dò hỏi. Hay đáng lẽ tôi không nên nhận tiền sách. Nhưng việc đó cũng chẳng bình thường tẹo nào. Im lặng là vàng. Tôi quyết định tiếp tục lấy câu thành ngữ đó làm kim chỉ nam. Tôi sẽ không trả lời những câu hỏi không đâu nữa. Thế nhưng tiêu chuẩn của sự “không đâu” đó cũng thật dễ nhầm lẫn.
Đột nhiên tôi nhớ đến một cuốn sách. Cuốn sách mà bà tôi, người thường chỉ đọc cùng lắm là biển hiệu các tòa nhà, đã đọc và tấm tắc khen hay. Tôi rất vất vả mới tìm ra cuốn sách nhỏ bằng lòng bàn tay được bán với giá 2500 won vào năm 1986. Tuyển tập truyện ngắn Hyun Jin Gun. Trong đó có truyện “Quản lý [5] B và bức thư tình”.
Nửa đêm nửa hôm, quản lý B trộm thư tình của học sinh rồi tự giả giọng một nam một nữ độc diễn. Có ba nữ sinh lén xem được cảnh tượng đó và phản ứng theo những cách hoàn toàn khác nhau. Một nữ sinh cười nhạo và chế giễu quản lý B. Một nữ sinh lại rùng mình vì sợ quản lý B. Nữ sinh còn lại thì thấy quản lý B thật đáng thương và rơi nước mắt.
Tôi thấy kết thúc đó không tệ tuy nó đi ngược lại lời dạy của mẹ, rằng mọi thứ chỉ có một đáp án duy nhất. Có lẽ câu chuyện muốn truyền tải ý nghĩa cuộc đời này chẳng có đáp án nào được định sẵn. Vì thế ta không nhất thiết phải có một phản ứng nhất định với một lời nói hay hành động của người khác. Bởi mọi người đều khác nhau nên những “phản ứng khác thường” của tôi cũng có thể là đáp án đúng cho một ai đó.
Khi tôi nói vậy, mẹ hết sức bàng hoàng. Sau một hồi băn khoăn, mẹ cũng đưa ra câu trả lời. Vì câu chuyện kết thúc bằng cảnh nữ sinh thứ ba khóc nên phản ứng phù hợp với hành động của quản lý B là “rớt nước mắt” như nữ sinh thứ ba.
“Thế nhưng cũng có kiểu văn diễn dịch mà. Phản ứng của nữ sinh đầu tiên cũng có thể đúng chứ.”
Mẹ lắc đầu. Tôi không chịu thua, liền hỏi.
“Vậy mẹ cũng sẽ giống nữ sinh thứ ba, khóc nếu nhìn thấy quản lý B diễn kịch một mình sao?”
Bà ngoại bên cạnh chợt xen vào.
“Mẹ cháu một khi đã ngủ thì có ai bế đi giữa đêm cũng chẳng biết đâu. Thế nên mẹ cháu chắc chắn đóng vai phụ, là một trong số nữ sinh đang ngủ khò khò trong phòng rồi.”
Nói đoạn bà cười khà khà.
Đột nhiên một bóng đen phủ xuống cuốn sách. Một người đàn ông trung niên đang đứng trước mặt tôi. Sau đó bóng đen liền biến mất. Ông ta để lại một tờ giấy nhớ trên bàn thanh toán. Tờ giấy viết “Hãy đi lên tầng hai.”
21.
Hiệu sách nằm ở tầng một của tòa nhà hai tầng khá thấp. Tầng hai là tiệm bánh. Hiếm có tiệm bánh nào ở trên tầng hai như vậy. Không những thế trên tấm biển tồi tàn còn chẳng ghi nổi tên cửa tiệm cho đàng hoàng, chỉ viết mỗi hai chữ “Bánh mì”. Lần đầu nhìn thấy tấm biển, bà đã nói “trông chẳng ngon gì cả”. Tôi thực không hiểu bằng cách nào bà lại đoán được vị bánh khi chỉ nhìn tấm biển hiệu.
Tiệm bánh chỉ bán bánh mì bơ đậu phộng nhân kem, bánh sữa và bánh kem. Không hiểu sao tiệm bánh tự tin tới mức ngày nào cũng đóng cửa vào lúc bốn giờ chiều. Nhưng tiệm khá đông khách, mấy lần tôi đã thấy khách xếp hàng xuống tận tầng một. Cũng nhờ vậy mà thi thoảng những khách xếp cuối có chút thời gian ghé qua hiệu sách chúng tôi.
Đôi khi mẹ cũng mua bánh ở đó. Trên túi bánh có ghi “Tiệm bánh Shim Jae Young”. Shim Jae Young là tên chủ tiệm, mẹ luôn gọi ông ấy là tiến sĩ Shim. Sau khi được nếm thử, bà cũng không chê bánh ở đó thêm lần nào nữa. Tôi thì, ừ cũng được. Trước giờ với tôi đồ ăn món nào cũng như món nào. Đây là lần đầu tiên tôi đặt chân vào bên trong tiệm bánh.
Tiến sĩ Shim cho tôi một cái bánh kem. Tôi vừa cắn một miếng, lớp kem đặc sệt vàng óng trào ra. Tiến sĩ Shim mới chỉ ngoài năm mươi nhưng tóc bạc trắng như tuyết nên trông như đã ngoại lục tuần.
“Có ngon không?”
“Cũng được ạ.”
“May quá, cháu không chê chán.”
Tiến sĩ Shim cười nhẹ.
“Bác làm một mình ở đây ạ?”
Tôi nhìn quanh rồi hỏi. Chẳng có ai trợ giúp cả. Trong gian tiệm trống hoác chỉ có một chiếc máy tính tiền, một giá bày bánh và một cái bàn. Có một vách ngăn ở giữa, có lẽ đằng sau là nơi nhào bột và nướng bánh.
“Ừ, ta vừa là chủ vừa là nhân viên duy nhất ở đây. Làm vậy tiện hơn. Cũng chẳng có vấn đề gì xảy ra cả.”
Một câu trả lời dài quá mức cần thiết.
“Thế bác gọi cháu đến có việc gì ạ?”
Tiến sĩ Shim rót sữa cho tôi.
“Ta rất tiếc khi biết chuyện xảy ra với cháu. Ta đã băn khoăn rất lâu, vì muốn giúp đỡ cháu chút gì đó nên mới gọi cháu lên đây.”
“Giúp thế nào ạ?”
“Xem nào. Lần đầu gặp mặt nên ta cũng không biết phải nói thế nào, cháu có cần thứ gì hay nhờ vả điều gì không?”
Từ nãy tiến sĩ Shim vẫn gõ ngón tay liên tục xuống bàn. Có vẻ đó là thói quen của ông nhưng tôi hơi khó chịu khi phải liên tục nghe âm thanh ấy.
“Cháu mong bác đừng phát ra tiếng đó nữa.”
Tiến sĩ nhìn tôi qua cặp mắt kính và nở nụ cười.
“Cháu đã nghe chuyện Đại đế Alexander và Diogenes bao giờ chưa? Tự nhiên bác nhớ tới câu chuyện đó. Khi Đại đế Alexander nói sẽ thực hiện mọi lời thỉnh cầu của Diogenes thì Diogenes đã yêu cầu Đại đế đứng tránh sang một bên vì ngài đang che mất ánh mặt trời của ông.”
“Nhưng nhìn bác cháu chẳng thấy có dáng dấp Alexander Đại đế gì cả.”
Lần này Tiến sĩ bật cười ha hả.
“Ta đã nghe mẹ cháu kể. Rằng cháu là đứa trẻ đặc biệt.”
Đặc biệt. Tôi đang đoán xem mẹ dùng từ đó với ý nghĩa gì. Tiến sĩ nắm tay lại.
“Bác có thể dừng việc gõ xuống bàn bây giờ nhưng nó đã thành thói quen rồi, thật chẳng dễ bỏ chút nào. Bác muốn giúp đỡ cháu về lâu về dài.”
“Về lâu về dài ấy ạ?”
“Sống một mình chắc gặp nhiều khó khăn, cháu có thể cần sự giúp đỡ về kinh tế.”
“Cháu vẫn còn tiền bảo hiểm, trước mắt thì không sao ạ.”
“Mẹ cháu vẫn thường nhờ bác giúp đỡ nếu có chuyện gì xảy ra với cháu. Bác với mẹ cháu từng khá thân thiết đó. Mẹ cháu là người luôn khiến người khác vui vẻ.”
Tôi để ý ông luôn dùng thời quá khứ.
“Bác tới bệnh viện thăm mẹ cháu rồi ạ?”
Tiến sĩ Shim gật đầu. Khóe miệng ông hơi trễ xuống. Thêm người cùng buồn chuyện của mẹ có lẽ sẽ khiến mẹ vui hơn một chút. Mẹ đã từng dạy tôi như vậy. Khi có người cùng san sẻ nỗi buồn thì đó chính là một chuyện vui. Âm với âm sẽ tạo thành dương mà.
“Thế nhưng sao mọi người lại gọi bác là tiến sĩ ạ?”
“Vì bác từng là bác sĩ. Tuy giờ không phải nữa.”
“Bác đã chuyển sang nghề thú vị hơn rồi.”
Tiến sĩ lại bật cười lần nữa. Dần dần tôi nhận ra, ông luôn cười bởi những câu nói mà tôi chẳng hề có ý định chọc cười.
“Cháu có thích sách không?”
“Có ạ. Trước đây cháu cũng từng giúp mẹ công việc ở hiệu sách.”
“Vậy thì thế này đi. Cháu cứ tiếp tục mở hiệu sách nhé. Bác là chủ tòa nhà này. Hãy coi đó như một công việc làm thêm, bác sẽ trả lương cho cháu. Tiền bảo hiểm sẽ dùng khi cháu học đại học hoặc khi có việc quan trọng, trước mắt hãy dùng tiền lương để chi trả sinh hoạt phí. Chỉ cần cháu đồng ý, bác sẽ xử lý trước những chuyện phức tạp.”
Cũng giống khi trả lời nhà phúc lợi xã hội, tôi lại bảo sẽ suy nghĩ. Bởi tôi được dạy phải xin thêm thời gian khi nhận được đề nghị bất thường từ ai đó.
“Bất cứ lúc nào gặp chuyện khó khăn cháu cứ nói với bác. Bác khá bất ngờ vì nói chuyện với cháu thú vị hơn bác nghĩ. Và một khi đã làm thì hãy cố gắng bán được nhiều sách nhất có thể nhé.”
Trước khi về tôi hỏi lại tiến sĩ Shim.
“Bác có từng hẹn hò với mẹ cháu không?”
Tiến sĩ Shim mở to mắt rồi lại nheo lại.
“Cháu nghĩ vậy sao? Chúng ta từng là bạn. Bạn khá thân.”
Nụ cười thường trực trên khuôn mặt ông dần biến mất.
22.
Tôi chấp nhận lời đề nghị của tiến sĩ Shim, một lời đề nghị có lẽ cũng chẳng nguy hiểm gì với tôi, về nhiều mặt. Cuộc sống của tôi cứ thế tiếp diễn, không còn biến cố nào xảy ra nữa. Để giữ lời hứa tăng doanh thu với tiến sĩ Shim, ngày nào tôi cũng dành thời gian tìm hiểu những đầu sách mới đang được yêu thích và cả những tài liệu ôn thi công chức, cố gắng tăng lượng sách. Cũng có những ngày mùa đông lạnh lẽo không một khách ghé hiệu sách, vào những hôm đó tôi chẳng mở miệng lấy một lần. Tới mức khi mở miệng uống nước, hơi nóng trong miệng xộc lên tận mũi.
Trong khung ảnh dựng ở góc bàn, ba người chúng tôi vẫn chẳng thay đổi tẹo nào. Bà ngoại và mẹ cười rạng rỡ, còn tôi không cảm xúc. Đôi khi tôi thường tưởng tượng rằng mẹ và bà chỉ đang đi du lịch thôi. Và đương nhiên tôi biết đó là chuyến du lịch không có ngày trở về. Bà và mẹ từng là cả thế giới đối với tôi. Thế nhưng sự vắng mặt của hai người cũng đã cho tôi biết, thế giới này vẫn còn tồn tại những người khác. Từng người, từng người dần dần xuất hiện trong cuộc đời tôi. Đầu tiên là tiến sĩ Shim. Thi thoảng tiến sĩ Shim có ghé qua hiệu sách cho tôi bánh mì hay nắm vai động viên tôi hãy mạnh mẽ lên. Mà tôi có khi nào yếu đuối đâu.
Tôi thường tới thăm mẹ lúc trời chạng vạng. Mẹ chỉ lặng yên nằm đó như công chúa ngủ trong rừng. Nếu nhận thức được tình cảnh của mình liệu mẹ sẽ trông đợi gì ở tôi nhỉ? Liệu mẹ có mong tôi ngồi túc trực bên giường, cứ vài tiếng lại lật người mẹ một lần? Không đâu. Mẹ sẽ muốn tôi đi học. Bởi lẽ, đó là việc “bình thường” mà ở tuổi tôi ai cũng làm. Vì thế tôi quyết tâm đi học.
Những đợt gió lạnh đã dịu dần. Tết đang đến gần, ngày Lễ Tình yêu cũng đã qua và mọi người đều mặc áo khoác mỏng hơn. Tôi cũng đã tốt nghiệp cấp hai. Trên đài phát thanh hay ti vi người ta thi nhau than vãn không hiểu sao tháng Một, tháng Hai lại trôi qua nhanh đến vậy.
Thế là tháng Ba đã tới. Học sinh mẫu giáo sẽ lên lớp Một, và học sinh tiểu học sẽ lên cấp hai. Tôi cũng vậy, tôi cũng tới một ngôi trường mới để trở thành học sinh cấp ba. Lại phải gặp giáo viên và bạn bè hằng ngày.
Thế nhưng mọi chuyện bắt đầu thay đổi.
23.
Ngôi trường tôi mới theo học được xây dựng cách đây hai mươi năm và là trường chung dành cho cả nam lẫn nữ. Tuy không thuộc top những trường có tỉ lệ đỗ Đại học cao nhưng cũng không phải trường nhiều tai tiếng hay có học sinh hư hỏng.
Tiến sĩ Shim nói sẽ cùng tôi tới dự lễ khai giảng nhưng tôi từ chối. Tôi đứng một mình từ xa, ngắm nhìn khung cảnh lễ khai giảng bình thường như bao lễ khai giảng khác. Ngôi trường vốn dĩ màu đỏ nhưng mới đây đã được sửa sang lại nên vẫn còn nồng mùi sơn và vật liệu xây dựng. Những bộ đồng phục cũng cứng đơ, chẳng vừa với người.
Ngày hôm sau, khi học kỳ mới chính thức bắt đầu, giáo viên chủ nhiệm đã gọi tôi ra. Cô là giáo viên dạy Hóa, đã công tác ở trường này được hai năm, trông cô chỉ hơn tôi chừng chục tuổi. Trong phòng tư vấn, cô chủ nhiệm ngồi phịch xuống chiếc xô pha màu tím cũ kỹ, khiến bụi tán loạn bay lên. Cô đưa nắm tay lên che miệng, húng hắng ho rồi e hèm khe khẽ. Ở trường tuy là giáo viên chủ nhiệm nhưng chắc ở nhà cô vẫn là con gái út được chiều chuộng. Khi tôi bắt đầu khó chịu với tiếng e hèm mãi không dứt ấy thì cô nhẹ nhàng gợi chuyện.
“Khó khăn lắm phải không? Cô giúp gì được em nhỉ?”
Cô chủ nhiệm đã biết trước chuyện của tôi. Có vẻ như các chuyên gia tâm lý và luật sư của gia đình những người thiệt mạng đã liên lạc với trường.
“Không sao đâu ạ.”
Tôi nhanh nhảu đáp hòng ngắt gọn cuộc đối thoại. Có vẻ câu trả lời không như mong đợi nên hai khóe môi cô chủ nhiệm nhệch sang hai bên, lông mày cô cũng hơi nhướn lên.
Mọi chuyện bắt đầu vào giờ tan học ngày hôm sau. Cô chủ nhiệm có vẻ đã rất khó khăn mới học thuộc hết tên học sinh trong lớp, nhưng chẳng một ai cảm động vì điều đó. Bởi lẽ cô chỉ dùng những cái tên mình đã vất vả học thuộc vào việc ra lệnh cho ai đó im lặng hoặc ngồi xuống. Rõ ràng cô chẳng có chút tố chất thu hút sự chú ý của học sinh. Không biết có phải do thói quen không mà hễ ba giây cô lại húng hắng ho, rồi chốc chốc lại e hèm.
“Nào, còn chuyện này nữa.”
Đột nhiên cô lên tông giọng.
“Trong lớp chúng ta có một bạn đã phải trải qua chuyện hết sức đau lòng. Giáng sinh vừa rồi bạn ấy đã mất cả gia đình. Cả lớp hãy dành cho bạn ấy một tràng vỗ tay khích lệ. Seon Yoon Jae, đứng dậy nào.”
Tôi làm theo lời cô.
“Yoon Jae à, mạnh mẽ lên.”
Cô chủ nhiệm làm mẫu trước, đưa hai tay lên cao vỗ mạnh vào nhau. Giống một đạo diễn sân khấu đang hướng dẫn các khán giả vỗ tay khi ghi hình một chương trình truyền hình.
Phản ứng của đám bạn cùng lớp rất thờ ơ. Loáng thoáng có một vài đứa giả bộ làm theo cô chủ nhiệm, vỗ tay cho có. May nhờ mấy đứa vỗ rất nhiệt tình nên đại khái cũng nghe ra tiếng vỗ tay. Tiếng vỗ dần lắng xuống. Sau đó là bầu không khí yên ắng tới tịch mịch, chỉ còn hàng chục con mắt đang chằm chằm chĩa vào tôi.
Tôi đã sai khi nói rằng mình không cần cô chủ nhiệm giúp gì cả.
“Cô đừng quan tâm đến em là giúp em lắm rồi.”
Đáng lẽ ra tôi nên nói vậy.
24.
Chẳng mấy chốc tin đồn về tôi đã được lan truyền. Chỉ cần gõ bốn chữ “vụ án Giáng sinh” là tự động một loạt các bài báo về đứa trẻ mười sáu tuổi mất cả bà ngoại lẫn mẹ ruột sẽ hiện ra. Những bức ảnh chụp trong lễ tang đều được bôi mờ mặt, bằng trình độ dở tệ tới mức bất kỳ ai quen biết đều có thể nhận ra ngay đó là tôi.
Phản ứng của đám bạn học cùng trường rất đa dạng. Có đứa chỉ đứng từ xa chỉ trỏ, nhưng cũng có đứa công khai bàn tán mỗi khi tôi đi ngang qua hành lang. Lại có những đứa đến ngồi cạnh và bắt chuyện với tôi trong giờ ăn trưa. Nếu tôi bất chợt quay đầu lại trong giờ học thì y như rằng sẽ bắt gặp ánh mắt một ai đó đang nhìn mình chằm chằm.
Một hôm, có một đứa đã nói ra miệng điều mà tất cả cùng thắc mắc. Đó là khi tôi đang quay trở về lớp sau giờ ăn trưa. Tôi nhìn thấy một cái bóng nhỏ lấp ló ngoài cửa sổ hành lang. Từ bên ngoài cửa sổ, một cành cây đang chấp chới vươn vào trong. Phía đầu cành cây nhú một nụ hoa liên kiều nhỏ xíu. Tôi mở cửa sổ và quay cành cây ấy về hướng ngược lại. Vì tôi cho rằng hoa phải đón ánh mặt trời mới tốt. Khi đó chợt có giọng nói lanh lảnh.
“Này, khi mẹ mày chết trước mặt mày, mày thấy sao?”
Tôi xoay người nhìn về phía phát ra tiếng nói. Đó là một thằng nhóc nhỏ con. Thằng nhóc vẫn thường nói leo trong giờ học và luôn muốn thu hút sự chú ý. Đi đâu cũng luôn có những thằng như vậy.
“Mẹ tao không chết. Người chết là bà tao.”
Tôi vừa trả lời thì thằng nhóc kinh ngạc “ồ” lên. Tôi nhìn lướt xung quanh, có mấy đứa đang cố nhịn cười.
“À vậy sao? Xin lỗi. Để tao hỏi lại. Cảm giác của mày khi thấy bà ngoại chết ngay trước mặt thế nào?”
Thằng nhóc liền hỏi lại. Mấy đứa con gái vây quanh lên tiếng “Ôi, sao lại hỏi thế?” bằng giọng đầy giễu cợt.
“Chúng mày sao vậy? Chúng mày cũng muốn biết còn gì.”
Thằng nhóc đưa hai tay lên, vừa vươn vai vừa nói. Giọng nó lớn hơn ban nãy một chút.
“Có muốn biết không?”
Không một ai trả lời. Bọn chúng chỉ đứng yên tại chỗ.
“Chẳng có cảm giác gì.”
Tôi đóng cửa sổ hành lang rồi đi vào lớp. Ngay lập tức xung quanh lại trở nên ồn ào, nhưng không còn là cái ồn ào của một phút trước.
25.
Sau ngày hôm đó, tôi càng nổi tiếng hơn nhưng không phải kiểu nổi tiếng thông thường mà mọi người ưa thích. Mỗi khi tôi đi qua hành lang, bọn học sinh lại rẽ sang hai bên như mặt biển rẽ làm đôi. Tôi cũng nghe thấy tiếng xì xào bàn tán ở khắp nơi. Nó đó, chính nó. Trông cũng bình thường đấy chứ. Những câu như vậy. Không ít học sinh lớp 11, 12 xuống tận hành lang của khối 10 để nhìn tôi. Cái thằng đã trực tiếp có mặt ở hiện trường vụ giết người. Cái thằng đã tận mắt chứng kiến người thân bị đâm chết. Cũng chính cái thằng ấy đã nói “chẳng có cảm giác gì” mà không hề chớp mắt.
Tin đồn ngày càng lan rộng. Liên tục xuất hiện những đứa tự nhận học cùng cấp một cấp hai với tôi và từng tận mắt chứng kiến rất nhiều hành động kỳ quái của tôi. Mọi tin đồn đều được phóng đại lên hết mức. Nào là tôi sở hữu IQ 200, nào là nếu lại gần tôi sẽ bị đâm chết lúc nào không biết. Thậm chí còn có cả tin đồn chính tôi đã giết chết mẹ và bà ngoại mình.
Mẹ thường nói trong một tập thể bao giờ cũng có người phải trở thành vật hiến tế. Trước kia mẹ dạy tôi những công thức ứng phó trong giao tiếp xã hội cũng bởi khả năng tôi trở thành vật hiến tế vô cùng cao. Giờ đây, khi bên tôi không còn bà và mẹ, thì sự tiên đoán ấy của mẹ đã thành hiện thực. Bọn trẻ sớm nhận ra việc tôi không hề có phản ứng gì trước mọi lời nói của chúng, vì thế bọn chúng thường bất chợt ném cho tôi một câu hỏi nào đó hoặc lôi tôi ra làm trò cười. Những tình huống như vậy ngày càng nhiều hơn trong khi mẹ, người giúp tôi luyện tập những tình huống giao tiếp giả tưởng, đã không còn nữa, tôi thực sự bị dồn tới đường cùng.
Chuyện về tôi xuất hiện trong cả cuộc họp của các thầy cô trong trường. Có vẻ phụ huynh bọn trẻ đã gọi điện tới phản ánh, dù tôi chẳng làm gì bất thường nhưng với họ, chỉ riêng sự tồn tại của tôi thôi đã khiến bầu không khí trong lớp trở nên kỳ quái rồi. Các giáo viên không biết rõ về tình trạng của tôi. Không lâu sau tiến sĩ Shim đến trường gặp cô chủ nhiệm và nói chuyện rất lâu. Tối hôm ấy tôi và tiến sĩ Shim ngồi đối diện nhau, cùng ăn mì tương đen ở một quán án Trung Quốc. Khi mì trong đĩa đã được vét sạch, tiến sĩ Shim mới đi vào câu chuyện. Ông nói lòng vòng một hồi nhưng tóm gọn lại ý ông là môi trường học đường có thể không phù hợp với tôi.
“Ý bác là cháu nên nghỉ học ạ?”
Tiến sĩ Shim lắc đầu.
“Không một ai có thể nói với cháu câu đó. Ý bác là liệu cháu có thể chịu đựng được sự đối đãi đó cho đến khi trưởng thành hay không.”
“Cháu không quan tâm lắm. Bác cũng biết tình trạng của cháu mà. Nếu như bác đã nghe mẹ cháu kể.”
“Mẹ cháu cũng không muốn cháu phải sống như vậy đâu.”
“Mẹ mong cháu sống thật bình thường. Dù đôi khi cháu cũng không hiểu bình thường là như thế nào.”
“Nói cách khác thì không phải mẹ muốn cháu có một cuộc sống yên bình sao?”
“Yên bình…”
Tôi lẩm nhẩm. Cũng không sai. Cuộc sống yên bình giống như bao người. Không có biến cố gì lớn. Đến trường một cách bình thường, tốt nghiệp một cách bình thường và nếu may mắn thì đỗ đại học, kiếm được một công việc ổn định, kết hôn với cô gái mình thích, lập gia đình và sinh con… Kiểu như vậy. Không khác gì câu “đừng gây chú ý” mẹ vẫn hay căn dặn tôi.
“Bố mẹ thường mong đợi rất nhiều điều từ con cái. Nhưng nếu con mình không đạt được những điều đó thì họ cũng chỉ mong chúng sống cuộc sống thật bình thường thôi. Vì họ cho rằng đó là điều cơ bản nhất. Thế nhưng chính cuộc sống được coi là bình thường đó, lại là thứ khó với nhất.”
Nghĩ lại thì có khi bà ngoại cũng chỉ mong mẹ tôi có một cuộc sống thật bình thường. Vì mẹ đã không thể có một cuộc sống như thế. Theo lời tiến sĩ Shim thì “bình thường” là một từ rất phức tạp. Mọi người đều coi thường nó và dễ dàng thốt nó ra miệng nhưng có mấy ai thực sự được sống trọn vẹn với ý nghĩa của từ đó đâu. Nhất là với tôi điều đó lại càng khó hơn nữa. Bởi lẽ tôi không được trời phú cho sự bình thường. Và cũng không hề có năng lực gì phi thường. Tôi chỉ là đứa trẻ kỳ lạ lạc lối ở giữa, không thuộc về bên nào. Vì thế tôi quyết định sẽ thử sức một lần. Thử trở nên bình thường hơn.
“Cháu sẽ đi học tiếp.”
Đó là kết luận của tôi ngày hôm đó. Tiến sĩ Shim gật đầu.
“Vấn đề là ‘như thế nào’. Bác chỉ có thể khuyên cháu thế này. Đầu óc là thứ càng dùng sẽ càng phát triển. Nếu cháu dùng theo hướng xấu thì nó sẽ ngày càng xấu đi nhưng nếu dùng theo hướng tốt thì nó sẽ ngày càng tốt lên. Bác biết cháu có một phần không phát triển bằng mọi người. Tuy nhiên nếu cháu luyện tập thì sẽ thay đổi được ít nhiều.”
“Cháu đã luyện tập nhiều rồi. Ví dụ như thế này.”
Tôi nhếch khóe môi lên hai bên. Thế nhưng tôi biết nụ cười của tôi vẫn khác với nụ cười của mọi người.
“Cháu hãy thử nói chuyện với mẹ xem.”
“Gì cơ ạ?”
“Nói rằng cháu đã trở thành học sinh cấp ba và đang đi học bình thường. Mẹ cháu hẳn sẽ rất vui.”
“Không cần đâu ạ. Mẹ cháu chẳng nghe thấy gì đâu.”
Tiến sĩ Shim không nói thêm câu nào nữa. Theo tôi thì ông không thể phản bác lại câu tôi vừa nói.
26.
Mưa rơi tí tách bên cửa sổ. Là mưa xuân. Mẹ rất thích mưa. Mẹ nói rằng mẹ thích mùi mưa. Nhưng giờ đây mẹ chẳng thể nghe thấy tiếng mưa, cũng chẳng thể ngửi được mùi mưa nữa. Mùi mưa ư? Thực ra chỉ là thứ mùi ngai ngái bốc lên từ mặt đường nhựa khô roong. Tôi lặng lẽ ngồi cạnh nắm tay mẹ. Da mẹ ngày càng thô ráp. Tôi bôi sữa dưỡng hương hoa hồng lên má và mu bàn tay cho mẹ. Tôi ra khỏi phòng bệnh, bắt thang máy đi xuống nhà ăn. Đúng khoảnh khắc cửa thang máy mở, tôi chạm phải ánh mắt một người đàn ông. Người đã khiến tôi gặp con quái vật đó. Người đã đưa con quái vật đó vào cuộc đời tôi.
Đó là một người đàn ông trung niên với mái đầu xám bạc. Ông ta ăn mặc rất gọn gàng nhưng hai vai lại chùng xuống, đôi mắt còn ngân ngấn nước. Nếu biểu cảm tươi sáng hơn một chút thì khuôn mặt đó cũng được coi là đẹp trai. Thế nhưng trông ông ta phờ phạc và u ám.
Khoảnh khắc nhìn thấy tôi, hai con ngươi của ông ta liên tục đảo sang hai bên. Không hiểu sao tôi có dự cảm sẽ gặp lại ông ta lần nữa. Tôi biết từ “dự cảm” không hợp với tôi cho lắm. Vì nói cho đúng thì tôi đâu có thể “cảm nhận” được dự cảm.
Nhưng phân tích kỹ hơn thì dự cảm không phải là thứ “tự nhiên cảm nhận được”. Những việc bản thân trải nghiệm hằng ngày thường sẽ được lưu lại, đúc rút thành các yếu tố điều kiện và kết quả. Đến khi nào gặp phải tình huống tương tự, ta sẽ vô thức dự đoán được kết quả. Vì thế dự cảm thực chất rất có tính nhân quả. Giống như khi ta bỏ hoa quả vào máy xay sẽ cho ra sinh tố hỗn hợp. Ánh mắt người đàn ông đó nhìn tôi khiến tôi có “dự cảm” như vậy.
Về sau, mỗi khi đến bệnh viện tôi lại gặp người đàn ông đó. Dù ở nhà ăn hay ở hành lang, hễ khi nào tôi quay ra vì cảm thấy có ánh mắt đang nhìn mình thì đều là người đàn ông đó. Dường như ông ta có điều gì muốn nói nhưng cũng có vẻ như chỉ đang quan sát tôi. Vậy nên ngay cả khi ông ta tìm đến hiệu sách, tôi vẫn chỉ chào như không có chuyện gì.
“Xin mời vào.”
Người đàn ông gật nhẹ đầu rồi bắt đầu đi vòng quanh dãy giá sách. Bước chân ông ta nặng trĩu. Sau khi bước qua gian sách Triết học, ông ta dừng chân tại gian Văn học một hồi lâu rồi nhặt một cuốn mang ra bàn thanh toán.
Tuy đang cười rạng rỡ nhưng không hiểu sao ông ta không dám nhìn thẳng vào tôi. Điều đó, như mẹ nói, có nghĩa là ông ta đang cảm thấy “bất an”. Ông ta chìa quyển sách ra và hỏi giá.
“Một triệu won ạ.”
“Đắt hơn bác nghĩ nhiều thật.”
Người đàn ông lật xem hai mặt bìa cuốn sách.
“Cuốn sách này có giá trị tới vậy sao? Cũng không phải bản in đầu tiên. Mà nó còn là sách dịch nên dù là bản in lần đầu thì cũng chẳng có ý nghĩa gì cả.”
Tựa đề cuốn sách là Demian.
“Dù thế nào thì nó cũng có giá một triệu won ạ.”
Đó là cuốn sách của mẹ. Cuốn sách mẹ vẫn giữ trên giá sách từ thời trung học. Cuốn sách khiến mẹ ấp ủ ước mơ viết lách. Đó là cuốn sách tôi không định bán. Ông ta cũng thật có mắt nhìn khi chọn đúng cuốn sách này. Người đàn ông hít sâu. Chắc mấy ngày chưa được cạo nên cằm ông ta lún phún râu.
“Trước tiên chú phải giới thiệu về mình đã. Chú là Yoon Kwon Ho. Chú đang dạy môn Kinh doanh ở trường đại học. Cháu tìm kiếm trên mạng sẽ thấy. Không phải chú đang khoe khoang đâu, chú chỉ muốn nói chú là người có thân phận rõ ràng thôi.”
“Cháu biết mặt chú. Cháu gặp chú mấy lần ở bệnh viện rồi.”
Mặt người đàn ông giãn ra.
“Cảm ơn cháu đã nhớ chú. Chú cũng từng gặp tiến sĩ Shim, người bảo hộ của cháu. Chú đã nghe qua chuyện đáng tiếc xảy đến với cháu. Cả chuyện cháu là một đứa trẻ đặc biệt. Tiến sĩ Shim bảo chú nên đến nói chuyện trực tiếp với cháu. Chú đến đây vì có chuyện muốn nhờ cháu.”
“Chuyện gì ạ?”
Người đàn ông im lặng một lúc lâu.
“Chú không biết phải nói từ đâu nữa…”
“Chú nói có chuyện muốn nhờ còn gì ạ. Vậy chú cứ nói chuyện đó ra là được.”
“Cháu thẳng thắn thật, đúng như những gì chú nghe được.”
Người đàn ông bật cười.
“Mẹ cháu vẫn ổn chứ? Vợ chú đang ốm nằm một chỗ. Chắc cô ấy sắp đi rồi. Có khi chỉ trong vài ngày tới thôi…”
Người đàn ông cúi người về phía trước, lưng còng xuống như lưng tôm. Ông ta hắng giọng rồi mở miệng.
“Chú có hai việc muốn nhờ cháu. Một là cháu cùng chú đến gặp vợ chú. Hai là…”
Ông ta tiếp tục lấy hơi và nói tiếp.
“Cháu có thể hành động giống như con trai chú trước mặt vợ chú không. Không có gì khó cả. Cháu chỉ cần nói theo những lời chú bảo thôi.”
Không phải một lời nhờ vả thông thường. Đó là lời nhờ vả tôi chưa từng nghe thấy, nói đúng hơn là kỳ lạ. Tôi hỏi lý do. Người đàn ông đứng dậy rồi đi một vòng quanh hiệu sách. Có vẻ ông ta là người luôn cần thời gian trước khi nói ra bất cứ điều gì.
“Mười ba năm về trước, nhà chú đã mất con trai.”
Người đàn ông tiếp tục nói.
“Nhà chú đã làm đủ mọi cách để tìm đứa bé nhưng không có tác dụng. Gia đình chú thuộc loại khá giả, chú đi du học về và trở thành giảng viên đại học khi còn khá trẻ. Sự nghiệp của vợ chú cũng rất xán lạn. Cả chú và vợ chú đều nghĩ cuộc đời mình thế là thành công. Thế nhưng sau khi mất con, mọi thứ đều thay đổi. Mối quan hệ giữa hai vợ chồng trở nên gượng gạo, vợ chú sau đó đã mắc bệnh. Đó cũng là những tháng ngày khó khăn đối với chú. Chú cũng không hiểu sao mình lại nói ra những điều này nữa…”
“Rồi sao ạ?”
Tôi hỏi với mong muốn người đàn ông đừng quá dài dòng.
“Thế nhưng cách đây không lâu, chú đã nhận được một cuộc gọi. Rằng có một đứa trẻ có vẻ là con trai chú. Và chú đã đi gặp thằng bé đó…”
Người đàn ông ngừng lời rồi im lặng một hồi lâu.
“Chú muốn trước khi mất, vợ chú được gặp lại con trai. Đó là đứa con vợ chú vẫn luôn mơ ước được gặp lại…”
Ông ấy nhấn mạnh vào từ “mơ ước”.
“Đứa bé tìm thấy không giống với mơ ước của vợ chú sao?”
“Cũng không đến mức vậy. À không, việc này rất khó giải thích.”
Người đàn ông cúi đầu.
“Vậy sao lại là cháu?”
“Cháu nhìn tấm ảnh này xem.”
Ông ta lấy ra một tấm ảnh. Đó là tờ rơi tìm trẻ lạc. Trong ảnh là khuôn mặt một đứa bé tầm ba, bốn tuổi và bên cạnh là ảnh phác họa khuôn mặt hiện tại. Dường như có nét gì đó giống tôi thật. Không phải đường nét chi tiết trên khuôn mặt mà là thần thái.
“Đứa trẻ tìm thấy không giống thế này ạ?”
Tôi không hiểu nên hỏi lại.
“Không, thằng bé khá giống với bức ảnh. Nên cũng có thể nói trông nó cũng giống cháu nữa. Thế nhưng hiện tại thằng bé không thể gặp mẹ nó được. Chú xin cháu đấy. Hãy giúp chú một lần thôi. Chú sẽ giúp chuyển mẹ cháu tới một phòng bệnh tốt hơn. Chú cũng sẽ thuê y tá riêng cho mẹ cháu, ngoài ra cháu muốn gì, chỉ cần làm được chú sẽ làm hết.”
Người đàn ông chực trào nước mắt. Như thường lệ, tôi lại nói sẽ thử suy nghĩ.
* * *
Người đàn ông không hề nói dối. Tôi dễ dàng tìm thấy thông tin về công việc, quan hệ gia đình cũng như câu chuyện về đứa con mất tích của ông ta trên mạng. “Nếu không có gì hại tới cháu thì vẫn nên giúp người khác.” Tôi nhớ đến lời khuyên của bà ngoại. Ngày hôm sau người đàn ông đó lại tìm đến, tôi gật đầu nhận lời.
Thế nhưng nếu biết trước đó là Gon thì tôi sẽ không chọn làm vậy. Bởi lẽ vì lựa chọn đó, tôi đã mãi mãi cướp đi thứ gì đó từ Gon, một cách vô thức.
27.
Phòng bệnh được trang trí bởi nhiều loại hoa. Đèn được bật khắp nơi, ấm áp chiếu sáng khắp căn phòng. Mọi thứ đều khác hẳn với phòng bệnh sáu người mẹ tôi nằm. Đây không giống phòng bệnh mà giống phòng khách sạn hay xuất hiện trên phim hơn. Có vẻ như vợ người đàn ông rất thích hoa. Tôi thấy hơi váng đầu vì hương hoa. Ngay cả giấy dán tường cũng in họa tiết hoa làm tôi hoa cả mắt. Tôi nghe nói theo nguyên tắc các bệnh viện thường cấm hoa, nhưng dường như vẫn có những trường hợp đặc biệt.
Ông chú nắm lấy cánh tay tôi, từ từ kéo lại phía giường. Người phụ nữ đó nằm giữa một rừng hoa, trông như đang nằm trong quan tài vậy. Nhìn gần hơn thì khuôn mặt cô ấy giống của bệnh nhân mắc bệnh nan y trong phim. Ngay cả ánh nắng rực rỡ bên ngoài cửa sổ cũng không xóa hết được màu xám tro u ám trên khuôn mặt ấy. Người phụ nữ giơ cánh tay khẳng khiu như cành cây về phía tôi. Bàn tay chạm vào má tôi. Bàn tay không còn chút sự sống nào.
“Con đây rồi. Đúng con rồi. Yi Su à. Con trai mẹ. Con trai đáng yêu của mẹ. Sao bây giờ con mới về…”
Người phụ nữ khóc sướt mướt. Thật thần kỳ khi cơ thể đó vẫn còn đủ sức để khóc như vậy. Mỗi khi người phụ nữ nấc lên, tưởng chừng cơ thể đó sắp vỡ vụn thành bột rồi tan biến.
“Mẹ xin lỗi. Mẹ, mẹ thực sự muốn cùng con làm rất nhiều điều. Thực sự đó. Cùng con ăn cơm, cùng con đi du lịch, ở bên con cả quãng thời gian con lớn lên… Thế nhưng cuộc sống không dễ dàng như mẹ nghĩ. Vậy mà con mẹ vẫn lớn lên thế này, cảm ơn con.”
Người phụ nữ nói câu cảm ơn và xin lỗi thêm khoảng mười lần nữa rồi tiếp tục khóc. Thế nhưng cô ấy vẫn cố gắng cười. Trong suốt ba mươi phút, cô chỉ cầm tay rồi lại vuốt má tôi. Dường như cô ấy đang dốc toàn bộ chút sức lực hiếm hoi còn sót lại cho tôi vậy.
Tôi chẳng nói gì mấy. Chỉ khi người phụ nữ ngưng lời trong giây lát và ông chú ra hiệu thì tôi mới nói vài câu đã được dạy trước. Rằng tôi đã lớn lên khỏe mạnh trong một gia đình có điều kiện tốt, từ giờ tôi sẽ học hành chăm chỉ bên cạnh bố, vì thế mong mẹ đừng lo lắng. Và tôi nhẹ nhàng nở nụ cười. Sau khi đã dùng hết chút sinh lực cuối cùng, người phụ nữ chuẩn bị nhắm mắt lại.
“Mẹ ôm con được không?”
Đó là câu cuối cùng người phụ nữ nói với tôi. Hai cánh tay khẳng khiu như cành cây khô ôm chặt lấy lưng tôi. Như bị rơi vào một cái bẫy vững chãi, tôi không thể nào thoát ra được. Nhịp tim của người phụ nữ truyền đến tôi. Nóng hổi. Cánh tay dần nới lỏng rồi buông xuống. Y tá bên cạnh nói rằng cô ấy đã ngủ.
28.
Người phụ nữ đó từng là một phóng viên rất giỏi. Với ngòi bút tràn đầy sinh lực, cô đã viết nên những bài báo rắn rỏi mạnh mẽ, khiến đối phương phải bối rối bởi những câu hỏi đanh thép chưa ai dám đưa ra. Chỉ có điều do công việc quá bận rộn, cô luôn áy náy vì phải giao con mình cho người khác trông nom.
Ngày hôm đó, cô đã dành một ngày nghỉ hiếm hoi để cùng con trai đến công viên giải trí. Cô bế con cùng chơi trò ngựa gỗ quay. Đó là một ngày nắng ấm và hạnh phúc. Chợt điện thoại rung lên. Đứa trẻ đòi chơi tiếp nhưng người phụ nữ nắm tay con bước xuống rồi nghe điện thoại. Chỉ là một cuộc điện thoại rất ngắn. Thế nhưng khi ngắt máy, cô không thấy đứa bé đâu nữa. Người phụ nữ cũng không nhớ mình đã buông tay con lúc nào.
Thời đó camera không được lắp ở khắp mọi nơi như bây giờ, hơn nữa lại có rất nhiều góc chết. Sau nhiều ngày điều tra, cảnh sát vẫn không tìm ra tung tích đứa trẻ. Hai vợ chồng dồn tâm sức tìm con nhưng hy vọng ngày càng mong manh. Họ chỉ còn biết cầu nguyện đứa trẻ còn sống và được một gia đình tử tế nhận nuôi. Thế nhưng ngày cũng như đêm, những ý nghĩ đáng sợ luôn hành hạ họ. Người phụ nữ không ngừng trách cứ bản thân, cô nhận ra thành công mà mình hằng theo đuổi cũng chỉ là những ảo ảnh bóng bẩy bề ngoài.
Suy nghĩ đó dần khiến người phụ nữ sinh bệnh. Người đàn ông cũng phần nào trách vợ vì để lạc mất con, nhưng giờ ông ta không muốn mất thêm vợ nữa vì bản thân ông đã đủ cô đơn lắm rồi. Thế nhưng cũng từ rất lâu rồi, người đàn ông không còn nói với người vợ bệnh tật rằng con trai họ sẽ quay trở về nữa.
Trước khi gặp tôi không lâu, người đàn ông, tức giáo sư Yoon đã nhận được liên lạc từ một trung tâm bảo trợ. Nghe tin có một đứa bé có thể là con mình, ông ta đã tìm đến trung tâm và gặp lại con trai mình sau mười ba năm. Tuy nhiên thằng bé hiện đang ở trong tình cảnh không thể gặp mẹ ngay được. Bởi lẽ thằng bé đó, không phải ai khác mà chính là Gon.
29.
Lẽ nào người phụ nữ đó thực sự đã dồn toàn bộ hơi sức cuối cùng cho tôi? Ngay sau hôm gặp tôi, cô ấy rơi vào trạng thái hôn mê sâu và trút hơi thở cuối cùng vài ngày sau đó. Giáo sư Yoon thông báo về cái chết của vợ bằng giọng trầm và nhẹ bẫng. Chỉ những người bị khiếm khuyết thứ gì đó giống tôi hay những người đã sớm từ biệt người thân của mình từ trước cả khi họ chết mới có thể làm vậy. Giáo sư Yoon là kiểu thứ hai.
Tôi cũng không hiểu vì lý do gì mình lại đến đám tang. Thực tế tôi không cần làm vậy. Thế nhưng tôi lại đến. Có lẽ bởi người phụ nữ đó đã ôm tôi quá chặt.
Đám tang của cô ấy rất khác với cảnh tượng tôi thấy trong đám tang của bà ngoại. Hồi đó do tổ chức đám tang chung nên mọi thứ rất lộn xộn, bên cạnh linh cữu của bà cũng chỉ có mình tôi. Thế nhưng đám tang của người phụ nữ làm tôi liên tưởng tới cuộc gặp mặt lâu ngày giữa những người thân. Mọi người đều ăn mặc gọn gàng và tươm tất. Từ giọng nói đến nghề nghiệp của tất cả bọn họ đều toát ra vẻ “có văn hóa”. Tôi thường nghe thấy bọn họ gọi nhau bằng những danh xưng như giáo sư, bác sĩ, chủ tịch, giám đốc.
Trong ảnh thờ người phụ nữ nhìn như một người khác. Đôi môi đỏ mọng, mái tóc dày, hai má phính và đôi mắt sáng bừng tựa nắng mặt trời. Khuôn mặt cô ấy trông rất trẻ. Vì sao lại phải dùng ảnh hồi chớm ba mươi của cô ấy để làm ảnh thờ nhỉ? Có vẻ giáo sư Yoon đã đọc được thắc mắc đó của tôi.
“Đó là ảnh trước khi cô ấy lạc mất con. Kể từ đó, chú không tìm được bức hình nào cô ấy có biểu cảm như vậy nữa. Vợ chú cũng muốn lấy tấm ảnh đó làm ảnh thờ.”
Tôi thắp hương rồi quỳ lễ. Vậy là mong muốn thiết tha của cô ấy trước khi chết đã được thực hiện. Mong muốn gặp lại con trai. Ít nhất cô ấy cũng nghĩ mình đã gặp được con trai trước khi ra đi. Nếu như biết được sự thật, liệu cô ấy có bất hạnh hơn chút nào không?
Tôi nghĩ đến đây là mình đã hết trách nhiệm. Khoảnh khắc tôi quay bước định rời đi thì đột nhiên một luồng khí lạnh ở đâu thổi tới. Luồng khí đó nhanh chóng lan tỏa khắp căn phòng. Tất thảy mọi người đều đồng loạt ngậm miệng, hoặc há hốc miệng, như thể bị tấn công bởi sự im lặng có sức mạnh khủng khiếp ngang một con quái vật. Ánh mắt của bọn họ không hẹn mà gặp ở cùng một điểm. Là thằng nhóc ấy.
30.
Thằng nhóc gầy nhẳng đứng im một chỗ, hai tay nắm chặt. Chân và tay nó quá dài so với thân người ngắn tủn. Người nó khá săn chắc. Trông nó từa tựa nhân vật Joe trong phim hoạt hình Ngày mai của Joe [6] . Thế nhưng thân hình đó khác với thân hình của một người chăm chỉ luyện tập thể dục. Nó giống với thân hình lũ trẻ ở thế giới thứ ba mà tôi từng thấy trong các bộ phim tài liệu. Một thân hình được rèn luyện trong quá trình đấu tranh sinh tồn, giống như những đứa trẻ vẫn ngày ngày đi bới móc bãi rác hay lẽo đẽo theo chân du khách xin từng đồng đô la lẻ. Khuôn mặt nó đen sạm, khô sắt. Dưới hàng lông mày rậm như sâu róm là đôi mắt đen láy như quân cờ vây, ánh mắt ranh mãnh đang quét khắp tứ phía. Ánh mắt đó đã khiến tất thảy đều im bặt. Nó hệt như ánh mắt một loài mãnh thú nhe nanh giơ vuốt giết chết chính đứa con của mình trước những người không hề có ý định làm hại nó.
Thằng bé nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống sàn. Dường như nhổ nước bọt là cách chào hỏi của riêng nó. Cách đây không lâu, trong lần đầu tiên tôi gặp Gon, nó cũng hành động y chang như vậy. Nói chính xác hơn thì lần gặp nhau ở lễ tang là lần thứ hai tôi gặp Gon.
Vài ngày trước lớp tôi có học sinh chuyển đến. Cửa lớp vừa mở, cô chủ nhiệm bước vào, theo sau là một thằng nhóc nhỏ thó. Đó chính là Gon. Hai tay nó khoanh trước ngực, một chân chùng xuống, điệu bộ chẳng hề sợ sệt khi đứng trước những đứa trẻ lạ mặt. Cô chủ nhiệm ngập ngừng giới thiệu Gon là học sinh mới rồi giục nó tự giới thiệu bản thân. Thằng bé đổi chân nghỉ rồi nói.
“Cô nói hộ luôn đi.”
Đâu đó vang lên tiếng cười. Loáng thoáng cả tiếng vỗ tay.
Cô chủ nhiệm lấy tay quạt quạt gương mặt đỏ bừng.
“Đây là Yoon Yi Su. Giờ thì em hãy chào các bạn trong lớp đi.”
Nghe xong câu đó, Gon cứng nhắc nghiêng đầu ra chiều phiền toái lắm, nó đảo lưỡi qua lại khiến hai bên má phồng lên. Rồi nó bật cười, đầu nghiêng sang một phía, nhổ toẹt một bãi nước bọt.
“Được chưa ạ?”
Lác đác có tiếng ré lên. Khác với ban nãy, trong tiếng xì xào lần này lẫn thêm nhiều câu khó nghe hơn. Trong trường hợp như vậy, đáng lẽ giáo viên chủ nhiệm phải nhắc nhở hoặc đưa học sinh lên phòng giáo vụ. Vậy mà không hiểu sao cô chủ nhiệm lại quay đầu đi không nói câu nào. Chỉ có khuôn mặt cô đang dần đỏ ửng do phải kìm nén những lời chực trào ra miệng. Một giờ sau khi kết thúc màn giới thiệu, Gon đã trốn về.
Ngay lập tức công cuộc điều tra tiểu sử bắt đầu. Chỉ chưa đầy ba mươi phút, cả lớp đã biết Gon là ai, từ đâu đến. Vài thông tin hay ho đến từ anh họ của một thằng trong lớp.
Thằng nhóc đó đã gọi điện cho anh họ nó, hiện đang học tại trường cũ nơi Gon từng theo học sau khi rời trung tâm bảo trợ trẻ em. Cuộc gọi được mở loa ngoài nhằm tường thuật trực tiếp theo yêu cầu của những đứa khác. Cả lớp lâu lắm mới quây quần ngồi lại với nhau. Có những đứa ngồi hẳn lên bàn để nghe cho rõ. Tôi ngồi phía xa nhưng vẫn đủ nghe thấy.
“Thằng đó cực kỳ lưu manh luôn. Ngoài giết người ra thì gì nó cũng dám làm.”
Đứa nào đó nhìn tôi cười chế nhạo.
“Này, thằng bệnh. Làm sao giờ? Mày hết thời rồi.”
Ngày hôm sau khi Gon mở cửa bước vào, cả lớp nhất loạt lặng thinh. Gon không nói không rằng đi về chỗ. Bọn trẻ giả vờ ngó nghiêng chỗ khác hoặc cắm đầu vào sách. Những tưởng Gon sẽ ngoan ngoãn ngồi yên, ngờ đâu nó thình lình ném bụp cặp sách về phía trước.
“Đứa nào?”
Dường như nó đã để ý thấy bầu không khí nhộn nhạo ngày hôm qua.
“Thằng nào đã điều tra về tao? Biết điều thì mau đứng dậy.”
Căn phòng bỗng im phăng phắc. Thằng nhóc đưa tin run rẩy đứng dậy.
“À, chả là… anh họ tao bảo biết mày nên…”
Giọng thằng nhóc ngày càng nhỏ dần. Gon đảo lưỡi phồng má một lúc rồi mới mở miệng nói.
“Cảm ơn. Nhờ mày mà tao khỏi cần giới thiệu nữa. Tao đúng là thằng như thế đấy.”
Gon ngồi phịch xuống ghế.
* * *
Ngày tôi nhận được cáo phó của người phụ nữ đó, Gon đã không đến trường. Nó nói rằng nhà có người chết. Thế nhưng tôi không thể ngờ được. Gon lại chính là thằng bé đó. Con trai thật sự của người phụ nữ đã chết sau khi tưởng rằng tôi là con trai mình.
31.
Gon bước vào giữa dòng người, đứng làm lễ trước linh cữu mẹ. Không có chuyện gì đặc biệt xảy ra. Nó làm theo chỉ đạo của giáo sư Yoon, tất cả mọi việc như thắp hương, dâng rượu và cả quỳ lạy cũng diễn ra chóng vánh. Mọi động tác của nó đều rất nhanh, nó chỉ lạy đúng một lần rồi đứng phắt dậy, hờ hững cúi đầu xuống. Giáo sư Yoon đẩy lưng nó ý bảo làm thêm lần nữa. Nhưng thằng bé giãy người khỏi tay bố rồi cứ thế lủi mất.
Theo lời mời của giáo sư Yoon, tôi ở lại ăn cơm rồi mới đi. Bữa cơm có nhiều món giống với những món mẹ hay làm vào các dịp lễ tết. Canh nóng và bánh bột mì chiên, bánh gạo tẩm mật ong cùng nhiều loại hoa quả. Không biết có phải do đói bụng hay không mà tôi ăn rất ngon miệng.
Mọi người thường quên mất mình đang nói to cỡ nào khi bàn tán chuyện của người khác. Cả khi người nói nghĩ rằng mình đang nói rất nhỏ thì những lời đó vẫn dễ dàng lọt vào tai người khác. Trong suốt bữa cơm, chuyện về Gon được mọi người lôi ra bàn luận sôi nổi. Nào là ngày để tang thứ hai Gon mới xuất hiện là vì nó đã từ chối đến, rồi thì vừa ra khỏi trung tâm bảo trợ nó đã gây rắc rối, tốn bao nhiêu tiền cho nó chuyển trường, rồi còn có một thằng bé đóng giả Gon, những câu chuyện gây nhức đầu đó cứ lởn vởn quanh tai tôi. Tôi ngồi trong một góc quay lưng lại với mọi người, im lặng. Tôi không biết mình có đang làm đúng không nhưng tôi nghĩ mình nên làm vậy.
Vào lúc trời sẩm tối, khách viếng đã về bớt thì Gon đột nhiên xuất hiện. Ánh mắt nó nhìn như muốn chọc thủng người tôi, rồi nó tiến về ngồi ngay đối diện tôi. Chẳng nói chẳng rằng, nó chén sạch hai bát canh thịt bò hầm cay rồi đưa tay lau mồ hôi trên mặt, hỏi tôi.
“Là mày hả? Thằng đóng vai con trai thay tao.” Tôi không trả lời. Vì Gon đã ngay lập tức tiếp lời.
“Từ giờ mày xác định chịu đau nhé. À mà, cũng sẽ thú vị đấy.”
Gon cười khẩy rồi đứng dậy. Ngày hôm sau, mọi chuyện chính thức bắt đầu.
32.
Có hai thằng nhóc luôn bám theo Gon. Một thằng gầy nhẳng như xác ve, làm nhiệm vụ thư ký chuyển lời của Gon đến những đứa khác, thằng còn lại vai u thịt bắp, nhìn qua là biết đảm nhiệm vai trò phô trương sức mạnh. Trông ba thằng chẳng có vẻ gì là thân thiết. Như thể chúng nó chỉ tụ tập lại vì một mục đích hay hợp đồng nào đó hơn là thực sự kết bạn với nhau.
Dù sao thì Gon cũng bắt đầu coi việc bắt nạt tôi là sở thích mới. Thi thoảng nó lại xồ ra trước mặt tôi, hệt như con búp bê bật lên mỗi khi mở nắp hộp. Nó thường mai phục ở đâu đó trước căng tin rồi đột ngột đánh tôi một cái hay đứng phía cuối hành lang để chờ ngáng chân tôi. Mỗi khi thực hiện thành công một kế hoạch vặt vãnh nào đó Gon lại cười sung sướng như thể nhận được một món quà bự, hai đứa bên cạnh cũng bấm nhau cười phụ họa.
Tôi chẳng bao giờ có phản ứng gì. Nhiều đứa bắt đầu sợ Gon và thương hại tôi. Thế nhưng chẳng ai mách với giáo viên nửa lời. Chắc hẳn chúng nó ước chừng được bản thân sẽ gặp rắc rối thế nào nếu mở miệng, hơn nữa tôi cũng không hề tỏ ý muốn cầu cứu chúng nó. Tất cả đều thống nhất với nhau rằng chỉ nên yên lặng quan sát hai thằng kỳ quái chúng tôi.
Tôi biết thừa Gon mong đợi phản ứng gì từ tôi. Hồi tôi học cấp một hay cấp hai luôn có những thằng như vậy. Những thằng chỉ mong nhìn thấy khuôn mặt khổ sở của đứa bị bắt nạt. Chúng chỉ ước đối phương vừa khóc lóc vừa van xin chúng dừng lại. Những đứa như vậy đều luôn dùng sức mạnh để đạt được điều chúng muốn. Thế nhưng tôi biết. Nếu như điều Gon muốn là trông thấy một chút thay đổi biểu cảm trên gương mặt tôi thì nó mãi mãi chẳng bao giờ thắng được tôi. Và cuối cùng người hao công tổn sức cũng chỉ có mình Gon thôi.
Không lâu sau, Gon có vẻ đã nhận ra mục đích của nó không dễ gì đạt được. Tuy nó vẫn liên tục gây sự với tôi nhưng không còn thái độ ngông nghênh như trước nữa. “Không lẽ chịu thua rồi sao? Chắc nó cũng mất kiên nhẫn rồi.” Bọn trẻ thì thầm sau lưng Gon. Tôi càng không có phản ứng, càng không cầu cứu ai thì bầu không khí trong lớp càng trở nên căng thẳng.
Được một thời gian dường như đã thấm mệt, thay vì ngáng chân cho tôi ngã hay đánh vào gáy tôi, Gon quyết định “tuyên chiến” một trận cuối cùng. Sau khi cô chủ nhiệm kết thúc buổi học„ thằng xác ve chạy phăm phăm lên trước bảng và bắt đầu viết gì đó. Những dòng chữ nguệch ngoạc hiện lên.
“Ngày mai sau giờ ăn trưa. Trước sân đốt rác.”
Giọng nói ngạo mạn của Gon vang lên.
“Tao đã cảnh cáo rồi nhé. Vì thế tùy mày lựa chọn. Nếu không muốn ăn đòn thì tránh đi. Nếu mày không xuất hiện, tao sẽ coi như mày chạy trốn vì sợ, từ giờ sẽ không làm phiền mày nữa. Còn nếu mày xuất hiện thì hãy chuẩn bị sẵn tinh thần đi.”
Tôi không trả lời, chỉ đeo cặp rồi đứng dậy. Gon ném sách vào lưng tôi.
“Có nghe thấy không, thằng bệnh? Tao bảo mày trốn kỹ đi, nếu không muốn ăn đòn.”
Gon hét lên. Mặt nó đỏ bừng bừng vì không nén được cơn giận.
Tôi chậm rãi hỏi.
“Tại sao tao phải tránh mày? Tao vẫn sẽ đi đường của tao. Nếu mày không ở đó thì tao với mày chẳng có lý do gì chạm mặt, còn nếu mày ở đó thì đương nhiên sẽ gặp nhau.”
Bỏ lại những lời chửi bới sau lưng, tôi đi ra khỏi lớp. Tôi chỉ nghĩ rằng Gon đang tự làm khổ mình bằng những trò phiền toái đó.
33.
Cả trường đều biết trận quyết đấu giữa Gon và tôi. Từ sáng lũ học sinh đã nhốn nháo cả lên, thi thoảng lại có đứa bóng gió chuyện sẽ xảy ra vào buổi trưa, những câu kiểu như “Sao thời gian trôi chậm thế nhỉ?” hay “Lẽ nào Shin Yoon Jae lại đến đó thật?” Có đứa còn cá cược xem ai sẽ thắng. Tôi vẫn ngồi trong lớp như không có chuyện gì xảy ra. Đối với tôi thời gian trôi qua như bình thường, không nhanh cũng không chậm. Hết bốn tiết học, chuông báo giờ ăn trưa vang lên.
Không ai ngồi cạnh tôi ở nhà ăn. Đến đây thì mọi chuyện vẫn chẳng có gì khác thường. Ăn cơm xong, tôi vừa đứng dậy thì thấy một vài đứa đứng dậy theo. Khi tôi bắt đầu di chuyển, đám đông bu theo lớn dần. Có một lối tắt để về lớp, đó là đi qua sân đốt rác. Tôi uể oải bước. Gon đang đứng đó. Không nhìn thấy hai thằng tay sai đâu, chỉ có mình nó. Gon đang đá đá vào gốc cây thì dừng khựng lại khi nhìn thấy tôi. Dù cách khá xa nhưng tôi vẫn thấy hai bàn tay nó đang nắm chặt. Khoảng cách giữa tôi và Gon càng ngắn lại thì phía sau tôi đám hóng hớt càng bu đông như kiến.
Gon đeo một bộ mặt rất phức tạp. Môi nó mím quá chặt so với biểu cảm tức giận, hai mắt lại quá xếch so với biểu cảm buồn rầu. Tôi biết phải phân tích vẻ mặt này thế nào đây.
“Sợ rồi, sợ rồi. Trông nó hoảng chưa kìa, thằng ranh Yoon Yi Su.”
Ai đó hét lớn.
Lúc này khoảng cách giữa tôi và Gon chỉ còn mấy bước chân. Tôi vẫn bước từng bước với tốc độ không đổi. Hễ ăn cơm xong là buồn ngủ, nên giờ tôi chỉ muốn về lớp gục xuống bàn đánh một giấc thôi. Trong khoảnh khắc lơ đãng, tôi đã đi sượt qua Gon như thể nó chỉ là một khung cảnh vô nghĩa. Có đứa nào đó hô lên “Ô” rồi gáy tôi chợt đau nhói. Có lẽ Gon đánh trượt nên tay nó chỉ sượt qua gáy tôi, tôi cũng không thấy đau. Thế nhưng trước khi tôi kịp ngoái đầu lại, người tôi đã đổ về phía trước vì cú đạp của Gon.
“Tao đã bảo mày trốn đi cơ mà! Mẹ kiếp, đây là mày chọn đấy nhé!”
Mỗi lời của nó tương ứng với một cú đạp vào người tôi. Càng về sau nó càng đạp mạnh hơn. Tôi đã ngã ra đất từ lúc nào, miệng phát ra những tiếng rên nhỏ. Máu dồn lại phía trong má tôi. Thế nhưng rốt cuộc tôi vẫn không thể làm giúp điều nó muốn.
“Mày là cái chết tiệt gì thế? Thằng khốn này!”
Gon hét lên với biểu cảm như sắp khóc. Bọn trẻ vốn chỉ đứng xem cũng bắt đầu náo loạn. “Cứ thế sẽ lớn chuyện mất. Này, đứa nào gọi chủ nhiệm đi!” Vừa nghe thấy ai dõng dạc lên tiếng giữa vòng hỗn độn ấy, Gon liền quay đầu lại nhìn cả lũ.
“Đứa nào? Đừng có nhấm nhẳng sau lưng tao, có giỏi thì bước ra đây! Bọn chó!”
Gon bắt đầu ném bất cứ thứ gì nó vớ được trong tầm tay về phía bọn trẻ. Can nhựa, cành cây, chai thủy tinh cứ lần lượt bay lên không trung rồi hạ cánh xuống đất. Bọn trẻ vừa hét vừa chạy tán loạn. Khung cảnh này chẳng có gì lạ lẫm. Bà ngoại. Mẹ. Cái ngày xảy ra chuyện đó, những người trên đường cũng giống như vậy. Giờ tôi phải ngăn nó lại. Trong mồm tôi đầy máu. Vì thế tôi nhổ một bãi nước bọt rồi nói.
“Dừng lại đi. Tao không làm được điều mày muốn đâu.”
“Mày nói gì?”
Gon gào lên.
“Để làm được điều mày muốn, tao phải diễn. Việc đó đối với tao rất khó khăn. Tao không làm được. Vì thế mày dừng lại đi. Bọn nó chỉ giả vờ sợ mày thôi, thực chất bên trong bọn nó đang chế giễu mày đấy.”
Gon đảo mắt nhìn xung quanh. Bầu không khí lặng im như thể thời gian đã ngừng trôi. Lưng Gon gồng lên hệt như chú mèo đầy uất hận.
“Chúng mày chết hết đi!”
Rồi Gon bắt đầu hét lớn. Mỗi câu buột ra khỏi miệng đều là câu chửi. Những lời lẽ điên rồ vượt khỏi ranh giới của nguyền rủa và chửi bới.
34.
Tên thật của Gon là Yi Su. Đó là tên mẹ nó đặt cho. Thế nhưng Gon nói không nhớ mình từng được gọi là Yi Su. Với lại cái tên Yi Su nghe quá yếu đuối nên nó không thích. Trong số nhiều tên được gọi thì nó thích nhất tên Gon.
Ký ức đầu tiên của Gon là một nơi lạ lẫm với rất nhiều người nói những ngôn ngữ kỳ lạ. Gon còn quá nhỏ để biết tại sao nó lại ở đó. Nó chỉ thấy đám đông nhốn nháo và lộn xộn. Gon từng sống cùng một đôi vợ chồng già người Trung Quốc ở khu ổ chuột phường Daerim. Họ gọi Gon là Jjeo Yang. Trong vài năm liền nó không bước chân ra khỏi nhà. Đó cũng là lý do ban đầu bố mẹ Gon không thể tìm thấy tung tích của nó.
Khi có người ở Cục quản lý xuất nhập cảnh đến điều tra, đôi vợ chồng già lẩn mất không để lại dấu vết, Gon bị chuyển hết nhà này tới nhà khác rồi cuối cùng tới trung tâm bảo trợ trẻ em. Mọi người đều nghĩ Gon là cháu ruột của đôi vợ chồng già, mà giờ không có giấy tờ hành chính nào cho biết họ đã quay lại Trung Quốc nên cũng không thể tiếp tục điều tra hay tìm bố mẹ ruột cho nó.
Sau một thời gian sống ở trung tâm bảo trợ, Gon được một cặp vợ chồng không có con nhận nuôi. Ở đó Gon được gọi là Dong Gu. Gia đình đó cũng không mấy khá giả, vì thế sau khi sinh được một đứa con, họ đã gửi trả lại Gon sau hai năm nuôi nấng. Gon lại tiếp tục sống ở trung tâm bảo trợ, sau đó nó thường xuyên phải đến trại giáo dưỡng vì làm loạn ở trung tâm. Cái tên Gon cũng là tên nó tự xưng khi ở trung tâm bảo trợ Hy vọng.
“Có Hán tự không?”
“Không, tao không biết mấy thứ phức tạp ấy. Tự nhiên nghĩ ra nó thôi.”
Gon cười khì. Gon là đứa như vậy. Tôi cũng cho rằng cái tên Gon thực sự hợp với nó hơn hẳn mấy cái tên như Jjeo Yang, Dong Gu hay Yi Su.
Gon bị đình chỉ học một tuần sau vụ việc ở sân đốt rác. Hôm đó, nếu không có đứa mách để cô chủ nhiệm đến kịp thời thì không hiểu chuyện gì sẽ xảy ra. Giáo sư Yoon bị gọi đến trường và phải đối mặt với tiến sĩ Shim, người bảo hộ chính thức của tôi. Bằng giọng trầm thấp, tiến sĩ Shim tức giận trách mắng giáo sư Yoon, ông hết sức hối hận vì ngay từ đầu đã khuyên giáo sư Yoon trực tiếp đến gặp tôi. Trước lời cảnh cáo của nhà trường rằng nếu Gon không thay đổi thái độ sau khi bị đình chỉ học thì chỉ còn cách cho nó chuyển trường, giáo sư Yoon ngậm ngùi gật đầu.
Vài ngày sau, tôi và Gon ngồi đối diện nhau trong quán pizza. Ánh mắt nó không còn rực lửa như trước. Không rõ có phải vì giáo sư Yoon đang ngồi cạnh không. Sau này tôi mới biết, lần đầu tiên giáo sư Yoon đánh đòn Gon là sau khi nghe tin nó gây rối ở trường. Vì giáo sư Yoon vốn là người lịch thiệp nên ông cũng chỉ ném cái cốc đang nắm trong tay lên tường, sau đó dùng roi đánh vài cái vào bắp chân Gon. Thế nhưng hành động này đã làm vấy bẩn hình tượng “trí thức” mà ông luôn gìn giữ, không những thế còn khiến mối quan hệ cha con vốn gượng gạo càng trở nên xa cách.
Tâm trạng Gon như thế nào nhỉ? Gặp lại bố ruột sau mười mấy năm xa cách, chưa kịp tìm hiểu hay thân thiết với bố đã bị chính ông bố ấy đánh cho một trận.
Theo lời tiến sĩ Shim thì giáo sư Yoon là người cứng nhắc. Ông luôn giữ phương châm không bao giờ làm hại người khác, vì thế đã không thể khoanh tay đứng nhìn đứa con ruột đột ngột quay trở về lại đi ngược hoàn toàn với phương châm sống của mình. Chưa nói đến việc buồn lòng về Gon, giáo sư Yoon cảm thấy tức giận vì đứa con mình mong đợi bấy lâu lại xuất hiện với “bộ dạng như thế”. Vì thế ông đã chọn phương án đánh đòn Gon và đi xin lỗi tất cả mọi người. Xin lỗi cô giáo, xin lỗi toàn bộ học sinh, và xin lỗi tôi.
Ngay cả việc để tôi và Gon ngồi đối diện nhau trong quán pizza rồi gọi món đắt nhất trong menu cũng là một hình thức xin lỗi. Giáo sư Yoon để hai tay lên đầu gối, nói thật to một câu tới mấy lần như cố sức để cho Gon nghe rõ. Ông không dám nhìn thẳng mặt tôi, giọng run rẩy.
“Chú xin lỗi vì để cháu gặp phải chuyện như thế. Tất cả là lỗi của chú…”
Tôi hút từng ngụm coca bằng ống hút. Có vẻ ông ấy không hề có ý định kết thúc câu chuyện. Giáo sư Yoon càng nói thì gương mặt Gon càng tối sầm lại. Bụng tôi sôi sùng sục và miếng pizza trước mặt đã cứng đơ.
“Thôi chú đừng nói nữa ạ. Cháu không đến đây để nghe chú xin lỗi đâu. Nếu xin lỗi thì nó mới là người phải xin lỗi, vì thế chú hãy để bọn cháu ngồi riêng với nhau đi.”
Giáo sư Yoon ngạc nhiên tròn mắt. Gon cũng nhướng mắt nhìn tôi.
“Sẽ không sao chứ?”
“Vâng, nếu có chuyện gì xảy ra cháu sẽ liên lạc với chú.”
Gon nhếch mép cười khẩy. Giáo sư Yoon ho khan vài cái rồi chậm rãi đứng dậy.
“Yoon Jae à, Yi Su cũng cảm thấy có lỗi lắm.”
“Nó có mồm để nói mà chú.”
“Được rồi, hai đứa ăn ngon miệng. Có việc gì thì gọi chú.”
“Vâng.”
Trước khi rời đi, giáo sư Yoon nặng nề đặt tay lên vai Gon. Gon không phản kháng nhưng khi giáo sư vừa rời khỏi, nó liền lấy tay phủi phủi vai.
35.
Cốc coca sủi bọt sùng sục. Gon liên tục thổi vào ống hút. Mắt nó hướng ra ngoài cửa sổ. Khung cảnh bên ngoài chẳng có gì đặc biệt, ngoại trừ thi thoảng có một vài chiếc xe qua lại. Trên bậu cửa sổ ngay trước chấn song đặt một lọ đựng hạt tiêu bằng inox. Với đường cong hết sức hoàn hảo, lọ tiêu hệt như một thấu kính rộng phản chiếu ánh sáng ra xung quanh. Tôi soi thấy gương mặt mình ở chính giữa. Những cục máu tụ bầm tím lại, trông tôi giống hệt một võ sĩ boxing vừa thua trận. Gon nhìn khuôn mặt tôi phản chiếu trên lọ tiêu. Ánh mắt chúng tôi gặp nhau tại đó.
“Trông đẹp đấy.”
“Nhờ mày cả.”
“Mày nghĩ tao sẽ xin lỗi mày sao?”
“Mày xin lỗi hay không tao cũng chẳng quan tâm.”
“Vậy sao mày lại muốn ngồi riêng với tao?”
“Vì bố mày nói nhiều quá. Tao muốn ở yên một lúc.”
Gon khẽ khịt mũi sau khi nghe tôi nói. Dường như nó giả vờ ho để giấu đi tiếng cười vừa bật ra.
“Nghe nói mày bị bố đánh.”
Tôi chẳng biết bắt đầu câu chuyện thế nào nên đành nghĩ sao nói nấy. Có lẽ cách này của tôi chưa đúng lắm, Gon trợn ngược mắt.
“Ai nói thế?”
“Bố mày trực tiếp kể cho tao.”
“Im đi thằng khốn. Tao chẳng có bố biếc gì cả.”
“Dù thế cũng chẳng có cách gì khiến bố mày không phải là bố mày cả.”
“Mày muốn chết hả? Ngậm mồm lại, thằng khốn.”
Gon chộp lấy lọ tiêu. Lực trên người nó dồn hết xuống bàn tay, móng tay nó trắng dã.
“Sao? Mày lại định làm loạn hả?”
“Có lý do gì khiến tao không được làm thế hả?”
“À không, tao chỉ tò mò thôi. Biết trước tao còn chuẩn bị tinh thần.”
Dường như bỏ cuộc, Gon kéo cốc coca về trước mặt. Coca lại sủi sùng sục. Tôi cũng bắt chước Gon, thổi vào ống hút. Gon lấy một miếng pizza đưa lên mồm cắn, nó nhai trệu trạo bốn lượt rồi nuốt ực. Sau đó nó ợ nhẹ một tiếng. Tôi làm y theo những gì nó làm. Nhai trệu trạo bốn lần rồi nuốt. Rồi ợ.
Gon quắc mắt nhìn tôi. Giờ nó mới nhận ra tôi vừa bắt chước nó.
“Thằng điên.”
Gon lẩm bẩm.
“Thằng điên.”
Tôi bắt chước theo. Gon hết nhếch mép lại nhệch miệng, và nó thấy tôi cũng làm theo y chang. Gon trưng ra những biểu cảm quái đản rồi lầm bầm những từ như “pizza, phân, bồn cầu, chết đi”. Và tôi, cũng lại bắt chước theo nó, hệt như một con vẹt hay chú hề. Ngay cả nhịp thở ra hít vào của Gon cũng bị tôi nhái lại.
Trò chơi bắt chước quái đản này dần dà khiến Gon trở nên kiệt sức. Sau khi ngừng cười, nó câu kéo thời gian như thể đang vắt óc nghĩ xem có động tác hay biểu cảm nào đó khó hơn không. Nó muốn làm gì tôi cũng không quan tâm, tôi vẫn tiếp tục bắt chước tiếng “pư pư pư” phát ra giữa hai môi Gon hay cả điệu khẽ nhíu mày của nó. Cái sự bắt chước dai như đỉa của tôi có vẻ đã đẩy lùi những “sáng kiến” của Gon.
“Dừng lại đi.”
Nhưng tôi vẫn không dừng lại.
“Dừng lại đi.”
Tôi chỉ nhại lại y hệt.
“Tao bảo dừng lại, thằng khốn.”
“Tao bảo dừng lại, thằng khốn.”
“Buồn cười lắm hả, thằng bệnh?”
“Buồn cười lắm hả, thằng bệnh?”
Gon ngừng nói rồi bắt đầu gõ tay xuống bàn. Tôi vừa bắt chước theo thì nó vội ngừng lại. Im lặng. Nó chăm chăm nhìn tôi không nói câu nào. Mười giây, hai mươi giây, khoảng một phút trôi qua. Rồi nó chỉnh lại tư thế, tôi cũng vậy.
“Tao ấy mà.”
“Tao ấy mà.”
“Bây giờ nếu tao lật đổ cái bàn này, làm vỡ hết bát đĩa thì mày cũng sẽ làm theo hả?”
“Bây giờ nếu tao lật đổ cái bàn này, làm vỡ hết bát đĩa thì mày cũng sẽ làm theo hả?”
“Cả khi tao dùng những mảnh vỡ ấy đâm chết mọi người ở đây thì mày cũng làm theo tao hả, thằng chó?”
“Cả khi tao dùng những mảnh vỡ ấy đâm chết mọi người ở đây thì mày cũng làm theo tao hả, thằng chó?”
“Được thôi.”
“Được thôi.”
“Mày nhớ rõ nhé. Trò này là mày bắt đầu trước đấy.”
“Mày nhớ rõ nhé. Trò này là mày bắt đầu trước đấy.”
“Nếu mày dừng lại thì mày không bằng con chó, biết chưa?”
“Nếu mày dừng lại thì mày…”
Tôi chưa nói dứt câu thì Gon đã gạt toàn bộ thức ăn trên bàn xuống đất. Rồi nó đá thật lực vào cái bàn, miệng bắt đầu chửi đổng tất cả mọi người.
“Nhìn cái gì, lũ điên. Có ngon không? Tao hỏi có ngon không? Lũ thần kinh, đớp cho nhiều vào!”
Gon chộp lấy miếng pizza cùng lọ nước xốt ném về tứ phía. Người phụ nữ ngồi phía đối diện bị miếng pizza phi thẳng vào chân, nước xốt bắn tung tóe lên cả đầu đứa bé bên cạnh.
“Sao mày không làm theo hả thằng bệnh? Sao mày không bắt chước tao?”
Gon nhìn tôi gào lớn.
“Mày bắt đầu trước còn gì. Sao mày không làm theo tao nữa?”
Nhân viên quán vội chạy tới, nói vài ba câu yếu ớt không đủ khả năng ngăn Gon lại, kiểu như “Quý khách không được phép làm vậy.” Gon giơ tay lên như thể chuẩn bị đánh cô nhân viên đó. Một vài khách hàng giơ điện thoại lên chụp ảnh còn một nhân viên khác đang gọi điện thoại tới đâu đó.
“Làm theo tao đi, thằng khốn.”
Gon tiếp tục gào lên, nhưng tôi đã ra ngoài cửa tự lúc nào. Tôi gọi điện cho giáo sư Yoon như đã hứa. Trước cả khi có tiếng bắt máy, giáo sư Yoon đã xuất hiện. Ông lo sẽ có chuyện xảy ra nên vẫn loanh quanh ở con hẻm gần đó. Giáo sư Yoon đẩy cửa bước vào. Qua tấm cửa kính, tôi dõi mắt quan sát khung cảnh náo loạn bên trong quán. Tấm lưng của giáo sư Yoon run lên, đôi bàn tay to lớn của ông giáng xuống gương mặt Gon, một cái, hai cái, ba cái… Mái đầu Gon bị hai tay ông nắm lấy, lắc tới lắc lui. Tôi chỉ xem đến đây rồi quay bước. Khung cảnh không lấy gì làm thú vị.
Vừa nãy chẳng ăn được miếng pizza nào nên bụng tôi trống rỗng. Tôi ăn một bát mì udon ở tiệm mì cạnh ga tàu điện ngầm rồi tới thăm mẹ. Mẹ lúc nào cũng vậy, yên lặng ngủ. Dây vệ sinh thò ra, đung đưa ở chân giường. Nước tiểu màu vàng đang nhỏ tong tỏng. Tôi gọi y tá nhờ xử lý giúp. Khuôn mặt mẹ bóng nhẫy dầu. Giờ mà nhìn vào gương chắc chắn mẹ sẽ giật nẩy mình. Tôi đổ nước hoa hồng ra bông rồi lau mặt cho mẹ, sau đó bôi sữa dưỡng.
Thăm mẹ xong, tôi trở về nhà. Đó là một buổi tối yên ắng. Tôi vớ lấy một cuốn sách. Cuốn sách có nội dung hết sức bình thường, kể về quá trình trở về nhà sau khi bị đuổi khỏi trường của một cậu thiếu niên. Cậu bé muốn trở thành người canh gác bảo vệ một bầy trẻ con chơi một trò chơi gì đó trong một đồng lúa mạch thật to, cậu sẽ bắt tất cả những đứa trẻ nào chạy tới gần mỏm đá. Câu chuyện kết thúc với hình ảnh cậu bé đứng trông em Phoebe của mình, khi em đang chơi vòng xoay ngựa trong chiếc áo choàng xanh.
Bỗng khuôn mặt Gon hiện lên giữa những trang sách. Khuôn mặt Gon khi bị bố nó nắm tóc. Nhưng tôi không đoán được biểu cảm của Gon mang ý nghĩa gì.
Tôi đang định đi ngủ thì giáo sư Yoon gọi điện đến. Chốc chốc ông lại ngừng nói, im lặng và thở dài. Chung quy lại, giáo sư muốn nói với tôi là ông sẽ chịu toàn bộ chi phí chữa trị và hứa không bao giờ để Gon ở gần tôi nữa.
36.
“Không có người nào là không thể cứu được. Chỉ có những người từ bỏ nỗ lực cứu giúp người khác thôi.” Đó là câu nói của nhà văn người Mỹ P. J. Nolan, xuất thân là một tử tù. Ông ta bị tuyên án tử hình do tình nghi giết hại con gái riêng của vợ. Suốt quá trình điều tra ông ta khăng khăng mình vô tội và trong những ngày ngồi tù đã viết tự truyện. Rất lâu sau cuốn sách trở thành bestseller nhưng P. J. Nolan mãi mãi không biết được sự thật đó. Án tử hình vẫn được thi hành theo đúng dự kiến.
Sau khi ông ta chết được mười bảy năm, hung thủ thực sự mới ra đầu thú và P. J. Nolan được minh oan. Chính lão hàng xóm nhà bên mới là người thực hiện hành vi đồi bại với con gái ông ta.
Cái chết của P. J. Nolan đã thổi bùng lên nhiều cuộc tranh cãi. Tuy P. J. được minh oan tội sát hại con gái nhưng trước đó ông ta đã từng có nhiều tiền án nghiêm trọng như sử dụng bạo lực, ăn cắp hay giết người không thành. Nhiều người gọi ông ta là quả bom hẹn giờ, dù được tuyên trắng án đi chăng nữa thì sớm muộn gì cũng sẽ gây chuyện tày trời. Tuy nhiên trong lúc mọi người tự ý phán xét một người đàn ông đã chết thì sách của P. J. Nolan vẫn bán chạy như tôm tươi.
Phần lớn nội dung cuốn sách miêu tả trần trụi tuổi thơ bất hạnh cùng tuổi trẻ đầy phẫn uất của P. J. Nolan. Từ cảm xúc của ông ta khi dùng dao đâm hay cưỡng hiếp người khác đến cả phương thức làm những chuyện đó cũng được miêu tả hết sức chi tiết, vì thế ở nhiều bang cuốn sách đã bị liệt vào hạng sách cấm. Ông ta miêu tả những hành vi tội ác quá sức chân thực và bình thản, chẳng khác gì cách mọi người vẫn hướng dẫn phương pháp phân loại thức ăn để cho vào tủ lạnh hay sắp xếp tài liệu bỏ vào túi. Chỉ có những người từ bỏ nỗ lực cứu giúp người khác thôi… Ông ta viết vậy là có ý gì nhỉ? Đó là ám hiệu cầu cứu sự giúp đỡ sao? Hay chỉ đơn giản vì ông ta quá uất hận?
Phải chăng người đàn ông vung dao vào mẹ và bà tôi, cả Gon nữa, đều chung hoàn cảnh với P. J. Nolan? Hay rốt cuộc tôi mới chính là người giống với P. J. Nolan?
Tôi muốn hiểu hơn về thế gian này. Vì lý do đó, tôi cần Gon.
37.
Tiến sĩ Shim lúc nào cũng điềm đạm, ngay cả đối với những câu chuyện dễ khiến người khác nhảy dựng lên, như khi nghe tôi kể về sự việc xảy ra giữa tôi và Gon chẳng hạn. Đó cũng là lần đầu tiên tôi kể lể dài dòng về bản thân đến thế. Tôi kể về hạch hạnh nhân nhỏ bẩm sinh trong đầu tôi, về vỏ đại não nhận thức kém hơn người thường, cả những bài học mẹ đã dạy tôi. Tiến sĩ Shim cảm ơn tôi vì đã kể cho ông nghe tất cả.
“Xem ra cháu không hề sợ hãi khi bị Gon đánh. Nhưng cháu cũng biết việc đó chẳng có gì là dũng cảm phải không? Bác đã nói rồi, nếu chuyện như vậy tái diễn lần nữa, nhất định bác sẽ không bỏ qua đâu. Đó cũng là trách nhiệm của bác. Nói tóm lại, tốt hơn hết cháu vẫn nên tránh đi thì hơn.”
Tôi thừa nhận. Đó cũng là điều mẹ luôn dạy tôi. Thế nhưng khi không có người giám sát tôi sẽ sao nhãng ngay tức khắc. Não của tôi chỉ hoạt động theo đúng trạng thái vốn có của nó.
“Dĩ nhiên việc cháu tò mò về người khác rất đáng hoan nghênh. Nhưng cá nhân bác không vui lắm vì đối tượng của cháu lại là thằng bé đó.”
“Người bình thường sẽ nói cháu không nên chơi với Gon phải không ạ?”
“Cũng có thể. Mẹ cháu sẽ nói như vậy, chắc chắn.”
“Cháu muốn hiểu hơn về nó. Như vậy không tốt ạ?”
“Ý cháu là cháu muốn thân thiết với nó?”
“Thân thiết tức là sao ạ?”
“Ví dụ như hai đứa ngồi đối diện nói chuyện như bác với cháu thế này, cùng ăn gì đó và tâm sự với nhau, dành thời gian cho nhau mà không cần tính toán đến vật chất. Đó chính là sự thân thiết.”
“Cháu không hề biết cháu với bác thân nhau.”
“Ha ha, cháu đừng nói không phải nhé. Tóm lại là, tuy hơi sáo mòn một chút nhưng chuyện gì đến ắt sẽ đến. Mối quan hệ giữa cháu và thằng bé đó sẽ trở nên thế nào, thời gian sẽ cho cháu câu trả lời.”
“Cháu có thể hỏi vì sao bác lại không ngăn cản cháu không?”
“Bác rất thận trọng trong việc ngăn cản người khác làm việc gì. Bởi lẽ mỗi người đều khác nhau. Tuổi của cháu càng như vậy.”
Tiến sĩ Shim vốn là bác sĩ khoa tim mạch của một bệnh viện trực thuộc trường đại học. Ông đã từng nhiều lần cầm dao mổ, các bệnh nhân của ông luôn phục hồi tốt. Thế nhưng trong lúc ông đang bận bịu chăm sóc cho trái tim những người khác, một khối u đã xuất hiện trong trái tim chính vợ ông. Bà ngày một kiệm lời, còn ông vẫn chẳng có thời giờ quan tâm tới vợ. Một ngày nọ, sau những chuỗi ngày trì hoãn, cuối cùng hai vợ chồng cũng có cơ hội đi du lịch cùng nhau. Họ tới một khu nghỉ dưỡng nhìn ra biển nằm ở một hòn đảo tít ngoài khơi xa. Tiến sĩ vừa nhâm nhi một ly rượu vang vừa ngắm hoàng hôn buông xuống. Tâm trí ông ngập tràn những suy nghĩ về công việc phải làm sau khi trở về. Rồi ông chìm vào giấc ngủ, ngay trước khi mặt trời lặn xuống biển. Một lúc sau, ông bỗng tỉnh giấc vì tiếng thở hổn hển. Vợ ông mở to hai mắt, tay đang siết chặt lồng ngực. Tín hiệu điện tim vợ ông báo lỗi. Đột nhiên nhịp tim của bà tăng lên tới 500 lần một phút. Mọi thứ xảy ra chỉ trong chốc lát, điều duy nhất tiến sĩ Shim có thể làm là khóc và nắm lấy tay vợ mình, nói rằng sẽ không sao đâu, bà chỉ cần chịu đựng một lát thôi.
Sau một hồi đập điên loạn, trái tim vợ ông bỗng ngừng đập. Ở đó không có máy sốc tim, ông nhấn nút gọi tín hiệu xanh [7] cũng không ai tới. Tiến sĩ Shim điên cuồng dùng tay ép ngực vợ trong vô vọng, động tác lóng ngóng như người nghiệp dư. Phải một giờ đồng hồ sau xe cấp cứu mới tới, thân thể vợ ông đã lạnh ngắt và đông cứng lại. Vợ ông đã mãi mãi ra đi, và cũng kể từ ấy tiến sĩ Shim bỏ nghề y. Ông dằn vặt bản thân tại sao yêu thương vợ đến thế mà chẳng biết cách thể hiện tình yêu ấy. Ông không còn tự tin dùng dao rạch lồng ngực rồi nhìn trái tim đang đập của một ai đó nữa.
Hai người không có con. Tiến sĩ chỉ còn lại một mình. Mỗi khi nhớ đến vợ, ông lại ngửi thấy mùi bánh mì nướng thơm ngào ngạt. Vợ tiến sĩ Shim luôn tự mình nướng bánh cho chồng, vị bánh thơm ngon ấy luôn khiến ông nhớ về những kỷ niệm đẹp đẽ. Có khi là thời thơ ấu đã bị lãng quên, hay một cảnh tượng nằm trong mảnh ký ức nào đó thật khó diễn tả bằng lời. Ngay cả những sáng bận rộn nhất, trên bàn ăn nhà tiến sĩ Shim vẫn luôn sẵn ổ bánh thơm phức nóng hổi. Tiến sĩ Shim bắt đầu học làm bánh. Bởi ông cho rằng đó là điều duy nhất ông có thể làm vì vợ mình, về lý thuyết thì chuyện này thật khó hiểu. Người vợ có thể thưởng thức bánh mì ông làm đã ra đi mãi mãi, vậy thì còn ý nghĩa gì nữa?
Tiến sĩ Shim và mẹ đã chia sẻ rất nhiều chuyện, dù tôi không hề biết về điều đó. Từ người mới chuyển đến, mẹ đã trở thành khách hàng ruột của tiệm bánh mì và thường xuyên trò chuyện với tiến sĩ. Một người vốn chẳng bao giờ kể chuyện của mình cho bất cứ ai như mẹ, lại thường xuyên nhờ tiến sĩ giúp đỡ con trai mình đến tận khi nó trưởng thành nếu mình có mệnh hệ gì. Mẹ đã luôn nỗ lực hết sức để giữ bí mật về tình trạng của tôi. Một người mẹ như thế lại đi giãi bày câu chuyện về cuộc đời tôi và mẹ cho người khác thật quá đỗi xa lạ với tôi. Cũng may mắn thay, trong mẹ vẫn tồn tại một người như vậy.
38.
Theo cách nói của bà ngoại, hiệu sách là nơi tập trung mật độ dân số cao vì ở đây có đủ thể loại sách của hàng nghìn hàng vạn tác giả, cả còn sống lẫn đã chết. Vậy nhưng sách rất yên lặng. Trước khi được mở ra, nó vẫn luôn ở trạng thái chết. Thế nhưng kể từ giây phút được lật mở, những câu chuyện cứ thế tuôn trào. Từng chút từng chút một, vừa đủ với mong muốn của tôi.
Có bóng người chợt lướt qua, một thằng bé nhỏ người, hai cổ áo dựng thẳng thớm, lưỡng lự một chút rồi biến mất sau dãy giá sách. Tôi thoáng thấy đầu nó có một mảng hói hình ngôi sao. Lát sau, nó ném một cuốn tạp chí người lớn lên bàn thanh toán. Cô gái có mái tóc vàng óng xoăn tít như bờm sư tử đang ngồi trên xe máy, khổ sở kéo áo khoác da che đi bộ ngực ngồn ngộn như thể sắp nổ tung của mình. Miệng cô nàng hé mở, lưng ngả về phía sau.
“Chán vãi. Tự nhiên tao muốn sưu tầm đồ cổ nên mua giúp cho mày một cuốn đấy. Bao nhiêu?”
Là Gon.
“Hai mươi nghìn won. Như mày nói, nó là đồ cổ nên giá không rẻ.”
Gon lầm bầm gì đó rồi móc trong túi ra một đống tiền giấy lẫn xu thả như vứt xuống bàn.
“Mày.”
Rồi nó tì khuỷu tay lên mặt bàn, chống cằm ngước mắt lên nhìn tôi.
“Nghe nói mày là rô bốt? Không cảm nhận được gì hết?”
“Cũng không hoàn toàn như thế.”
Gon khịt khịt mũi.
“Tao đã điều tra về mày. Chính xác hơn là về cái đầu hỏng của mày.”
Gon đưa ngón tay gõ vào đầu mình. Tôi nghe tiếng kêu phát ra giống như khi tôi gõ vào trái dưa hấu chín.
“Bảo sao tao cứ thấy có gì đó là lạ. Đúng là tao đã phí công vô ích rồi.”
“Bố mày dặn tao gọi điện nếu mày tìm đến đây.”
“Không cần đâu.”
Trong thoáng chốc mắt Gon ánh lên tia lửa.
“Tao phải gọi, vì tao đã hứa rồi.”
Tôi cầm ống nghe nhưng chưa kịp đưa lên tai thì nó đã rơi bụp xuống sàn.
“Mày nghe không rõ à thằng chó. Đừng có gọi, tao không thèm động vào mày đâu.”
Gon lượn một vòng quanh hiệu sách, lục lọi mấy quyển sách. Rồi nó đứng cách tôi một đoạn xa, miệng hét lớn.
“Chỗ bị đánh có đau không?”
“Đau chứ.”
“Sao bảo mày là rô bốt, hóa ra cũng không hẳn là gỗ đá nhỉ.”
“Ừm…”
Tôi tính mở miệng nhưng lại thôi. Thật khó để giải thích về tình trạng của tôi. Nhất là sau khi mẹ, người luôn giúp tôi giải thích, đã không còn nữa.
“Ví dụ như khi lạnh hay nóng, đói bụng hay bị đau ở đâu, tao đều cảm nhận được. Nếu không thì làm sao tao sống được.”
“Chỉ vậy thôi á?”
“Tao cũng biết nhột nữa.”
“Khi nhột mày có thấy buồn cười không?”
“Có lẽ là có. Lâu lắm rồi tao không bị ai đùa kiểu đó nên không chắc lắm.”
Gon thở hắt khi nghe câu nói của tôi. Rồi thình lình nó đã đứng ngay phía trước bàn thanh toán.
“Tao hỏi câu này được không?”
Tôi nhún vai. Gon lia mắt sang hướng khác.
“Nghe bảo bà mày chết rồi. Đúng không?”
“Ừ.”
“Mẹ mày thành người thực vật hả?”
“Cũng có thể nói là như thế.”
“Nghe nói bà với mẹ mày bị như thế ngay trước mắt mày? Bị thằng điên nào đó đâm hả?”
“Đúng.”
“Nhưng mày chỉ đứng nhìn thôi?”
“Xét về kết quả thì có thể coi là như vậy.”
Gon ngẩng đầu lên, mắt nó long sòng sọc.
“Mày đúng là thằng bệnh hoạn. Bà với mẹ sắp chết ngay trước mắt mà mày chỉ đứng nhìn thôi hả? Mày phải tóm ngay lấy thằng chó đó rồi đập chết nó tại chỗ chứ.”
“Tao không kịp trở tay, người đàn ông đó cũng chết ngay tại đó mà.”
“Tao biết. Thế nhưng nếu thằng đó còn sống đi chăng nữa thì mày cũng không làm nổi gì đâu. Mày cũng không ngăn nổi hắn ta đâu, thằng thỏ đế.”
“Chưa chắc.”
Gon lắc đầu trước phản ứng của tôi.
“Tao nói thế mà mày cũng không thấy tức sao? Biểu cảm của mày chẳng có gì thay đổi. Mày không nhớ bà với mẹ mày à?”
“Nhớ. Rất nhiều. Thường xuyên.”
“Vậy mà mày vẫn ngủ được hả? Mày đi học kiểu gì? Thằng khốn, cả gia đình đều đổ máu rồi chết trước mặt mày mà.”
“Ờ thì, cứ sống thôi. Những người khác có thể đau buồn lâu hơn tao nhưng rốt cuộc ai rồi cũng phải ăn, ngủ và sống tiếp. Bởi lẽ bản năng của con người là tự sinh tồn mà.”
“Chỉ được cái ra vẻ ta đây. Nếu là tao thì đêm nào tao cũng oán giận, uất ức đến không ngủ nổi. Thật ra nghe chuyện của mày xong tao cũng mất ngủ mấy đêm. Tao mà là mày thì thằng chó đấy chết dưới tay tao rồi.”
“Xin lỗi. Tại tao mà mày mất ngủ.”
“Xin lỗi? Tao nghe kể lúc bà mày chết mày chẳng nhỏ giọt nước mắt nào, thế mà cũng biết nói câu xin lỗi tao hả? Thằng vô tâm.”
“Mày nghĩ thế cũng phải. Câu xin lỗi là tao được dạy nên cũng biết đại khái.”
Gon tặc lưỡi.
“Không tài nào hiểu nổi thằng như mày.”
“Mọi người đều nghĩ như thế dù không nói ra. Mẹ tao bảo với tao vậy.”
“Thằng bệnh…”
Gon chỉ nói đến đây rồi không nói thêm gì nữa. Sự im lặng kéo dài một hồi lâu, trong lúc đó cuộc đối thoại vừa rồi hiện lại trong đầu tôi. Lần này tôi bắt chuyện trước.
“Nhưng mà lượng từ vựng mày dùng không được nhiều lắm nhỉ.”
“Gì cơ?”
“Thì phần lớn mày toàn chửi, nhưng khi chửi mày cũng chỉ dùng đi dùng lại vài câu. Tao thấy lượng từ vựng của mày hạn chế lắm, đọc sách sẽ giúp ích cho mày đấy. Như thế cũng giúp mày trò chuyện được với người khác nhiều hơn.”
“Mày là rô bốt chuyên dạy đời người khác hả?”
Gon cười khẩy.
“Tao sẽ thử đọc cái này. Khi nào chán tao lại đến.”
Gon bước ra ngoài cửa, tay giơ cuốn tạp chí vừa chọn lên vẫy vẫy. Theo cử động tay nó, một làn sóng dội thẳng vào ngực cô gái ngồi trên xe máy. Ngay trước lúc cửa đóng hẳn, Gon quay người lại.
“À với lại mày không cần gọi điện cho cái lão gọi là bố tao kia đâu. Giờ tao về nhà.”
“Được rồi, mong rằng mày không nói dối. Vì mày có nói dối thì tao cũng chẳng thể nhận ra được.”
“Lại cái giọng dạy đời. Tao nói thế thì mày biết thế đi.”
Cửa đóng “cạch” một tiếng. Một ngọn gió len lỏi chui tuột vào trong hiệu sách. Ngọn gió mang theo hương mùa hè thoang thoảng.
39.
Có lẽ giáo sư Yoon đã bồi thường một khoản đủ để chuyện xảy ra ở tiệm pizza không bị báo về trường. Sự việc chỉ được đồn thổi giữa bọn học sinh. Trong một thời gian, bầu không khí lạnh lẽo như thể có gì đó sắp sửa nổ tung bao phủ ngôi trường. Tuy nhiên chỉ sau vài hôm, bọn trẻ nhận ra chẳng có chuyện gì xảy ra sất. Gon lúc nào cũng cúi gằm đầu, không hề nhìn thẳng vào ai. Hai thằng đi theo Gon trước đây cũng đã nhập hội khác, không lởn vởn quanh nó nữa. Gon ngồi một xó ăn cơm một mình, nằm úp mặt ngủ thay vì gườm gườm ai đó. Không mất quá nhiều thời gian để một thằng chuyên gây chuyện như nó biến thành một thằng chẳng có gì đáng quan tâm. Chủ đề về Gon dần nguội đi cũng là lúc mối quan tâm của bọn trẻ về tôi lắng xuống. Bởi luôn có những chuyện kỳ lạ và thú vị hơn lôi kéo sự quan tâm của chúng. Có đứa đã lọt vào vòng chung kết một cuộc thi trên truyền hình, vì thế suốt mấy ngày liền bọn trẻ chỉ bàn tán về nó.
Một cách chính thức, theo như phân loại của bọn trẻ thì tôi và Gon là “địch”. Chỉ cần nhìn những sự việc diễn ra thời gian qua cũng đủ thấy. Vì thế ở trường, tự khắc không ai bảo ai, tôi và Gon đều vờ như không quen biết nhau. Chúng tôi không bắt chuyện cũng không nhìn nhau. Chúng tôi chỉ tồn tại như những vật thể cấu thành nên ngôi trường, như viên phấn hay giẻ lau bảng. Ở ngôi trường ấy, cả tôi và Gon đều là giả.
40.
“Mẹ kiếp, nghệ thuật thật. Che hết đi rồi còn gì mà nhìn nữa.”
Gon vứt bộp cuốn tạp chí vừa mua hôm trước lên bàn, miệng làu bàu. Giọng điệu và hành động vẫn như trước nhưng đã dịu hơn. Nó không ném sách xuống đất mà để lên bàn thanh toán, âm lượng giọng nói cũng hạ xuống. Trái lại ngực Gon hơi ưỡn ra so với lần trước.
Tôi cũng không biết vì sao. Bằng cách nào đó ngoài mong đợi, tôi luôn bị tấn công bởi những cuộc ghé thăm bất ngờ của Gon. Hầu như tối nào Gon cũng ghé qua hiệu sách, tuy nán lại chẳng bao lâu. Có những lúc nó chỉ nói vài câu vô nghĩa rồi biến mất, khi lại lặng lẽ ngắm sách hoặc nhâm nhi một lon nước ngọt. Cũng có thể do tôi chẳng hỏi han câu nào nên Gon lại càng thường xuyên xuất hiện.
“Tao rất tiếc vì mày không thích cuốn tạp chí này. Nhưng theo quy định thì mày không được hoàn tiền đâu. Sách bị lỗi thì không nói, nhưng trường hợp của mày mua lâu rồi nên càng không được.”
Gon “hứ” một tiếng.
“Ai đòi mày hoàn tiền. Tao để ở nhà lại nghe càu nhàu nên cầm tới đây đấy chứ. Coi như tao trả tiền thuê là được chứ gì.”
“Cuốn này là một trong những cuốn kinh điển. Cũng có nhiều fan cuồng đấy.”
“Tao đã đọc sách kinh điển sao? Phải thêm vài quyển vào danh mục sách cần đọc mới được.”
Không hiểu lời tôi nói có gì hài hước mà Gon cười khúc khích. Nhưng tôi không cười theo, chỉ giữ bộ mặt nghiêm túc không biểu cảm. Việc cười theo khi người khác đùa kiểu như thế thực sự quá khó đối với tôi. Kể cả khi cố ép bản thân thì tất cả những gì tôi làm được vẫn chỉ là hơi nhếch khóe môi một chút. Vì điệu cười gượng ép quá lộ liễu đó mà tôi thường dễ bị người khác hiểu nhầm là đang cười đểu.
Hồi tiểu học tôi bị đánh giá là đứa trẻ khô khan lạnh lùng phần lớn cũng bởi nụ cười đó. Ngay cả mẹ, người vẫn luôn nhấn mạnh với tôi rằng cười tự nhiên tùy theo hoàn cảnh là vô cùng quan trọng, lần nào tìm cách giảng giải cho tôi cũng kiệt sức mà bỏ cuộc. Kết quả mẹ đã nghĩ ra phương pháp khác. Mẹ dạy tôi giả vờ làm gì đó hoặc vờ như không nghe thấy lời đối phương. Thế nhưng tôi hầu như toàn bỏ lỡ thời điểm quan trọng, phải mất một hồi im lặng mới chật vật mở lời. Giờ đây ở cạnh Gon, có lẽ tôi không cần làm vậy nữa. Bởi tôi có thể cùng Gon tiếp tục câu chuyện về sách kinh điển.
“Cuốn này được phát hành năm 1995, đáng tuổi ông nội so với đám tạp chí ngày nay ấy chứ. Khó kiếm lắm đấy. Người đời công nhận hay không thì không biết chứ nó thực sự là một cuốn kinh điển đích thực đấy.”
“Vậy mày giới thiệu tao một cuốn kinh điển khác đi.”
“Kinh điển của thể loại đó hả?”
“Ừ, cái mà mày gọi là kinh điển đích thực ấy.”
Sách kinh điển thường được cất ở chỗ kín đáo. Tôi dẫn Gon đến giá sách nằm trong góc. Trên cái giá phủ đầy bụi sâu tít trong cùng, tôi lấy cuốn sách ấy ra. Đó là cuốn tuyển tập những bức ảnh khiêu dâm được chụp từ thời hậu kỳ Joseon. Giới quý tộc cùng các kỹ nữ đang ôm ấp nhau trong nhiều tư thế đa dạng. Ảnh được chụp ở những góc độ táo bạo nên trông hết sức lộ liễu. Thậm chí còn có những bức lộ cả bộ phận sinh dục. Chỉ khác ngày nay ở chỗ ảnh đen trắng và các nhân vật mặc hanbok.
Gon ngồi khoanh chân trong góc, đón lấy quyển sách. Nó vừa lật một trang đã há hốc miệng.
“Đỉnh thật. Tổ tiên chúng ta cũng có mặt đáng khen thế này sao?”
“Từ đáng khen chỉ dùng cho người nhỏ tuổi hơn mày thôi. Nói thật nhé, tao nghĩ mày nên học thêm từ vựng đi.”
“Lắm chuyện.”
Vừa nói Gon vừa lật trang tiếp theo. Nó chăm chú xem từng trang, nuốt nước bọt đều đặn. Không biết có phải do râm ran trong người không mà nó liên tục nhún vai rồi đổi chân khoanh.
“Bao nhiêu tiền?”
“Đắt lắm. Bản đặc biệt mà. Tuy là bản phô tô nhưng cũng có giá trị sưu tầm.”
“Có người tìm cái này về sưu tầm hả?”
“Những người am hiểu sách kinh điển sẽ tìm đến nó. Vì sách dạng này cực hiếm nên nếu không phải người sưu tầm thực sự thì tao cũng không bán cho đâu. Thế nên mày liệu mà xem cho cẩn thận.”
Gon gập cuốn sách trên tay lại rồi ngắm nghía những cuốn xung quanh. Penthouse, Hustler, Playboy, Sunday Seoul. Toàn những cuốn quý hiếm và đắt tiền cả.
“Ai tìm ra mấy cái này thế?”
“Mẹ tao.”
“Mẹ mày có mắt nhìn thật.”
Nói xong Gon lại thêm vào.
“Đấy là lời khen. Mẹ mày thật sự có khiếu kinh doanh đấy.”
41.
Gon khen sai bét. Mẹ tôi còn lâu mới đạt đến trình độ “có khiếu kinh doanh”. Ngoại trừ những việc liên quan đến tôi, mẹ là người quyết định hầu như mọi thứ theo tâm hồn bay bổng và tâm trạng thất thường của mình. Việc mở hiệu sách cũ là một bằng chứng. Hồi mới mở hiệu, mẹ đã băn khoăn không biết phải bày biện những loại sách gì. Dường như mẹ chẳng nảy ra ý tưởng gì đặc biệt. Mẹ quyết định mua sách kỹ thuật, học thuật, sách giải đề, sách thiếu nhi, sách văn học như bao hiệu sách cũ khác. Rồi nếu còn thừa chút tiền, mẹ định sẽ mua một chiếc máy pha cà phê nhỏ đặt trong hiệu sách. Sách và cà phê thơm lừng, ấy là sự kết hợp hoàn hảo nhất, mẹ nghĩ vậy.
“Máy pha cà phê cái con khỉ.”
Bà ngoại khịt mũi. Bà rất có tài buông những câu cụt lủn khiến mẹ cụt hứng. Mẹ tức giận vì sở thích cao quý của mình bị bà chà đạp bằng những lời đầy nhạo báng. Bà chẳng chớp mắt lấy một cái, nói thêm.
“Mang vài cuốn sách khiêu dâm về đây.”
Mẹ vừa há hốc mồm ú ớ chưa kịp phản bác bà đã phát huy kỹ năng thuyết phục của mình.
“Tranh Kim Hong Do đẹp nhất cũng là những bức xuân tình còn gì. Để lâu năm thì sách gì cũng thành kinh điển cả thôi. Càng kích thích thì càng là sách kinh điển giàu giá trị. Trước nhất hãy tìm những cuốn như thế về đây.”
Rồi bà chốt hạ một câu cuối.
“Máy pha cà phê cái con khỉ.”
Sau vài ngày trăn trở suy nghĩ, mẹ cũng quyết định làm theo lời bà.
Mẹ tìm kiếm các mối bán tạp chí cũ trên mạng, lần giao dịch đầu tiên mẹ trực tiếp đi gặp một người đàn ông ở ga Yongsan. Vì lượng tạp chí cần mua khá nhiều nên bà và tôi đi cùng mẹ. Người đàn ông trông gần năm mươi tuổi dường như quá bất ngờ với bộ ba gồm hai người phụ nữ và một cậu thiếu niên nên vừa nhận tiền từ mẹ ông ta đã biến mất dạng. Chồng tạp chí chỉ được buộc sơ sài bằng dây nên có thể nhìn rõ bìa sách. Trên tàu điện ngầm trở về nhà, mọi con mắt đều đổ dồn về phía ba chúng tôi cùng đống tạp chí trước mặt.
“Cũng phải thôi, toàn các cô gái không mặc quần áo buộc lại với nhau mà.”
Bà vừa tặc lưỡi nói thì mẹ cất giọng oán trách.
“Vụ này chính mẹ bảo con làm nên mẹ đừng tỏ ra vô tội nữa đi!”
Sau đó chúng tôi đã giao dịch thành công thêm vài lần nữa, những cuốn quý hiếm như cuốn tôi vừa cho Gon xem cũng được mua từ mấy lần giao dịch đó. Cuối cùng sau những chuỗi ngày thu thập vất vả, “bộ sưu tập sách kinh điển” của bà ngoại cũng hoàn chỉnh.
Thật không may lần này sự tinh tường của bà đã đi chệch hướng. Thi thoảng tôi cũng thấy một vài ông chú lúi húi lục lọi trong góc tạp chí người lớn. Thế nhưng giờ đâu còn là thời đại người ta phải cố gắng lắm mới dẹp được sự xấu hổ để đi mua băng khiêu dâm về xem nữa. Giờ đây mọi như cầu thầm kín đều có thể được lén lút giải quyết ngay tại nhà bằng nhiều cách. Vì thế vào năm 2010, nếu bạn đến tận một hiệu sách cũ để tìm sách khiêu dâm, rồi chìa ra trước mặt bà chủ quán thì quả là chuyện bất thường. Ngoài những ông chủ cửa hàng băng đĩa cũ mua về trang trí nội thất ra thì những cuốn tạp chí kinh điển đó mãi xếp xó trong góc chẳng thể bán nổi cho ai. Gon là người đầu tiên mua lẻ một cuốn đường hoàng đến vậy.
42.
Hôm đó, Gon mua thêm những vài cuốn tạp chí nữa viện cớ đó là sách “kinh điển”. Nó hỏi có thể thuê không nhưng tôi nhấn mạnh rằng đây là hiệu bán sách chứ không phải tiệm cho thuê sách.
“Biết rồi, thằng đần. Dù sao thì đọc xong tao cũng trả lại mày. Để cái này ở nhà lại lắm chuyện cho xem.”
Gon vẫn văng tục như trước nhưng rõ ràng lời lẽ đã mềm mại hơn. Vài ngày sau Gon lại mang đống tạp chí đến. Tôi bảo không cần trả lại nhưng nó vẫn khăng khăng bảo “Nhận lấy đi thằng dở.”
“Sách ngày xưa nên vẫn còn cổ hủ lắm. Chả hợp gu tao tí nào.”
Biết là có đôi co thêm cũng chẳng ích gì nên tôi đành nhận. Thế nhưng có mấy trang ở giữa đã biến mất. Vài trang bị rạch ở giữa. Dòng tiêu đề còn sót lại đập vào mắt tôi. Brooke Shields. Gon nhìn tôi lấm lét như có tật giật mình.
“Cái này thực sự hiếm lắm đấy. Bây giờ chẳng còn cuốn tạp chí đăng ảnh thời hoàng kim của Brooke Shields mà còn đủ trang đâu.”
“Không còn ảnh nào của cô ấy nữa à?”
“Mày muốn xem không?”
Tôi mở máy tính trên bàn thanh toán. Tôi gõ dòng chữ “Brooke Shields thời hoàng kim” rồi nhấn vào tìm kiếm hình ảnh. Một loạt ảnh Brooke Shields xổ ra, từ ảnh thời nhỏ tới thời kỳ thanh xuân đỉnh cao nhan sắc. Gon liên tục cảm thán.
“Người đâu mà như tiên thế nhỉ?”
Gon vừa há hốc mồm vừa xem từng trang ảnh, bỗng nó kêu “ối” một tiếng.
“Gì thế, cái ảnh này.”
Đó là bức ảnh với tựa đề “Brooke Shields gần đây”. Khuôn mặt người phụ nữ ngoài năm mươi đầy vết nhăn choán kín màn hình máy tính. Tuy nét tươi trẻ đã phai nhạt ít nhiều nhưng không thể nói rằng những nét đẹp thời trẻ của bà đã hoàn toàn biến mất không còn chút dấu vết. Nhưng dường như Gon không nghĩ vậy.
“Tao thực sự đang sốc lắm đấy. Hình tượng sụp đổ hoàn toàn. Biết thế không xem còn hơn…”
“Mày đừng có như thế, đâu phải người ta muốn vậy. Thời gian chẳng buông tha một ai cả, sống càng lâu thì chuyện gì cũng sẽ gặp phải thôi.”
“Mày nghĩ tao không biết chắc? Mà mày, sao mở mồm ra là ăn nói như ông cụ thế?”
“Thế không lẽ tao phải xin lỗi mày à?”
“Thực sự, tại sao… tại sao cô ấy lại thay đổi như thế? Sao mày lại cho tao xem đống ảnh này hả, thằng khốn. Tất cả là tại mày.”
Ngày hôm đó Gon hết tức giận với Brooke Shields lại quay sang nổi đóa với tôi, cuối cùng nó chẳng mua gì mà cứ thế ra về.
Thế mà chỉ hai hôm sau, Gon lại xuất hiện.
“Tao tò mò cái này.”
“Gì?”
“Mấy ngày nay tao ngắm ảnh Brooke Shields suốt. Không phải ảnh ngày xưa mà là ảnh gần đây.”
“Mày đến chỉ để nói chuyện này hả?”
“Dạo này mày hơi bị nhờn đấy.”
“Tao không cố ý, rất tiếc nếu mày nghĩ như vậy.”
“Dù sao thì sau khi xem ảnh của Brooke Shields tao đã nghiệm ra điều này.”
“Điều gì?”
“Vận mệnh và thời gian.”
“Mấy từ này thốt ra từ miệng mày nghe mới lạ thật.”
“Còn mày thì sao, mày có biết mày nói câu quái gì nghe cũng đều rất ngứa tai không hả?”
“Tao không biết.”
“Giỏi lắm.”
“Cảm ơn.”
Bỗng nhiên Gon bật cười. Ha ha ha ha ha. Nó cứ thở được một hơi lại ha ha ha ha ha năm tiếng liên tiếp. Rốt cuộc điều đáng cười ở đây là gì nhỉ. Tôi đổi chủ đề.
“Mày có biết tinh tinh với khỉ đột cũng cười không?”
“Ờ, cứ coi như thế đi.”
“Vậy điểm khác biệt giữa nụ cười của chúng với nụ cười của con người là gì?”
“Tao biết để làm gì. Nếu mày muốn tỏ vẻ am hiểu thì nói quách ra đi.”
“Với mỗi nhịp thở con người có thể cười được nhiều lần, còn chúng chỉ cười được duy nhất một lần thôi. Vì thế chúng phải hô hấp bằng bụng nhiều lần mới phát ra được tiếng ha ha ha ha.”
“Vậy chắc cơ bụng của chúng săn chắc lắm.”
Nói xong câu ấy, Gon lại cười. Lần này là cười sằng sặc. Tạm dứt cơn cười, nó hít một hơi để trấn tĩnh rồi lại tiếp tục ha ha một tràng.
Có gì đó đã thay đổi, đã khác trước, một chút thôi. Một thứ gì đó.
“Nhưng vận mệnh và thời gian là sao, mày định nói gì?”
Tôi hỏi. Đây là lần đầu tôi nói chuyện với Gon kiểu này nên thấy có chút mới mẻ, nhưng tôi cũng không có ý định dừng lại.
“Cũng hơi khó nói… thì là liệu Brooke Shields hồi trẻ có biết không nhỉ? Rằng mình sẽ già đi ấy. Sẽ lão hóa thành bộ dạng khác hẳn với hiện tại. Già đi, thay đổi, dù biết khó tránh khỏi mà cũng chẳng thể tưởng tượng nổi. Tự nhiên tao nghĩ thế này. Có thể những người kỳ lạ mà tao nhìn thấy khi đi trên đường, kiểu như mấy bà cô vô gia cư hay lẩm bẩm một mình trong tàu điện ngầm, những người gặp biến cố gì đó mà bị mất cả hai chân, phải lê lết xin tiền… Tao nghĩ những con người ấy, hẳn khi còn trẻ cũng mang những bộ dạng khác.”
“Tất-đạt-đa cũng từng suy nghĩ giống mày rồi quyết định rời hoàng cung đấy.”
“Tất… tất nào nhỉ? Tao từng nghe tên này nhiều rồi.”
Đến đây đột nhiên tôi không nói nên lời. Tôi cố nghĩ một câu trả lời để Gon khỏi bận tâm nữa.
“Có một người như thế, cũng khá nổi tiếng.”
“Sao cũng được.”
Có lẽ tôi đã thành công, Gon chẳng có phản ứng gì đặc biệt. Nó nhìn về xa xăm. Giọng trầm xuống.
“Thế cho nên tao và mày, một lúc nào đó cũng sẽ biến thành bộ dạng mà mình chẳng tưởng tượng nổi.”
“Đúng thế. Cuộc đời vốn vậy mà, dù có rẽ theo hướng nào chăng nữa.”
“Đang yên lành lại lên mặt dạy đời rồi. Tao với mày tuổi thọ cũng ngang nhau thôi nhé.”
“Là ngang tuổi nhau.”
Gon giơ nắm đấm lên rồi lại hạ xuống. “Cho một phát giờ,” nó đe.
“Kỳ lạ thật, giờ tao không còn muốn xem mấy cuốn tạp chí kinh điển đó nữa. Chẳng thú vị gì cả. Vì tao đã biết trước những thứ đẹp đẽ rồi sẽ tàn phai. Loại như mày còn lâu mới hiểu được.”
“Mày mất cảm hứng với Brooke Shields rồi sao, để tao giới thiệu cho mày một cuốn khác có thể giúp ích cho mày.”
“Đưa đây.”
Gon hờ hững đáp lại. Tôi giới thiệu cho nó cuốn Kỹ năng yêu thương của một tác giả nước ngoài. Gon nhìn tựa sách, nở nụ cười kỳ dị rồi ra về. Mấy ngày sau nó lại tìm đến, cấm cảu bảo tôi đừng đưa nó đọc những thứ nhảm nhí này nữa. Thế nhưng lời giới thiệu của tôi không hề vô nghĩa.
43.
Tháng Năm đã đến tự lúc nào. Lúc này, tôi đã quen với nhiều thứ hơn, không còn lạ nước lạ cái như hồi mới bắt đầu học kỳ. Mọi người thường nói tháng Năm là nữ hoàng của các mùa, nhưng tôi lại nghĩ khác. Quãng thời gian chuyển từ mùa đông sang mùa xuân mới thực sự đáng được tôn vinh. Nền đất đóng băng suốt cả mùa đông dần tan chảy, chồi non ngấp nghé nhú, hoa nở rộ trên những cành cây tưởng đã chết. Đó mới là những vất vả thực sự. Còn mùa hè chỉ đơn giản là được mùa xuân tiếp động lực rồi bước thêm vài bước thôi.
Vì thế tôi cho rằng tháng Năm là tháng lười biếng nhất trong năm. Nó được đánh giá quá cao so với những gì nó làm được. Tháng Năm cũng là tháng khiến tôi cảm thấy mình khác biệt với thế gian nhất. Vạn vật trên thế gian đều chuyển động và tỏa sáng. Chỉ có mẹ, người đang nằm trên giường bệnh, và tôi là vẫn mãi cứng ngắc và xám xịt như hồi tháng Một.
* * *
Tôi chỉ có thể mở cửa hiệu sách sau giờ học nên đương nhiên doanh thu cũng không thể tăng lên. Chợt tôi nhớ lại câu nói của bà, buôn bán mà không có lời thì tốt nhất là dẹp đi. Mỗi ngày tôi đều quét dọn bụi bẩn nhưng dường như khoảng trống bà và mẹ để lại vẫn đang ngày một sờn cũ. Liệu rằng một mình tôi có thể đảm đương công việc này đến bao giờ?
Đang bước giữa các kệ sách, tôi đánh rơi chồng sách trên tay. Trang giấy cứa vào tay tôi làm chảy máu. Đây không phải chuyện thường xảy ra ở hiệu sách cũ ẩm thấp này. Chẳng qua tôi xui xẻo gặp phải cuốn từ điển bách khoa được làm từ loại giấy dày và cứng. Tôi ngẩn người nhìn những giọt máu đang chảy tong tỏng. Từng giọt đỏ thẫm như những con dấu đóng cộp xuống sàn.
“Mày làm cái gì thế thằng hâm. Máu chảy kìa.”
Là Gon. Tôi không biết nó vào đây từ lúc nào, thoắt cái đã đến đứng cạnh tôi.
“Không thấy đau à?”
Gon trợn tròn mắt. Nó vội rút giấy ăn quấn chặt vết thương.
“Có một tẹo mà, không sao đâu.”
“Vớ vẩn. Chảy máu là đau rồi. Mày bị đần thật đấy hả?”
Gon tức giận. Có vẻ máu chảy nhiều hơn tôi nghĩ, loáng cái đã thấm đỏ mảnh giấy quấn ngón tay. Gon rút thêm giấy áp lên tay tôi. Mạch đập liên hồi nơi ngón tay đã được buộc chặt bằng giấy ăn. Một lúc sau máu ngừng chảy.
Gon lớn giọng.
“Mày không tự chăm sóc bản thân được hả?”
“Cũng hơi đau một chút nhưng tao vẫn chịu được.”
“Máu chảy ròng ròng như thế mà mày chịu được? Mày là rô bốt thật hả? Vì mày luôn có cái suy nghĩ đấy, lúc nào mày cũng nghĩ mọi chuyện qua loa đại khái nên khi bà với mẹ bị như thế trước mặt mày, mày vẫn đứng đần ra đấy. Vì mày chẳng nghĩ gì đến việc người khác đang đau đớn hay phải ngăn việc đó lại. Mày còn chẳng tức giận. Mày chẳng biết cái mẹ gì.”
“Đúng thế. Bác sĩ cũng nói thế. Bẩm sinh tao đã vậy.”
Tâm thần. Đó là từ bọn trẻ con hay dùng nhất để trêu tôi từ thời tiểu học. Mẹ với bà lúc nào cũng nhảy dựng lên mỗi khi nghe thấy từ đó nhưng tôi phần nào đồng ý với chúng. Có lẽ tôi thực sự tâm thần cũng nên. Bởi dẫu có làm người khác bị thương hay thậm chí giết người, chắc tôi cũng không cảm thấy tội lỗi hay hoảng sợ, chẳng cảm nhận được gì hết. Bởi tôi sinh ra đã như thế rồi.
“Bẩm sinh? Đó là từ ngứa tai nhất trên đời này.”
Gon nói.
44.
Vài ngày sau Gon mang tới một chiếc hộp nhựa trong suốt. Tôi không biết nó kiếm đâu ra nhưng bên trong có một con bướm. Có vẻ cái hộp quá nhỏ để con bướm bay lượn nên tôi nghe tiếng cánh bướm cứ đập vào hết chỗ nọ đến chỗ kia.
“Cái gì thế?”
“Bài học giao cảm.”
Gương mặt Gon lạnh tanh. Nó không hề đùa. Gon cẩn trọng thò tay vào trong bắt lấy con bướm. Đôi cánh mỏng dính như lá vừng đang bị tóm chặt, con bướm yếu ớt vùng vẫy.
“Mày nghĩ nó đang cảm thấy thế nào?”
Gon hỏi.
“Nó muốn cử động.”
Gon hai tay cầm hai cánh của con bướm, dang dần ra hai bên. Râu bướm chĩa sang hết bên này tới bên kia, cả người con bướm quằn quại vẫy vùng.
“Nếu mày định làm thế để tao cảm nhận được gì đó thì dừng lại đi.”
“Tại sao?”
“Con bướm sẽ đau.”
“Có phải mày bị đau đâu, làm sao mày biết được?”
“Vì khi bị kéo tay sang hai bên sẽ rất đau, tao từng bị thế rồi.”
Gon vẫn không dừng lại. Con bướm bắt đầu vùng vẫy mạnh hơn. Dù đang giữ chặt cánh con bướm nhưng Gon nhìn sang chỗ khác.
“Mày nghĩ nó sẽ đau à? Chỉ vậy thôi thì không được.”
“Vậy thì phải thế nào?”
“Ví dụ như, mày cũng phải cảm thấy đau chứ.”
“Sao tao lại đau? Tao có phải con bướm đâu.”
“Phải. Vậy mình tiếp tục. Đến khi mày cảm nhận được gì đó.”
Gon kéo mạnh cánh bướm hơn. Nó vẫn đang nhìn sang phía khác.
“Tao đã bảo mày dừng lại mà. Không nên đem sinh mệnh ra làm trò đùa.”
“Đừng lôi mấy câu trong sách giáo khoa ra dạy tao. Tao đã nói rồi. Tới khi nào mày thực sự cảm nhận được gì đó thì tao sẽ thả nó.”
Đúng lúc đó một bên cánh bướm rách toạc. Nhịp thở của Gon ngắn và gấp hơn. Bị mất một bên cánh, cánh còn lại cũng trở nên vô nghĩa, con bướm chỉ còn biết xoay vòng vòng tại chỗ.
“Mày không thấy nó đáng thương à?”
Gon vừa thở hổn hển vừa nói.
“Tao thấy nó có vẻ đang rất khó chịu.”
“Tao hỏi nó có đáng thương không cơ mà?”
“Dừng lại đi.”
“Không.”
Gon luống cuống lấy gì đó ra từ trong túi. Một cái kim. Nó giơ cái kim lại gần con bướm đang quay vòng dưới đất.
“Mày định làm gì?”
“Nhìn cho rõ vào.”
“Dừng lại đi.”
“Mày nhìn cho rõ vào. Nếu không tao đánh chết mày đấy. Rõ chưa?”
Tôi không muốn biến hiệu sách thành một bãi chiến trường, mà tôi biết Gon thừa sức làm chuyện đó. Gon nhìn con bướm như thể sắp sửa thi hành một nghi lễ cho nó. Trong nháy mắt con bướm đã bị kim đâm khắp người. Nó chỉ biết đạp chân trong im lặng, cố hết sức ngắc ngoải trong vô vọng.
Gon quắc mắt nhìn tôi. Nó nghiến ráng bứt nốt cánh còn lại của con bướm. Người thay đổi biểu cảm không phải tôi mà là Gon. Cặp lông mày nó nhíu hẳn lại, răng nó cắn chặt đôi môi vốn hơi nhếch lên.
“Thế nào? Giờ mày đã thấy động lòng chưa? Ngay cả khi tao làm thế này mày cũng chỉ thấy khó chịu thôi hả? Tất cả những gì mày cảm nhận được chỉ là thế thôi hả?”
Giọng Gon đanh lại.
“Bây giờ tao thấy nó đang rất đau, vô cùng đau đớn. Còn trông khó chịu chính là mày đấy.”
“Phải, tao không thích việc này chút nào. Thà rằng dứt phựt cánh nó hay giết quách nó đi còn hơn, chứ tao ghê tởm trò hành hạ tra tấn này.”
“Vậy sao mày còn làm? Rốt cuộc tao cũng không cho mày thấy cái mày muốn được.”
“Mày im đi, thằng bệnh.”
Đột nhiên mặt Gon méo xệch. Tôi có cảm giác Gon của ngày đạp chân lên người tôi tại sân đốt rác đang quay trở về. Gon định làm gì tiếp con bướm nhưng rốt cuộc không thể làm gì thêm. Sinh vật không cánh với thân hình bị kim châm đang xoay vòng ấy không còn là con bướm nữa. Nó đang bộc lộ sự đau đớn bằng cả cơ thể của mình, xoay ra trước, xoay ra sau, xoay sang bên cạnh trong bộ dạng vô cùng thảm hại. Phải chăng nó đang muốn hét lên hãy dừng lại, hay nó vẫn còn muốn sống nên mới như vậy. Đó chỉ đơn thuần là bản năng. Bản năng xuất phát từ cảm giác, không phải cảm xúc.
“Chết tiệt, phát điên lên mất!”
Bộp. Bộp. Bộp. Gon ném con bướm xuống đất, giẫm lên người nó mấy phát rồi vận hết sức di di chân.
45.
Chỗ con bướm nằm giờ chỉ còn một chấm nhỏ sót lại. Tôi cầu nguyện cho nó an nghỉ. Rồi tôi nghĩ giá mà mình ngăn được Gon thôi hành hạ nó.
Tôi chỉ coi chuyện ngày hôm đó như trò chơi đấu mắt. Một trò chơi đơn giản. Ai nháy mắt trước sẽ thua. Tôi luôn thắng trong những trò kiểu đó. Bởi lẽ mọi người thường cố gắng hết sức để không bị nhắm mắt, còn tôi ngay từ đầu đã chẳng biết nhắm mắt là gì.
Suốt một khoảng thời gian dài Gon không xuất hiện trước mặt tôi nữa. Tại sao nó lại làm thế với con bướm rồi nổi giận? Vì tôi không có phản ứng gì sao? Vì tôi đã không ngăn nó lại? Hay nó tức giận với bản thân vì đã làm vậy? Chỉ có duy nhất một người tôi có thể chia sẻ những băn khoăn này.
Tiến sĩ Shim luôn cố gắng hết sức mình để giải đáp mọi thắc mắc của tôi. Ông cũng là người duy nhất lắng nghe mối quan hệ đặc biệt giữa tôi và Gon mà không có định kiến gì.
“Cháu sẽ sống thế này cả đời ạ? Ý cháu là cháu sẽ không cảm nhận được gì ấy.”
Tôi nuốt mì udon rồi hỏi. Thi thoảng tiến sĩ Shim vẫn mời tôi ăn cơm nhưng ông thích các món mì hơn. Có lẽ món yêu thích nhất của ông là bánh mì và mì sợi. Tiến sĩ nhai nốt lát củ cải vàng, nuốt ực một cái rồi lấy khăn lau miệng.
“Câu hỏi khó đấy. Bác muốn nói thế này. Chỉ riêng việc biết đặt những câu hỏi như vậy đã là một sự thay đổi vô cùng lớn ở cháu rồi. Vì thế bác muốn cháu hãy thử cố gắng xem sao.”
“Cháu phải cố gắng thế nào ạ? Nếu như đó là khiếm khuyết bẩm sinh trong đầu cháu rồi? Mẹ đã cho cháu ăn rất nhiều hạt hạnh nhân nhưng chẳng ích lợi gì cả.”
“Ừm, xem nào. Thay vì ăn hạt hạnh nhân ta có thể kích thích não cháu, sẽ hiệu quả hơn đấy. Cái thằng não đấy đần hơn chúng ta nghĩ nhiều.”
Ý của tiến sĩ Shim là tuy hạch hạnh nhân trong não tôi nhỏ bẩm sinh nhưng nếu tôi thường xuyên cố gắng tạo nên những cảm xúc giả thì có thể não sẽ tin chúng là những cảm xúc thật. Việc đó có thể tác động đến kích thước hoặc sự phát triển của hạch hạnh nhân, chưa biết chừng còn giúp tôi dễ dàng đọc được cảm xúc của người khác hơn.
“Nhưng đầu cháu đã cứng đờ trong suốt mười sáu năm rồi, liệu bây giờ có thể thay đổi được không ạ?”
“Để bác cho cháu một ví dụ. Những người chẳng có chút năng khiếu gì về trượt băng thì dù luyện tập một trăm ngày cũng không bao giờ trở thành tuyển thủ trượt băng xuất sắc được. Người sinh ra đã mù nhạc thì chẳng thể nào biểu diễn một bản opera điệu nghệ và nhận được sự cổ vũ nồng nhiệt của khán giả. Thế nhưng một khi chăm chỉ luyện tập thì ít nhất ta cũng có thể bước đi chập choạng trên băng hay tập tọng hát được một đoạn ngắn. Đó chính là kỳ tích cũng như giới hạn mà việc luyện tập cho phép.”
Tôi chầm chậm gật đầu. Tôi hiểu những gì tiến sĩ nói nhưng cảm thấy chưa được thuyết phục lắm. Liệu luyện tập có tác dụng với tôi không?
“Cháu bắt đầu có những băn khoăn thế này từ bao giờ?”
“Cách đây không lâu ạ.”
“Có động cơ hay lý do gì không?”
“Cháu thấy kiểu như mình cháu chưa được xem bộ phim mà tất cả mọi người đều đã xem rồi ấy. Dù không xem bộ phim đó cũng chẳng có vấn đề gì xảy ra nhưng nếu được xem thì cháu có thể nói chuyện nhiều hơn với mọi người.”
“Thật là một bước tiến đáng kinh ngạc. Cháu vừa thể hiện mong muốn được giao tiếp với người khác đấy.”
“Có lẽ do cháu đang ở tuổi dậy thì.”
Tiến sĩ Shim bật cười.
“Vậy thì cháu hãy luyện tập từ những việc cháu thấy thích thú. Cháu chẳng khác gì một tờ giấy trắng cả. Vì thế hãy tô điểm cho bản thân bằng những điều tốt và tránh xa những thứ xấu.”
“Cháu sẽ thử. Tuy không biết bằng cách nào nhưng vẫn hơn chỉ ngồi im một chỗ.”
“Hiểu được những cảm xúc trước đây cháu chưa từng biết tới cũng không hoàn toàn là chuyện hay đâu. Cảm xúc là thứ rất tréo ngoe. Thế giới này hoàn toàn khác so với những gì cháu vốn biết về nó. Ngay cả những điều nhỏ nhặt xung quanh cháu đều có thể trở thành vũ khí sắc nhọn tấn công cháu, những biểu cảm hay lời nói vụn vặt cũng có thể biến thành những chiếc gai làm cháu đau. Hãy thử nhìn những hòn đá bên đường. Tuy chúng không cảm nhận được gì nhưng bù vào đó, không gì có thể làm tổn thương chúng. Dù bị con người đá bay chúng cũng chẳng hề hay biết. Thế nhưng nếu một ngày nào đó hòn đá biết được chúng bị đá, bị giẫm đạp, lăn lông lốc hàng chục bận một ngày thì liệu tâm trạng của chúng sẽ thế nào? Ngay cả ví dụ này có vẻ cháu cũng vẫn chưa thể hiểu được. Điều bác muốn nói là…”
“Cháu hiểu ạ. Mẹ vẫn thường nói với cháu những chuyện tương tự. Có lẽ mẹ chỉ muốn an ủi cháu thôi, nhưng mẹ cháu cũng là người thông minh lắm.”
“Phần lớn các bà mẹ đều rất thông minh.”
Tiến sĩ Shim nở nụ cười. Tôi ngập ngừng một chút rồi mở miệng.
“Cháu hỏi một câu được không ạ?”
“Đương nhiên rồi. Cháu muốn hỏi gì nào?”
“Câu hỏi về mối quan hệ giữa người và người.”
Tiến sĩ Shim bật cười ha hả, rồi ông kéo ghế lại gần bàn, hai tay đặt cả lên mặt bàn. Tôi bắt đầu kể từ chuyện con bướm. Tay Tiến sĩ dần nắm chặt theo diễn biến câu chuyện. Thế nhưng khi câu chuyện kết thúc, cơ mặt ông chợt giãn ra, ông cười sảng khoái.
“Vậy rốt cuộc cháu muốn biết điều gì? Tại sao Gon lại làm thế trước mặt cháu? Hay cảm xúc của Gon khi đó?”
“Ừm, cả hai ạ.”
Tiến sĩ gật đầu.
“Thì ra Gon muốn làm bạn với cháu.”
“Bạn?”
Tôi vô thức lặp lại.
“Xé nát cả một con bướm chỉ để làm bạn với người khác sao ạ?”
Tiến sĩ Shim đan hai tay vào nhau.
“Không phải thế. Tóm lại là sau khi giết chết con bướm trước mặt cháu, có vẻ lòng tự trọng của thằng bé đó đã bị tổn thương nhiều.”
“Giết chết con bướm sao lại bị tổn thương lòng tự trọng ạ?”
Tiến sĩ thở dài. Tôi vội nói thêm.
“Cháu chậm hiểu mấy vấn đề này lắm.”
“Không phải. Bác đang suy nghĩ xem làm cách nào giải thích đơn giản và dễ hiểu nhất cho cháu. Nào, bác nói vào trọng tâm luôn nhé. Thằng bé đó quan tâm đến cháu. Nó muốn hiểu hơn về cháu, muốn cảm nhận được những cảm xúc giống cháu. Nhưng theo lời cháu kể thì có vẻ như mới chỉ có thằng bé đó tiến về phía cháu. Hay cháu thử một lần bước về phía nó xem sao?”
“Bằng cách nào ạ?”
“Mọi câu hỏi trên đời này đều có hàng trăm đáp án. Vì thế thật khó để bác cho cháu một đáp án chính xác. Đặc biệt ở độ tuổi của cháu, thế gian này càng giống như một câu đố. Giờ là lúc cháu cần tự mình tìm ra lời giải. Nhưng nếu cháu nhất định phải xin một lời khuyên, thì thay vào đó, bác hỏi cháu một câu. Thằng bé đó thường làm hành động gì với cháu nhất?”
“Đánh ạ.”
Tiến sĩ nhún vai.
“Bác quên béng mất. Bỏ qua cái đó. Còn gì nữa?”
“Ừm…”
Tôi suy nghĩ một lát.
“Đến tìm cháu ạ.”
Tiến sĩ gõ nhẹ xuống bàn, gật gù.
“Vậy điều cháu có thể làm là đến tìm thằng bé đó.”
46.
Cô giúp việc nhà Gon gọt táo cho tôi. Cô đậm người, miệng nở nụ cười, nhờ khóe môi cong và cặp mắt hiền từ nên lúc nào trông cô cũng như đang cười. Vỏ táo gọt không bị đứt miếng nào chồng lên nhau thành hình xoáy ốc. Tôi đang ngồi trong bếp nhà người khác, để một quả táo trước mặt và chờ đợi. Phải tới tận khi quả táo từ màu vàng sẫm chuyển hẳn sang màu nâu, Gon mới xuất hiện. Nó khựng người giật mình khi thấy tôi, cô giúp việc liền mở lời để xua đi bầu không khí gượng gạo giữa hai đứa.
“Gon về rồi à. Bạn cháu chờ được nửa tiếng rồi. Hôm nay bố cháu nói sẽ về muộn. Cháu ăn cơm chưa?”
“Dạ cháu cũng không đói lắm ạ. Cảm ơn cô.”
Biểu cảm của Gon khi nói câu đó là thứ biểu cảm lần đầu tôi thấy ở nó. Giọng nó nhẹ bẫng, lại rất lễ phép. Thế nhưng khi cô giúp việc vừa đi khỏi thì ngay lập tức Gon quay trở về đúng thế giới của nó, nói chuyện với tôi bằng giọng lỗ mãng vốn có.
“Có chuyện gì?”
“Ờ thì, đến gặp mày thôi.”
Gon bĩu môi. Đúng lúc ấy cô giúp việc bê hai bát mì nóng hổi bước vào. Có lẽ do đói bụng nên vừa nhận lấy bát mì, Gon đã ăn xì xụp.
“Một tuần hai lần cô ấy đều đến đây giúp việc. Ít ra cũng thoải mái hơn phải ở cùng cái người gọi là bố kia.”
Gon thì thầm. Có lẽ nó vẫn chưa thể thân thiết hơn với bố. Nơi Gon sống cách trường rất xa. Nhà giáo sư Yoon nằm ở tầng cao nhất một khu chung cư cao cấp nhìn ra sông Hàn, từ đây có thể trông thấy được gần như tất cả những biểu tượng của Seoul. Thế nhưng Gon nói nó không hề cảm nhận được bản thân đang ở trên cao như vậy.
Đã từ lâu rồi hai bố con Gon không nói chuyện. Ban đầu giáo sư Yoon đã rất nỗ lực nhưng cuối cùng vẫn phải bỏ cuộc. Ông luôn kiếm cớ có tiết hay họp hành để vắng nhà, khoảng cách giữa hai bố con ngày càng nới rộng.
“Người đàn ông đó…”
Gon nói.
“Chưa một lần hỏi tao đã sống thế nào trong thời gian qua. Cũng chưa từng hỏi tao đã làm những việc gì ở đó, đã chơi với đứa thế nào. Cả việc tao mơ ước cái gì, tuyệt vọng vì chuyện gì… Mày có biết việc đầu tiên ông ta làm khi gặp tao là gì không? Là nhét tao vào một trường ở Kangnam. Chắc ông ta nghĩ tao vào đó sẽ học hành chăm chỉ rồi đỗ một trường đại học xịn. Nhưng ngay từ ngày đầu tiên tao đã biết thằng như tao không thuộc về nơi đó. Từng ánh mắt nhìn tao đều như nói ra điều đó. Vì thế tao đã làm loạn một chút. Ở đó không có chuyện châm chước cho học sinh, mấy ngày sau tao bị đuổi học.”
Gon thở hắt ra.
“Khó khăn lắm ông ta mới xin được cho tao chuyển sang trường này. Cũng vì ông ta còn chút danh tiếng trong giới học thức. Nhưng ông ta chỉ nghĩ tới việc trát một lớp xi măng lên cuộc đời tao rồi xây dựng tòa nhà do ông ấy tự thiết kế. Tao đâu phải thằng như vậy…”
Gon hằn học nhìn xuống sàn nhà.
“Tao không phải con trai ông ta. Chỉ là thứ vô dụng ông ta lỡ tìm về. Thế cho nên trước khi bà ấy chết tao cũng chẳng được nhìn mặt…”
Mẹ. Mỗi khi bất chợt nghe thấy từ đó, Gon thường đột ngột chìm vào im lặng. Dù là nghe thấy ở đâu, trong sách hay phim ảnh, hoặc từ miệng người qua đường, chỉ cần nghe thấy từ “mẹ” là Gon ngay lập tức ngừng nói, như thể có ai đó nhấn vào nút tắt tiếng vậy.
Trong Gon chỉ đọng lại duy nhất một ký ức về mẹ. Đó là đôi bàn tay ấm áp dịu dàng của mẹ. Dù nó không nhớ rõ khuôn mặt mẹ nhưng lại không thể quên cảm giác khi chạm vào đôi bàn tay mềm mại và ấm áp ấy. Nó vẫn còn nhớ những lần được nắm bàn tay mẹ, chơi trò tạo bóng dưới ánh nắng chan hòa.
Gon thường có suy nghĩ thế này vào những lúc bị cuộc đời đùa giỡn. Cuộc đời cũng giống như người mẹ đang nắm tay nó thì đột nhiên biến mất, dù nó gắng sức nắm lấy nhưng kết cục vẫn bị bỏ rơi.
“Mày với tao, ai bất hạnh hơn nhỉ? Một thằng từng có mẹ nhưng giờ không còn nữa, một thằng chẳng có ký ức gì về mẹ thì đột nhiên bà mẹ lại xuất hiện rồi lăn ra chết.”
Tôi cũng không biết. Gon gật gù một hồi rồi hỏi.
“Mày biết vì sao tao đến tìm mày thời gian qua không?”
“Không.”
“Có hai lý do. Một là mày không phán xét tao dễ dàng như người khác. Nhờ bộ não dị hợm của mày. Cũng nhờ bộ não dị hợm ấy mà tao tốn công vô ích vào ba cái trò giết bướm… Thứ hai là…”
Gon cười nhẹ.
“Thực ra tao có điều này muốn hỏi. Nhưng mà mẹ kiếp, không thể mở miệng ra nói được…”
Chúng tôi đều im lặng. Tôi đợi câu nói tiếp theo của Gon trong khi lắng nghe tiếng kim đồng hồ kêu tích tắc. Gon thì thầm thật chậm.
“Thế nào? Người phụ nữ đó.”
Phải mất một lúc tôi mới hiểu câu hỏi của nó.
“Mày gặp rồi còn gì. Dù chỉ một lần.”
Tôi lục lại trí nhớ. Căn phòng ngập tràn hoa cùng khuôn mặt xám ngoét của cô ấy hiện ra. Cả hình bóng của Gon ẩn hiện đâu đó trên gương mặt ấy, dù lúc đó tôi không nhận ra.
“Rất giống mày.”
“Tao xem ảnh có thấy thế đâu.”
Gon “hứ” một tiếng rồi cười khẩy. Xong nó lại hỏi.
“Giống ở đâu?”
Lần này nó nhìn thẳng vào mặt tôi. Khuôn mặt người phụ nữ trong trí nhớ của tôi giờ hiển hiện trên khuôn mặt Gon.
“Mắt. Tổng thể khuôn mặt. Biểu cảm khi cười. Đuôi mắt dài và lúm đồng tiền ở khóe môi.”
“Mẹ kiếp…”
Gon lắc đầu.
“Thế mà bà ấy nhìn mày vẫn nghĩ mày là tao còn gì.”
“Trong hoàn cảnh đó thì ai cũng vậy thôi.”
“Đáng lẽ bà ấy phải tìm xem trên mặt mày có điểm gì giống mình chứ.”
“Những lời bà ấy nói với tao chính là muốn nói với mày.”
“Cuối cùng, lời cuối cùng bà ấy nói là gì?”
“Lúc cuối bà ấy đã ôm tao, rất chặt.”
Gon quay đầu sang ngang. Rồi nó lí nhí như nói thầm.
“Có ấm không, lúc mày được ôm ấy?”
“Có. Rất ấm.”
Hai vai Gon bỗng từ từ chùng xuống. Khuôn mặt nó co rúm lại như quả bóng bay bị rút hết khí bên trong. Khuôn mặt ấy chầm chậm cúi xuống, vùi vào hai đầu gối. Nó cúi gằm mặt, cả người run bần bật. Nó đang khóc, dù không phát ra một âm thanh nào. Tôi chẳng nói gì, chỉ cúi nhìn Gon. Đột nhiên tôi thấy mình cao lớn một cách vô nghĩa.
47.
Chúng tôi gặp nhau suốt kỳ nghỉ hè. Một tối mùa hè ẩm ướt tới nỗi da mặt trở nên dính dớp, Gon nằm trên tấm phản trước cửa hiệu sách kể tôi nghe rất nhiều chuyện. Nhưng tôi sẽ không kể toàn bộ câu chuyện của Gon tại đây, bởi việc đó chẳng có ý nghĩa gì. Gon chỉ đơn giản sống cuộc đời của riêng nó. Bị bỏ rơi, bị đập tơi tả, đôi khi dùng từ be bét để miêu tả cuộc đời nó cũng chẳng chệch đi đâu. Gon đã sống mười sáu năm như vậy. Tôi muốn nói với nó số phận con người thực chất như trò chơi súc sắc, nhưng rồi lại thôi. Rốt cuộc đó cũng chỉ là một câu văn trong cuốn sách tôi từng đọc.
Gon là người đơn thuần và trong sáng nhất tôi từng gặp. Bởi ngay đến một thằng ngốc như tôi còn nhìn thấu được lòng nó. Thế gian này rất tàn nhẫn, vì thế chúng ta càng phải mạnh mẽ hơn, nó thường nói như vậy. Đó là kết luận Gon đưa ra về cuộc đời.
Chúng tôi không hề giống nhau. Tôi quá ngây ngô còn Gon lại chưa từng chấp nhận việc mình là một đứa trẻ yếu ớt, nó luôn cố tỏ ra mạnh mẽ.
Mọi người thường nói họ không hiểu rốt cuộc Gon là người thế nào nhưng tôi không đồng ý với câu nói đó. Chẳng qua họ chưa từng cố gắng nhìn thấu con người Gon.
Tôi vẫn nhớ mỗi khi đi đâu đó, mẹ thường nắm tay tôi rất chặt. Mẹ tuyệt đối không bao giờ buông tay tôi ra. Thi thoảng thấy đau tôi bèn rụt tay về nhưng mẹ liền trừng mắt bắt tôi phải nắm lại thật chặt. Mẹ nói vì chúng ta là gia đình nên phải nắm tay nhau. Tay bên kia của tôi được bà nắm. Tôi chưa từng bị ai bỏ rơi cả. Tuy đầu óc tôi không được bình thường nhưng nhờ hơi ấm của hai bàn tay luôn nắm chặt tay tôi từ hai phía, tâm hồn tôi chưa từng bị tổn thương, dù chỉ một chút.
48.
Đôi khi tôi nhớ về những bài hát mẹ thường hát cho tôi nghe. Giọng mẹ lúc nói thì lanh lảnh nhưng vẫn đủ trầm ấm mỗi khi cất tiếng hát. Có lúc nó giống như tiếng hát của cá heo tôi từng xem trong phim tài liệu, khi lại giống tiếng gió thổi hay tiếng sóng vỗ rì rào vọng lại từ xa xăm. Giọng nói của mẹ, thứ vẫn luôn quanh quẩn bên tai tôi ngày ấy, đang dần phai nhạt theo dòng thời gian. Có lẽ nào tôi sắp quên mất giọng nói của mẹ không? Những điều tôi từng biết rõ, tất cả đều đang dần trở nên xa lạ với tôi.