Tháng giêng, năm Càn Long thứ 60, xuất hiện nhật thực, nguyệt thực...
- Càn Long thừa nhận lời hứa lúc còn trẻ, bản thân “công đức viên mãn” , quyết định nhường ngôi, nhưng muốn làm vị Thái thượng hoàng có danh có thực. ..
- Trong bữa tiệc, Hòa Thân đặt 1550 các lẩu, thực là một bữa tiệc lẩu lớn nhất trong lịch sử thế giới...
- Nhiều người, kể cả sứ thần nước ngoài đều thấy rõ Hòa Thân khó tránh gặp khó, nhưng Hòa Thân vẫn như cũ, núp sau Thái thượng hoàng lệnh cho Hoàng thượng...
Năm Càn Long thứ 60, đúng lúc giao thừa đêm đầu năm, tại phủ Hòa Thân, đèn đuốc sáng trưng, pháo nổ vang trời, pháo hoa năm màu biến ảo trên bầu trời. Lúc này, cả kinh thành Bắc Kinh pháo nổ tưng bừng, mọi người tiễn đưa năm cũ đón mừng năm mới.
Hòa Thân đang ôm con nhỏ, cậu bé đã tỉnh dậy vì tiếng pháo nổ bên ngoài. Hòa Thân cầm chiếc mũ bịt kín hai tai cậu con. Cậu con lúc này đã tập nói bập bẹ. Phong Thân Ân Đức theo sau Hòa Thân, tay cầm nén hương. Ba cha con bái cúng thần phật tổ tiên rồi đi ăn sáng.
Hòa Thân cầm chiếc thìa vàng cán ngà trong tay cậu con múc đúng viên sủi cảo mà cậu bé đang cầm thìa gạt, quả nhiên, trong viên sủi cảo có viên bảo thạch. Hòa Thân cả mừng, thơm con và nói: “Con ta sinh ra đã đại cát đại lợi”. Phong Thân Ân Đức cũng rút ra một chuỗi ngọc trai quàng vào cổ cậu em.
Cơm xong, trời hé sáng, Khanh Lân mang đến chiếc hộp “vạn sự tốt lành”, trong hộp có mứt hồng, quả vải, nhãn, lạc, tiền giấy, hạnh đào, hồng táo, v.v... chuẩn bị đãi khách đến chúc mừng năm mới. Sau đó đặt các đồ cúng: táo, bánh dẻo, mứt hoa quả, thức ăn chay. Cắm những bó hoa vẽ hình bát tiên và thần tài, phúc, thọ, lộc. Hòa Thân và phu nhân Phùng Thị ngồi xuống, Phong Thân Ân Đức và Công chúa thứ mười bước đến bái lạy chúc mừng năm mới hai ông bà, tiếp sau là các thê thiếp và những người trong nhà. Hòa Thân tặng cho mỗi người một túi lụa con màu đỏ.
Sau khi lễ xong, Hòa Thân bảo người nhà chuẩn bị kiệu vào cung chúc mừng năm mới Hoàng thượng.
Trời đã sáng rõ. Mặt đất tuy không có tuyết, nhưng ẩm ướt, mây đen xám xịt phủ kín bầu trời, khiến người ta có cảm giác “mây đen đè nặng, thành trì muốn sụp đổ”. Mấy sai dịch của bộ Thống lĩnh quân bộ đang thu nhặt mấy xác chết trên đường phố. Sáng mùng một Tết, xác người chết đặc biệt nhiều, trước cửa trại cháo tế bần nằm la liệt người chết. Mấy sai dịch vừa khiêng đi mấy xác chết, thì lại có mấy người khác ngã xuống tắt thở. Dường như họ không biết có ngày Tết, mặc dù pháo nổ râm ran trên bầu trời, khắp đường phố.
Đó là một mùa đông giá rét. Hôm ba mươi Tết, bộ Lễ báo cáo với Càn Long rằng, một sứ thần nước ngoài chết cóng trong nhà Hội đồng tứ dịch. Càn Long bực tức. Thị lang và Thượng thư bộ Lễ bị Hòa Thân mắng cho một trận. Mùa đông năm nay, quạ bị chết cóng, cây cối héo chết, trẻ con người già yếu chết cóng, ngay cả người khỏe mạnh cũng chết cóng nữa là.
Hòa Thân quỳ trước mặt Càn Long chúc thọ và chúc mừng năm mới. Càn Long nói:
- Quan thiên giám tâu rằng hôm nay có nhật thực, ngày mười lăm lại có nguyệt thực, vì vậy Trẫm rất lo, lo đất nước lại có chuyện binh đao.
- Hoàng thượng, ngày sóc vọng (ngày mùng 1 và ngày 15 - ND) xuất hiện nhật thực và nguyệt thực, đúng là có chuyện binh đao, nhưng chuyện này chắc là ở nơi xa xôi của đất nước, mang đại quân đến, sẽ dập tắt đám cháy ấy thôi. Từ thời Hán đến thời Minh, việc đó xảy ra nhiều. Hoàng thượng không cần phải lo lắng. Lần gần đây nhất, năm Càn Long thứ 51, ngày sóc vọng cũng có nhật thực nguyện thực, Hoàng thượng còn nhớ bọn Lâm Sáng Văn nổi loạn ở Đài Loan, Phúc Khang An đem đại binh đánh dẹp, hải phận lại bình yên, giang sơn Đại Thanh ta so với trước càng vững chắc như núi Thái Sơn.
Hòa Thân nói một hồi, nỗi lo của Càn Long tan biến.
Một lát sau, nhật thực xuất hiện, Tử Cấm Thành và toàn Bắc Kinh tối sầm. Nỗi ám ảnh trong lòng Càn Long lúc này lại trỗi dậy. Nhật thực qua đi, trời lại quang đãng. Càn Long nói.
- Trẫm trị vì thiên hạ đã có gì sai lầm ư?
- Hoàng thượng lập nên công trạng trước nay chưa từng có, nhân đức với thiên hạ, coi dân như con, muôn dân đều kính ngưỡng, thiên hạ quy thuận, quả là Hoàng thượng chẳng có gì là sai lầm.
- Dẫu vậy, nhưng trong một tháng xuất hiện cả nhật thực và nguyệt thực, là điềm không lành. Trẫm lệnh miễn thuế cho thiên hạ, ngày mai khanh ban chỉ cho cả nước.
Ngày mùng hai Tết, Càn Long lệnh các tỉnh không thu thuế. Đây là lần thứ ba, cũng là lần cuối cùng Càn Long ra lệnh miễn thuế. Thật ra, Càn Long vẫn dấu một điều bí mật nằm kín trong nơi sâu thẳm của tâm linh ông: ông sắp sửa nhường ngôi, ông muốn tạo một cục diện ổn định cho vị Hoàng thượng mới.
Sáng sớm ngày mùng hai, Hòa Thân đến miếu Thần tài Ngũ Hiển tại Lục Lý Kiều bên ngoài Quảng An Môn, thắp hương, đặt thoi bạc, khấn vái thần tài trong miếu, phù hộ phát tài.
Bắc Kinh có tục lệ, ngày mùng hai là là ngày tế lễ thần tài pháo nổ suốt đêm ngày. Nhà buôn càng xem trọng ngày này, họ cúng vái Thiên thánh đại đế, nguyên soái Huyền Văn Triệu, thần tài Tăng phúc. Đặt lên bàn thờ những đồ cúng tinh khiết: thịt dê, gà trống, cá chép sống, bánh tết, màn thầu, đốt rượu trong cốc, hàm ý lấy rượu nướng cá. Lúc tiễn thần, đặt cành tùng bách, những thỏi vàng giấy lên đống rơm cây vừng, rồi đốt.
Có người đêm ngày đầu năm đến chầu chực ở Quảng An Môn, hy vọng khi cửa Quảng An Môn mở, là người đầu tiên được đốt nén hương trước thần tài Ngữ Hiển, nhưng dù họ có đến sớm mấy chăng nữa cũng không thể đến trước Hòa Thân được.
Ngày mùng tám, ngày các vì sao xuống trần. Gia đình Hòa Thân cũng như các gia đình giàu có đốt đèn thắp hương cúng tế, hết sức sang trọng, cửa mỗi tầng gác đều có đặt 108 cây đèn, móc thêm chiếc bánh chẽo, bấc đèn tẩm thuốc pháo kết thành hình đóa hoa, phun thêm nước hoa, đốt lên, hoa lửa bay tứ tung, giống như các vì sao xuống trần.
Ban ngày, các Lạt ma ở chùa Hoằng Nhân xua đuổi tà ma, mọi nhà trong kinh thành đua nhau đến xem. Các Lạt ma phân nhau đóng các vai Phật mẫu Kim Cương, chư tướng thiên thần, yêu quỷ mặt trắng, mặt đen, tay cầm gậy màu sắc sặc sỡ, đi lại thoải mái, tiếng chiêng, tiếng cồng, tiếng trống vang lên. Các Lạt ma ăn bận áo quần kỳ dị, miệng niệm kinh, nhảy múa xua đuổi tà ma, đón rước điều lành.
Vào hôm đó, Hòa Thân nhận được bản tấu: Đầu lãnh người Mẹo là Thạch Liễu Đặng ở doanh Đại Hàn, phủ Đồng Nhân, Quý Châu làm phản. Người Mẹo các nơi như Thạch Tam Bảo ở sảnh Vĩnh Tuy, Ngô Phong Sanh ở sảnh Phượng Hoàng, Ngô Bát Nguyệt ở Càn Châu thuộc tỉnh Hồ Nam nổi lên hưởng ứng.
Hòa Thân, một mặt lệnh cho Phúc Khang An, Hòa Lâm đem quân đi dẹp, một mặt giữ kín bản tấu tại Cục quân cơ, để chờ sau ngày 15 tháng giêng mới tâu lên Hoàng thượng.
Đêm Tết Nguyên tiêu, lẽ ra là xem đèn ở Di Hòa Viên.
Nhưng năm nay, Hòa Thân tâu mời Hoàng thượng đến quảng trường Thiên An Môn “vui cùng dân chúng”. Càn Long vui vẻ nhận lời. Để quên chuyện “nguyệt thực”, Hòa Thân đi cùng Càn Long, đứng trên thành lầu Thiên An Môn xem đèn. Khắp nơi trung thành, từ nha sở, đền chùa miếu mạo cho đến nhà buôn, dân thường đều treo đủ loại đèn lụa, đèn pha lê, vẽ tranh trong tiểu thuyết như “Tam quốc”, “Thủy hử” ,”Hồng lâu mộng”, “Tây Sương ký”, v.v... Trên thành lầu Thiên An Môn cũng treo đủ các loại đèn như vậy và còn có cả đèn hình người, hình cá, rồng, sư tử. Những ngọn núi, những tượng người, những cây cỏ kỳ lạ làm bằng những tảng băng, khi đốt đèn lên, trông trong suốt, tỏa ra ánh sáng rực rỡ, vô cùng đẹp mắt.
Phía dưới Thiên An Môn, nào đèn, nào hoa tranh nhau khoe sắc, ngựa xe dập dìu, tiếng đàn tiếng hát vui tai, người đông như biển cả. Bỗng, một áng mây đen nuốt chửng trăng rằm, cả thành tối sầm, cũng nhờ vậy, ánh sáng trên thành dưới thành càng rực rỡ. Đúng lúc này, ai đó dưới chân thành đốt lên một cây pháo, lửa hoa tung bay bốn phía, đột nhiên, một dải ánh sáng đỏ rực vụt bay lên không trung cao đến hai trượng, biến thành một bức tranh xanh đỏ tím vàng. Dải ánh sáng đỏ này vừa tắt, thì một luồng ánh sáng đỏ khác vụt lên, bầu trời biến thành một lẳng hoa đủ màu đủ sắc. Lẵng hoa này sắp mờ dần, thì một tiếng nổ kinh thiên động địa, lẵng hoa lại biến thành một lầu thành rực rỡ... tiếp theo là những chiếc pháo hoa được liên tiếp phóng lên. Hòa Thân giới thiệu với Càn Long: đây là sen đẫm nước, kia là trăng lặn như chiếc mâm vàng, một lát sau lại là Mẫu đơn khoác áo nhung; chậu hoa, Mã lôi tử, phi thiên thập hưởng, tiếp theo là dàn bồ đào, trướng trân châu, tháp Trường minh v.v... Cuối cùng một chiếc pháo hoa được phóng lên biến thành những cảnh kỳ diệu. Hòa Thân tâu:
- Hoàng thượng, đây đúng là lúc không có trăng còn hơn có trăng.
Nỗi u buồn trong tâm khảm của Càn Long vụt biến mất.
Buổi chiều sáng ngày 16 tháng giêng, Hòa Thân tâu:
- Dân Mẹo các nơi ở Quý Châu, Hồ Nam, Tứ Xuyên đã nổi dậy làm loạn.
Hòa Thân đệ trình bản tấu của Đề đốc Lưu Quân Phụ ở Hồ Quảng và tâu:
- Thạch Liễu Đặng, người Mẹo Đại đường, ở sảnh Tàng Đào, tỉnh Quý Châu tập họp dân chúng làm loạn, nay ta đem quân vây thành, nếu ngại không muốn đưa quân vào sâu lãnh thổ. Theo Trấn Liễn Du, Kích Điền, Khải Long bẩm báo: Thạch Tam Bảo là người Mẹo Hoàng Qua Tắc ở sảnh Vĩnh Tuy, tụ tập bè đảng cướp bóc, quấy nhiễu vùng núi Hoàng Thổ thuộc Vĩnh Tuy và vùng Lật Lâm thuộc sảnh Phượng Hoàng, đốt phá nhà cửa, giết hại dân lành, hiện tại đang ra sức bảo vệ thành trì. E rằng Thạch Tam Bảo cấu kết với người Mẹo Đại Đường. Cử Vĩnh Tỉnh, Thìn Nguyên, Thường Đức dẫn 1400 quân cấp tốc đến Phượng Hoàng, Lật Lâm, thần mang theo một số tướng với 600 quân đến đấy.
Càn Long nói với đại thần quân cơ:
- Người Mẹo ở Quý Châu, Hồ Nam, mấy chục năm qua, an cư lạc nghiệp, tuân thủ phép nước, ở riêng biệt với người Hán. Trước nay đã có lệ, người Hán không được phép vào đất người Mẹo. Bây giờ không nghiêm ngặt như trước, qua lại không cấm. Quan lại địa phương và thổ hào bản địa, cả người dân nơi khác thấy họ yếu kém coi thường, hành động bừa bãi, khiến người Mẹo không chịu nổi, dẫn đến sự việc ngày nay. Xem ra Thạch Liễu Đặng, Tam Thạch Bảo chẳng qua vì căm hận mà nổi loạn, chỉ cần tìm hiểu rõ nguyên do, bắt giữ và nghiêm trị kẻ đầu sỏ phạm tội, vỗ về dân chúng, người Mẹo tức khắc phục tùng, cần gì phải đem nhiều quân đi dẹp, khiến họ sợ hãi, càng gây thêm chuyện rắc rối. Chỉ vì một vài người Mẹo làm bậy, liên lụy đến bao nhiêu người Mẹo khác.
Hòa Thân nghe Hoàng thượng nói vậy, cả kinh, không ngờ Hoàng thượng am hiểu tình hình người Mẹo đến thế.
Sau khi thống nhất lãnh thổ, nhà Thanh đã lập ra tại vùng người Mẹo, cơ cấu hành chánh: phủ, sảnh, châu, huyện và các cứ điểm quân sự: trấn, hiệp, doanh, tấn; trực tiếp cai trị người Mẹo. Quan lại triều Thanh từ trên xuống dưới, phần lớn đều hóc lột, ức hiếp người Mẹo, người Hán thì coi khinh họ. Người Mẹo muốn thưa kiện phải nộp “tiền quy củ”. Địa chủ và nhà buôn chuyên cho vay nặng lãi, người Mãn và người Hán thì ra sức bóc lột vơ vét họ. Cho vay nặng lãi, lợi tức tháng là 5 phân, 5 tháng không trả thì chuyển lợi tức thành vốn, cứ như thế, sau một năm, lợi tức đó gấp mấy lần vốn gốc, không tiền trả thì thế chấp ruộng đất. Ngoài ra còn nhiều thủ đoạn khác như “phóng tân dục”, “đoạn đầu lương”. Lúc giáp hạt, người Mẹo vay một thạch thóc, đến mùa thu phải trả 3-5 thạch. Cứ như vậy, người Mẹo sau khi gặt hái xong, trong nhà chẳng còn hạt thóc nào. Vay mượn như vậy, nợ nần liên miên, lâu ngày không trả được, thế là ruộng đất dần dần mất hết.
Thực ra, từ khi Hòa Thân nắm quyền, người Hán cũng khổ lắm, người Mẹo thì như con cá. Người Mẹo sống trong vùng núi Hồ Nam - Quý Châu, quanh các thành Phượng Hoàng, Vĩnh Tuy, Tùng Đào, Bảo Tỉnh, Càn Châu. Quan lính coi thường họ, “người Mẹo phục dịch họ, coi họ là quan, coi quan là thần”. Biện pháp xử lý vấn đề người Mẹo của Càn Long là chính xác.
Hòa Thân chẳng hiểu vì sao Càn Long nắm được tình hình, không những biết lơ mơ mà còn biết rất rõ, nên nghi ngờ. Thế nhưng việc này không thể làm theo Càn Long, nếu làm theo, Hòa Lâm mất cơ hội lập chiến công. Nếu chỉnh đốn lại cách cai trị ở đấy, các địa phương khác cũng phải chỉnh đốn, như vậy đại loạn ! Vì thế, Hòa Thân nghĩ ra một biện pháp, quyết không giải quyết vấn đề Người Mẹo bằng phương pháp chỉnh đốn quan lại như Càn Long đưa ra, trước mắt lờ việc đó trong mấy ngày chờ tin sau đó sẽ tâu, Phúc Khang An và Hòa Lâm đã hành động, quân lính đang đánh dẹp giặc Mẹo, việc đã rồi.
Quả nhiên, mấy ngày sau, Tổng đốc Hồ Quảng là Phước Minh, vừa được Hòa Thân mới đề bạt tâu rằng:
- Theo phủ Trường Châu báo: thành Can Châu đã bị vây, kho đã bị cướp, Đồng tri Tông Như Trang, tuần kiểm Uông Dao đã hy sinh. Ở các lộ, ước có đến mấy ngàn người Mẹo.
Hòa Thân tâu:
- Thế giặc Mẹo rất mạnh, không thể chậm trễ, phải đem quân dẹp ngay.
- Người Mẹo phản nghịch, phải ra sức dẹp yên, Phúc Khang An phải cấp tốc đến đấy, tùy cơ hành động. Càn Long nói tiếp: - Hòa Lâm đến ngay Tây Dương, Tôn Sĩ Nghị đến Tứ Xuyên, khi cần đem quân phối hợp với Hòa Lâm. Tôn Sĩ Nghị kiêm cả việc quân nhu.
Như vậy, mục đích của Hòa Thân đã đạt
Ý đồ của Hòa Thân rất rõ, muốn Hòa Lâm được phong thưởng. Ông đâu cần biết người Mẹo sống chết ra sao. Lúc này Càn Long cũng có ý đồ phong thưởng cho Phúc Khang An. Hòa Thân nghĩ đến đấy bèn tâu:
- Mọi người đều nói: đời sống Người Mẹo nghèo nàn, dân các nơi khác đến cư xử bất công với họ, tranh giành với họ, dẫn đến nổi loạn. Quan lại, binh lính ở địa phương thì mượn cớ gây sự, dân lành luôn bị quấy nhiễu, huống hồ là Người Mẹo, chẳng phải là do những hành vi ngược đãi ư ? Quan lại địa phương ức hiếp, trấn lột không chừa một thứ gì, dân nơi khác đến mua bán tranh giành, đó là nguyên nhân dẫn đến hiềm khích. Việc này đợi sau khi Phúc Khang An hoàn thành công việc, sẽ điều tra cặn kẽ, truy cứu nghiêm trị.
Càn Long hiểu rõ, cuộc nổi loạn của Người Mẹo là có nguyên nhân, đó là sự hà khắc của quan lại địa phương. Thế nhưng trước khi tra xét quan lại, phải dùng vũ lực dẹp loạn, chờ cho việc xong, thì cuộc tàn sát đã rồi, chuyện phong thưởng cũng đã xong. Đó là cố ý hay vô tình?
Mà Hòa Thân, ý đồ phong thưởng cho cậu em, đã được suy tính kỹ.
Quả nhiên, từ đó về sau, Phúc Khang An và Hòa Lâm liên tiếp báo tin mừng: Hòa Lâm chuyên tâm lo việc quân. Tổng đốc Tứ Xuyên vẫn do Tôn Sĩ Nghị đảm nhiệm.
Phúc Khang An được ban thưởng: ba chiếc lông công, phong từ tước công, lên tước bối, áo khoác lông điều, thắt lưng vàng.
Hoà Lâm được ban thưởng: hai chiếc lông công, bá tước anh dũng hạng nhất, áo khoác lông điều, thắt lưng vàng.
Việc phong tặng quá cấp bách như vậy, Hòa Lâm là em ruột Hòa Thân người ta còn dễ hiểu, nhưng Phúc Khang An được tôn sùng như vậy là vì sao ?
Lẽ nào đem quân của 8 tỉnh đi bắt mấy trăm Người Mẹo, lại được phong thưởng như thế ? Khi Tổng đốc Hồ Quảng là Phúc Minh, Đề đốc Hồ Quảng là Lưu Quân Phụ tấu báo chiến công, Càn Long thấy ngay chỗ sơ hở này, liền nói: “Lần này mang 1.500 quân, chỉ giết được mấy mươi quân giặc thế là quá ít, tính ra cả trăm quân mới giết được một tên địch, đủ thấy quá kém, vậy có thể gọi là anh dũng được ư ? Trẫm phê duyệt đến thế, thật là hổ thẹn, không biết các khanh có thấy tự hổ thẹn không ?
Càn Long trong khi bận rộn với cuộc nổi loạn của Người Mẹo, đồng thời lặng lẽ tính toán một việc khác - thu phục người Hán, nhường ngôi cho con.
Sáu mươi năm trước, khi lên ngôi trị vì thiên hạ, Càn Long đã thắp hương cầu khấn trời đất: “Xưa kia Hoàng tổ lên ngôi trị vì được 61 năm, Trẫm không dám bằng thế, cầu mong trời phù hộ, cho Trẫm lên ngôi trị vì được 60 năm, thọ được 85 tuổi, lúc đó Trẫm sẽ nhường ngôi cho con, quay về ở ẩn”.
Bây giờ đã được 61 năm, dường như ông trời đã giáng xuống điềm gở. Ngày đầu năm xuất hiện nhật thực, ngày rằm tháng giêng lại có nguyệt thực, tháng giêng lại xảy ra cuộc nổi loạn người Mẹo, do đó Càn Long phải: một, thực hiện lời thề với hoàng thiên hậu thổ tổ tông thần linh khi ông mới lên ngôi Hoàng đế, hai, nếu mình không thoái vị, sẽ xảy ra “biến cố lớn”, nên khẩn trương chuẩn bị nhường ngôi.
Càn Long nhớ rất rõ, khi mình lên ngôi là lúc Hoàng đế Ung Chính băng hà. Lúc đó, Đại học sĩ Ngạc Nhĩ Thái, Trương Đình Ngọc cho người lấy bản di chúc dấu sau bức hoành phi “Quang Minh Chính Đại”, đọc trước mọi người . Như vậy, trong thời gian Hoàng đế băng hà và Hoàng đế mới lên ngôi, có một khoảng trống quyền lực dễ xảy ra tình hình rối loạn. Do đó Càn Long muốn nhanh chóng công bố việc thoái vị để mọi người biết, nhưng vẫn giữ kín, chỉ có Hoàng Thái hậu và mấy thân vương thân cận được biết mà thôi.
Từ tháng 11 năm thứ 37, Càn Long đã chỉ dụ cho các hoàng tử rằng: “Hoàng tử 15 đã trưởng thành, tài ba và đức hạnh, đến thái miếu làm lễ tế tổ tiên. Hoàng tử khác với vương công, phải ăn mặc như thân vương. Hiện nay trong hoàng tử thì có Tứ A Ca và Lục A Ca đã được phong quận vương, tiền bạc và lính hộ vệ được chu cấp theo chức tước, nhưng ăn mặc như hoàng tử, đến lúc Trẫm 86 tuổi sẽ nghỉ việc triều chính”.
Mùa đông năm sau, Càn Long bí mật quyết định hoàng tử 15 là Vĩnh Diễm làm thái tử, đồng thời bảo Hòa Thân xây dựng cung Ninh Thọ trên mảnh đất đẹp phía đông bắc hoàng cung. Quần thể kiến trúc này gồm có: cửa Ninh Thọ, tường Cữu Long, điện Hoàng Cực, cung Ninh Thọ, điện Dưỡng Tâm, nhà Lạc Thọ, phòng Di Hòa và vườn hoa Càn Long, chuẩn bị khi làm Thái thượng hoàng sẽ đến ở đấy; và tự viết ra đôi câu đối:
“Vui nhìn con cháu thuận hòa. Thảnh thơi nhàn hạ cảnh điền viên.
Thọ cùng muôn dân hạnh phúc. Chẳng lo chẳng nghĩ cảnh thần tiên”.
(Nguyên văn: Lạc tại nhân hòa, khẳng ký cao nhàn quy tông điện.
Thọ đồng dân khánh, vi thân tuân những thác phan viên).
Tháng 12, năm Càn Long thứ 49, Càn Long đã 84 tuổi, triệu tập các hoàng tử, đại học sĩ, đại thần quân cơ, nói ra ý nghĩ dấu kín từ lâu trong lòng: “Lúc Trẫm mới lên ngôi, có thắp hương cầu khấn trời đất, không dám được trị vì thiên hạ 61 năm như Hoàng tổ Khang Hy. Trẫm chỉ cầu được 60 năm tại vị, lúc đó sẽ nhường ngôi. Đến ngày sinh thứ 50, có bàn việc này với Mẫu hậu, Mẫu hậu nói Hoàng thượng giỏi trị quốc yêu dân, thần dân thiên hạ đều không muốn Hoàng thượng nhường ngôi. Trẫm có thầm khấn cầu, nếu trời đất cho Mẫu hậu sống trên 100 tuổi lúc đó Trẫm 85 tuổi cũng mới nghỉ việc triều trung. Giờ đây Mẫu hậu đã về trời, nhớ lại những lời đó, quả thực đau thương, Trẫm trị vì thêm 11 năm, lúc đó mới thoái vị nghỉ ngơi, bàn giao công việc, chẳng phải là việc hay xưa nay hiếm có ư?”. Lúc bấy giờ chẳng ai quan tâm đến lời nói ấy, chỉ thấy việc nhường ngôi kéo dài 11 năm.
Ai là Thái tử, chỉ có trời biết, đất biết, Càn Long biết mà thôi. Các đại thần đều không biết. Chẳng ai dám bàn tán nhiều về nỗi buồn khổ của Khang Hy trong chuyện nhường ngôi. Mọi người đều biết Khang Hy sáng suốt, nhưng những năm cuối đời đã vô cùng chán nản về chuyện ấy, mãi đến lúc chết cũng chẳng ai biết rõ.
Hoàng đế Khang Hy có 35 người con trai trừ những người con chết yểu và làm con nuôi ra, còn lại 26 người. Xưa có câu: “Con cả là đích tông”, cứ theo tuổi thì phải lập con trưởng là Doãn Đề làm thái tử, thế nhưng Doãn Đề là con của một phi tần chứ không phải của Hoàng hậu. Hoàng hậu chỉ sinh có một người con trai là Doãn Nhưng, được Khang Hy vô cùng sủng ái, và lập làm thái tử khi mới một tuổi bảy tháng. Khang Hy tự mình dạy Doãn Nhưng học, đến lúc Doãn Nhưng 6 tuổi lại mời đại học sĩ Trương Vinh, Tứ Trương Lữ, Lý Quang Địa đến dạy. Năm Khang Hy thứ 25, Doãn Nhưng đã lớn, Khang Hy chỉ định người phò tá thái tử. Doãn Nhưng biết cưỡi ngựa bắn cung, tinh thông tiếng Mãn - Hán, biết làm thơ làm phú. Khi Khang Hy thân chinh đi dẹp giặc Cát Nhĩ Đan lần thứ hai, để Doãn Nhưng ở lại kinh giải quyết công việc triều chính, được các đại thần khen ngợi.
Các hoàng tử khác dần dần trưởng thành, trong số đó, hoàng tử thứ tư Doãn Chân, tính tình trầm lặng, hoàng tử thứ tám Doãn Tự, hoàng tử thứ chín Doãn Đường, lanh lợi khéo léo được Hoàng đế Khang Hy hết sức chiều chuộng. Họ tìm cách kết giao với các trọng thần trong triều, làm vừa lòng Hoàng thượng, kéo bè kéo cánh, và âm mưu với các phi tần. Hoàng đế Khang Hy suốt ngày cùng với các đại thần nghiên cứu văn thư, xử lý công việc quốc gia đại sự, tối nào cũng vui vẻ chăn gối với các phi tần, dần dà nghe có âm mưu hãm hại thái tử, đoạt ngôi . Thoạt đầu, Khang Hy có chú ý nhưng không tin lời của các bà, song tin đồn cứ liên tục truyền đến. Ngạn ngữ có câu: “ba người thành hổ giữa chợ”. Có nghĩa là, trong chợ không có hổ, nhưng một người nói có mọi người không tin; hai người nói có, thì nửa tin nửa ngờ; ba người nói có, ai nấy cũng tin trong chợ có hổ. Cái anh minh của Khang Hy như thế này, nghe các đại thần và phi tần xúi bẩy, đem lòng nghi ngờ Doãn Nhưng. Năm Khang Hy thứ 36, Khang Hy thân chinh đi dẹp loạn Cát Nhĩ Đan lần thứ ba, và cũng để Doãn Nhưng ở lại kinh. Một số đại thần gần gũi Khang Hy đặt điều sai trái, khi về kinh Khang Hy đã sát hại tất cả những người thân tín của Doãn Nhưng.
Hoàng tử thứ tám Doãn Tự, dáng vẻ anh tuấn nhất, nên nghĩ rằng, tướng mạo của mình nếu làm hoàng đế thì thích hợp, nên thay đổi áo quần đi tìm gặp Trương Minh Đức. Nào ngờ Trương Minh Đức đã được người ta báo tin, chờ khi Doãn Tự đến, liền quỳ xuống hô vạn tuế. Doãn Tự vội khoát tay, Minh Đức mời vào nhà, vừa nói Doãn Tự đáng được làm thiên tử, vừa quỳ xuống xưng thần. Doãn Tự bộc lộ chân tướng, cùng với Minh Đức bàn bạc âm mưu. Minh Đức nói mình có mười mấy người bạn thân võ nghệ giỏi, hàng ngày có việc họ đều đến giúp. Doãn Tự trở về cung, gặp anh cả Doãn Đề. Doãn Đề tự biết mẹ mình xuất thân từ lớp người thấp kém, mình không thể được lập lên làm thái tử, nên nghe theo Doãn Tự, và được Doãn Tự coi là tâm phúc. Doãn Đề gặp Doãn Tự hỏi :
- Trương Minh Đức chúc em vạn tuế, em nghĩ thế nào?
- Sao anh biết? Doãn Tự nghi ngờ hỏi lại.
- Ta có tai nghe được gió nói, có mắt nhìn thấy ngàn dặm.
- Anh đã biết, chớ nói với phụ hoàng.
- Đương nhiên rồi, chỉ đáng tiếc là Doãn Nhưng không chết, tối qua nghe nói, phụ hoàng vẫn trọng dụng Doãn Nhưng.
- Vậy làm thế nào nhỉ?
- Ta có một cách hay.
- Anh nói mau ra?
- Ở bãi chăn ngựa có một Lạt ma Mông Cổ, giỏi tà thuật, có thể khiến người chết, nếu bảo hắn hãm hại Doãn Nhưng, chẳng phải tốt ư?
Thế là Doãn Tự nhờ Doãn Đề bố trí thực hiện.
Sau khi đến bãi chăn ngựa, Doãn Đề vội vàng trở về gặp Hoàng đế Khang Hy tâu: “Có một vị thầy tướng tên là Trương Minh Đức nói rằng, Doãn Tự nhất định sẽ trở thành đại quý nhân, và nói thêm rằng, nếu muốn giết Doãn Nhưng, phụ hoàng chẳng cần phải tự ra tay”. Khang Hy cho gọi Minh Đức đến, hỏi và trói đem ra cổng thành xử lăng trì. Thế nhưng một số đại thần vẫn không biết, khi Khang Hy nhắc lại việc lập thái tử, đã đồng thanh đề cử Doãn Tự. Té ra Đại học sĩ Mã Tề và một số người thông đồng với nhau. Mã Tề và Doãn Tự bị bắt giam. Doãn Tự nghĩ rằng, việc này chỉ có anh Doãn Đề biết, Doãn Đề muốn ta chết ta cũng sẽ cho anh ta chết, nên yêu cầu phủ Tôn Nhân: “Muốn gặp Phụ hoàng”. Phủ Tôn Nhân đưa Doãn Tự vào cung.
Khang Hy đang tức giận, vì hoàng tử thứ mười bốn là Doãn Để, được hoàng tử thứ chín là Doãn Đường ủng hộ, van xin cho Doãn Tự. Khang Hy càng tức rút kiếm định chém Doãn Để . Hoàng tử thứ năm Doãn Kỳ thấy thế vội quỳ xuống ôm chân Khang Hy nài xin. Khang Hy vứt kiếm bực tức nói:
- Khi ta băng hà, các ngươi vứt Trẫm vào cung Càn Thanh, rồi hãy tàn sát lẫn nhau.
Khang Hy nói chưa dứt lời đã thấy Doãn Tự đến, càng bực tức, cho hai tát tai. Doãn Tự khóc nói:
- Nhi thần không dám làm bậy, thật ra là do anh Doãn Đề xúi giục
- Nói bậy, nếu hắn xúi giục, sao hắn lại đến tố cáo với ta?
- Nếu phụ hoàng không tin, hãy bắt tên Lạt ma Mông Cổ ở bãi chăn ngựa về hỏi.
Khang Hy lệnh cho thị vệ đi bắt tên Lạt ma về hỏi, sau đó đào dưới đất lên, quả nhiên thấy mấy chiếc đầu người bằng gỗ ở bãi chăn ngựa. Khang Hy trao gươm cho thị vệ chém chết Doãn Đề. Thị vệ đâu dám giết hoàng tử, nên vội quỳ xuống van xin cho Doãn Đề. Huệ Phi, mẹ của Doãn Đề nghe tin vội vàng đến quỳ trước Khang Hy cầu xin khai ân. Trước cảnh đó, Khang Hy mềm lòng, nói: “Ái phi đứng dậy”. Huệ Phi đứng sang một bên, mặt bự phấn thấm đầy lệ, trán nổi lên hai vết bầm tím. Người đẹp liều chết, ai mà không thương tình. Khang Hy thu gươm lại, lệnh thị vệ đứng dậy, dẫn Doãn Tự vào ngục, và nói với Huệ Phi: “Nể nàng ta tha cho Doãn Đề, hắn không phải là người tốt, phải cho người quản chặt nó!”. Huệ Phi không dám nói thêm, cảm ơn và trở về cung. Khang Hy tự tay viết dụ, xóa bỏ tước vương của Doãn Đề, quản thúc tại nhà.
Khang Hy tức quá sinh bệnh, tối đó không ăn, hôm sau phát sốt. Chỉ có một mình thái tử thứ tư Doãn Chân sớm tối chăm nom. Nghe Doãn Chân nói, Khang Hy ân hận đã phế bỏ thái tử của Doãn Nhưng, để Doãn Nhưng phải oan, cho Doãn Chân là công chính. Do đó thả Doãn Nhưng ra. Sau đó mấy ngày, tuyên bố với các vương công đại thần rằng:
- Trẫm lúc nhàn rỗi thường đọc sử sách, trước nay thái tử bị phế, thì không thể sống, sau đó vua lại hối hận. Sau khi giam cầm Doãn Nhưng, ngày nào Trẫm cũng suy nghĩ, hôm nay mắc bệnh, chỉ có hoàng tử thứ tư là hiểu lòng Trẫm, nhiều lần khuyên Trẫm gặp lại hoàng thái tử Doãn Nhưng. Trẫm gặp một lần, thế là bệnh Trẫm thuyên giảm. Trẫm nghi ngờ tội lỗi của Doãn Nhưng, thật đáng nguyền rủa. Bây giờ nhìn thấy Doãn Nhưng chăm lo thuốc thang, cử chỉ đúng mức, giờ đây đã hối cải từ nay phải rửa sạch lòng dạ. Xưa kia, Thái Giáp được tha, trở thành chúa tốt, có lỗi thì sửa.
Hoàng tử thứ tư Doãn Chân quỳ tâu:
- Nhi thần xin tuân theo lời của phụ hoàng, nói rằng, nhi thần nhiều lần tâu giúp cho thái tử, thực ra không có chuyện đó, nhi thần không dám nhận lời khen của phụ hoàng.
- Con đã tâu xin cho Doãn Nhưng trước mặt ta, con tưởng rằng không ai biết nên chối từ. Con quả không muốn nhận, điều đó cũng dễ thông cảm, nếu con sợ Doãn Đề, Doãn Tự, cố ý hãm hại, làm điều xằng bậy con khiến ta thất vọng đấy.
Hoàng tử Doãn Chân cảm tạ:
- Mười năm trước - hầu hạ phụ hoàng, nhi thần hết lòng hết dạ, phụ hoàng đã thấy rõ, giờ đây nhi thần đã ba mươi tuổi, nói chung đã trưởng thành, bốn chữ vui buồn giận sợ đề có quan hệ đến nhi thần, cúi xin phụ hoàng đừng ghi trong chỉ dụ, nhi thần vô cùng cảm tạ ân đức phụ hoàng.
Khang Hy lại nói với vương công đại thần:
- Gần mười năm qua, hoàng tử thử tư đã tu tỉnh, không còn khi vui khi giận, chẳng qua hôm nay Trẫm ngẫu nhiên ra chỉ dụ, khích lệ hoàng tử, nên chẳng cần phải ghi lại.
Mùa hè năm sau, lại lập Doãn Nhưng làm hoàng thái tử, phong hoàng tử thứ ba Doãn Chỉ làm Thành thân vương, hoàng tử thứ tư làm Dận thân vương, hoàng tử thứ năm Doãn Kỳ làm Hằng thân vương, hoàng tử thứ bảy Vĩnh Cổ làm Thuần quận vương, hoàng tử thứ mười làm Đồn quân vương, hoàng tủ thứ chín Doãn Đường, hoàng tử thứ mười hai Doãn Đào, hoàng tử thứ mười bốn Doãn Để làm Cố sơn bối tử. Bốn năm sau, Doãn Nhưng lại bị phế truất thái tử lần nữa, từ đó không lập thái tử nữa. Có mấy người đề nghi lập thái tử đều bị chém hoặc cách chức.
Hoàng tử thứ tư Doãn Chân và người em cùng mẹ là hoàng tử mười bốn Doãn Để được Khang Hy bổ nhiệm làm đại tướng quân, thống lãnh đại quân đóng tại Bắc Kinh, bình địch Tân Cương, Tây Tạng, chiến công hiển hách, nhưng Doãn Chân lại có mưu đồ. Nhân khi Doãn Nhưng bị mất chức thái tử, Doãn Chân bí mật câu kết với những đại thần khắp nơi từ trong triều đến các địa phương, đặc biệt với quốc cửu Long Khoa Đa đang thống lĩnh quân đội ở kinh đô.
Năm Khang Hy thứ 61, Khang Hy (đã 69 tuổi) cùng Long Khoa Đa và các hoàng tử dạo chơi ngắm cảnh ở vườn Du Sướng Xuân, bỗng nhiên Khang Hy mắc bệnh nặng, uống thuốc không bớt, càng nặng thêm. Tối đó Khang Hy cho gọi Long Khoa Đa vào; truyền chỉ, mồm vừa bật ra chữ “mười” thì cứng lưỡi, rất lâu mới nói được chữ “bốn” ý là cho gói hoàng tử mười bốn về kinh. Ngay tối đó Khang Hy qua đời.
Hôm sau Long Khoa Đa tuyên bố di chúc của Khang Hy: “Truyền ngôi cho hoàng tử thứ tư”.
Về sau, Hoàng đế Ung Chính viết tên người kế vị đặt sau bức hoành phi “Chính Đại Quang Minh”, đến khi băng hà, các đại thần lấy ra tuyên bố.
Do vậy, Càn Long lên ngôi được mấy mươi năm, đã ở vào tuổi cổ lai hy mà vẫn chưa lập người kế vị, các đại thần chẳng dám đề cập đến việc đó. Tháng 9, năm Càn Long thứ 43, một học sinh ở huyện Cẩm tên là Kim Tùng Nghĩa, nhân lúc Hoàng đế đi tuần du miền đông, đã quỳ xuống bên đường tâu xin Hoàng thượng lập người kế vị đã phải bị xử cực hình. Sau đó nếu không phải là Hoàng thượng đề xuất thì ai dám bước theo vết xe đổ thời Khang Hy.
Tháng 9, năm Càn Long thứ 59, chiến sự bình định giặc Mẹo ở Quý Châu đang khẩn trương, không khí trong hoàng cung cũng vậy. Bởi vì, ngày 1 tháng 10, Hoàng thượng muốn ban hành “sách lịch” lần thứ hai. “Sách lịch” ban bố chắc chắn phải có niên hiệu của hoàng đế mới, có nghĩa là ngày 1 tháng 10 có thể biết được ai là vị hoàng đế mới.
Thế nhưng, Càn Long không đợi đến ngày 1 tháng 10.
Ngày 2 tháng 10, mây đen khắp trời, gió rét thổi ù ù, dự báo một mùa đông giá rét sắp đến gần.
Càn Long đang cùng Hòa Thân chơi cờ, nước cờ đi sai mãi, dường như có tâm sự gì, Hòa Thân tâu:
- Hoàng thượng có tâm sự gì phải không, xin nói cho nô tài biết, để nô tài có thể chia sẻ nỗi lo với Hoàng thượng.
Càn Long đứng dậy, nét mặt nghiêm trang, bước đi mấy bước, nói:
- Ngày mai, Trẫm tuyên bố nhường ngôi.
Hòa Thân giật mình, tim thắt lại, toàn thân run lên, đánh rơi con cờ trong tay xuống, “bịch”.
Càn Long là chỗ dựa của ông, là chiếc ô che cho ông, nếu vị Hoàng đế mới không tin dùng ông, không tôn sùng ông, ông vội vàng tâu:
- Hoàng thượng, trong lịch sử thường nghe nói đến những cuộc nhường ngôi đầy rối rắm. Chỉ có Nghiêu truyền cho Thuấn, Thuấn truyền cho Vũ là thuận lợi êm đẹp xưa nay hiếm có. Nhưng, vua Nghiêu truyền ngôi sau 73 năm làm hoàng đế, vua Thuấn 30 năm chinh chiến, 30 năm lên ngôi, rồi tiếp thêm hơn 30 năm nữa mới nhường ngơi. Lúc đó Nghiêu - Thuấn đã ngoài trăm tuổi Hoàng thượng tinh thần vẫn minh mẫn, so với Nghiêu - Thuấn còn sống lâu hơn, còn tại vị được vài mươi năm nữa, lúc đó nhường ngôi cho thái tử cũng chưa muộn. Huống hồ, thiên hạ khắp nơi đều coi Hoàng thượng như cha mẹ, Hoàng thượng tại vị thêm một ngày, dân chúng vui sướng thêm một ngày, nô tài được tắm gội ân đức của Hoàng thượng, muốn được mãi mãi hầu hạ Hoàng thượng. Chó ngựa còn nhớ chủ, lẽ nào nô tài không bằng chó ngựa ư?
Trước hết, làm Thái thượng hoàng “chẳng có bao nhiêu vinh dự”, tuy Hòa Thân không nói rõ ra, nhưng Càn Long chẳng lẽ không biết ẩn ý đó: Hán Cao tổ Lưu Bang tôn cha mình là “Thái thượng hoàng”, chẳng qua tôn để mà tôn vậy thôi. Thời Nam Bắc triều, Ngụy Hiến Văn Đế nhường ngôi cho Ngụy Hiếu Văn Đế, là do mẫu hậu can thiệp, Vũ Thành Đế thời Bắc Tề truyền ngôi cho Cao Vỹ, đến “sự biến Huyền Vũ Môn” đời Đường, Lý Uyên không thể không truyền ngôi cho Lý Thế Dân, sau khi giết chết Võ Hậu, Đường Duệ Tông buộc phải truyền ngôi cho Đường Huyền Tông, Đường Túc Tông sau khi lên ngôi tại Linh Vũ thì Huyền Tông không thể không làm “Thái Thượng hoàng”. Thời Tống, khi quân Kim xâm lược. Tống Huy Tông trao ấn cho Tống Ẩm Tông, thực ra là bất đắc dĩ. Triệu Vương thời Nam Tống truyền ngôi cho Tống Hiếu Tông, Triệu Duệ lại truyện ngôi cho Tống Triệu Tôn. Tuy hai người chủ động nhường ngôi, nhưng thanh danh của họ cũng chẳng đẹp đẽ gì. Thời Minh, sau sự biến Thổ Mộc, Minh Đức Tông lên ngôi, Minh Anh Tông phải thoái vị. Hòa Thân nói như vậy cốt để Càn Long “biết nhục” mà không nhường ngôi, nhưng thấy chưa ăn nhằm gì nên lại kể chuyện Nghiêu - Thuấn. Càn Long rất thích người ta so sánh xem mình như vua Nghiêu, vua Thuấn và hoàng đế Khang Hy, vua Nghiêu vua Thuấn sống hơn trăm tuổi, tại vị hơn 60 năm. Chuyện này dễ khiến Hoàng thượng suy nghĩ đắn đo.
Cuối cùng vỗ đùi nói, mọi người trong thiên hạ đều mong muốn Hoàng thượng tiếp tục chấp chính, như vậy thuận theo lòng dân, đất nước yên định, quốc gia hưng thịnh .
Nào ngờ, với các việc khác nếu Hòa Thân nói như vậy, Hoàng đế Càn Long đều đáp “hợp ý Trẫm”, riêng mỗi việc này thì không nghe theo, và nói:
- Khanh mới chỉ biết một mà không biết hai. Trẫm lên ngôi lúc 25 tuổi, đã thề với trời đất, nếu tại vị được 60 năm thì nhường ngôi cho con, không dám bằng Hoàng tổ tại vị được 61 năm. Nay trời đất phù hộ, kỳ hạn đã đến, ý nguyện đã thỏa mãn, đâu dám mong muốn gì hơn? Hoàng tử Vĩnh Liễn mất sớm, chỉ có hoàng tử thứ 15 là Vĩnh Diễm được hơn cả, Trẫm đã làm đúng phép nhà, viết tên dấu kỹ sau bức hoành phi “Chánh Đại Quang Minh”, ngày mai Trẫm sẽ tuyên bố Vĩnh Diễm là thái tử, nối ngôi Trẫm, nếu sợ buổi đầu chưa quen, có Trẫm bên cạnh nhắc nhở, khanh không cần phải lo.
Hòa Thân thấy Càn Long cương quyết như thế, bỗng thốt lên:
- Nô tài thấy tinh thần Hoàng thượng thật là vững vàng, đúng là lão đương ích tráng, có thể tại vị thêm vài mươi năm nữa, sau đó nhường ngôi không muộn, Hoàng thượng tại vị ngày nào, con dân hạnh phúc ngày ấy, nô tài nguyện hầu hạ Hoàng thượng mãi mãi.
Càn Long biết Hòa Thân không an tâm, nên nói:
- Khanh sợ rằng, Vĩnh Diễm lên ngôi, lúc đầu dễ xảy ra sai lầm. Khanh khỏi phải lo, có Trẫm bên cạnh, tùy cơ uốn nắn.
Nghe vậy, Hòa Thân hơi yên tâm, đúng, Hoàng thượng làm “Thái Thượng hoàng”, “Thái thượng hoàng” thật sự, khiến vị Hoàng đế mới có danh mà không quyền, ta vẫn còn quyền như xưa nay! Thời gian này ta ra sức xây dựng củng cố cơ sở, nắm chắc, khống chế các quan văn võ từ trên xuống dưới, đan tấm lưới cho chắc hơn, đáng tin cậy hơn, không thể để xảy ra bất cứ chuyện gì, đồng thời ra sức nịnh bợ lôi kéo Hoàng đế mới, trở thành đại thần trung thành của hai Hoàng đế. Giấc mộng đẹp nhưng không thực tế. Hòa Thân đi vận động.
Hòa Thân vội vàng ra khỏi cung, định tìm gặp Hòa Thạc Lễ Thân vương Vĩnh Ân bàn bạc, cùng nhau tâu với Càn Long, xin tạm thời chưa nên nhường ngôi. Vừa đến cổng phủ Hòa Thạc Lễ Thân vương thì bảo phu kiệu quay kiệu về ngay. Ông rùng mình, ngẫm nghĩ: “Không nên đi nước cờ này, dễ mất lòng Hoàng thượng cũ, và đối địch với Hoàng thượng mới. Vì Hoàng thượng tin mình nên nói chuyện này với mình, nếu đem chuyện này nói lại với Thân vương, hóa ra khiến Càn Long tức giận, và nếu việc lan truyền ra, Hoàng đế mới sẽ giận ta tận xương tủy”.
Về phủ, Hòa Thân ăn không thấy ngon, đứng ngồi không yên, nằm nghỉ cũng chẳng chợp mắt được, sốt ruột như kiến trong chảo nóng. Dần dần trấn tĩnh lại, ngẫm nghĩ, Càn Long thường cho mình trị quốc tài giỏi, chiến công lẫy lừng, nay đúng hạn truyền ngôi, chẳng khác gì thêu hoa trên gấm, công đức vẹn toàn, nếu một mình tâu đi tấu lại nhiều lần, sẽ khiến Càn Long tức giận, đắc tội với vua mới. Bây giờ chỉ có dựa hẳn vào vua mới.
Hòa Thân vội vàng vào cung tìm gặp Vĩnh Diễm bày tỏ nỗi lòng.
Từ sau khi các hoàng tử của Khang Hy lập bè kéo cánh, nhiều người lần lượt bước vào ngục thất. Triều Thanh quy định. Hoàng tử không được qua lại bạn bè với các đại thần, Hoàng tử không được tự tiện ra khỏi cung. Càn Long có một cậu cháu là Miên Ân, con trai của trưởng tử Vĩnh Hoàng, từ nhỏ rất thông minh lanh lợi mặt mày tuấn tú, thân hình cao lớn, cưỡi ngựa như bay, bắn cung thiện xạ, được Càn Long đặc biệt yêu mến, lúc bốn mươi tuổi đã làm thống lãnh quân bộ. Có một lần, ngoài Chánh Dương Môn xảy ra đám cháy, Miên Ân đôn đốc quân lính cứu hỏa. Ngôi nhà bị cháy là một nhà thổ, đám đông gái điếm xúm xít trước cổng, mặt mày đầy son phấn, Miên Ân thấy lạ, ngạc nhiên hỏi: “Đó là nhà ai vậy? Sao nhiều con gái thế?”. Qua đó có thể thấy, các hoàng tử hoàng tôn rất ít tiếp xúc với bên ngoài.
Hòa Thân coi trời bằng vung, gửi tặng Vĩnh Diễm một thanh ngọc như ý.
Vĩnh Diễm nghe báo Hòa Thân xin gặp, vội đứng dậy ra đón tiếp. Hòa Thân thấy Vĩnh Diễm vội vàng quỳ xuống, khấu đầu, nói:
- Nô tài Hòa Thân chúc vương gia thiên tuế, thiên thiên tuế.
- Sao lại Tể phụ làm đại lễ như vậy với bản vương, hãy mau đứng dậy, mau đứng dậy.
Hòa Thân đứng dậy, không dám ngước đầu lên, Vĩnh Diễm mời:
- Mời Tể phụ ngồi.
- Nô tài đâu dám.
- Tể phụ không ngồi, thật là khó cho bản vương.
Hòa Thân vẫn không ngồi. Vĩnh Diễm nói tiếp:
- Tể phụ đến đây, có việc gì vậy?
- Đã lâu không gặp vương gia, rất nhớ vương gia, Hoàng thượng thường nói vương gia là người chăm chỉ, tài trí hơn người, do vậy nô tài từ lâu đã khâm phục vương gia, coi như tri kỷ. Mấy hôm nay không gặp vương gia, lòng cứ nhớ nhung, nên hôm nay đến thăm. Nô tài thấy vương gia tinh thần sảng khoái, thân thể khỏe mạnh, rất đỗi vui mừng. Nô tài xin kính biếu vương gia một thanh ngọc như ý, chúc vương gia mọi sự như ý.
Vĩnh Diễm thấy Hòa Thân đến không bình thường, lại biếu cả ngọc như ý, nghĩ bụng: “Chẳng lẽ, chẳng lẽ. ..”. Rồi giật mình, “chẳng lẽ phụ hoàng lập ta làm thái tử..., chắc là thế, đúng rồi”. Nghĩ vậy, nhìn thấy Hòa Thân như nuốt phải con nhặng, chỉ muốn nôn ra, nhưng vẫn tươi cười.
- Bản vương đâu dám nhận đại lễ của Tể phụ? Bản vương nên tỏ lòng cung kính đối với Tể phụ mới đúng, nhưng vì phép nhà, phép nước không cho tỏ bày lòng thành của bản vương với Tể phụ.
Hòa Thân nghe vậy cảm thấy nhẹ nhõm, và nói:
- Nô tài quả thật không có chỗ nào để cho vương gia cung kính, nô tài chỉ muốn làm viên đá lót chân để vương gia lên xuống ngựa.
Vĩnh Diễm nghĩ thầm: tên cáo già xảo quyệt, muốn ân huệ với ta để dựa vào ta, lại muốn ta sau khi lên ngôi phải dựa vào hắn. Đó chẳng phải là hối lộ mua chuộc ta ư? Nghĩ vậy, bèn nói:
- Bản vương muôn sự đều trông vào Tể phụ . Nếu bản vương có chỗ nào không phải, xin đại nhân dạy bảo, bản vương xin vâng lời.
Đúng, Vĩnh Diễm đã thấy rõ: dù mình được phong làm thái tử, dù mình sang năm lên ngôi Hoàng đế, nhưng còn có Thái thượng hoàng, Vĩnh Diễm phải cúi đầu vâng dạ, Doãn Nhưng xưa kia bị phế rồi được lập lại đủ chứng minh điều này. Thái tử có thể bị phế truất bất cứ lúc nào. Hòa Thân lại là người tâm phúc của phụ hoàng, nói gì nghe nấy, nếu ông ta đề nghị phế truất thái tử, việc đó không khó. Đã là Hoàng đế, với tính cách của phụ hoàng, ông không chịu vứt bỏ quyền lực, mọi việc phải qua tay ông, lại có nhiều người dựa vào quyền lực của ông ta mà tạo ra quyền lực cho mình. Bước đầu phải đi cho đúng, phải làm yên lòng Hòa Thân. Do vậy, Vĩnh Diễm nhất mực cung kính Hòa Thân, làm cho Hòa Thân mất cảnh giác. Quả nhiên những lời nói của Vĩnh Diễm có hiệu quả, sau một lúc chuyện trò, Hòa Thân nói cười toe toét, còn Vĩnh Diễm càng như một cậu học trò nhất mực cung kính vâng dạ theo lời thầy dạy.
Hòa Thân cáo từ ra về, nghĩ bụng rằng: “Chẳng qua là một thằng nhóc đang nằm trong tay”.
Vĩnh Diễm thầm nghĩ: “Phải cho hắn chết”.
Thực ra, hoàng tử thứ mười lăm Vĩnh Diễm căm tức Hòa Thân từ lâu.
Ngày 2 tháng 7 năm Càn Long thứ nhất, Hoàng đế mới lên ngôi triệu tập các đại thần, tại lầu Tây Noãn, cung Càn Thanh, và trịnh trọng tuyên bố lập người kế vị. Càn Long nói: Việc lập người kế vị, từ xưa đến nay, Hoàng đế lên ngôi, việc đầu tiên là định người kế vị. Nhưng việc đó tiến hành công khai, dễ sinh ra lắm chuyện nọ kia, hoặc Thái tử ỷ lại kiêu căng, gây điều thất đức hoặc bọn tiểu nhân tâng bốc nịnh nọt, dụ dỗ làm bậy. Hãy xem việc Hoàng tổ Khang Hy lập người kế vị ngày ấy, khổ tâm biết chừng nào. Hoàng phụ Ung Chính định ra cách giữ kín tên người được kế vị, Trẫm đã suy nghĩ nhiều, nên dùng cách của Hoàng phụ, tự tay viết và cất kín. Chúc thư truyền ngôi đó được thái giám tổng quản trong cung dấu vào phía sau tấm hoành phi “Chính Đại Quang Minh”, trước mặt các vương công đại thần .
Lúc đó, Càn Long 26 tuổi, còn rất trẻ, đã lập người kế vị. Người được lập thái tử là hoàng tử thứ hai Vĩnh Liễn, con của Hoàng hậu Phú Sát Thị, lúc ấy mới 7 tuổi. Cũng lúc này con trưởng là Vĩnh Hoàng, cũng do Phú Sát Thị sinh ra đã 14 tuổi; hoàng tử thứ ba Vĩnh Chương, con cả thứ phi Tô Thi, mới 2 tuổi. Tên Vĩnh Liễn là do Ung Chính đặt, Vĩnh Liễn từ bé đã thông minh, phong thái hơn người, nhưng tháng 10 năm Càn Long thứ 3, bị bệnh qua đời. Càn Long đành rút chúc thư truyền ngôi dấu sau hoành phi “Chính Đại Quang Minh”. Sau đó, Càn Long định lập hoàng tử thứ bảy Vĩnh Tông con của Hoàng hậu Phú Sát Thị làm thái tử, nhưng chẳng may Vĩnh Tông chết yểu lúc hai tuổi.
Càn Long đau buồn muốn chết, năm thứ 13, Hoàng hậu Phú Sát Thị qua đời. Nguyện vọng lập con đích tông bị tiêu tan. Từ đó, suốt trong 20 năm không nói đến chuyện lập người kế vị. Không những thế, sau khi Hoàng hậu qua đời, Càn Long còn trách mắng đại a ca Vĩnh Hoàng lúc ấy 21 tuổi, vui mừng trước cái chết của Mẫu hậu, có dã tâm: “Đại a ca, tam a ca như thế là bất hiếu, Trẫm lấy tình cha con không thể để cho các người, tàn sát nhau. Sau khi Trẫm trăm tuổi, hai người không thể thừa kế ngôi vua! Đại ca ca, tam a ca, sau này bất mãn, gây ra cảnh anh em chém giết lẫn nhau, chi bằng hôm nay Trẫm giết chết các ngươi!”.
Càn Long cảnh cáo các đại thần Mãn - Hán: “Nếu có người xin lập thái tử, Trẫm sẽ trị tội ngay, quyết không tha!”.
Năm Càn Long thứ 38, lại lập người kế vị. Càn Long có cả thảy 17 người con trai, đã qua đời 10 người. Trong số 7 người con còn lại, hoàng thử thứ tư Vĩnh Thành làm cháu nuôi của Lũ thân vương Doãn Đào, hoàng tử thứ sáu Vĩnh Dung làm cháu nuôi của quận vương Doãn Hỷ, hoàng thử thứ mười hai Vĩnh Kỳ do phế hậu U-la- na-la sinh, vì là con của một phế hậu nên không có hy vọng kế vị .
Chỉ còn bốn người có hy vọng nối ngôi hoàng đế.
Hoàng tử thứ tám Vĩnh Toàn, học hành bình thường, ngang ngạnh cố chấp, không vừa lòng Càn Long.
Hoàng tử thứ mười một Vĩnh Tinh, keo kiệt. Vợ là con gái của Phó Hằng. Ông ta cất giữ toàn bộ của cải hồi môn của vợ, đến nỗi vợ phải ăn cháo cho qua ngày. Nhà có đến 80 vạn lạng bạc, nhưng không hề tiêu đến một xu, để con cháu ra ngoài trộm cắp, một hôm con ngựa của ông ta chết, ông ta ra lệnh nấu thịt ngựa thay cơm, cả nhà chẳng ai dám ăn đành nhịn đói.
Hoàng tử thứ mười bảy Vĩnh Can, thường xuyên đến chốn lầu xanh, sống kiểu dân thường. Càn Long rất ghét.
Hoàng tử thứ mười lăm, sinh đúng vào ngày 6 tháng 10 năm Càn Long thứ 25 tại vườn Viên Minh. Mẹ là Nguy Giai Thị, được phong làm quý phi lúc 24 tuổi.
Năm Càn Long thứ 38, Hoàng đế Càn Long viết di chúc lập người kế vị, cất sau bức hoành phi “Chính Đại Quang Minh”.
Vĩnh Diễm chẳng hề biết mình được phong làm thái tử.
Hoàng thất giáo dục hoàng tử hoàng tôn rất nghiêm, người ngoài khó tưởng tượng dược. Hoàng tử hoàng tôn khi đủ 6 tuổi đều phải đến thượng thư phòng học tập. Hoàng đế tự mình chọn các bậc hàn lâm đức tài toàn vẹn làm thầy dạy, dạy kinh sử, thi phú, và cử đại học sĩ, thượng thư phụ trách theo dõi giám sát đôn đốc. Và chọn một số đại thần và thị vệ người Mãn người Mông dạy chữ Mãn, dạy cưỡi ngựa bắn cung. Thượng thư phòng có hai nơi, một nơi ở trước điện Cần Chánh trong vườn Viên Minh, một nơi ở cạnh cung Càn Thanh, gần nơi làm việc hàng ngày của Hoàng đế, để lúc nào cũng có thể theo dõi giám sát.
Một hôm, ở trong thượng thư phòng, Vĩnh Diễm cảm thấy đầu óc choáng váng, ngẩng đầu không thấy các thầy ở đâu, bèn đứng dậy, mắt hoa, định thần lại, thấy dễ chịu nên bước ra khỏi phòng. Ngước mặt lên nhìn thấy những cây hòe trong vườn cành lá xanh mượt, bất giác kinh ngạc: Bây giờ mùa xuân hay là mùa hạ. Ta cứ tưởng vẫn còn là mùa đông cơ! Nên trách thời gian trôi quá nhanh, mình thì vùi đầu trong đống sách chẳng biết đất trời thay đổi. Vĩnh Diễm thong thả bước đi, nhìn thấy một cung nữ và một tiểu thái giám đang đá cầu, bỗng nhớ đến hai câu tả cảnh của Lưu Đồng: “Dương liễu chết, đá cầu chơi” . Thấy người cung nữ đá rất hay, quả cầu lúc thì bay trên đầu, lúc thì vòng qua vai, lúc thì hai chân bay lên bay xuống; quả cầu bay lượn trên đôi chân, một lát sau, tiểu thái giám đưa chân ra, quả cầu bay qua lượn lại giữa hai người, như cánh bướm bay lượn . Vĩnh Diễm thích quá, ba chân bốn cẳng chạy đến, giơ chân đá quả cầu nhưng không trúng quá cầu, lại đá trúng chân người cung nữ. Người cung nữ “ối” một tiếng, định mắng, nhưng nhìn thấy hoàng tử thứ mười lăm, vội vàng quỳ xuống:
- Tiện tỳ có lỗi xin hoàng tử thứ tội.
- Lỗi là do ta, đâu phải do ngươi? Đứng dậy, mấy người chúng ta hãy đá cầu chơi. Vĩnh Diễm cười, nói.
Người cung nữ có chết cũng không dám, Vĩnh Diễm bảo tiểu thái giám dạy, tiểu thái giám quỳ xuống, Vĩnh Diễm tự đá quả cầu mấy cái nhưng chẳng được, bèn nói:
- Hai ngươi dạy cho ta, nếu không, ta sẽ coi hai người như quả cầu.
Thấy cung nữ và thái giám vẫn quỳ, Vĩnh Diễm giả vờ nhấc chân lên đá hai người. Bỗng từ phía sau một tiếng quát to dội lại:
- Vĩnh Diễm không được vô lễ?
Tiếng quát đó không phải của phụ hoàng thì là của ai ? Vĩnh Diễm vội quỳ xuống. Càn Long nói:
- Con không muốn vươn lên ư? Ham đá cầu, đến nỗi đòi đá cả cung nữ và thái giám.
- Nhi thần có lỗi, xin phụ hoàng trị tội.
Càn Long bảo thái giám và cung nữ đứng dậy, từ phòng sách rút ra một thước gỗ, bực tức quất Vĩnh Diễm mười thước, rồi nói:
- Trẫm cho rằng ngươi không muốn tiến bộ, lệnh cho ngươi ăn mặc quần áo thường dân, ra khỏi cung, cấp cho ngươi hai thị vệ, đi tìm viên đá mộc ngư, nếu không tìm ra thì đừng về cung gặp Trẫm.
Vĩnh Diễm tuy không muốn đi nhưng nào dám cãi lại quỳ xuống tâu:
- Nhi thần tuân lệnh.
Vĩnh Diễm ra đi. Càn Long gọi hai thị vệ võ nghệ cao cường đến, bảo:
- Hai ngươi theo hoàng tử thứ mười lăm đi tìm viên đá mộc ngư, nếu hoàng tử bị tổn thương, hai ngươi hãy coi chừng mất đầu đấy.
Đá mộc hoa, tiếng Mãn là “an hoa a”, người Mãn - Mông cho rằng loại đá này biết hát, nếu bạn gõ nó, nó phát ra âm thanh cực kỳ hay. Tiếng hát của nó cho bạn trí tuệ, dũng khí và sức mạnh.
Mọi người trong hoàng cung cho rằng Vĩnh Diễm bị nhốt giam. Vĩnh Diễm cho rằng phụ hoàng trừng phạt mình. Thực ra, đó là một tính toán của Càn Long: ta đã bí mật lập Vĩnh Diễm làm người kế vị, học hành trong sách vở đương nhiên là quan trọng, nhưng am hiểu tình hình dân chúng là điều cơ bản trong việc trị nước đối với một hoàng đế, nhân việc này cho Vĩnh Diễm đi tìm hiểu tình hình dân chúng, nếm mùi gian khổ rèn luyện thêm.
Hoàng tử Vĩnh Diễm dẫn hai thị vệ bước ra khỏi Tử Cấm Thành, nhưng chưa ra khỏi kinh thành, đã bị ăn đòn.
Ba người ra khỏi Tây Trực Môn, thấy một đám người vây chặt một chiếc xe ở phía trước. Người phu xe hôn mê nằm dưới đất, mọi người đang xúm lại cứu chữa, bất ngờ một người từ trong chạy ra, mặt mày dữ tợn khoác trên người chiếc áo dài, bước đến, xua mọi người ra, vực người phu xe dậy, đặt lên xe, và nói:
- Đưa anh ta về nhà, chớ để chết ở đây, thật là xúi quẩy!
Vĩnh Diễm bước đến nói:
- Sao lại coi thường mạng người thế này!
Gã kia giơ tay định cho Vĩnh Diễm một chưởng. Hai thị vệ níu lấy gã kia, Vĩnh Diễm đã né khỏi. Hai thị vệ đâu chịu để yên. Vĩnh Diễm bảo hai thị vệ dừng tay và nói :
- Hãy tha cho hắn, sau này tính sổ chẳng muộn.
Nào ngờ gã kia cười như điên, nói:
- Tên nhóc kia, ngươi chẳng biết lượng sức.
Hai thị vệ định ra tay, Vĩnh Diễm ngăn lại và nói:
- Thôi đừng tranh cãi với hắn. Nói xong, Vĩnh Diễm bỏ đi .
Gã kia lại cười như điên. Thị vệ nói:
- Sao có thể tha thứ cho bọn người như vậy?
- Phụ hoàng bảo ta đi tìm đá mộc ngư, đó là việc chính, chưa ra khỏi thành đã xảy ra việc rồi.
Hai thị vệ nghe nói có lý cũng bỏ đi. Đi được một đoạn đường, lại có mấy người chạy theo nói:
- Ba vị hãy đi nhanh lên, kẻo không bị vạ lây đấy.
- Vì sao vậy? Vĩnh Diễm hỏi.
Một người nói:
- Chiếc xe ấy là của Hòa tướng phụ, đó là người nhà của tể phụ, anh không sợ tội ư?
Vĩnh Diễm càng có ấn tượng xấu với Hòa Thân.
Ra khỏi kinh thành, đi về hướng nam, đến địa phận Bảo Định, thấy một đám người đang chạy về phía trước, Vĩnh Diễm chạy theo, hỏi:
- Tại sao các người phải chạy thế này?
- Nếu anh muốn có cơm ăn, phải chạy nhanh lên, nha dịch của quan phủ sắp đến rồi đấy!
- Các người đi làm ăn, cớ sao phải sợ như vậy?
Người kia không đáp, vội vàng bỏ chạy. Một lát sau mấy nha dịch đi đến, chặn đường nhóm ba người của Vĩnh Diễm hạch sách.
- Đưa tiền ra.
- Sao lại đòi tiền chúng tôi? Vĩnh Diễm hỏi.
- Đừng có giả vờ. Một nha dịch vừa nói vừa giơ tay ra định đánh.
Hai thị vệ vội chặn lại. Tên nha dịch tức nói:
- Các ngươi làm phản ư? Đi kiếm ăn không nộp tiền ư?
Nghe thế Vĩnh Diễm bảo hai thị vệ thả hai tên nha dịch ra, và hỏi:
- Ta đi làm ăn, tại sao phải nộp tiền?
- Ngài tri phủ có lệnh, ai không ở nhà mà đi ra ngoài kiếm ăn thì phải thu tiền.
- Tri phủ của các ngươi là ai?
- Các ngươi là người từ nơi khác đến, chắc không biết ngài tri phủ của chúng ta là Lưu Bảo Kỷ, em của Hô Thập Đồ.
- Hô Thập Đồ là ai?
- Là nội giám và là nội quản gia của Hòa tướng phụ, các ngươi không chịu nộp tiền ư?
- Ta không phải là người đi làm ăn, cớ sao phải nộp tiền?
- Người ở đây hoặc ở đâu đến đều phải nộp tiền, vào ra châu này đều phải nộp tiền.
Hai thị vệ tức giận, Vĩnh Diễm ngăn họ, móc ra từ trong túi mấy đồng tiền, đưa cho hai tên nha dịch, bấy giờ chúng mới bỏ đi.
Vĩnh Diễm đi mãi vẫn chưa tìm thấy đá mộc ngư, chỉ thấy toàn cảnh lầm than khốn khổ, dân không thể sống được, quan lại như hổ sói, chỉ biết ức hiếp dân chúng, làm gì có quan yêu dân? Tìm xem nguồn gốc, tất cả đều do Hòa Thân. Vĩnh Diễm quyết chí, diệt trừ Hòa Thân.
Ba người đến Đại Đồng, vào núi, nghĩ rằng trên núi có đá mộc ngư, gõ hết viên đá này đến viên đá nọ, chẳng thấy viên đá nào cất tiếng hát.
Một hôm trèo lên dốc núi, thấy nhiều người đang nhặt khoáng thạch, hỏi ra mới biết là họ nhặt cho xưởng bạc và xưởng thiếc. Vĩnh Diễm xuống núi, đến Đại Đồng, nộp phí vào cổng thành, đến một tiệm cơm. Ăn xong, rút ra lạng bạc, tên tiểu nhị cắn thử, cả mừng nói:
- Bạc thật, đúng bạc thật ! Rồi mang đến đưa cho người thu tiền.
Người thu tiền nhìn qua nhìn lại, cắn qua cắn lại, mừng quá.
Vĩnh Diễm thấy lạ, bước đến hỏi:
- Ở đây lắm bạc giả ư?
- Sao ngài nói vậy. Ở đây đất trời rõ ràng, thế giới quang minh, làm gì có chuyện giả?
Vĩnh Diễm nghi hoặc, rõ ràng là nghe họ nói “Đúng là bạc thật” vậy chắc phải có nhiều bạc giả?
Vĩnh Diễm cảm thấy việc này khá kỳ quặc, nói với hai thị vệ:
- Tối nay chúng ta qua đêm tại đây.
Thế là, họ đến bên bàn thu tiền đưa bạc. Người thu tiền lại nhìn lại ngắm nghía và vui mừng hết cỡ.
Vĩnh Diễm bước lên gác, vừa đi qua hành lang, nhìn thấy một nhà buôn bước đến nói:
- Hình như ba bị là khách từ phương xa đến, tôi cũng vậy trông vị này còn trẻ tuổi, chưa tiếp xúc với bên ngoài lần nào, chưa biết được chuyện ở thế gian này.
- Sao ta lại không biết? Vĩnh Diễm hỏi lại.
- Cậu nói giọng kinh thành, lại dẫn theo hai tùy tùng cao to, chắc là nhân vật quan trọng đây, không phải là nhà buôn. Hiện nay khắp nơi trong toàn quốc, bọn chỉ điểm rất nhiều, chuyên theo dõi nghe ngóng lời nói và hành động bất mãn với triều đình, tiểu nhị và người thu tiền thấy các vị khách lạ nên không dám nói rõ.
- Nhìn cách nói và dáng vẻ của họ thì ở đây có nhiều bạc giả.
- Tôi thấy cậu ăn nói thật thà, không phải giả vờ, tôi mới dám nói câu này, cậu quả là một cậu bé ngây thơ, bạc giả trong thiên hạ rất nhiều. Ở đất Đại Đồng này, càng có nhiều bạc giả, rất khó thấy bạc thật. Đời này là vậy đó, người cắn chó, mọi người xem đó là bình thường, chó cắn người, họ coi như là chuyện lạ, chuyện cực kỳ lạ. Cậu vừa đưa bạc thật, đó là chuyện lạ, tên tiểu nhị và bác thu tiền cảm thấy kỳ lạ.
- Theo bác nói, bạc giả lưu hành khắp nơi ư?
- Chẳng riêng gì bạc, bây giờ trong thiên hạ nơi nào mà không có đồ giả?
- Quan phủ không trị ư?
Nhà buôn cười:
- Cậu vẫn chưa hiểu ý của câu “chó cắn người là chuyện lạ, người cắn chó là chuyện thường”. Nếu như, bây giờ thật sự có chuyện trị giả, thì đó là “Chó cắn người”, từ lâu không thấy chuyện lạ ấy xảy ra. Quan phủ sẽ dấu kín chuyện ấy, đảo hai chữ “giả đánh” thành “đánh giả”, nghe nhiều rồi quen dần.
- Nếu vậy, quan phủ có giả không?
- So với bạc, quan phủ càng giả hơn nhiều. Giả nhất là quan phủ.
Vĩnh Diễm nghe nhà buôn nói như vậy, cảm thấy ớn lạnh khắp người. Ngẫm nghĩ một lát rồi nói:
- Trong thiên hạ có rất nhiều người học vấn, lẽ nào họ không biết cách thay đổi thói đời này ư?
- Cậu nói đến họ, ta càng khinh họ, không bằng những bác nông dân còn biết phải trái, toàn là lừa gió bẻ măng. Có hai người chính trực đã bị Hòa Thân đe doạ !
- Hòa Thân làm thế nào dọa được họ?
- Cậu thật là quá khờ khạo, thiên hạ ai mà chẳng biết, Hòa Thân suốt ngày ngửi cái này, nghe cái nọ, chuyên moi móc những câu từ có ý khác, như nói câu này, từ nọ, bài thơ kia, khúc hát nọ có ý “phản nghịch”, vì vậy mà nhiều người có học bị giết hại hoặc bị đày, ai ai cũng như chim sợ cành cây cong, đánh rắm cũng chẳng dám! Nếu đánh bậy, biết đâu bị tóm cổ trị tội.
Nhà buôn này là người từng trải, Vĩnh Diễm đúng là ngớ ngẩn. Nhà buôn này đã lên bắc xuống nam, từng giao tiếp với nhiều người, biết Vĩnh Diễm không phải giả vờ, nên càng bốc lên nói nhiều hơn. Gia Khánh lên ngôi, đã làm được hai việc tốt mà ai cũng biết, đó là trừ khử Hòa Thân và xóa bỏ án văn tự.
Vĩnh Diễm cùng hai thị vệ men theo con đường vào núi Thái Hành Sơn tìm đá mộc ngư, vượt Thái Hành Sơn, từ Sơn Tây đến Thiểm - Cam, rồi qua Mông Cổ. Chẳng biết vì sao Càn Long biết Vĩnh Diễm đã đến đấy, bèn ra lệnh quay xuống phía nam, đến An Huy, Trường Giang, Hồ Bắc, Giang Tây, Triết Giang. Tại Triết Giang, bị quan phủ bắt nhốt, vì hay can thiệp vào chuyện bất bình, may được hai thị vệ cứu thoát. Khi xuống Hạ Giang lại bị bắt giam lần nữa, may có tín vật thị vệ ngự tiền mang theo nên được thả. Đến Hạ Đông (Giang Tô), Sơn Đông, đến miếu Khổng Tử, rồi từ Khúc Phụ lên núi Thái Sơn. Càn Long lại có lệnh hỏi tìm được đá mộc ngư chưa. Vĩnh Diễm tâu: “Tìm khắp chốn khắp nơi, chẳng thấy đâu có đá biết hát ca. Chỉ thấy toàn tham quan ô lại nhiều như sỏi đá”. Càn Long chỉ dụ triệu về.
Hai thị vệ được thăng chức. Càn Long thấy Vĩnh Diễm thân hình rắn chắc, đôi mắt có thần, giọng nói cương nghị, cảm thấy rất vui. Vĩnh Diễm tâu:
- Nhi thần không dám gặp lại phụ hoàng. Nhi thần không tìm được đá mộc ngư.
- Ngươi đã tìm được rồi. Trẫm đã thấy rồi.
Vĩnh Diễm càng không hiểu, nên tâu tiếp:
- Trong tay nhi thần chỉ có bản tấu tố cáo các quan lại không dám dấu phụ hoàng.
- Có chứng cứ xác thực không?
- Tố cáo ai nhi thần đều có chứng cứ đầy đủ, đang cất giữ trong bọc hành lý.
- Đệ trình xem.
Càn Long đọc xem mấy trang, rất đỗi vui mừng, qua từng câu chữ, thấy được Vĩnh Diễm làm việc chắc chắn, cẩn thận, tỉ mỉ, nhìn sự vụ thấy được đúng sai, nắm được thực chất. Thế là mấy chục tên quan lại bị cách chức.
Vĩnh Diễm nối ngôi là điều chắc chắn, Càn Long bèn chọn Chu Khuê làm thầy dạy Vĩnh Diễm.
Hòa Thân từ khi gặp Vĩnh Diễm, vui mừng phấn khởi, hồ hởi khoái chí, ngẫm nghĩ đến câu nói của người xưa: “Lợn dê đến nhà đồ tể, chẳng qua là đi tìm cái chết mà thôi”.
Ngày 3 tháng 9 năm Càn Long thứ 60, một ngày tuyệt đẹp trời quang mây tạnh, tại điện Cần Chính trong vườn Minh Viên đã có mặt các hoàng tử hoàng tôn, các vương công đại thần. Hoàng thượng, trước mặt mọi người, đã mở di chúc truyền ngôi được dấu kín từ lâu do Càn Long tự viết ba mươi tám năm về trước. Di chúc viết: “Lập hoàng tử thứ 15 Vĩnh Diễm làm Hoàng Thái tử”. Càn Long chỉ dụ:
“Trẫm nối nghiệp lớn, lúc mới lên ngôi có đốt hương cầu khấn trời đất phù hộ Trẫm trị vì được 60 năm, đến lúc ấy Trẫm sẽ nhường ngôi cho con, nay thời hạn đã đến, xin báo cùng trời đất, tổ tông thoái vị nhường ngôi, không dám sai lời thề ước... Trẫm tuổi đã 85, tinh thần vẫn minh mẫn, sức khỏe vẫn tráng kiện, thần dân thiên hạ, cho đến các vương công Mông Cổ và các nước xung quanh không muốn Trẫm nhường ngôi, nhưng Trẫm đã quyết định, ngày 3 tháng 9 là ngày tốt, triệu tập các hoàng tử hoàng tôn, vương công đại thần công bố tên thái tử. Lập hoàng tử mười lăm Gia thân vương Vĩnh Diễm làm Hoàng Thái tử, sang năm là năm Bính Thìn, lấy năm đó làm năm Gia Khánh thứ nhất của Hoàng đế mới... Sau khi nhường ngôi Trẫm còn phải hướng dẫn Hoàng đế mới những việc quốc gia đại sự và chọn lựa người cai trị đất nước. Hoàng đế mới phải thường xuyên hỏi ý kiến Trẫm để tránh sai lầm, đất nước thiên hạ được nhờ”.
Vĩnh Diễm nghe thánh dụ, vừa vui mừng khôn xiết vừa lo lắng: “Trẫm còn phải hướng dẫn Hoàng đế mới những việc quốc gia đại sự và chọn lựa người cai trị đất nước”. Đây thực ra chẳng trao cho mình một chút thực quyền nào, mình chỉ là “Hoàng đế con”, từ nay về sau phải cẩn thận hơn trong cách đối nhân xử thế, nếu không sẽ dễ bị người khác bịa chuyện nói xấu.
Hòa Thân nghe chỉ dụ trên lại sung sướng khó tả, Hoàng thượng gọi là “Thái Thượng hoàng”, nhưng vẫn nắm quyền, mọi việc quân - chính - nhân sự đều do Càn Long quyết định, ta còn lo gì?
Sau khi đọc chỉ dụ nhường ngôi, Càn Long tự tán dương công đức, nào bình định được thiên hạ bốn phương, nào trị vì đất nước được thái bình thịnh trị, là một vị Hoàng đế toàn tài xưa nay hiếm có, kể từ thời Tam Đại, ngoài vua Nghiêu vua Thuấn.
Các đại thần xin Càn Long tiếp tục tại vị, nói rằng, Hoàng đế Khang Hy còn có thể hoãn việc nhường ngôi. Càn Long từ chối. Nhưng đó chỉ là bề ngoài thôi. Các đại thần lại chúc mừng Vĩnh Diễm.
Hôm sau, sau một đêm suy nghĩ, Vĩnh Diễm quỳ trước Càn Long tâu:
“Nhờ ân mưa móc, nhi thần được lập làm Thái tử. Với tài đức của nhi thần, nhi thần thấy không dễ, nhất định nghe theo sự dẫn dắt của phụ hoàng, vâng theo chỉ dụ của phụ hoàng; nửa năm thử thách, nhi thần e rằng thời gian quá gấp, tâu xin phụ hoàng hãy thay đổi ý kiến, tiếp tục trị vì đất nước, nhi thần xin được ở trong cung sớm tối hầu hạ phụ hoàng, mong được phụ hoàng dẫn dắt, nhi thần hứa hết lòng hết sức”.
Sau đó, Hòa Thạc lễ thân vương Vĩnh Ân, do Hòa Thân xúi dục, đã dẫn các vương công đại thần và cả vương công Mông Cổ cùng nhau tâu xin Càn Long nên thuận theo ý mọi người, tiếp tục ở lại ngôi Hoàng đế. Ý đồ của Hòa Thân là dù không đạt mục đích, cũng để Vĩnh Diễm thấy các vương công đại thần còn luyến tiếc Càn Long, nhằm thị uy, gây sức ép đối với Vĩnh Diễm, nếu mình không cẩn thận, nhẹ thì bị bỏ rơi, nặng thì bị tù thậm chí bị giết. Hòa Thân cảm thấy cách tấu xin do mình sắp đặt bí mật đó là rất chính xác.
Càn Long dụ rằng: “Nếu vì sự luyến tiếc của mọi người, té ra Trẫm không thành tâm với lời cầu khấn trước đây, các khanh không cần tâu đi tâu lại nữa”.
Dẫu sao, Hòa Thân và một số người cũng đạt được một mục đích, là dù Càn Long kiên quyết nhường ngôi nhưng mọi việc quốc gia đại sự đều do ông giải quyết.
Càn Long lại lệnh từ năm Càn Long thứ 59 đến năm Gia Khánh thứ 2, tổ chức thi hương, thi hội trong 3 năm liền, gọi là khoa thi ra ân nhân dịp chuyển giao ngôi Hoàng đế.
Quan chủ khảo kỳ thi hội là Đậu Quang Nại chứ không phải là Hòa Thân. Mấy ngàn cậu khóa khắp mọi nơi có mặt tại kinh thành.
Cuộc thi chung khảo ở kinh thành - thi hương ở phủ Thuận thiên, thi hội ở trung ương. Con em của các vị quan lớn Mãn - Hán phần lớn có thể đoán trúng quan chủ khảo là ai, do vậy chạy chọt móc ngoặc với người đó. Có người nhờ cha, có người chạy cổng sau, bất chấp tất cả tìm mọi cách đến gặp quan chủ khảo. Quan chủ khảo thi hội còn gọi là tổng tài, phần lớn là do đại thần các Bộ đảm nhận, không phải đại thần Nội các hoặc thành viên các Bộ. Do vậy Hòa Thân vẫn nhận lễ vật của các cậu khóa như trước đây, bởi vì các Bộ, ngoài cụ A Quế và Lưu Dung ra, những người khác đều vâng theo lời mình. A Quế thì lú lẫn bất lực, Lưu Dung đang bị người ta chán ghét, nhất là mấy ngày gần đây lại bị Hoàng thượng phê phán, cho nên Hòa Thân cho rằng, Tổng tài kỳ thi hội lần này nếu không phải Hòa Thân thì cũng là người tâm phúc của mình. Nếu không phải do Các Bộ chọn, thì Lục Bộ chọn, đều là bầu trời của ta. Thế là Hòa Thân cứ lặng lẽ thu nhận lễ vật của các sĩ tử, ai bao nhiêu đều ghi rõ, nếu là con em các đại thần trong triều thi tự mình gặp các “cậu ấm”, nếu không phải con em của vương công đại thần thì để cho Hô Thập Đồ tiếp. Dù thế nào, các sĩ tử cũng phải xử sự khéo léo, lễ vật nhiều hay ít, miễn là có, và đương nhiên phải nói đôi câu lấy lòng. Bởi vì tiền đồ của các sĩ tử là rộng lớn, thi đậu sẽ là ông quan của đất nước. Bồi dưỡng các sĩ tử thành người thân tín của mình, biết đâu trở thành cánh tay đắc lực, chẳng phải mấy tay tuần phủ hiện nay, và anh em Ngô Tỉnh Lan là như vậy sao?
Các sĩ tử và Hòa Thân đều nghĩ giống nhau, Hoàng thượng chọn ai làm tổng tài, cũng không qua được Hòa Thân, do vậy trước khi thi họ thông đồng móc ngoặc với Hòa Thân, tạo quan hệ tốt, gửi tặng lễ vật, an tâm hơn nhiều. Còn những cậu khóa nghèo, chẳng có tiền mua lễ vật biếu xén, thì không dám đi thi, lý đã rõ ràng.
Thế nhưng, mọi người đều nhầm, tên quan chủ khảo được công bố là Đậu Quang Nại, Hòa Thân mặt thừ ra.
Càn Long không thể không để cho Vĩnh Diễm chọn quan chủ khảo kỳ thì hội lần này, mặc dù Vĩnh Diễm cố từ chối. Càn Long không đồng ý nói:
- Lần thi hội này là khoa thi ra ân nhân dịp con lên ngôi, phụ hoàng muốn xem con làm việc như thế nào.
Vĩnh Diễm đành tâu:
- Xin chọn Tả đô ngư sử Đậu Quang Nại. Và hỏi Đậu Quang Nại về chọn phó chủ khảo, Đậu Quang Nại tiến cử, một vị là hàn lâm và một vị là tổng tài Trường Hàm An Cung Quan Học. Tên tuổi của hai vị này ít được mọi người biết đến, không biết Vĩnh Diễm có biết không.
Càn Long thầm nghĩ, Vĩnh Diễm quả không quen biết các nguyên lão quyền thần trong triều, chọn Đậu Quang Nại chẳng qua là trong thời gian đi tìm đá mộc ngư nhìn thấy cảnh quan lại thối nát, còn Đậu Quang Nại cho làm Tả đô ngự sử giám sát các quan, Vĩnh Diễm đã nhìn đúng điểm này, lấy đất nước làm trọng, muốn nhân kỳ thi này chỉnh đốn lại quan lại, tuy suy nghĩ đó không khỏi còn ấu trĩ, nhưng như vậy là tốt, không một chút thiên lệch. Hai phó chủ khảo cũng là bậc tài ba có tiếng, bình thường Trẫm cũng cất nhắc họ, ban thưởng họ, để họ làm thầy dạy trong Thượng thư phòng. Tổng tài Hàm An Cung Quan Học là Hồng Lượng Cát, tuy có lúc thối nát nhưng rất tài ba, văn nhân cả kinh thành đến khắp nơi đều biết tiếng ông ta. Khi Càn Long nghe Vĩnh Diễm chọn mấy người đó có vẻ ngạc nhiên, nhưng nghĩ kỹ lại thấy có tình có lý, hợp với ý mình, nên đồng ý với đề nghị của Vĩnh Diễm.
Như vậy là rất khó cho Hòa Thân, nhận quá nhiều quà cáp, có người biếu xén rất chi nhiều và đã hứa với người ta, nếu nay không được việc, nói sao đây với họ. Một cảm giác quyền uy đã mất hiện lên, đặc biệt là ngay sau khi Hoàng thượng tuyên bố nhường ngôi. Không thể để cho cảm giác này kéo dài, phải cho thiên hạ biết, ta, Hòa Thân trước đây, hiện nay và cả sau này vẫn là người có quyền bậc nhất.
Nhưng phải xử lý việc này như thế nào đây? Đi gặp Đậu Quang Nại, không được, con người đó với ta vốn đã bất hòa, năm ấy khi xử lý vụ án Phú Lặc Hãn ở Triết Giang, ta khéo léo khiến hắn tố cáo A Quế, nhưng hắn vẫn bảo vệ A Quế, xuyên tạc sự thật, thậm chí chống lại ta, mấy năm qua định cho hắn biết tay, nhưng khổ nỗi Hoàng thượng say mê cái chất thật của hắn. Hòa Thân lại nghĩ đến vị hàn lâm, càng không được, con người đó chỉ là tên hèn nhát, Đậu Quang Nại đánh rắm thối inh hắn cũng cho là thơm phức, ta có nói với hắn, trước mặt ta hắn vâng vâng dạ dạ, nhưng khi chấm thi, đố hắn dám trái ý Đậu Quang Nại.
Cuối cùng, Hòa Thân nghĩ đến Hồng Lượng Cát, thấy người này có thể được. Hòa Thân bắt đầu điều tra tìm hiểu Hồng Lượng Cát.
Hồng Lượng Cát, tên cúng cơm là Liên, sau đổi là Lê Cát, tự là Quân Trực, hiệu là Bắc Giang, sinh trong một gia đình sĩ đại phu ở Hưng Long Lý, đông nam Hà Kiều, Trường Châu, Giang Tô, cụ tổ từng làm Thượng thư bộ Công triều Minh, tổ phụ là Hồng Cảnh, đậu cống sinh năm Khang Hy thứ 37, cha là Hồng Kiều, thi cử nhân mấy lần không đậu, nhà cửa sa sút, lúc ông qua đời, Hồng Lượng Cát mới 5 tuổi, cậu em mới 2 tuổi.
Điều tra đến cậu em của Hồng Lượng Cát, Hòa Thân mừng như điên, vì cậu em đang làm chức phó trinh ở Sùng Văn Môn. Hòa Thân tiếp tục điều tra, chẳng thấy có vấn đề gì đối với Hồng Lượng Cát. Bỗng nhiên Hòa Thân như nuốt phải con nhặng. Hồng Lượng Cát, lúc đầu giúp việc cho người ta, rồi trở thành bộ hạ của Chu Quán, sau đó phục vụ dưới trướng của Vương Kiệt! Năm Càn Long thứ 55 đậu bảng nhãn khâm binh, năm đó Hòa Thân bận lo việc chuẩn bị lễ mừng thọ Càn Long 80 tuổi nên không làm quan chủ khảo khoa thi hội. Viên quan chủ khảo lần này là học sĩ nội các Trâu Dịch Hiếu. Hồng Lượng Cát là môn sinh của ông ta, thì có gì là lạ?
Không biết từ đâu, Hòa Thân có được tập thơ của Hồng Lượng Cát (có lẽ từ cậu em của Hồng Lượng Cát). Hòa Thân vừa đọc vừa tức khi đọc bài thơ sau đây viết trên đường đi từ Quí Châu đến Bắc Kinh:
“Dương liễu ngàn cành tươi,
Phù dung lầu trăm thước.
Than ôi binh lửa qua,
Chỉ còn đàn cú gọi”.
“Lục Châu gồm mười huyện,
Cá chim chạy tán loạn.
Tiếc thay động Đào Nguyên,
Không chỗ chứa thêm người”.
Đúng là Hồng Lượng Cát tả cảnh quan quân đi dẹp giặc Mẹo đã khiến chim phải sầu cá phải lặn.
“Diều quạ đâu có tha,
Cứ nuốt cho thật no.
Đầu người lẫn chân tay,
Chui tuột vào bụng cá.
Chẳng trách thuyền dùng lại,
Bãi hoang lũ quỷ cười”.
Thế là đủ rồi, chẳng cần xem tiếp. Có lẽ cụ Càn Long hiểu rõ tình hình người Mẹo đúng như Hồng Lượng Cát miêu tả. Nhưng khi xem một bài thơ phía dưới Hòa Thân tức quá vứt tập thơ xuống đất, dẫm lên, rồi khạc ra mấy bãi nước bọt. Bài thơ như sau:
“Sớm nghe chỉ dụ nhường ngôi,
Bính Thìn năm tới khắp nơi reo mừng.
Thu về gặt hái tưng bừng,
Tin vui dồn dập mọi người hân hoan”.
Cóc cần xem nữa, cóc cần xem nữa! Đột nhiên Hòa Thân lại vội nhặt tập thơ lên, xem kỹ, đã mấy năm rồi ông không làm như vậy, hôm nay ông phải đưa ra một vụ án văn tự, biết đâu có thể trừ khử được quan chủ khảo Đậu Quang Nại vì sự liên đới. Quả nhiên Hòa Thân tìm ra được mấy bài, đánh dấu bằng mực đỏ. Tại buổi triều ngày hôm sau, Hòa Thân mang tập thơ của Hồng Lượng Cát tâu lên Càn Long:
- Nô tài thấy có một tập thơ, trong đó nói xấu quan lại chúng ta, ẩn ý đả kích Đại Thanh chúng ta, xin dâng Hoàng thượng ngự lãm.
Càn Long đón nhận, nhưng đọc không rõ bèn nói:
- Để các đại thần đọc xem.
Hòa Thân không nói gì thêm, biết Hoàng thượng nhìn không rõ, nếu nài nỉ, Hoàng thượng lại bực mình.
Tan triều, một số đại thần rút lui, chỉ còn lại Vĩnh Diễm, Lưu Dung và Vương Kiệt. Càn Long nói:
- Hòa Thân, khanh đọc xem, bài thơ nào có ý phản nghịch.
Hòa Thân vừa đọc vừa giải thích:
“Dẫu Lục Vương nghèo xác nghèo xơ,
Vẫn trai xây lũy gái vào cung.
Trường thành nam bắc dài vạn dặm, .
Đường xa vời vợi quán lều không.
Ngõ ngách trong cung với Trường thành,
Trong ngoài đầy dẫy tiếng oán than.
vào cung nào thấy mặt quân vương,
Ba sáu năm qua mơ chẳng thấy…”
Càn Long ngắt lời hỏi:
- Bài thơ đó không phải nói Tần Thủy Hoàng ư? Sao khanh lại mang đến cho Trẫm?
Với giọng căm tức, Hòa Thân vội tâu.
- Đoạn dưới có bài “Tư thùy giám”, “Thiên thu thùy”, không phải là ám chỉ Đại Thanh ta ư?
- Chớ nói bừa. Không được nhiều lời nữa. Càn Long gắt.
Hòa Thân định giới thiệu mấy bài, nào ngờ bài đầu tiên đã làm Càn Long mất hứng. Hòa Thân nghĩ rằng.
- Ta vội quá hóa hồ đồ, làm sao đây nếu để Hoàng thượng mất hứng?
Nào ngờ ngay lúc đó, Vương Kiệt giơ tay giựt lấy tập thơ, nhìn qua biết đây là của Hồng Lượng Cát, nên rõ được phần nào. Ông rất thuộc thơ của Hồng Lượng Cát, tìm ngay một bài thơ, tâu lên Càn Long:
- Hoàng thượng, thần xin đọc một bài để Hoàng thượng nghe, xem Hồng Lượng Cát có “ẩn ý” như thế nào đối với triều đình ta. Đây là bài “Vạn thọ lạc ca” gồm 36 chương.
“Hoàng thượng lên ngôi đã được 55 năm, nhân như trời, đức như đất, văn võ kiêm toàn, mưu lược như thần thánh, công lao to lớn khó mà kể hết. Nay nhân lễ thọ bát tuần, có bài “Vạn thọ lạc ca” kể lại công ơn Hoàng thượng, để lưu truyền hậu thế”.
Đọc đến đây, Càn Long rất đỗi vui mừng, mắt sáng lên, xem tiếp đoạn dưới, ca ngợi công lao cai trị của mình: “Đêm chưa tàn, đèn vẫn sáng trong cung Càn Thanh. Trời chưa sáng đã nghe bước chân đi trước điện Cần Chánh...” Xem xong Càn Long hỏi:
- Hòa Thân, khanh vì ích kỷ muốn hãm hại người khác, vậy phải tội gì?
Hòa Thân quỳ tâu:
- Nô tài đáng chết, nô tài chỉ biết trung thành với Hoàng thượng, nô tài thấy trong tập thơ có chỗ miệt thị quan quân đi dẹp giặc Mẹo, nên tâu lên Hoàng thượng, chứ không có lòng dạ nào khác, đến bây giờ, nô tài vẫn không hề quen biết Hồng Lượng Cát.
- Trẫm biết lòng trung của khanh đối với Trẫm, nhưng từ nay về sau không nên làm như thế nữa. Nhi thần cũng phải nhớ đấy, trước kia Trẫm cấm đoán một số thư tịch sách vở, giờ nghĩ hối hận. Đối với văn nhân nên nâng đỡ dìu dắt họ.
Vĩnh Diễm tâu:
- Nhi thần xin ghi nhớ lời dạy của phụ hoàng. Rồi nghĩ thầm: tên Hòa Thân này thật đáng ghét. Phụ hoàng đã nói, chẳng phải hắn rõ ràng hãm hại người khác ư? Sao lại tha cho hắn? Huống hồ Hồng Lượng Cát do ta đề nghị, nay hại Hồng Lượng Cát, hóa ra trách ta thiếu suy nghĩ, không biết dùng người?
Con người đâu phải lúc nào cũng sáng suất. Hòa Thân, sau 45 tuổi, quỷ thần xui khiến, toàn làm những việc ngu xuẩn, như tặng Vĩnh Diễm ngọc như ý, vu khống hãm hại Hồng Lượng Cát, v.v... hết việc này đến việc khác, đầu óc thông minh trước kia nay bỗng lú lẫn.
Hôm sau, Hòa Thân lại gọi Hồng Lượng Cát đến hỏi:
- Em ngài làm việc ở Sùng An Môn, trước nay ta đối xử không tệ bạc, cả nhà ta cũng đãi ngộ rất hậu em ngài. Ta đang định đề bạt em ngài, ...
Không đợi Hòa Thân nói hết, Hồng Lượng Cát lên tiếng :
- Tướng phụ đề bạt, phải chăng là nịnh em tôi để lấy được tập thơ của tôi? Hay là muốn tôi phải cúi đầu quỳ gối? Nói xong quay người bỏ đi.
Quả nhiên, đúng như Hòa Thân dự đoán, tất cả các quyển thi đều do Đậu Quang Nại đánh số.
Lúc yết bảng, có người sốt ruột đi xem, có người muốn xem nhưng không dám xem. Hòa Thân ngồi nhà, cũng sốt ruột, lo sợ nếu có con em của vương công đại thần nào đó không đậu, thì chẳng lẽ mình không gặp phiền toái ư? Đang suy nghĩ, Hô Thập Đồ đến báo:
- Có mấy sĩ tử muốn gặp, nói có việc cần gặp tướng phụ.
- Cho họ vào. Hòa Thân gượng nói.
Mấy sĩ tử bước vào khấu đầu nói:
- Tướng phụ, kỳ thi này chắc chắn có chuyện gian lận.
- Không được nói bậy. Hòa Thân nói.
- Đậu Quang Nại đã lấy hai người tỉnh Triết Giang đỗ đầu cử nhân, hai người đó là hai anh em ruột, rõ ràng là có chuyện gian lận. Một thí sinh nói.
- Có việc ấy ư? Hòa Thân nhảy cẫng lên.
- Đúng là vậy? Mấy sĩ tử đồng thanh đáp.
- Mau, chuẩn bị kiệu. Hòa Thân thét.
Hòa Thân đến trước bảng yết xem, thấy tên người thứ nhất là Vương Dĩ Ngô, tên người thứ hai là Vương Dĩ Hàm. Hòa Thân nghĩ bụng: “Thế thì càng tốt”. Rồi đi thẳng đến hoàng cung, nghiến răng nghiến lợi, bực tức: “Phải hạch tội Đậu Quang Nại và Hồng Lượng Cát”.
Hòa Thân tâu:
- Hoàng thượng, Đậu Quang Nại trước đây làm quan ở Triết Giang, chắc là nhận hối lộ của người Triết Giang, nếu không thì sao lại có chuyện hai anh em đều đỗ đầu bảng, người thứ nhất, người thứ nhì.
Nói đến nỗi Càn Long sinh nghi hỏi:
- Đây là kỳ thi ra ân nhân dịp nhường ngôi, Đậu Quang Nại lại do hoàng nhi đề cử, hoàng nhi thấy việc ấy thế nào?
- Hòa tướng phụ nói đúng, hai anh em ruột cùng đỗ đầu khoa, dường như có sự gian lận, chờ phúc khảo sẽ biết được thật giả. Vĩnh Diễm tâu.
- Vậy ai làm quan chủ khoa đợt phúc thảo? Càn Long hỏi.
- Xin phụ hoàng chọn.
Càn Long chọn Kỷ Vân làm quan chủ khảo, và chọn thêm đại thần Các Bộ và đại thần Lục Bộ cùng với Kỷ Vân chấm quyển thi.
Hôm phúc khảo, Hòa Thân điều lính tráng đến, vòng trong vòng ngoài kiểm tra nghiêm ngặt, vừa là giám sát trường thi, vừa là theo dõi các quan chấm thi, nhưng chẳng tìm thấy chuyện gian lận. Khi phúc khảo, Hòa Thân phê phán quyển thi trúng khảo của Vương Dĩ Ngô có nhiều vết bẩn, định phạt không cho thi.
Phúc khảo xong, các quan chấm thi đệ trình lên Càn Long mười quyển thi, tên ghi theo thứ tự. Càn Long mở ra xem, nhìn thấy tên người thứ nhất là Vương Dĩ Hàm. Càn Long thấy lạ hỏi:
- Lẽ nào không có chuyện gian lận ư? Và hỏi Hòa Thân:- Ai chấm đậu người thứ nhất này?
- Kỷ Vân. Hòa Thân đáp.
- Khanh có đọc quyển đó không?
- Hòa đại nhân duyệt quyển thi từ đầu đến cuối. Lúc chấm cuốn ấy là số một, các đại thần chẳng có ý kiến gì, Hòa đại nhân cũng gật đầu đồng ý. Kỷ Vân tâu.
- Đúng thế không? Càn Long hỏi.
- Lần chấm thi này chúng thần đều công tâm, không hề có chút sai trái, nếu có gì không thỏa đáng, xin chịu tội. Các đại thần đều lên tiếng.
- Nếu vậy, hai anh em họ thi đậu đứng đầu bảng, có thể là ngẫu nhiên, do số mệnh, không ai ngờ được. Hà tất phải tội lỗi? Trẫm muốn tự mình kiểm tra hai anh em họ. Truyền họ lên điện.
Hai anh em họ Vương bước tới điện, làm lễ ba lạy chín bái, rồi ngẩng đầu lên. Các quan văn võ và Càn Long đều nhìn thấy người trẻ hơn chỉ có một mắt, nhưng không e ngại, vì đã có Lưu Dung lưng gù làm đại học sĩ, người này tuy một mắt nhưng trông vẻ đầy khí phách không chút rụt rè tự ti. Hòa Thân nói: Ta có ít câu đối ngươi hãy đối xem:
“Một mắt không được lên bảng vàng”
Không ngờ Vương Dĩ Hàm đối ngay.
“Khuyết trăng vẫn chiếu sáng đất trời”
Càn Long nói: “Trẫm cũng có một câu đối, ngươi hãy đối xem”.
“Đông hừng sáng, tây đêm dài, nam tào bắc đẩu, Trẫm người hái sao”.
Vương Dĩ Hàm đối ngay:
“Xuân mẫu đơn, hạ thược dược, thu cúc đông mai, thần kẻ thăm hoa”.
Càn Long khen: “Đúng là một kẻ thăm hoa”. Nhưng Hòa Thân lại gây khó dễ. Lần thi thứ nhất, Vương Dĩ Hàm đứng thứ hai, là thám hoa, như vậy lần này có phần oan cho người anh. Càn Long biết việc ấy, bèn nói: “Trẫm ra một câu đối, Vương Dĩ Ngô hãy đối xem:
“Tứ khẩu tâm tư, tư phụ tư mẫu tư thê tử”.
(Bốn chữ “khẩu” hợp với chữ “tâm” thành chữ “tư” (nhớ). Bốn người đều cùng tâm tư, nhớ cha nhớ mẹ nhớ vợ con - ND).
Câu đối thật tuyệt diệu. Lúc này đã gần Tết, các quan chuẩn bị nghỉ về nhà, các sĩ tử đến kinh dự thi, xa nhà đã lâu, nhớ quê nhớ nhà. Câu đối đó các quan văn võ trong triều đều thấy khó đối. Vương Dĩ Ngô suy nghĩ một lát đọc ra câu đối thật hay thật tài dưới đây khiến Càn Long phải thán phục.
“Thốn thân ngôn tạ, tạ thiên tạ địa tạ quân vương” (ba chữ “thốn”, “thân”, “ngôn” hợp lại thành chữ “tạ” (cám ơn). Câu này có nghĩa là, thân này xin nói tạ ơn, tạ trời, tạ đất, tạ quân vương - ND) .
Càn Long cho hai anh em đậu trạng nguyên và thám hoa. Ngày công bố kết quả, dư luận đều nhất trí, mấy ngàn sĩ tử đều thán phục. Riêng Hoà Thân như bị một cái tát vào mặt.
Trong lúc cuộc phúc khảo đang tiến hành, bộ Lễ bận rộn chuẩn bị lễ nhường ngôi. Triều Thanh muốn sáng tạo ra một quy chế nhường ngôi. Bộ Lễ phải tham khảo những quy chế trước kia, định lại cho phù hợp, sao cho vừa ý Càn Long, mãi đến ngày cuối năm mới định xong các quy chế nghi lễ cho ngày lễ lớn này, và tâu lên Càn Long duyệt. Càn Long phê chuẩn.
Ngày 1 tháng giêng năm Gia Khánh thứ nhất, ngay từ lúc gà mới cất tiếng gáy, màn đêm còn bao trùm cả kinh thành Bắc Kinh, tại Thái Bình Môn và điện Thái Hoà, đèn đuốc rực sáng, cờ hoa phất phới. Điện Thái Hoà nguy nga trang nghiêm hơn trước nhiều. Phía trước ngai vua đặt chính giữa điện Thái Hoà là nơi làm lễ của Hoàng đế, phía đông là một cái bàn trên đặt “Chiếu truyền ngôi”, phía tây là một cái bàn trên đặt tờ biểu chúc mừng. Hai bên ngai vua là hai chiếc lư hương, trên đỉnh chiếc lư hương bên trái là chiến ấn vua, trên đỉnh chiếc lư hương bên phải là tờ chiếu truyền ngôi.
Hai bên hành lang phía ngoài điện Thái Hoà là đội nhạc.
Mặt trời vừa mọc lên, trước điện Thái Hoà, các vương công đại thần, bá quan văn võ đã sắp hàng chỉnh tề, tiếp theo là sứ thần các nước.
Bỗng, Đại học sĩ Lưu Dung, chủ trì buổi lễ được báo: Tổng quản thái giám vào cung lấy ấn hoàng đế nhưng không tìm thấy. Lưu Dung bảo: “ Tìm lại!” Lưu Dung như chạm phải lửa. Buổi lễ đã sẵn sàng mà vẫn chưa chịu giao ấn hoàng đế, xưa nay chưa hề có vị hoàng đế nào không có “ bảo ấn”. Một lát sau thái giám lại báo, cụ Càn Long không giao !
Lưu Dung tuyên bố. “Buổi lễ tạm đình!” và đến cung Càn Thanh ngay. Lúc này Càn Long đang bâng khuâng áy náy, không an tâm, tay nắm chặt túi gấm đựng bảo ấn, như sợ người ta cướp mất. Hoà Thân đứng bên cạnh, tâm thần hốt hoảng, nhìn thấy Lưu Dung liền trách:
- Ngài không chủ trì buổi lễ, đến đây làm gì?
Lưu Dung quỳ trước Càn Long tâu:
- Thần Lưu Dung liều chết khẩn cầu Hoàng thượng trao bảo ấn cho thái tử. Nếu truyền ngôi mà không giao ấn, thiên hạ sẽ nghĩ gì về Hoàng thượng? Lẽ nào Hoàng thượng luyến tiếc ngôi hoàng đế?
- Nói bậy! Càn Long nói.
- Thần cho rằng Hoàng thượng không chút luyến tiếc ngôi hoàng đế. Trước đây các vương công đại thần, bối lặc Mông Cổ cùng nhau tấu xin Hoàng thượng tạm hoãn việc nhường ngôi, Hoàng thượng cương quyết không phản bội lời cầu khấn trời đất trước đây. Quyết tâm nhường ngôi đã kiên định như vậy, thần thật không hiểu vì sao Hoàng thượng không giao bảo ấn.
Hoà Thân nói:
- Hoàng thượng lo cho thái tử. Gia Khánh lên ngôi xử lý công việc e có sơ suất, Hoàng thượng thận trọng, chờ một thời gian cho Gia Khánh thành thạo công việc, xử lý tốt việc triều chính, sẽ giao không muộn.
- Từ xưa, một Hoàng đế không có bảo ấn thì sao gọi là Hoàng đế, thần cho rằng, nếu Thái Thượng hoàng còn lưu luyến đất nước, muốn dẫn dắt Hoàng đế mới, thì đeo ấn Thái Thượng hoàng, như vậy khá hợp lý, Thái Thượng hoàng vẫn giữ được vị trí đối với Hoàng đế.
Càn Long không nói, đưa bảo ấn ra.
Buổi lễ lại tiến hành.
Trước Ngọ Môn, từng đoàn voi, ngựa, lọng vàng, long đình, đỉnh hương,... đội ngũ chỉnh tề, uy nghiêm hùng tráng.
Mặt trời lên cao, ánh sáng rực rỡ, cả quảng trường tắm mình trong ánh nắng. Lúc này, viên thái giám đứng ngoài Càn Thanh Môn cất giọng hô to:
- Giờ lành... đã đến...
Hoàng đế Càn Long mặc chiếc long bào màu vàng, ngoài khoác chiếc áo chẽn da điêu màu tím, đầu đội mũ lông cáo, đỉnh mũ thắt nhung đỏ, nạm viên ngọc lớn, từ từ bước ra khỏi cung. Ngoài Ngọ Môn, tiếng chiêng, trống vang lên, quảng trường càng im lặng, trang nghiêm. Hoàng thái tử Vĩnh Diễm trong bộ áo quần thái tử đi sau Hoàng đế từ điện Trung Hoà đến điện Thái Hoà. Lúc này các loại nhạc khí nhất tề tấu lên khúc nhạc Trung hoà thiều và đoàn ca hát xướng lên “Chương nguyên bình”.
Càn Long vừa nghe khúc nhạc tự mình soạn lại, từ từ bước rất khó khăn đến chiếc ngai vua đặt giữa điện Thái Hoà. Hoà Thân, chẳng biết vô tình hay cố ý dìu Càn Long. Càn Long khoác tay ra hiệu không cần, tự mình bước lên ngồi vào chiếc ngai. Đại học sĩ nội các mang chiếu truyền ngôi đến bàn đặt chiếu truyền ngôi, đại thần bộ Lễ mang tờ biểu chúc truyền ngôi đến bàn đặt biểu chúc.
Hoàng đế Càn Long vừa ngồi xuống, bản nhạc Trung hoà thiều cũng vừa chấm dứt. Hoàng thái tử Vĩnh Diễm từ từ bước vào điện. Quan loan nghi vệ bước vào giữa bậc đá, một tiếng roi quất vang lên, phía dưới thềm đá dội lên ba tiếng roi quất. Đó là “tịnh tiên”, lệnh cho vương công đại thần yên lặng. Tiếp theo tiếng roi quất, khúc nhạc “Khánh bình nguyên chương” lại nổi lên, trong khi Hoàng thái tử dẫn vương công đại thần làm lễ “quỳ-bái- quỳ-bái, quỳ-bái”. Bên ngoài điện Thái Hoà, người đông như kiến, nhấp nhô theo dõi Càn Long trên ngai cao làm lễ ba quỳ chín lạy.
Lễ quỳ lạy xong. Đại học sĩ cao tuổi nhất, đại thần quân cơ A Quế và đại học sĩ đại thần quân cơ, đại thần quyền hành nhất Hòa Thân dẫn Hoàng đế nối ngôi bước đến trước chiếc ngai Càn Long đang ngồi. Vĩnh Diễm quỳ xuống bái, chúc. A Quế xoay người về phía chiếc lư hương bên trái nâng chiếc ấn hoàng đế, quỳ xuống dâng lên Hoàng đế. Càn Long cầm chiếc ấn ngắm nghía hồi lâu. Chiếc ấn bằng ngọc xanh, hình vuông mỗi bề ba tấc chín phân, dày một tấc, mặt trên chạm cặp giao long cao hai tấc một phân. Càn Long nghiêng mình về phía trước, trang trọng, thành kính, trao chiếc ấn hoàng đế - tượng trưng quyền lực tối cao của quốc gia cho Hoàng Thái tử Vĩnh Diễm đang phủ phục dưới chân.
Thái Thượng hoàng Càn Long trở về cung không dự buổi lễ lên ngôi của Hoàng đế Gia Khánh. Tại buổi lễ lên ngôi của Hoàng đế mới, các vương công, bá quan văn võ làm lễ ba quỳ chín bái trong tiếng nhạc. Cuối cùng quan Thị lang hồng lô bộ Lễ bước lên lầu thành Thiên An Môn, tuyên đọc chiếu truyền ngôi, bố cáo trước thiên hạ.
Ngày 3 tháng giêng, Phúc Khang An và Hòa Lâm tấu báo về Cục quân cơ rằng: “Hôm nay mưa to gió lớn, đại quân không thể tiến quân, quân sĩ trúng độc chết nhiều, từ sau khi Ngô Bát Nguyệt giả xưng là Ngô Tam Quế, thế lực của chúng mạnh lên”. Hòa Thân đến cung Càn Thanh. Càn Long ngồi xoay về hướng nam, Gia Khánh đứng hầu bên cạnh. Hòa Thân định đưa bản tấu lên Càn Long, Càn Long nói: “Khanh đọc bản tấu”. Hòa Thân đọc: “Từ khi đầu mục giặc Mẹo, Ngô Bát Nguyệt giả xưng là Ngô Tam Quế, rồi tự xưng là Ngô Vương, người Mẹo đua nhau chạy theo; người Hán cũng vậy, Phúc Khang An và Hòa Lâm yêu cầu tăng thêm quân đội và lương thảo”. Hòa Thân không đọc đoạn quân sĩ trúng độc chết nhiều và “người Hán cũng chạy theo”. Giá chỉ có một mình Phúc Khang An, Hoà Thân sẽ nhân đó nhục mạ, vu khống: với 10 vạn đại quân, vật tư 7 tỉnh mà không dập tắt đám cháy cỏn con đó. Nhưng vì có Hòa Lâm, Hòa Thân nhân dịp dẹp giặc Mẹo muốn để Hòa Lâm nắm binh quyền, hai anh em, người làm tướng bên ngoài, người làm tể phụ bên trong, thế lực càng vững chắc, do đó thay đổi ý trong ban tấu, để triều đình tăng thêm quân và lương thảo.
Hoàng đế Gia Khánh đứng bên cạnh, yên lặng không nói một tiếng, thấy Hòa Thân vào điện chẳng quỳ bái chào mình, nên không hài lòng nhưng vẫn cứ lờ đi, phát hiện Hòa Thân tấu báo sai, nếu Ngô Bát Nguyệt núp dưới danh nghĩa người khác, người Hán đâu có chịu đi theo, Ngô Bát Nguyệt núp dưới chiêu bài Ngô Tam Quế, người Hán không nguyền rủa hắn, đó mới là điều lạ. Nghĩ như vậy, Gia Khánh vẫn không bác bỏ lời tâu của Hòa Thân, chỉ mỉm cười. Càn Long nói:
- Theo khanh thì nên xử lý thế nào?
- Theo nô tài, nên cấp tốc tăng thêm binh mã, mở kho phủ 7 tỉnh, tiêu diệt bọn giặc Mẹo. Hồ Nam và Quý Châu nhiều núi non, nên bao vây núi, không để chúng cấu kết với người Hán.
- Hoàng thượng nghĩ thế nào? Càn Long hỏi Gia Khánh
- Hòa tướng phụ nói chí phải, bọn giặc Ngô Bát Nguyệt gây họa khắp vùng Giang Nam, nên lấy đó làm gương cảnh giác. Hòa tướng phụ đã vất vả vì đất nước, kiến thức lại cao siêu, giặc Mẹo không bao lâu sẽ bị dẹp.
Hòa Thân mừng thầm: “Ngươi tuy là Hoàng đế nhưng thực ra chỉ là một thư sinh khờ khạo”. Và tâu với Càn Long:
- Nô tài tuân theo ý chỉ của Thái Thượng hoàng và Hoàng thượng, lệnh cho các tỉnh Vân Nam, Quý Châu, Hồ Nam, Tứ Xuyên. Hòa Thân vừa ra tới cửa, Càn Long hỏi:
- Bữa tiệc Thiên Tẩu ngày mai chuẩn bị đến đâu rồi?
- Bẩm Thái Thượng hoàng và Hoàng thượng. Các thân vương, bối lặc, bối tử, đại thần, và cả bối lặc, bối tử Mông Cổ, công chúa, phò mã, v.v... đều đã về kinh, quân dân đã tề tựu, ước có đến 9.900 người.
Thái Thượng hoàng nghe rất phấn khởi, số người già dự tiệc có hai số “9” càng làm đẹp thêm cho lễ nhường ngôi.
Hôm sau là ngày 4 tháng giêng, tiệc Thiên Tẩu được tổ chức tại cung Ninh Thọ. Dự tiệc có vương công đại thần từ 60 tuổi trở lên, quân dân từ 70 tuổi trở lên. Hòa Thân được Càn Long ban thưởng tước “Kỵ mã Tử cấm thành”. Kiệu Hòa Thân được đi thẳng vào cửa cung, những người khác phải đi bộ vào trước điện Thái Hòa, cung Ninh Thọ. Ngồi trên kiệu, Hòa Thân cười mũi khinh miệt họ, cho mình là quyền uy cao sang, đáng được tôn kính, dương dương tự đắc. Bỗng nhìn thấy phía trước cũng có chiếc kiệu; vén rèm kiệu lên, nom thấy một cụ già tóc bạc trắng, lưng khom, không phải A Quế thì là ai? Hòa Thân hơi bực mình, lại có người đi đứng ngang ta ư! Nhưng nhìn kỹ lại, không phải A Quế, mà là Phúc Khang An, lão ấy không đáng phải lo. Binh quyền của lão, thế lực của lão, ta dần dần phân tán. Lúc ấy Hòa Lâm sẽ làm nên sự nghiệp. Hòa Thân thầm tính: “Ngày mai tăng thêm cho Hòa Lâm 1.000 quân, 200 lính của doanh hỏa khí”. Nghĩ vậy, Hòa Thân thấy khoái quá, nhưng vẫn còn một điều chưa khoái: lâu nay cái lão A Quế vẫn còn đè đầu ta, dù bây giờ chẳng làm gì, nhưng vẫn ở vị trí đó, vẫn còn tỏ vẻ ta đây. Tại buổi lễ nhường ngôi lão nâng chiếc bảo ấn, hôm nay lão lại chủ trì bữa tiệc Thiên Tẩu. Thế giới này thật bất công, lão có tài cán gì mà lại ở trên ta. Ta bận rộn tất tưởi vì bữa tiệc này, lão chẳng làm gì sất, mà lại được chủ trì.
Pháo nổ, mọi người đứng im. A Quế chúc thọ, chúc phúc Thái Thượng hoàng và Hoàng thượng. Lễ xong mọi người ngồi xuống.
Quả thật Hòa Thân đã hết sức bận tâm vì bữa tiệc này, chỉ riêng những chiếc lẩu đặt trên bàn cũng biết Hòa Thân mất bao tâm trí. Năm nay thời tiết vẫn giá rét như năm ngoái, người dự đông, phải giữ sao cho thức ăn nóng, do đó Hòa Thân nghĩ cách, điều đến 1550 cái lẩu. Đây thật là một bữa tiệc lẩu đầu tiên lớn nhất trong lịch sử thế giới. Tên tuổi Hòa Thân sẽ lưu muôn thuở qua bữa tiệc này, nhưng tiếc thay các vị bô lão có mặt tại buổi tiệc chẳng có ai đứng dậy nâng cốc chúc Hòa Thân, chẳng có ai nói với Hòa Thân một tiếng: “Hòa đại nhân, đại nhân vất vả nhỉ !”. Họ chỉ biết ăn, uống!
Hoàng đế Gia Khánh đi cùng Thái Thượng hoàng mời rượu các vương công đại thần, Hòa Thân đi giữa hai người. Ba người đi đến bên một bàn ăn, một ông lão đứng lên chúc Càn Long: “Vì nô tài già nua, không thể làm đại lễ, nô tài kính chúc Thái Thượng hoàng vạn tuế, vạn vạn tuế, vạn vạn vạn tuế !” nói xong cạn chén, quay người lại chúc Hòa Thân: “Nô tài chúc Hoàng thượng vạn tuế, vạn thọ vô cương!” Hòa Thân nhìn kỹ, té ra là Tô Lăng A, tức quá, hắt ngay cốc rượu lên mặt Tô Lăng A, nghiêm giọng: “Bừa bãi?”. Tô Lăng A già cả mắt mờ, giờ mới nhận ra Hòa Thân, sợ quá ngồi bịch xuống sàn đất, quên cả khấu đầu, quên cả tạ tội. Càn Long muốn cho qua chuyện nói: “Trẫm có lúc cũng nhầm lẫn khanh với Gia Khánh? Khanh tha thứ cho hắn”. Hòa Thân quay nhìn Gia Khánh. Gia Khánh vẫn tươi cười, không chút khó chịu, nói: “Có mấy vị hoàng huynh nói, ta giống tể phụ”. Hòa Thân cảm thấy nhẹ nhõm.
Lại một cụ già đứng dậy:
- Nay có hai vua lâm triều, thật là một cuộc nhường ngôi tuyệt đẹp xưa nay chưa thấy, lão thần xin hỏi Thái Thượng hoàng và Hoàng thượng, từ nay về sau việc tấu trình phê duyệt và chỉ dụ có gì khác trước đây không?
Càn Long nghe nửa câu đầu cảm thấy dễ chịu, nhưng nửa câu sau thì trách ông ta không tìm hiểu chiếu nhường ngôi, cũng được, để hoàng nhi và Hòa Thân giải thích. Đang định như vậy thì nghe Hòa Thân nói:
- Hoàng thượng là Thái Thượng hoàng, chiếc ấn ngọc dùng trong cung khắc chữ Thái Thượng hoàng. Trên chiếu chỉ lên ngôi của Hoàng đế Gia Khánh đóng dấu ấn Thái Thượng hoàng, sau đó mới đóng dấu ấn Hoàng đế; các thư chúc mừng của đại thần trong và ngoài nước đều đệ trình lên cả hai, còn những bản tấu các việc khác thì trình lên Thái thượng hoàng, mọi việc đều do Thái thượng hoàng quyết định, Hoàng thượng Gia Khánh có thể chuyển tấu.
- Hòa ái khanh giải thích khá rõ, còn hỏi gì nữa không? Càn Long nói.
Mọi người im lặng. Riêng Tô Lăng A muốn hỏi, nhưng Hòa Thân đưa mắt lườm, nên không dám mở mồm, ngồi yên một chỗ.
Tối về phủ, Hòa Thân nhìn thấy Nạp Lan, lờ đi Nạp Lan vội hỏi:
- Cha nuôi, hôm nay thế nào, cha con về nhà lo sợ lắm, bảo con đến tạ tội với cha nuôi ngay. Cha con cứ tự tát vào mặt mình, khóc sướt mướt, vậy là như thế nào.
Hòa Thân chẳng nói chẳng rằng, người nhà thấy vậy, đều rút lui. Đôi bàn tay béo múp míp khéo léo luồn vào dưới chiếc áo của Hòa Thân, mò xoa bộ ngực Hòa Thân, rồi mò dần xuống dưới. Nạp Lan lả lơi hỏi:
- Thế nào?
Bây giờ Hòa Thân mới lên tiếng:
- Chút nữa thì ta mất đầu.
- Nếu cha đẻ con có tội với cha nuôi, cha nuôi hãy nể con tha tội cho cha đẻ con; cha đẻ con một lòng một dạ vì cha nuôi, không có ai trung thành như cha đẻ con.
Hòa Thân lúc này như đã bớt giận. nói:
- Điều đó ta biết.
- Lâu ngày không gặp cha nuôi. Con nhớ cha nuôi lắm cơ, cha nuôi quên con rồi ư?
Hòa Thân ôm vồ bộ ngực Nạp Lan nói:
- Tội của cha, con phải trả!
Nạp Lan ngã nhào vàn lòng Hòa Thân. Khác với trước đây, Hòa Thân hai bàn tay chỉ xoa bóp cặp vú của Nạp Lan, xoa bóp điên cuồng. Nhưng Nạp Lan cao thủ hơn, hai bàn tay đã luồn xuống phần dưới của Hòa Thân. Thế là một đêm, hai người thả sức phô bày tư thế như bức tranh xuân cung. Kiểu buông thả trắng trợn của Nạp Lan ít có ở những người con gái khác chính là điểm được Hòa Thân thích nhất.
Uông Như Long được dự bữa tiệc hoàng tộc tổ chức tại cung Càn Thanh, có 2.000 người dự, gồm các hoàng tử, vương công, bối lặc, bối tử, công chúa và các quan họ hàng hoàng gia từ tam tứ phẩm trở lên. Uông Như Long là Diêm Chính Lưỡng Hoài, không đủ tư cách dự tiệc này, nhưng vì Hòa Thân rất khoái ông ta, hàng năm nộp đủ 20 vạn lạng bạc trắng không thiếu một phân, rất đúng hẹn, ngoài ra còn các phẩm vật quý hiếm, tranh thơ cũng thường xuyên gửi đến. Hòa Thân rất tự hào có được người bạn như vậy. Anh em Ngô Tỉnh Khâm tuy có tên tuổi nhưng không cao sang bằng Uông Như Long. Do đó Hoà Thân tìm cách cho Uông Như Long dự bữa tiệc chỉ dành riêng cho những người trong hoàng tộc.
Ngày mùng tám, Thái Thượng hoàng và Hoàng thượng tổ chức tiệc trà tại cung Trùng Hoa, lấy “tuyết” làm chủ đề để các đại thần làm thơ. Không rõ, Hòa Thân cố ý hay vô tình ngâm bài thơ trong đó có từ “tuyết như”. Hai từ này người khác không biết, nhưng Càn Long làm sao lại không biết? Nhớ lại năm ấy, nhân chuyến Càn Long đi tuần du miền nam. Uông Như Long đã tiến dâng cô ấy cho mình để kết bạn với Hòa Thân và tặng Đậu Khấu cho Hòa Thân. Càn Long vẫn còn nhớ cái tên Uông Như Long, và Uông Như Long tiến dâng một cô gái, sau được phong làm quý phi. Hôm nay Hòa Thân ngâm bài thơ trong đó có hai từ “tuyết như” là để gợi cho Càn Long nhớ đến Uông Như Long. Tiệc xong, Càn Long hỏi Hòa Thân.
- Uông Như Long có về kinh không?
- Thái Thượng hoàng lại quên rồi. Uông Như Long đã đến dự lễ nhường ngôi, đã quyên góp tiền bạc, trước Tết Thái Thượng hoàng đã tiếp kiến.
- Uông Như Long đã về chưa?
- Tâu chưa về, nô tài cho rằng hai quý nhân đều gọi ông ấy là nghĩa phụ, nên ông ấy cũng là người nhà của Thái Thượng hoàng.
- Ông ấy chưa về, vậy mời ông ấy dự tiệc hoàng tộc. Càn Long tươi cười nói.
- Nô tài cũng nghĩ như vậy.
- Trẫm cũng đoán biết được một vài phần rồi.
Hoàng đế Gia Khánh nghe mà không hiểu hai người nói gì, cũng chẳng hỏi, đứng yên hầu bên cạnh, chờ hai người nói xong, đưa Càn Long về cung. Từ khi lên làm Hoàng đế, Gia Khánh càng hiểu Càn Long hơn. Hàng ngày, đều tự mình thăm hỏi việc ăn uống đi lại của Càn Long, không hề có ý đồ đen tối, lòng hiếu kính đối với Càn Long xuất phát từ lòng chân thành, bổn phận của một người con. Chính vì vậy, Thái Thượng hoàng càng thấy mình chọn Gia Khánh là chính xác, nên hết sức vui mừng. Đối với công việc, dù thấy Càn Long xử lý không đúng, Gia Khánh không khuyên can, đó là ý đồ kín đáo do hoàn cảnh bắt buộc.
Ngày mùng mười, bữa tiệc hoàng tộc được tổ chức đúng dự định. Bàn tiệc dành cho 48 vị từ Ngạch thân vương trở xuống và từ tướng quân phò quốc trở lên đặt trong đại điện. Bàn tiệc dành cho 530 người gồm các tướng quân cấp thấp hơn, thị vệ, quan viên tôn thất, đặt tại hai bên hành lang, Uông Như Long ngồi tại đây.
Hòa Thân theo sát Càn Long, Gia Khánh theo sau, lần lượt đến chúc rượu mọi người. Uông Như Long quả thật không ngờ được vinh dự này. Tiệc xong, tặng quà. Hòa Thân phân phát quà cho mọi người dự tiệc, quà gồm ngọc như ý, ngọc triều châu, tác phẩm văn hóa nghệ thuật, đồ dùng bằng bạc. Khi đến trước Uông Như Long, Hòa Thân tặng cho ông ta một thẻ mực đen, có ý là rất yêu thích Uông Như Long.
Uông Như Long chăm chú nhìn Gia Khánh đứng nghiêm bên cạnh Càn Long, không hề nhúc nhích, dường như không hề để ý đến cái gì, xem cả thế giới như một chiếc lá, một hạt bụi, một viên sỏi, một ngọn gió, một đám mây, sông núi nguy nga chỉ là “một”, vạn vật chỉ là “một”, tâm hồn yên tĩnh, yên tĩnh như mặt biển không gợn một chút sóng. Uông Như Long lại nhìn Hòa Thân đang cười nói, dương dương tự đắc. Uông Như Long sởn tóc gáy, toàn thân ướt đẫm mồ hôi: Hòa Thân sắp trở thành quỷ không đầu rồi!
Uông Như Long vội vàng ra khỏi cung, hôm sau đến phủ Hòa Thân. Hòa Thân đang chuẩn bị vào triều, Uông Như Long nói:
- Hôm nay học trò chuẩn bị về Dương Châu, có một việc cầu xin tướng phụ giúp.
- Anh với tôi sao lại khách sáo thế, có việc gì, cứ nói không ngại, việc gì có thể làm được, ta đâu có chối từ?
- Tướng phụ có thể giúp được, học trò xin thôi chức Diêm Chính Lưỡng Hoài.
- Muốn về kinh đô ư?
- Học trò muốn làm người dân thường mà thôi.
- Vì sao vậy? Hòa Thân kinh ngạc hỏi.
- Họ nhà Uông của học trò có một bệnh di truyền, cứ quá 40 tuổi, tai ù mắt mờ, mấy hôm ở kinh thành, có mấy lần triệu chứng này xuất hiện.
- Điều đó có can gì, hãy tiếp tục làm, bây giờ ta vào triều đây, anh về ta cũng chẳng giữ anh ở lại, cái chức Diêm Chính ấy, chớ có vứt bỏ.
- Tướng phụ, tướng phụ và học trò là đôi tri kỷ, học trò xin có một lời muốn thưa với tướng phụ.
- Cứ nói, không ngại.
- Tướng phụ tìm người hoàn chỉnh cuốn “Thạch đầu ký” và đổi thành “Hồng lâu mộng”. Tướng phụ đã suy nghĩ gì về ba chữ “Hồng lâu mộng” có ẩn ý gì không?
- Ta rất lấy làm lạ vì sao anh từ bỏ chức Diêm Chính, giờ đây đã rõ, Dương Châu các anh toàn xuất hiện những con người quái đản, người anh đã có giòng máu của bọn chúng, khí chất của bọn văn nhân thật khó thay đổi. Thôi được không nối chuyện đó nữa, cái chức Diêm Chính Lưỡng Hoài, ngoài anh ra chẳng ai được làm.
Uông Như Long thấy vậy không van nài nữa, chỉ nói.
- Học trò muốn xin cho Đậu Khấu về Dương Châu một chuyến, không biết tướng phụ cho phép không?
Hòa Thân cười:
- Anh, một nói tướng phụ, hai nói tướng phụ, ta làm sao không đồng ý? Ta cũng có ý đó, nên để Đậu Khấu về Dương Châu một chuyến.
- Tướng phụ có dặn dò gì Đậu Khấu không? Nếu không, hôm nay xin lên đường.
- Chờ thêm một hôm.
Thực tình Hòa Thân chẳng muốn xa Đậu Khấu dù một ngày, nhưng vì Uông Như Long yêu cầu, cũng khó từ chối. Khi hỏi Đậu Khấu, nàng cũng rất thích, sau hai ngày, Hòa Thân để nàng cùng Uông Như Long lên đường về Dương Châu.
Trên đường đi, Uông Như Long bảo Đậu Khấu chuyển sang ngồi chung với xe của mình. Đậu Khấu không chịu, Uông Như Long bảo xe dừng lại, đến bên xe Đậu Khấu nói:
- Ngươi đã nhận ta làm nghĩa phụ, ta coi ngươi như con gái, hai cha con ngồi cùng xe, có gì mà không được, tướng phụ trước nay đã biết ta là người thế nào rồi, ngươi cứ qua ngồi không ngại, ta có một việc muốn nói ngay bây giờ vì không muốn đến Dương Châu mới nói.
- Đến đấy hãy nói không được ư?
- Chỉ với riêng mình ngươi thôi.
Đậu Khấu ngồi vào xe Uông Như Long. Uông Như Long chăm chăm nhìn nàng:
- Cha muốn cao chạy xa bay, nhưng không nhẫn tâm bỏ mặc con, con có theo cha không?
Đậu Khấu cũng nhìn chăm chăm Uông Như Long, bốn mắt nhìn nhau, hồi lâu. Đậu Khấu mắt nhoà lệ, gục vào lòng Uông Như Long khóc nức nở.
- Cha, cha cũng thấy rõ rồi ư.
- Vậy là con đã thấy con đang đứng trên tảng băng rồi.
- Các bà, công chúa đều khuyên tướng phụ, kể cả diễn kịch khuyên tướng phụ dừng tay đúng lúc, nhưng chẳng ăn nhằm gì.
- Con vẫn chưa hiểu ý cha. Bây giờ có dừng tay cũng chỉ có chết.
Đậu Khấu cả kinh.
Tình cảm của Uông Như Long đối với Đậu Khấu rất chi phức tạp. Lúc đầu, khi còn ở nhà, Đậu Khấu là một đào hát, Uông Như Long không có một tình cảm gì đặc biệt với Đậu Khấu, đến khi dâng Đậu Khấu cho Hòa Thân, càng ngày càng cảm thấy hối hận, bây giờ nhìn thấy Hòa Thân sắp chết, ông càng giận mình, nên khuyên Đậu Khấu rời xa Hòa Thân. Đây thật sự là hồ đồ, người thông minh, lắm lúc làm việc ngu xuẩn hơn kẻ ngu xuẩn.
Không lâu sau đó, Đậu Khấu lại quay về phủ Hòa Thân; Uông Như Long rơi xuống hồ, được cứu sống, đôi mắt mù lòa, chức Diêm Chính tự nhiên không còn. Sau đó Uông Như Long đi đâu, chẳng ai biết.
Hòa Thân tiễn Uông Như Long về Dương Châu, thì tết Nguyên tiêu đã đến. Tết Nguyên tiêu năm ngoái, đèn đuốc sáng rực, lại có pháo hoa, Hòa Thân mời Càn Long đến Thiên An Môn cùng vui với dân chúng để quên nỗi lo sợ đêm nguyệt thực. Hòa Thân được Càn Long ban thưởng. Tết Nguyên tiêu năm nay, vẫn theo lệ cũ đến vườn Viên Minh vui chơi. Ngày 7 tháng giêng, hơn vạn người Bạch liên giáo ở Nghi Đô, Triết Giang nổi loạn. Bản tấu về sự kiện này đã được đặt trên bàn của Hòa Thân.
Sáng sớm, trên quảng trường nhỏ trước lầu “núi cao sông dài” tại vườn Viên Minh, mấy chục dàn pháo hoa đã được dựng sẵn. Đúng trưa, các vương công đại thần và sứ thần nước ngoài đến trước lầu “núi cao sông dài”, ngồi hai bên, chính giữa là ngai vua. Giờ thân vừa qua, chiếc kiệu khiêng Càn Long đến, theo sau là Gia Khánh và Hòa Thân. Càn Long ngồi, Gia Khánh đứng hầu. Thái thượng hoàng mời trà các vương công đại thần. Hòa Thân thay mặt Thái Thượng hoàng mời trà sứ thần các nước. Lúc này các loại nhạc khí bắt đầu tấu lên khúc nhạc Mãn Châu, Mông Cổ, tiếp theo là các trò chơi đấu vật, leo cột, bắn cung v.v... Các trò chơi vừa chấm dứt, trời nhá nhem tối. Lúc này, một đội hình 300 người bắt đầu múa đèn. Mỗi người tay cầm đèn hoa, hát bài “ca thái bình”, luân phiên tiến lùi, nhô lên tụt xuống, biến đổi nhiều hình thật đẹp mắt. Bỗng nhiên, đội hình biến thành nhiều vòng nhỏ như những chiếc hoa hướng dương vây quanh chiếc vòng lớn sáng rực. Những chiếc vòng nhỏ lại đột ngột biến thành những ngôi sao, sau đó cả vòng lớn các ngôi sao hợp thành bốn chữ “thái bình vạn tuế”. Điệu múa đèn kết thúc. Các thị vệ bắt đầu đốt pháo hoa. Pháo hoa bay vút lên trời như tia chớp điện, rồi bung ra muôn ngàn đám mây bay lơ lững trên bầu trời, đưa người vào cảnh tiên. Tiếp theo là nhưng chiếc pháo hoa của vùng biển Phúc Hải đồng loạt nổ vang, như ngàn vạn vì sao rơi xuống. Vườn Viên Minh như cảnh tiên dưới trần thế.
Pháo hoa kết thúc, Thái Thượng hoàng và Hoàng thượng bắt đầu khoản đãi. Hòa Thân hỏi thăm từng người một các vương công đại thần, rồi đến bên các sứ thần nước ngoài, đứng nhìn họ ăn uống có ngon không. Một lát sau cúi người chào sứ thần Triều Tiên. Sứ thần các nước Triều Tiên, Lưu Cầu, An Nam, v.v... cám ơn Hòa Thân. Hòa Thân nói: “Thái Thượng hoàng và Hoàng thượng cho tôi đến đây thăm hỏi mọi người, xem mọi người ăn uống ngon không, xem biểu diễn có vui không, không phải cá nhân tôi đến đây”.
Phúc Trường An có người anh rể là Thành thân vương Vĩnh Tinh, con trai thứ 11 của Càn Long, là một bậc tài ba. Thư pháp ông sử dụng được gọi là “Bạt đăng pháp”, cầm bút lên là viết ra những chữ hình dạng độc đáo, người đương thời là Phương Cang, Lưu Dung, Thiết Bảo và ông là bốn nhà thư pháp lớn. Là một nhà thư pháp nổi tiếng, thỉnh thoảng ông cũng cầm bút tô tô chấm chấm, phết qua phảy lại, thoáng một cái, đã vẽ thành khóm lan tươi tốt, khóm trúc như thật, núi đồi nhấp nhô, sông suối lượn vòng, ý cảnh cao xa, tâm hồn thanh thoát, ông thường nói đùa: “Núi sông vốn không phải thế, ngẫu nhiên mà vẽ thành thế, xinh xấu là do cây bút. Lòng dạ nó đâu có quanh co uốn khúc, người hoặc ngựa muốn thêm sừng thì có sừng, vậy thôi”, ông tự đùa mình là “ngựa một sừng”. Ông ít khi vẽ, nhưng đã vẽ thì được các bậc tài ba thán phục. Càn Long thường được người ta tôn xưng là bậc thiên tử tài ba, nhưng khi thấy thi - thư - họa của Vĩnh Tinh cũng phải thán phục.
Thế nhưng, con người tài ba đó, Thành thân vương khác hẳn với thi - thư - họa của ông. Ông lấy con gái của Phó Hằng, được cả một đống của hồi môn to tướng, nhưng cất kỹ trong kho, không động đến một trinh, chỉ thương hại cho cô con gái của vị đệ nhất tể tướng đương triều, tưởng rằng bước vào nhà hoàng tộc sẽ tận hưởng phú quý vinh hoa, nào ngờ ngày ngày phải ăn cháo hoa cho đỡ đói, chỉ có một lần được nếm mùi thịt, đó là lần Vĩnh Tinh nhân con ngựa mình cưỡi bị chết, cho làm thịt nấu cháo thay cơm.
Một tiểu thư sinh trong gia đình giàu sang mà có thể nhẫn nhục, chịu đựng, sinh ra cho Vĩnh Tinh một lô cậu ấm. Nào ngờ Vĩnh Tinh cũng keo kiệt với con, cậu con nào vừa lớn lên cũng đều được dạy đi “móc túi” thiên hạ.
Ngày đầu năm, Vĩnh Tinh và Phúc Tấn về nhà mẹ, ở tại nhà Phúc Trường An. Phúc Trường An đã biết ông anh rể keo kiệt, nên để bà chị ở lại thêm mấy hôm. Vĩnh Tinh cũng để mấy cậu ấm ở lại. Mấy cậu ấm lại là những cao thủ trong nghề “móc túi”, thó khá nhiều đồ vật bằng ngọc của ông cậu. Phúc Trường An đến nhà Vĩnh Tinh tìm, Vĩnh Tinh nói:
- Cậu là ông cậu, không cho các cháu quà mừng tuổi? để chúng nó tự lấy, cậu không tự trách, mà lại nói người khác?
- Trong các thứ đó có bảo vật gia truyền rất quý.
- Như vậy, cậu nên khen chúng mới phải, chúng có con mắt tinh tường, biết được của quý gia truyền. Nếu là vật thường, cháu cậu cần gì phải để ý?
- Nếu anh không trả lại viên ngọc ấy cũng được, vậy anh vẽ cho tôi một bức tranh, được không?
Phúc Trường An thừa biết, Vĩnh Tinh có rất nhiều bức tranh, trong đó có một số có giá trị lớn, nhưng còn kém xa viên ngọc của mình, thế nhưng còn hơn là về tay không.
Vĩnh Tinh hỏi:
- Bức tranh nào?
- Bức tranh tứ bình xuân - hạ - thu - đông, để tiết lập xuân thì treo.
- Cậu hãy về đi, anh sẽ cho người mang tận nhà.
Phúc Trường An tưởng thật, quay về nhà, đợi đến mấy hôm vẫn chẳng thấy tranh, nên cho người đến hỏi và mang về ba bức tranh, nhìn phía dưới có mấy câu thơ:
Người đời sao quá tục,
Cần tranh đòi bốn bức.
Đông qua xuân ắt đến,
Hè thu mới ấm no.
Phúc Trường An tức quá, nhưng ông anh rể là thân vương, mấy đứa cháu là hoàng tôn, và cũng chẳng dám mách với bà chị, sợ bà chị tức quá sinh bệnh. Sau nhiều ngày suy nghĩ, tìm cách lấy viên ngọc về, bỗng nghĩ đến Hòa Thân, hoàng tử hoàng tôn nào mà chẳng sợ Hòa Thân? Chờ xong tết Nguyên tiêu, Phúc Trường An đến gặp Hòa Thân. Hòa Thân nói: “Nếu là vật thường thì thôi, nhưng đây lại là viên kim cương, nên lấy lại. Anh mang bức tranh của Thành thân vương cho tôi xem”. Hôm sau, Hòa Thân nhìn thấy bức tranh, mừng quá, nghĩ bụng: “Phúc Trường An, quả là anh ngốc, bộ tranh này thiếu một bức, nhưng lại có bài thơ, giá trị không biết bao nhiêu lần bộ tranh hoàn chỉnh, đúng là “đông qua xuân ắt đến”. Hòa Thân thu bộ tranh, nói: “Để bộ tranh này cho ta, ta sẽ lấy lại viên kim cương cho anh”.
Việc người khác, Hòa Thân bỏ mặc, còn việc của Phúc Trường An lẽ nào ông cho qua?
Hàng ngày Càn Long đều vịnh phú ngâm thơ, già nhưng vẫn say sưa. Hôm đó, đang viết bỗng quên bẵng đi một chữ quá quen thuộc: “Chữ quá quen thuộc cớ sao lại quên mất đi”, không tiện hỏi người khác, cũng không muốn tra tự điển, nghĩ rằng tự mình có thể nhớ lại, nhưng càng nghĩ càng quên, nên nghi ngờ trí nhớ của mình, và bắt đầu buồn phiền. Hòa Thân đứng bên cạnh, nhìn thấy rõ, tâu:
- Thái Thượng hoàng, nô tài có một việc muốn tâu nhưng không dám, xin Thái thượng hoàng tha tội.
- Tâu đi.
Hòa Thân dâng bài thơ của Vĩnh Tinh lên Thái thượng hoàng và giải thích:
- Đây là Thành thân vương đùa với Phúc Trường An.
Càn Long bực mình nói:
- Trẫm trước đây thường khuyên bảo Thành thân vương rằng: thi - thư - họa phải học cho tốt, nhưng bỏ cung kiếm theo nghiệp đèn sách, dần dần nhiễm phải tật xấu của người Hán, khó tránh khỏi đánh mất truyền thống vũ dũng của Mãn Châu, hôm nay lại lấy thư - họa đùa người khác, bước vào con đường tà đạo, khanh thay Trẫm quản thúc Thành thân vương.
- Nô tài nghe Phúc Trường An và thân vương Phúc Tấn nói, Thành thân vương không dạy bảo con cái, cứ để các hoàng tôn rong chơi ngoài đường phố.
- Nhốt chúng lại! Càn Long tức giận thốt.
Hòa Thân quỳ xuống tâu:
- Xin Thái Thượng hoàng bớt giận, thực ra Thành thân vương tài cao, nhưng vì nhiễm tật xấu của người Hán, rồi lại truyền nhiễm cho hoàng tôn, chứ lòng dạ không có thế nô tài xin truyền lại ý chỉ của Thái thượng hoàng, lệnh cho Thành thân vương phải chú ý cẩn thận là được.
- Mang cuốn gia pháp của Trẫm đi.
Hòa Thân mang cuốn “gia pháp” ra khỏi điện Cần Chánh, bảo thái giám báo cho Thành thân vương còn mình đến thư phòng. Các hoàng tôn thấy Hòa Thân tay cầm cuốn gia pháp của Càn Long, đố có cậu nào dám không nghe, sợ toát mồ hôi, khi nghe Hòa Thân gọi Thành thân vương, các cậu mới nhẹ nhõm. Hòa Thân gọi hai cậu con của Thành thân vương bước đến, ra lệnh giơ mông ra, cuốn gia pháp đặt trước mặt, hai cậu răm rắp tuân theo. Hòa Thân lệnh cho một tiểu thái giám: “Đánh”. Tiểu thái giám ra tay. Hòa Thân cười hì hì: “một roi, hai roi, ba roi,...” Đánh xong, Hòa Thân bảo chúng đưa viên kim cương của Phúc Trường An ra, hai cậu đều nói để ở chỗ thân vương. Hòa Thân nói với tất cả hoàng tôn có mặt ở đấy: “không biết ngày mai sẽ đánh ai”.
Hòa Thân vừa bước ra thư phòng gặp ngay Vĩnh Tinh. Vĩnh Tinh thấy Hòa Thân tay cầm cuốn gia pháp của Càn Long, bụng đã lo sợ. Vĩnh Tinh tuổi xấp xỉ Hòa Thân, lại là thân vương, nhưng biết rõ, dưới mắt phụ hoàng, mình không bằng Hòa Thân, chân bắt đầu mềm nhũn. Hòa Thân cười híp mắt hỏi:
- Thành thân vương muốn gặp Thái Thượng hoàng ư?
- Phụ hoàng truyền chỉ bảo tôi đến phải không?
- Thấy thân vương dạy con không nghiêm, Thái thượng hoàng giận lắm, hãy đưa viên ngọc của Phúc Trường An ra đây, nếu không sẽ được gia pháp chỉ vẽ. Vĩnh Tinh không dám trái lời.
Hòa Thân dương dương tự đắc tay phải cầm gia pháp của Càn Long, tay trái cầm chiếc roi, vừa xỉa răng, vừa lẩm nhẩm: “Mai đánh cậu nào nhỉ? Mai đánh cậu nào nhỉ?” Đúng lúc ấy, Hoàng đế Gia Khánh cưỡi ngựa đi qua, nghe Hòa Thân lẩm nhẩm. Hòa Thân ngẩng đầu dậy, thấy Hoàng thượng nên vội vàng quỳ xuống. Hoàng thượng cũng xuống ngựa ngay nói:
- Mời tể phụ đứng dậy. Hoàng đế Gia Khánh khi xưng hô với Hòa Thân thường dùng một,trong ba từ: “tể”, “phụ”, “tướng”, hoặc kết hợp lại với nhau, trước nay không gọi tên Hòa Thân. Gọi tên Hòa Thân là chỉ khi Hòa Thân cúi đầu chịu tội dưới chân mình.
Hòa Thân đứng dậy cùng Gia Khánh bước vào điện Cần Chánh. Nhưng nào ai biết được, Hòa Thân luôn luôn cảm thấy không thoải mái khi nhìn thấy Hoàng thượng cưỡi ngựa đi trong Tử Cấm Thành và vườn Viên Minh. Hòa Thân, con người thông minh tuyệt đỉnh đó sao lại như thế? Chỉ một câu: quyền uy làm cho mê muội.
Một hôm, Hòa Thân đặt một chồng tấu chương trước mặt Thái thượng hoàng. Thái thượng hoàng đọc một lúc lâu, bỗng đầu choáng mắt mờ. Hoàng thượng đứng lên tâu:
- Thái thượng hoàng nghỉ một chốc được không?
- Còn một ít, phê duyệt xong sẽ nghỉ, không muộn.
Càn Long nói vậy nhưng tay lại run, chữ viết không rõ, nét bút lộn xộn.
Hòa Thân thấy thế, giật bản phê, nói:
- Xé quách đi, viết lại bản khác. Vừa nói vừa xé thật.
Thái Thượng hoàng và Hòa Thân sớm tối có nhau, Hòa Thân quen thói tùy tiện, lúc ấy không chú ý, Gia Khánh đứng bên tức giận, toàn thân run lên.
Phúc Khang An và Hòa Lâm được triều đình tăng thêm quân, bắt đầu tấn công vào núi, nào ngờ giặc Mẹo ngày càng đông, phía sau thì người Hán nổi dậy.
Nguyên là, quan lại địa phương lấy cớ đánh giặc Mẹo đã ra sức cướp bóc bừa bãi người Mẹo, khiến họ không còn đường sống, nên phải nổi loạn, dù họ không muốn. Đại quân đến đâu, lợn gà ở đó cũng không sống yên. Người Hán cũng đua nhau chống lại quan quân, cướp phủ quan, Lúc này, tín đồ Bạch Liên giáo ở các tỉnh cũng nổi dậy. Phúc Khang An và Hòa Lâm rơi vào tình thế khó khăn chống trước đỡ sau. Phúc Khang An ra sức tấn công dẹp yên giặc Mẹo nhưng chẳng kết quả chút nào. Đại quân tiến đánh, họ chui vào rừng sâu núi hiểm; đại quân nghỉ ngơi, họ lại bao vây quấy rối. Mười vạn đại quân tiến sâu vào núi, thì bị mưa to gió lớn suốt ngày đêm, chướng khí xông lên, quân lính thương vong quá nhiều, còn sức đâu mà đánh. Thấy đem quân tấn công không được, Phúc Khang An bắt đầu treo thưởng chiêu dụ, nào ngờ người Mẹo lại lấy cáo thị của quan phủ làm giấy vệ sinh, tịnh chẳng có một ai đầu hàng, chẳng có một ai quay về nhà, chỉ có quan với lính nhìn nhau, đánh không được, chiêu dụ chẳng kết quả. Đúng lúc này Phúc Khang An và Hòa Lâm được lệnh triều đình phải chia lực lượng để đối phó với giặc Bạch Liên giáo. Phúc Khang An nghĩ rằng: “Tên tuổi anh hùng của ta không thể bị mất đi chỉ vì vài tên giặc Mẹo”. Thế !à Phúc Khang An bất kể chướng khí, bất kể mưa gió, xua quân tiến vào rừng sâu, dự tính tóm cổ đầu lĩnh giặc Mẹo là Ngô Bát Nguyệt vào tháng 5 năm Gia Khánh thứ nhất, chiến thắng ngay trong rừng sâu núi hiểm. Nào ngờ thành Can Châu đã bị giặc Mẹo chiếm, Phúc Khang An hốt hoảng, vội cho quân lui về, nhưng không biết quân Mẹo từ đâu kéo đến vây đánh tứ phía. Đại quân mỏi mệt, quân tướng chết nhiều. Phúc Khang An đành phải báo về triều đình và cho quân bao vây thành Can Châu, tự cầm quân công phá thành, thế nhưng đầu choáng mắt hoa; người sốt, quân lính khiêng về doanh trại sau mấy ngày thì qua đời.
Tin dữ đến triều đình, các quan văn võ trong triều đều thương xót, Càn Long khóc sướt mướt.
Hòa Thân nghe tin Phúc Khang An bị nhiễm chướng khí chết, vội đến gặp Phúc Trường An bày tỏ lòng đau buồn của mình. Phúc Trường An và Phúc Khang An là hai anh em ruột thịt, nhưng Phúc Trường An hờ hững trước cái chết của người anh. Trường An là con người thực dụng, ai tốt với mình thì mình tốt với họ. Lúc còn làm thị vệ, Trường An từng lặng lẽ đọ sức với Hòa Thân nhưng biết mình không thể so được với Hòa Thân, nên phải quỳ dưới chân Hòa Thân mà chịu sai khiến, cam tâm làm tôi tớ cho Hòa Thân. Phúc Trường An thấy Hòa Thân đến chia buồn với mình nên cũng rơi lệ nói: “Đất nước đang lúc cần người, không ngờ anh tôi qua đời sớm”. Tiếp tục khóc, rồi nói: “Đất nước không thể một ngày không có vua, quân không thể một ngày không có tướng, tôi sẽ tâu với Thái Thượng hoàng, để Hòa Lâm làm chủ soái” .
Tháng 5 năm Gia Khánh thứ nhất, Thái Thượng hoàng và Hoàng thượng ở tại khu nghỉ mát Sơn Trang, Nhiệt Hà đã chỉ dụ Hòa Lâm làm đại tướng quân, nhận chức của Phúc Khang An, tiếp tục ở lại Hồ Nam và Quý Châu, tiếp tục dẹp giặc Mẹo. Thế là, quân đội của bảy tỉnh dưới quyền chỉ huy của Hòa Lâm, hai anh em Hòa Thân một tể, một tướng, hãy nhìn xem, thiên hạ của Thái thượng hoàng, thực ra là thiên hạ của Hòa Thân.
Hòa Lâm làm chủ tướng, đốc thúc quân công thành Can Châu. Lúc Phúc Khang An còn sống, thành này sắp bị phá vỡ. Phúc Khang An bất ngờ bệnh chết, nay Hòa Lâm thừa thế đoạt thành, bắt được đầu lĩnh Mẹo là Thạch Tam Bảo. Tin mừng về đến triều đình, Hòa Lâm được khen thưởng.
Nào ngờ, quân Mẹo tuy bị tổn thất nặng, nhưng thế lực không hề giảm sút. Một đầu lĩnh khác là Thạch Liễu Đặng chiếm cứ vùng Bình Lung, con của Ngô Bát Nguyệt là Ngô Đình Lễ và Ngô Đình Nghĩa dẫn người Mẹo đánh phá quấy rối khắp nơi. Hòa Lâm mang quân đánh vào vùng núi cao rừng rậm lại rơi vào tình thế bị bao vây như Phúc Khang An trước đây. Hòa Lâm tuy có chục vạn quân, nhưng quân Mẹo ẩn nấp sau những lùm cây, tảng đá, đại quân không nhìn thấy họ thì làm sao đánh họ. Hòa Lâm nhìn núi non cao vút, rừng cây rậm rạp, ngao ngán thở dài.
Cuối cùng, Hòa Lâm dùng biện pháp lấy người Mẹo trị người Mẹo, phân hóa họ, dùng quan tước tiền bạc mua chuộc dụ dỗ. Nhưng cũng như Phúc Khang An lần trước, Hòa Lâm chẳng đạt được kết quả gì.
Ở tiền phương, Hòa Lâm đang lo buồn; ở khu nghỉ mát Sơn Trang, Hòa Thân vô cùng đắc ý, thật không ngờ chẳng mất công sức mà cậu em Hòa Lâm đã thay thế Phúc Khang An, nhìn trong thiên hạ chẳng còn ai là địch thủ, do đó mặc sức làm bừa.
Triều Thanh có chế độ khảo sát quan lại. Khảo sát quan lại là một dịp loại trừ những người không ăn cánh và kéo bè kéo cánh nhau. Chính quyền các cấp địa phương nhân dịp này nâng đỡ kẻ theo mình, trừ khử kẻ chống đối.
Hòa Thân là đại học sĩ kiêm đại thần quân cơ nên có thể cùng khảo sát quan lại. Các quan ở kinh thành luôn luôn nắm giữ các bộ phận quan trọng của triều đình, Hòa Thân càng không thể giao việc ấy cho người khác.
Mấy năm trước, bộ Lại do Hòa Thân chủ trì, là Thượng thư bộ Lại khảo sát quan lại, danh chánh ngôn thuận, sau đó không còn giữ chức Thượng thư, nhưng có Tô Lăng A là thị lang bộ Lại nên Thượng thư bộ Lại mới không dám làm trái ý. Nhưng năm nay thì khác, Thượng thư bộ Lại là Lưu Dung và là một Đại học sĩ, Hòa Thân không dễ gì điều khiển bộ Lại, nên nghĩ ra một cách, tâu với Càn Long:
- Tâu Thái Thượng hoàng, Hoàng thượng, sau lễ nhường ngôi, Hoàng thượng chấp chính, nên chỉnh đốn lại hàng ngũ quan lại, để làm rõ ân uy của Thái Thượng hoàng và Hoàng thượng, nêu cao phép nước, giữ vững kỷ cương, việc khảo sát các quan văn võ rất quan trọng, nô tài cho rằng, việc quan trọng này nên để Nội các và Cục quân cơ phụ trách, bộ Lại chỉ hỗ trợ mà thôi, để tránh chuyện tư tình gian lận.
Không ngờ, Hoàng thượng trước nay im lặng không nói, giờ đây lại “can dự” việc triều chính. Gia Khánh nói:
- Phép nước, việc khảo sát quan lại do bộ Lại chủ trì, Đại học sĩ cùng khảo sát, Trẫm cho rằng bộ Lại nắm chắc quan lại các cấp, hồ sơ rõ ràng, thiên hạ đều biết, không thể tư tình gian lận. Hơn nữa có Đại học sĩ cùng khảo sát, Thái Thượng hoàng giám sát, Trẫm cho rằng việc này cứ theo phép nước giao cho bộ Lại, và viện Đô Sát phụ trách.
Càn Long nghe Gia Khánh nói vậy, thấy không có gì sai trái, nhưng cảm thấy khó chịu, vì sao Gia Khánh không dùng câu “xin Thái Thượng hoàng định đoạt”. Đó phải chăng là tự ý chủ trương? Cũng không có lý do đuổi Gia Khánh được, nên nói:
- Việc này giao cho vương công đại thần, Nội các và Cục quan cơ bàn bạc.
Gia Khánh lo ngại. Hòa Thân vui mừng.
Gia Khánh đi rồi. Hòa Thân tâu với Càn Long: “Thái Thượng hoàng, Hoàng thượng muốn nắm quyền tuyển chọn, đề bạt cách chức quan lại, Hoàng thượng muốn đặc ân cho Lưu Dung, như vậy, quan lại trong thiên hạ đều do Hoàng thượng nắm.”. Mấy lời nói đó chọc đúng vào chỗ đau của Càn Long. Càn Long muốn là vị Thái Thượng hoàng có danh có thực mà xưa nay chưa từng có. Quyền tuyển chọn, đề bạt cách chức quan lại không nắm không tay thì còn đâu là Thái Thượng hoàng có thực quyền? Không nắm các quan trong tay, vậy câu “mọi việc do ta quyết định” trở thành trống rỗng ư? Do đó chỉ dụ điều Đại học sĩ Lưu Dung làm Thượng thư bộ Công, Phúc Trường An làm Thượng thư bộ Lại. Hòa Thân đề bạt Kỷ Vân làm Thượng thư bộ Lễ, trước mặt Thái Thượng hoàng tỏ ra mình là vô tư chánh trực. Quyền lực khảo sát quan lại giao cho Nội các và Cục quân cơ, bộ Lại cung cấp tài liệu tuyển chọn. Hòa Thân nắm chắc bộ Lại trong tay, Thái Thượng hoàng cảm thấy quyền lực của mình không hề mất mát tí nào.
Gia Khánh bị chèn ép, càng thấy rõ địa vị của mình từ đó về sau không dám nhiều lời. Lòng dạ như lửa đốt, quan lại thối nát, chính mình đang chấp chính, làm thế nào đây?
Hòa Thân trước đây ép Hoàng thượng ra lệnh thiên hạ, giờ đây lại ép Thái Thượng hoàng ra lệnh cho Hoàng thượng. Vô cùng đắc chí, còn muốn gì nữa. Thế nhưng trong khi đứng lên tột đỉnh vui mừng thì lại rơi xuống hố sâu bi thảm.
Tin đứa con chết yểu truyền đến như sét đánh ngang tai, Hòa Thân lịm người. Giá Hòa Thân, hồn lìa khỏi xác chắc chắn Gia Khánh đỡ tốn một dải lụa trắng. Thế nhưng Hòa Thân lại tỉnh lại, nỗi đau buồn quá lớn khiến ông xúc động làm “mười” bài thơ thương tiếc đứa con, thay lời điếu.
1. Lệ rơi lai láng nước sông tràn,
Biệt ly thương nhớ mãi khóc than.
Ngưu lang Chức nữ nghĩa vợ chồng,
Sâu đậm nhân gian tình phụ tử.
2. Cha già thương tiếc đứa con thơ
Tuổi đã năm mươi một mụn thêm.
Mà nay đành bỏ cha già đi,
Vò đầu than khóc hỏi trời xanh.
3. Tã lót chưa rời thích văn thơ,
Cứ ngỡ sau này nối nghiệp cha.
Về nhà cay đắng nhìn lên vách,
Trướng ngắn trướng dài la liệt treo.
4. Nhắn nhủ bà già chớ quá thương,
Cứ coi vật quý cất trong rương.
Ngày qua đầu óc như mê muội
Ngựa tre, áo giấy khúc đoạn trường.
Phong Thân Ân Đức đang phụng mạng đến Hồ Nam, Quý Châu thị sát quân Thanh trấn áp cuộc nổi dậy của người Mẹo, nghe tin cậu em chết, đau buồn quá; viết mấy bài thơ điếu như sau.
1. Nhớ lại ngày đi đến thăm em.
Chút quà kẹo bánh cùng đùa dỡn.
Xa nhau một tháng với ba ngày.
Nay đã ngàn thu vĩnh biệt rồi.
2. Nhớ lúc cười vui thỏa thích đùa.
Anh em tuổi tác quá chênh nhau.
Bao giờ ngày ấy em đi học.
Chắc hẳn anh đây được làm thầy.
3. Em anh cùng sống trong nhung lụa.
Công cha vất vả khó đền bù.
Dường như phú quý thường chết yểu.
Ngược lại bần hàn mãi sống lâu.
4. Khóc than đau xót cảnh đoạn trường.
Chẳng dám ngoảnh nhìn lệ cứ rơi.
Tình nghĩa anh em ôi cao quý.
Tấm lòng cha mẹ tựa đất trời.
Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí. Nỗi đau buồn tháng bảy chưa nguôi, thì tháng tám Hòa Thân được tin Hòa Lâm chết vì nhiễm chướng khí. Phúc Khang An đến chết vẫn còn quần nhau với anh em Hòa Thân, đi trước anh em họ Hòa, muốn Hòa Lâm phải chết, truy cho đến cùng ngay khi đã bước sang bên kia thế giới .
Hòa Thân nhận được tin dữ Hòa Lâm qua đời, đau thương khó tả. Lúc Hòa Lâm chào đời, mẹ đã mất, dì ghẻ cay nghiệt, muốn đuổi hai anh em ra khỏi nhà. Hai anh em phải dựa nhau mà sống, dìu dắt nhau, động viên nhau trên con đường đời, ngày nay ai cũng được vinh quang huy hoàng. Hòa Thân không ngờ Hòa Lâm ra đi quá sớm lúc mới 44 tuổi. Mùa thu này quả là mùa thu đau buồn, mùa thu thảm khốc.
Hòa Thân làm mấy bài thơ khóc thương dưới đây:
1. Em đã thành người nhớ lúc nghèo.
Bao công khó nhọc chỉ vì con.
Cớ sao lại vội bỏ ra đi.
Chẳng biết sau này ai tiễn ta.
2. Hồn phách quay về cuối ngày đông.
Ân vua mang nặng quyết lập công.
Ra đi chinh chiến mong về sớm.
Bình sinh chí lớn nợ non sông.
3. Em công thành danh toại.
Chỉ tiếc đời quá ngắn.
Ngẩng đầu khấn trời đất.
Lần tràng hạt cầu xin.
Hòa Lâm qua đời, được truy tặng Tuyên dũng công hạng nhất. Con là Phong Thân Nghi Miên được hưởng tước công. Càn Long ban cho 5.000 lạng bạc lo việc an táng, được thờ trong Thái miếu như bậc trung thần hiền lương, và cho gia đình xây điện thờ riêng. Năm Gia Khánh thứ tư, Hòa Thân bị giết, các triều thần cho rằng Hòa Lâm cậy thế cướp công. Hoàng đế Gia Khánh truy cứu lại sự việc lúc dẹp giặc Mẹo, Hòa Lâm đã kiềm chế Phúc Khang An, đã cướp công nên ra lệnh không được thờ trong Thái miếu, bỏ điện thờ riêng, xóa bỏ tước công của Phong Thân Nghi Miên, đổi thành tước khinh xa đô uý hạng ba.
Hòa Lâm chết, tướng Ngạch Lặc Đăng Bảo giết chết con của Thạch Liễu Đặng, con của Ngô Bát Nguyệt và các thủ lĩnh khác của người Mẹo, rồi cấp báo về triều đình, đã dẹp xong giặc Mẹo. Triều đình ban thưởng Ngạch Lặc Đăng Bảo tước uy dũng hầu. Thực ra lúc đó quân Mẹo vẫn hoành hành ở trong núi, Ngạch Lặc Đăng Bảo đã báo cáo láo để lập công, bởi vì các tướng như Đăng Bảo phần lớn là do Hòa Thân cất nhắc, và chẳng ai truy cứu, mãi đến năm Gia Khánh thứ tư, Hòa Thân bị giết, người Mẹo khắp nơi vẫn tiếp tục chống lại quan quân, lúc này mới rõ sự thật.