Đã qua chiều ngày Chủ nhật. Vẫn chưa có thêm manh mối nào mới. Không ai gọi điện tới nhận là có giữ Cora. Vụ án có vẻ như đang rơi vào ngõ cụt, nhưng Cora vẫn còn ở đâu đó ngoài kia. Cô bé đang ở đâu?
Anne đi tới khung cửa sổ trong phòng khách. Các tấm rèm đã được kéo xuống để giữ gìn riêng tư, lọc đi phần nào những luồng sáng chiếu vào trong phòng. Cô đứng bên cạnh cửa và giữ rèm mở một chút để nhìn lén ra ngoài. Có rất nhiều phóng viên trên vỉa hè, tràn xuống cả lòng đường.
Cô đang sống trong một cái bể cá, tất cả mọi người đều nhìn chòng chọc vào lớp kính.
Đã có những dấu hiệu cho thấy vợ chồng nhà Conti hoá ra không phải là những con cưng của truyền thông như cánh báo chí từng hy vọng. Anne và Marco không chào đón giới truyền thông. Rõ ràng họ chỉ coi các phóng viên như kẻ ngoài cuộc. Họ cũng không đặc biệt ăn ảnh, mặc dù Marco thì đẹp trai và Anne trước đây cũng khá xinh. Nhưng chỉ đẹp trai thôi là không đủ – tốt hơn hết là người này còn phải có cá tính, hay chí ít cũng là sự ấm áp. Lúc này Marco chẳng có vẻ gì là có cá tính. Trông anh như một bóng ma đang suy sụp. Cả hai người đều có vẻ tội lỗi, khổ sở vì tủi nhục. Marco giao tiếp với báo chí hết sức lạnh lùng còn Anne thì không nói gì hết. Cả hai không mặn mà với báo giới, nên báo giới cũng chẳng mặn mà gì với họ. Anne nhận ra rằng đây có thể là một sai lầm chiến thuật, sai lầm mà họ sẽ còn phải hối hận mãi không nguôi.
Vấn đề ở đây là họ đã không có mặt ở nhà. Tin tức họ đang ở nhà hàng xóm trong lúc Cora bị bắt từ nôi của con bé đã vỡ lở. Anne đã sợ chết khiếp khi cô trông thấy dòng tít báo buổi sáng hôm đó: BỐ MẸ VẮNG NHÀ KHI EM BÉ BỊ BẮT, EM BÉ BỊ BẮT CÓC ĐÃ BỊ BỎ MỘT MÌNH. Nếu sự việc là họ đang ngủ say trong nhà khi con gái họ bị bắt đi, thì người ta đã sẵn lòng dành thương cảm nhiều hơn, từ cả báo chí lẫn công chúng. Nhưng thực tế họ đang dự tiệc ở nhà hàng xóm, và điều đó làm họ mang tội. Và tất nhiên cả vụ trầm cảm sau sinh cũng đã được công khai. Anne không biết làm thế nào những chuyện như thế lại xảy ra. Chắc chắn cô không kể với báo chí. Cô nghi ngờ Cynthia có thể là người tiết lộ việc họ bỏ con lại một mình trong nhà, nhưng cô không biết làm thế nào báo giới biết về bệnh trầm cảm của cô. Chắc chắn cảnh sát sẽ không hé lộ những thông tin y tế riêng tư về cô. Cô thậm chí đã hỏi họ, và họ nói nó không phải họ. Nhưng Anne không tin cảnh sát. Dù ai phải chịu trách nhiệm cho vụ rò rỉ này, họ chỉ càng làm hỏng hình ảnh của Anne trước mặt tất cả mọi người – công chúng, báo chí, cha mẹ cô, bạn bè cô, tất cả. Cô đã bị sỉ nhục công khai.
Anne quay sang nhìn vào đống đồ chơi và các món quà nhỏ đầy màu sắc khác đang cao dần lên ở vỉa hè ngay dưới chân bậc thềm nhà họ. Ở đó có những bó hoa đã héo, đủ loại thú nhồi bông mọi kích cỡ và màu sắc – cô có thể trông thấy gấu teddy, thậm chí cả một con hươu cao cổ quá cỡ – cùng các lời nhắn và thiệp gắn vào chúng. Cả một núi những lời nói sáo rỗng. Sự cảm thông thừa mứa. Và cả sự căm ghét nữa.
Sớm hôm đó Marco đã ra ngoài và mang vào một ôm đầy tay những món đồ chơi cùng lời nhắn cho cô, để mong khích lệ cô. Đó là một sai lầm mà anh sẽ không mắc lại nữa. Rất nhiều lời nhắn đầy những lời cay nghiệt, thậm chí làm họ bàng hoàng. Cô đọc vài tin, há hốc miệng rồi vo tròn chúng và ném chúng lên sàn.
Cô lại lấy ngón tay hé tấm rèm để nhìn ra ngoài.
Lần này một cơn hoảng sợ lạnh sống lưng lan xuống người cô. Cô nhận ra những người phụ nữ đang đi một hàng trên vỉa hè về phía nhà mình, đẩy em bé của họ trong những chiếc xe nôi. Có ba, không, bốn người, trong nhóm mẹ bỉm sữa của cô. Các phóng viên dạt ra cho họ đi qua, cảm nhận được pha gay cấn sắp đến. Anne nhìn họ không thể tin nổi. Cô đã nghĩ, làm sao họ có thể tới đây thăm cô cùng với em bé nhà họ được chứ.
Cô nhìn người đi đầu, Amalia – mẹ của cậu bé Theo xinh xắn, mắt nâu – thò tay bên dưới chiếc xe và cầm lấy thứ trông như một hộp lớn đựng thức ăn đã chuẩn bị sẵn. Những người phụ nữ sau lưng cô ta cũng làm điều tương tự, gạt phanh cho những chiếc xe đẩy, thò tay xuống lấy các đĩa thức ăn có nắp trong giỏ bên dưới ghế ngồi.
Tử tế làm sao, tàn độc làm sao. Cô không thể chịu đựng nổi việc đó. Một giọt nước mắt bật ra trong lúc Anne vội vã quay đầu khỏi cửa sổ.
“Có chuyện gì thế?” Marco giật mình hỏi, chạy tới chỗ cô.
Anh gạt rèm sang bên và nhìn qua cửa sổ xuống vỉa hè.
“ Vứt hết chúng đi! ” Anne thì thầm. “ Xin anh. ”
Sáng thứ Hai, lúc chín giờ, thanh tra Rasbach yêu cầu Marco và Anne tới đồn cảnh sát để thẩm vấn chính thức. “Hai anh chị không bị bắt,” ông đảm bảo với họ lúc họ nhìn chằm chằm vào ông, tê liệt. “Chúng tôi chỉ muốn lấy lời khai từ từng người một và hỏi thêm vài câu.”
“Tại sao ông không thể làm việc đó ở đây?” Anne hỏi, rõ là khổ sở. “Như ông vẫn đang làm?”
“Tại sao chúng tôi phải tới đồn?” Marco lặp lại, trông có vẻ sợ hãi.
“Đây là quy trình chuẩn thôi,” Rasbach nói. “Hai người có muốn ít thời gian để chỉnh trang không?” ông gợi ý.
Anne lắc đầu, như thể cô không quan tâm mình trông như thế nào. Marco không làm gì cả, chỉ nhìn đăm đăm xuống chân.
“Được rồi, vậy thì đi thôi,” Rasbach nói và dẫn đường.
Khi ông mở cửa trước, mọi thứ ập tới. Các phóng viên tụ ngay lại quanh bậc thềm, đèn máy ảnh nháy liên tục. “Họ có bị bắt không?” ai đó hét.
Rasbach không trả lời ai và tiếp tục sự im lặng lì lợm khi ông dẫn Marco và Anne đi qua đám đông tới chỗ chiếc xe cảnh sát đang đậu trước cửa nhà. Ông mở cửa sau, Anne đi vào trước và lùi sang bên kia ghế. Marco bước vào sau cô. Không ai nói chuyện, trừ đám phóng viên, những người đang gào thét câu hỏi vào họ. Rasbach trèo vào ghế hành khách, chiếc xe lái đi. Đám thợ chụp ảnh nhào theo họ để chụp.
Anne nhìn đăm đăm ra ngoài. Marco cố nắm tay cô, nhưng cô giật ra. Cô theo dõi thành phố thân thuộc lướt qua trên cửa sổ – quầy thực phẩm ở góc phố, công viên nơi cô và Cora đã ngồi trên một cái chăn trong bóng râm và nhìn lũ trẻ vầy nước ở bể. Họ băng qua thành phố – giờ họ không cách xa phòng trưng bày nghệ thuật nơi cô từng làm việc là mấy, ở gần dòng sông. Rồi họ đi qua toà nhà Art Deco nơi Marco đặt văn phòng, và ra khỏi trung tâm. Tất cả đều có vẻ rất khác khi nhìn từ ghế sau của một chiếc xe cảnh sát, trên đường đi thẩm vấn về vụ mất tích của con gái chính họ.
Lúc họ đến đồn, một toà nhà bê tông và kính hiện đại, chiếc xe đỗ lại ở cửa trước và Rasbach đưa họ ra. Không có phóng viên nào ở đây – không hề có thông tin trước nào về việc Anne và Marco sẽ được đưa vào thẩm vấn.
Khi họ đi vào trong đồn, một nhân viên cảnh sát ở chiếc bàn tròn ngước lên nhìn với vẻ quan tâm. Rasbach đưa Anne sang chỗ một nữ cảnh sát.
“Đưa cô ấy tới Phòng thẩm vấn số ba,” Rasbach bảo cô ta.
Anne nhìn Marco hoảng hốt. “Chờ đã. Tôi muốn ở cùng Marco. Chúng tôi không ở cùng nhau được sao?” Anne hỏi. “Sao ông lại tách riêng chúng tôi?”
Marco nói, “Không sao đâu, Anne. Đừng lo. Mọi chuyện sẽ ổn thôi. Chúng ta không làm gì cả. Họ chỉ muốn hỏi chúng ta vài câu, rồi họ sẽ để chúng ta về, đúng không?” anh ta quay sang nói với Rasbach, một chút thách thức trong giọng nói.
“Đúng vậy,” vị thanh tra trả lời trơn tru. “Như tôi đã nói, hai người không bị bắt. Việc anh chị ở đây là hoàn toàn tự nguyên. Anh chị được tự do rời đi bất kỳ lúc nào.”
Marco vẫn đứng yên và nhìn Anne đi xuôi hành lang cùng nữ cảnh sát. Cô quay người và nhìn lại anh, cô đang sợ chết khiếp.
“Đi theo tôi,” Rasbach nói. Ông đưa Marco vào một phòng thẩm vấn ở cuối dãy. Thanh tra Jennings đã có mặt trong đó. Căn phòng chỉ có đúng một cái bàn kim loại cùng một chiếc ghế ở đầu bên này, hai ghế ở đầu bên kia dành cho hai thanh tra.
Marco không tin mình có thể nói năng đúng đắn để giải quyết hiểu lầm. Anh có thể cảm nhận cơn kiệt sức đang chụp lấy mình. Anh tự nhủ mình phải nói thật chậm, nghĩ trước khi trả lời.
Rasbach đang mặc một bộ vest sạch sẽ và áo sơ mi cùng cà vạt mới. Ông ta cũng vừa cạo râu. Cả Jennings cũng vậy. Marco thì mặc quần bò cũ và một chiếc áo sơ mi nhàu nhĩ mà anh lôi ra khỏi ngăn kéo sáng hôm đó. Anh nghĩ đáng lẽ mình phải tận dụng lời mời của thanh tra để tắm, cạo râu và thay quần áo. Nếu làm vậy anh đã cảnh giác hơn, bình tĩnh hơn bây giờ. Và trông anh cũng sẽ bớt giống dáng vẻ của tội phạm hơn trong bản ghi sẽ được lưu vĩnh viễn của cuộc thẩm vấn này. Anh chỉ vừa mới nhận ra chắc mình sẽ bị quay phim lại.
Marco ngồi xuống và hồi hộp nhìn hai thanh tra đứng ở bên kia bàn đối diện mình. Cảm giác ở đây, thay vì ở nhà anh, thật khác. Đáng sợ hơn. Anh thấy rõ quyền kiểm soát đã thay đổi.
“Nếu anh đồng ý, chúng tôi sẽ ghi hình lại cuộc thẩm vấn này,” Rasbach nói. Ông chỉ vào một chiếc máy quay gắn trên trần căn phòng, chĩa vào bàn họ.
Marco không biết mình có thực sự được chọn hay không. Anh ngập ngừng một giây, rồi nói, “À được, không vấn đề gì.”
“Anh có muốn uống cà phê không?” Rasbach hỏi.
“Có, chắc chắn rồi, cảm ơn ông,” Marco nói. Anh đang cố thư giãn. Anh nhắc chính mình rằng anh ở đây là để giúp cảnh sát tìm ra kẻ đã bắt con anh.
Rasbach và Jennings ra ngoài lấy cà phê, để Marco ngồi lại một mình mà sợ.
Khi hai thanh tra quay lại, Rasbach đặt cốc giấy của Marco lên bàn trước mặt anh. Marco thấy ông ta đã mang cho anh hai gói đường và một gói kem, Rasbach đã nhớ cách Marco uống cà phê rồi. Trong lúc lúng túng với gói đường, hai bàn tay anh run rẩy. Tất cả đều trông thấy.
“Xin hãy nói tên anh và ngày tháng hôm nay,” Rasbach hướng dẫn, và họ bắt đầu.
Viên thanh tra dẫn dắt anh qua một loạt các câu hỏi trực tiếp để thiết lập câu chuyện từ phía Marco về những gì đã xảy vào cái đêm em bé bị bắt. Nó là một cuộc duyệt lại những gì đã từng hỏi, không mới. Marco thấy mình thả lỏng người dần trong quá trình thẩm vấn. Cuối cùng anh nghĩ họ đã xong, rằng họ sắp thả anh đi. Sự nhẹ nhõm trong anh lớn vô cùng, dù anh cẩn thận không để lộ ra nó. Đến lúc này anh mới có thời gian nghĩ đến chuyện đang diễn ra ở phòng kia, với Anne.
“Tốt lắm, cảm ơn anh,” Rasbach nói sau khi họ đã lấy lời khai của anh. “Giờ, nếu anh không phiền, tôi chỉ còn vài câu nữa thôi.”
Marco, lúc này đã dợm đứng dậy khỏi ghế kim loại, ngồi xuống lần nữa.
“Kể cho chúng tôi nghe về công ty của anh, Conti Software Design."
“Tại sao?” Marco hỏi. “Công ty của tôi thì liên quan gì đến chuyện này?” Anh nhìn trừng trừng vào Rasbach, cố giấu vẻ lo ngại của mình. Nhưng anh biết họ đang nhắm đến cái gì. Họ đã kiểm tra anh. Tất nhiên là họ phải làm vậy rồi.
“Anh khởi nghiệp với công ty này năm năm trước nhỉ?” Rasbach khuyến khích.
“Đúng vậy,” Marco nói. “Tôi có bằng kinh doanh và khoa học máy tính. Tôi đã luôn muốn tự mình làm kinh doanh. Tôi thấy một cơ hội trong ngành thiết kế phần mềm, đặc biệt là thiết kế các giao diện người dùng cho phần mềm y tế, nên tôi đã sáng lập một công ty riêng. Tôi có vài khách hàng quan trọng. Một nhóm nhỏ nhân viên là chuyên viên thiết kế phần mềm, tất cả đều làm việc từ xa. Hầu hết thời gian chúng tôi tới gặp khách hàng tận nơi, nên tôi phải di chuyển khá nhiều vì công việc. Tôi cũng có một văn phòng ở trung tâm thành phố. Chúng tôi đã khá thành công.”
“Phải, anh đã làm khá tốt,” Rasbach đồng ý. “Rất ấn tượng. Chắc chắn không dễ dàng gì. Có tốn kém lắm không? Việc khởi nghiệp này?”
“Còn tuỳ. Tôi bắt đầu từ mô hình rất nhỏ chỉ có tôi và vài khách hàng. Hồi đầu tôi là nhà thiết kế duy nhất – tôi làm việc tại nhà và phải mất rất nhiều thời gian. Kế hoạch của tôi là xây dựng công ty từ từ.”
“Nói tiếp đi,” Rasbach nói.
“Công ty bắt đầu gặt hái thành công, rất nhanh. Nó phát triển vượt bậc. Tôi cần thuê thêm nhà thiết kế để đáp ứng đủ nhu cầu, và đưa việc kinh doanh lên một mức độ mới. Nên tôi đã mở rộng. Rất đúng thời điểm. Khi ấy thì chi phí cũng tăng lên. Thiết bị, nhân viên, không gian văn phòng. Ông sẽ cần tiền để phát triển.”
“Và số tiền đó từ đâu đến, để mở rộng công ty anh ấy?” thanh tra lại hỏi.
Marco nhìn vào ông ta khó chịu. “Tôi không hiểu tại sao việc này lại quan trọng với ông, nhưng tôi đã vay một khoản từ bố mẹ vợ của tôi, bố mẹ Anne.”
“Tôi hiểu rồi.”
“Ông hiểu cái gì?” Marco bực dọc nói. Anh phải giữ bình tĩnh. Anh không thể để bị chọc tức. Rasbach có thể đang làm việc này chỉ để khích bác anh.
“Tôi không có ý gì cả,” vị thanh tra khẽ nói. “Anh đã nhận được bao nhiêu tiền từ bố mẹ vợ?”
“Ông đang hỏi tôi, hay là đã biết trước rồi?” Marco hỏi.
“Tôi không biết. Tôi chỉ đang hỏi.”
“Năm trăm ngàn đô la,” Marco nói.
“Nhiều phết nhỉ.”
“Đúng vậy,” Marco đồng ý. Rasbach đang bẫy anh. Anh không thể cắn câu được.
“Việc kinh doanh sinh lời tốt chứ?”
“Về cơ bản là thế. Chúng tôi có những năm tốt đẹp và những năm không tốt lắm, như bất kỳ ai khác.”
“Năm nay thì sao? Anh sẽ nói đó là một năm tốt đẹp hay không tốt lắm?”
“Năm nay khá là thảm, vì ông đã hỏi,” Marco nói.
“Tôi rất tiếc khi nghe vậy,” Rasbach đáp. Và chờ đợi.
“Chúng tôi đã có vài bước thụt lùi,” cuối cùng Marco nói. “Nhưng tôi tự tin là mọi việc sẽ quay lại guồng của nó. Kinh doanh lúc nào chẳng có lúc lên lúc xuống. Ông không thể buông xuôi mỗi khi có một năm tồi tệ được. Ông phải gắng gượng mà vượt qua.”
Rasbach gật đầu trầm ngâm. “Anh mô tả mối quan hệ của mình với bố mẹ vợ thế nào?”
Marco biết vị thanh tra đã trông thấy anh và bố vợ trong cùng một phòng. Nói dối cũng không ích gì.
“Chúng tôi không ưa nhau.”
“Vậy mà họ vẫn cho anh vay năm trăm ngàn đô la à?” Cặp lông mày của ngài thanh tra nhướng lên.
“Cả mẹ và bố cô ấy cùng nhau cho chúng tôi vay tiền. Họ có tiền. Họ yêu con gái mình. Họ muốn cô ấy có một cuộc sống tốt đẹp. Kế hoạch kinh doanh của tôi tốt. Đó là một khoản đầu tư chắc chắn với họ. Một khoản đầu tư vào tương lai con gái họ. Đó là một cuộc thỏa thuận thỏa mãn tất cả các bên liên quan.”
“Nhưng chẳng phải việc làm ăn của anh lúc đó đang rất cần được rót vốn hay sao?” Rasbach hỏi.
“Ngày nay việc gì mà chẳng cần được rót vốn,” Marco nói, có phần cay đắng.
“Anh đang sắp sửa mất công ty mà mình đã dày công gây dựng đúng không?” Rasbach hỏi, khẽ đưa người tới trước.
“Tôi không nghĩ vậy, không,” Marco nói. Anh sẽ không để mình bị đe dọa.
“Anh không nghĩ vậy à?”
“Không.”
Marco tự hỏi ông thanh tra đã lấy thông tin từ đâu. Đúng là việc kinh doanh của anh đang gặp rắc rối. Nhưng theo những gì anh biết, họ đã không có lệnh khám để dò xét công việc hay tài khoản ngân hàng của anh. Chẳng lẽ Rasbach đang đoán? Ông ta đã nói chuyện với những ai?
“Vợ anh có biết công ty gặp rắc rối không?”
“Không hẳn.” Marco vặn vẹo trên ghế ngồi.
“Ý anh là sao?” vị thanh tra hỏi.
“Cô ấy biết gần đây công việc không được tốt,” Marco thừa nhận. “Tôi đã không chất gánh nặng lên cô ấy bằng việc kể lể chi tiết.”
“Tại sao lại thế?”
“Chúng tôi chỉ vừa mới có con, lạy Chúa tôi!” Marco quát lên, lớn giọng. “Cô ấy lại còn bị trầm cảm, như ông đã biết. Tại sao tôi lại nỡ kể với cô ấy là việc làm ăn đang gặp rắc rối?” Anh lùa tay vào tóc, khiến nó rơi lại xuống mắt anh lộn xộn.
“Tôi hiểu rồi,” Rasbach nói. “Anh có gặp bố mẹ vợ xin giúp đỡ không?”
Marco né tránh câu hỏi. “Tôi nghĩ mọi thứ sẽ đảo chiều.”
Rasbach để lửng câu trả lời đó. “Hãy nói về vợ anh trước vậy,” ông ta bảo. “Anh bảo rằng cô ấy bị trầm cảm. Hồi trước anh đã kể với tôi rằng vợ anh được bác sĩ của cô ấy chẩn đoán là trầm cảm sau sinh. Một bác sĩ tâm lý. Bác sĩ…” Ông đọc ghi chép của mình. “Lumsden.” Ông ta ngước mắt lên. “Người hiện đang đi vắng.”
“Vâng, ông đã biết việc đó rồi,” Marco nói. “Chúng ta sẽ phải vòng lại chuyện này bao nhiêu lần nữa?”
“Anh mô tả các triệu chứng của cô ấy cho tôi được không?”
Marco nhấp nha nhấp nhổm trên chiếc ghế kim loại khó chịu. Anh cảm thấy như mình là một con giun bị ghim lên bàn. “Như tôi đã kể với ông, cô ấy buồn bã, khóc rất nhiều, thiếu sức sống. Có lúc cô ấy lại mang vẻ hoang mang. Cô ấy không ngủ đủ giấc. Cora khá là quấy.” Khi nói điều này, anh nhớ ra rằng con bé đã bị mang đi mất và phải dừng một chút để lấy lại tự chủ. “Tôi gợi ý cô ấy nên tìm ai đó giúp trông con, để cô ấy có thể ngủ trưa chút ít nhưng cô ấy không chịu. Tôi nghĩ cô ấy cảm thấy mình đủ sức tự cáng đáng, mà không cần trợ giúp.”
“Vợ anh có tiền sử bệnh về tâm thần không?”
Marco ngẩng lên, giật mình. “Cái gì? Không. Cô ấy chỉ có chút tiền sử bệnh trầm cảm, như hàng triệu người khác.” Giọng anh chắc nịch. “Bệnh về tâm thần ư, không.” Marco không thích điều mà viên thanh tra đang gợi ý. Anh gồng mình lên chờ điều sắp đến.
“Trầm cảm sau sinh cũng được tính là một bệnh lý về tâm thần, nhưng chúng ta hãy thôi chơi chữ đi.” Rasbach ngồi lùi lại trên ghế và nhìn vào Marco như đang nói, Chúng ta có thể nói thẳng ra được không? “Anh đã bao giờ lo ngại rằng Anne có thể làm hại em bé? Hoặc làm hại chính mình không?”
“Không, chưa từng.”
“Kể cả khi anh đã tìm kiếm về những bà mẹ rối loạn tâm thần sau sinh trên Internet ư?”
Vậy là họ đã xem máy tính của anh. Họ đã thấy thứ anh tìm kiếm, những câu chuyện về những người phụ nữ giết hại con mình. Marco có thể cảm nhận mồ hôi đang lấm tấm thành những giọt li ti trên trán anh. Anh xoay xở trên ghế. “Không. Tôi đã kể với ông thế rồi… Khi Anne mới được chẩn đoán, tôi đã muốn biết nhiều hơn về nó, nên tôi nghiên cứu một chút về trầm cảm sau sinh. Ông biết trên Internet thế nào rồi đấy, thứ này dẫn đến thứ kia. Ông cứ đi theo các đường dẫn. Tôi chỉ tò mò thôi. Tôi đã không đọc mấy câu chuyện đàn bà phát điên rồi giết hại con mình chỉ vì tôi lo lắng về Anne. Không đời nào.”
Rasbach nhìn anh chằm chằm mà không nói năng gì.
“Nghe này, nếu tôi lo ngại rằng Anne có thể sẽ làm hại con chúng tôi, tôi đã không để mặc cô ấy ở nhà một mình cả ngày với bé, đúng không?”
“Tôi không biết. Anh có làm thế không?”
Găng tay đã tháo ra. Rasbach nhìn anh chờ đợi.
Marco lườm lại. “Các ông định cáo buộc chúng tôi gì đó à?” Marco hỏi.
“Không, giờ thì không,” vị thanh tra nói. “Anh được tự do ra về.”
Marco từ từ đứng dậy, đẩy ghế ra sau. Anh muốn bỏ chạy trối chết ra khỏi đây, nhưng anh chỉ hành động từ tốn, làm ra vẻ như mình kiểm soát được, cho dù đó không phải là sự thật.
“Chỉ một điều này nữa thôi,” Rasbach hỏi. “Anh có quen ai có xe điện, hay có thể là một chiếc xe hybrid không?”
Marco ngập ngừng, “Tôi không nghĩ vậy,” anh nói.
“Thế thôi,” thanh tra nói và đứng dậy khỏi ghế. “Cảm ơn anh vì đã đến.”
Marco những muốn dí thẳng vào mặt Rasbach mà gào lên, Sao ông không làm cái việc chết tiệt của ông và tìm con cho tôi đi? Nhưng thay vào đó anh sải bước, có hơi quá nhanh, ra khỏi phòng. Khi đã ra đến cửa, anh nhận ra mình không biết Anne đang ở đâu. Anh không thể ra về mà không có cô. Rasbach đi đến sau lưng anh.
“Nếu anh muốn chờ vợ mình thì chắc cũng không lâu nữa đâu,” ông ta bảo và đi xuống hành lang và mở cánh cửa vào một căn phòng khác, nơi mà Marco đoán là vợ mình đang ngồi chờ ở đó.