“Bắt cóc giữa ban ngày ban mặt.” Montrose lái xe đưa chúng tôi về văn phòng cảnh sát ở Shelton, ánh sáng buổi chiều muộn biến con đường cao tốc thành những mảng tách biệt giữa bóng râm và ánh sáng. Cộng sự của tôi có biệt tài biến một câu nói thông thường trở thành tâm điểm trên bảng phi tiêu.
“Chuyện này vẫn thường xảy ra mà,” tôi nói.
Montrose luôn nhất quyết ngồi vào ghế lái. Tôi để ông ấy làm thế - không phải vì ông ấy là đàn ông mà vì việc cầm lái sẽ giúp ổn định lại sự run rẩy ở đôi bàn tay ông. Parkinson, tôi nghĩ thế, nhưng tôi không phải là bác sĩ. Ánh mắt chúng tôi từng chạm nhau một lần khi tôi thấy ông ấy gặp khó khăn khi lấy tiền từ trong ví ra. Chúng tôi không bao giờ nói về chuyện đó, dù tôi đã nhận thấy nỗi tuyệt vọng và xấu hổ hiện lên trong mắt ông. Và cả lời nhờ vả: Đừng nói gì cả. Đừng nói với ai .
“Ừ, nó vẫn xảy ra,” ông ấy đồng ý. “Với trẻ con.” Ông bất chợt đánh lái chệch đi một chút để tránh một con thú có túi đã chết. “Không phải với một phụ nữ trưởng thành. Bà mẹ nói là con gái bà ta rất khỏe. Tập yoga hay gì đó đại loại hai lần một tuần.”
“Có thể kẻ tấn công đã khống chế cô ấy bằng cái gì đó,” tôi nói. “Như cái gã ở Portland đã cất một chai chloroform trong hộp đựng găng tay trên ô tô của hắn.”
“Luôn sẵn sàng để bắt cóc phụ nữ trẻ,” Montrose nói. “Có thể. Nhưng nhìn vào nơi diễn ra chuyện đó xem. Đó không phải là bãi đậu xe của trung tâm thương mại, nơi mà một gã nào đó sẽ lởn vởn xung quanh giống như đang đi câu cá hoặc đi săn.”
“Đúng thế,” tôi nói. “Bãi biển chỗ cô ấy bị bắt không quá xa xôi hẻo lánh, nhưng vẫn cần bỏ ra chút công sức để tới được đó.”
“Nếu cô ta bị bắt.”
“Anh ấy đã nói là bị bắt,” tôi nói.
“Đúng, cậu ta nói thế,” ông ấy đồng tình trong khi chúng tôi lái xe qua khu đất của Bill Gates ở gần khu nghỉ mát Alderbrook. Montrose luôn nhắc lại điều đó mỗi lần lái xe qua đây. Nhưng lần này thì không. Ông ấy đang giữ chặt tay lái. Các khớp trên ngón tay của ông trắng bệch. Ông đang tập trung vào hai điều: sự run rẩy của ông và câu chuyện của Adam Warner.
“Ông đang nghĩ gì vậy?” tôi hỏi.
“Có thể cô ta đã bỏ cậu ta,” ông đưa ra ý kiến, giọng điệu có vẻ thiếu dứt khoát. “Có thể cậu ta đang nói dối. Có thể cậu ta có trách nhiệm về chuyện đó.”
Tôi biết Montrose đang ám chỉ điều gì. Tôi thấy cách ông ấy nhìn Adam khi chúng tôi lấy lời khai của anh. Tôi không phải là muốn bảo vệ anh ấy. Tôi muốn dùng bằng chứng để đưa ra kết luận điều tra. Nhưng tôi biết Adam. Tôi đã biết anh ấy một thời gian dài. Tôi còn nhớ hồi anh ấy hay đến nhà và đi chơi với anh trai tôi, tôi đã muốn trở thành một phần của cái câu lạc bộ nho nhỏ của họ đến mức nào. Nhưng đó là điều không thể. Tôi là con gái. Tệ hơn nữa, tôi là cô em gái bé nhỏ. Trong số bạn bè của anh trai, tôi quý Adam nhất. Anh ấy có nụ cười đẹp nhất và lúc nào cũng cười với tôi, khiến tôi cảm thấy mình thật đặc biệt. Vậy đó. Tôi thích anh ấy.
Nhưng không có nghĩa là tôi sẽ thổ lộ cho anh ấy tất cả chuyện đó.
“Ông sẽ khiến tôi sốc tận óc nếu Adam Warner nói dối chúng ta” là câu mà tôi nói. “Bọn tôi lớn lên cùng nhau. Tôi dám đặt cược vào bất cứ đứa trẻ nào ở Shelton mà tôi quen trước đây, đặc biệt là Adam.”
“Có lẽ cô không nên tham gia vụ này,” ông ấy nói thẳng thừng.
Tôi mặc kệ giọng điệu của ông ấy. “Tôi ổn. Chuyện đó cách đây đã lâu rồi.”
Ông rời ánh mắt khỏi con đường và liếc sang tôi.
“Được thôi, nếu cô nói như vậy,” ông nói.
Văn phòng của tôi ở Đồn Cảnh sát Quận Mason có cửa sổ hướng ra cây mận già héo úa, vỏ cây là một lớp mỏng màu bạc phản chiếu ánh Mặt Trời vào mặt tôi. Mỗi năm, một chuyên gia về cây trồng sẽ tới để bón phân, kiểm tra đất và cắt bỏ những nhánh cây chết. Đó là cây lưu niệm, được một trong những người thành lập thị trấn trồng, nhưng ai cũng nhận thấy là nó sắp tiêu rồi. Có thời điểm, tôi cũng cảm thấy điều tương tự về Shelton. Đơn vị thuê lao động chính của thị trấn là nhà máy cưa, nơi ấy cứ mở rộng rồi lại thu hẹp trong nhiều thập kỷ, khiến mọi người trong thị trấn tự hỏi rồi nó sẽ đi về đâu, sẽ nở rộ hay sẽ đóng cửa. Nó vẫn sống sót cho đến nay. Leo lắt. Mọi thứ về thị trấn của chúng tôi - những lễ hội, các đội thể thao, thương mại - đều xoay quanh gỗ xây dựng. Dĩ nhiên rồi, chúng tôi có khung cảnh của vùng Tây Bắc Thái Bình Dương đẹp lộng lẫy, tọa lạc cạnh vùng đồi núi thấp xanh tươi trên vùng biển hoang sơ của cực Nam Puget Sound. Chúng tôi đều biết, chỉ với những điều đó thì không bao giờ đủ để tạo nên một địa điểm du lịch. Quá xa xôi so với Seattle hay Tacoma để tạo thành khu nhà ở ngoại ô. Chúng tôi sống sót được là vì chúng tôi bướng bỉnh. Chúng tôi là con cháu của tiều phu.
Và chúng tôi có một nhà tù ngay trên đồi. Công việc luôn thuận lợi ở đấy.
Cây mận sẽ biến thành củi vào một ngày nào đấy. Có lẽ, một thanh củi được cắt từ thân cây sẽ được bảo quản và lưu giữ trong bảo tàng nhỏ của chúng tôi. Nhưng nhiều khả năng trở thành củi đốt sẽ là công dụng cuối cùng của nó.
Trong khi Montrose đang ở văn phòng của ông ấy phía dưới hành lang làm báo cáo về những lời khai lấy được, tôi ghi chú lại thông tin trong các bản thu âm từ tổng đài. Đó luôn là bước đầu tiên mà tôi làm. Tôi cần một bộ khung cơ bản thật rõ ràng và chặt chẽ nhất có thể. Những cuộc gọi còn kịch tính hơn cả phim. Chúng là điểm đánh dấu đầu tiên về những gì đã xảy ra, một điểm đánh dấu không thể chối cãi trước tòa - và thường sẽ mở đầu cho hầu hết các vụ kiện của bên nguyên. Không hề có kẻ tình nghi nào, bất chấp lời gợi ý mà Montrose mới đưa ra. Tất cả những gì chúng tôi có lúc này là thời điểm mà vụ việc được báo cáo và những điều mà nhân chứng nói.
Lúc 11:42: Teresa Dibley gọi điện tới báo án lần đầu tiên.
Dibley: “Vợ của một người đàn ông ở căn nhà gỗ cạnh chúng tôi bị bắt cóc.”
Nhân viên tổng đài: “Tên và địa chỉ của bà.”
Dibley: “Teresa Dibley. Tôi đang thuê một ngôi nhà gỗ với các cháu trong dịp cuối tuần ở Hood Canal ở Lilliwaup, gần Octopus Hole. Tôi sống ở Port Orchard.”
Nhân viên tổng đài: “Bà đang gọi điện từ đâu?”
Dibley: “Địa chỉ à? Tôi không biết. Ở ngay cạnh đường cao tốc trên đường Canal View. Tôi không biết địa chỉ chính xác. Nhưng chỉ có ba căn nhà gỗ ở đây thôi. Các vị sẽ không bị nhầm đâu. Chờ chút đã…”
Một khoảng im lặng dài.
Nhân viên tổng đài: “Teresa? Bà còn ở đấy không?”
Dibley: “Đợi chút. Có. Tôi đang tìm địa chỉ trong nhà. Tôi không tìm thấy nó.”
Nhân viên tổng đài: “Không sao. Chúng tôi đã biết địa điểm rồi. Bà có nhìn thấy người đàn ông đó không?”
Dibley: “[Vẻ khó hiểu] Không. Không. Cháu trai tôi nói là cậu ấy chạy lên trên đồi rồi.”
Nhân viên tổng đài: “Được rồi. Tôi cúp máy đây. Người hỗ trợ đang trên đường tới. Hai mươi phút nữa.”
Lúc 11:44, Axel Bakker gọi tới đường dây nóng về việc một phụ nữ bị bắt cóc trên bãi biển giữa Hoodsport và Lilliwaup.
Bakker: “Cảnh sát phải không?”
Nhân viên tổng đài: “Phải, có chuyện khẩn cấp gì vậy?”
Bakker: “Chúng tôi cần cảnh sát tới đây ngay lập tức. Một người đàn ông nói là vợ cậu ta bị bắt cóc trên bãi biển. Tôi đã thấy khi đang dắt chó đi dạo.”
Nhân viên tổng đài: “Tên của ông là gì, thưa ông?”
Bakker: “Axel Bakker. Tên con chó là Winston.”
Nhân viên tổng đài: “Ông đang gọi điện từ đâu?”
Bakker: “Tôi không biết địa chỉ chính xác chỗ này. Tôi sống cách đây vài ngôi nhà ở phía trên bãi biển, ở bốn-hai-hai-ba đường Canal View.”
Nhân viên tổng đài: “Ông có đang ở nhà không?”
Bakker: “Không. Tôi đang trên bãi biển. Tôi đang đi đến chỗ người đàn ông đó và cô con gái.”
Nhân viên tổng đài: “Được rồi. Ông đã nhìn thấy vụ bắt cóc.”
Bakker: “Đúng, một phần. Tôi thấy cô ta. Người đàn ông trên thuyền với bé gái gọi về phía tôi nhờ giúp.”
Nhân viên tổng đài: “Người đàn ông đó ổn chứ? Bé gái ổn không?”
Bakker: “Sao tôi biết được. Tôi chưa nói chuyện với cậu ta bao giờ. Tôi chỉ thấy cái mà tôi thấy và cậu ta hét nhờ tôi gọi cảnh sát. Cảnh sát sẽ cử người đến chứ?”
Nhân viên tổng đài: “Có, thưa ông. Hãy bình tĩnh và ở nguyên tại chỗ. Chúng tôi đang cử một đơn vị tới đó bây giờ.”
Bakker: “Hi vọng mấy người đến đây sớm. Sống ở đây lâu rồi mà tôi chưa chứng kiến chuyện kiểu này bao giờ. Giống như một chương trình truyền hình vậy.”
Trước lúc gặp ông ấy, tôi đã có thể đưa ra vài giả định về Axel Bakker dựa trên cuộc điện thoại. Ông ấy già cả: giọng ông bị khàn đi do tuổi tác và run run vì xúc động. Ông ấy bị đẩy vào tình huống ngoài sức tưởng tượng. Ti vi chính là khung tham chiếu duy nhất về những trường hợp như ông vừa chứng kiến. Và ông là một người tử tế, biết quan tâm. Ông ấy thấy cần cung cấp cho nhân viên tổng đài tên chú chó của mình.
Montrose và tôi đang điều tra một vụ trộm gần Alderbrook lúc đó và đã phải dừng lại để tới hiện trường. Kể cả vậy, chúng tôi đã mất hai mươi phút mới tới nơi.
Chúng tôi tới nơi lúc 12:04.
Khá thú vị một điều rằng người thực hiện cuộc gọi đầu tiên, Teresa, không hề nhìn thấy chuyện gì xảy ra và chỉ chuyển tiếp những điều Adam nói với bà. Axel thấy vụ việc xảy ra nhưng lại gọi điện sau Teresa vài phút.
Tôi tự hỏi tại sao.
Montrose thò đầu vào văn phòng của tôi.
“Connor và Kristen Moss đang ở đây,” ông ấy báo.
Tôi lấy cuốn sổ tay của mình, hy vọng có thể điền vào đó một lời giải đáp cho cái sự kiện không tưởng này. “Ở ngay đằng kia.”
Không thể phủ nhận một điều rằng Connor và Kristen Moss là một cặp trai xinh gái đẹp. Anh chàng da ngăm, với mái tóc gọn sóng gần như màu đen được cắt ngắn ở hai bên, mặc dù không phải theo phong cách Đức Quốc Xã. Những đường nét đẹp trai của anh khá góc cạnh và cánh tay trần ở áo phông UW nhìn gân guốc hơn cả cơ bắp. Vợ anh thì đối lập hẳn. Cô ấy đẹp rực rỡ. Trong hai người, cô ấy chắc là người nồng nhiệt hơn hẳn. Cổ cô đung đưa một mặt dây chuyền theo phong cách Art Deco bằng bạch kim và ngọc bích. Nó làm khuếch đại màu xanh trong mắt cô. Khi Montrose và tôi ngồi đối diện họ trong căn phòng thẩm vấn sáng choang ở Đồn Cảnh sát Quận Mason, tôi cảm ơn họ vì đã tới. Lúc này đã gần giờ ăn tối. Montrose thích ăn uống đúng giờ mỗi ngày. Nhưng sẽ không có chuyện đó đâu.
“Anh chị có thể gọi điện thoại cũng được mà,” tôi bảo họ.
Kristen trả lời ngay lập tức. “Dĩ nhiên rồi. Nhưng với tư cách là một nhân viên của tòa án, nghĩa vụ của tôi là đảm bảo cho hai vị có được mọi thứ mà hai vị cần. Tuy không phải là tôi” - cô ấy dừng lại một nhịp và tự chỉnh lại lời nói - “tuy không phải là chúng tôi biết được điều gì.”
“Dĩ nhiên là không rồi,” tôi nói, mặc dù tôi mới là người đánh giá điều đó. Không phải họ.
“Người phụ nữ ở ngôi nhà gỗ bên cạnh đã kể cho chúng tôi thông tin chi tiết. Những thứ không có trên bản tin,” Connor nói. Giọng nói của anh ấy nhỏ nhẹ hơn vợ mình. “Một chuyện sốc thật sự.”
“Ừ,” Montrose cuối cùng cũng nổ máy. “Tôi ghét cái biểu cảm cũ rích ‘Những thứ như vậy không xảy ra ở đây’ nhưng nó đang ở ngay trước mắt. Nó không xảy ra đâu.”
“Đúng thế,” Connor nói. “Kris và tôi cũng nói về chuyện đấy trong suốt quãng đường đến đây. Dĩ nhiên là những vụ ở Seattle, không phải ở đây. Chúng tôi đã tới đây nhiều năm rồi. Gần như là thân thuộc và giờ thì chuyện này xảy ra.”
“Chuyện này khiến tôi phải suy nghĩ lại là nên đi đâu trong những dịp cuối tuần dài. Có lẽ chúng tôi nên gạch tên ngôi nhà gỗ này ra khỏi danh sách và bắt đầu đến Hawaii vào kỳ nghỉ như những người khác,” Kristen bổ sung.
Chúng tôi nói chuyện thêm một chút và biết được rằng cô ấy là luật sư cho một công ty ở trung tâm thành phố, còn anh ấy làm bồi bàn tại một nhà hàng hạng sang mà tôi chắc chắn là rất khác so với Mill Wood, quán ăn ngon nhất ở Shelton.
“Bồi bàn trưởng,” Kristen nói.
Tôi gật đầu. Tôi nhìn ra sự khác biệt và thậm chí còn hơn thế, nhu cầu muốn nâng tầm sự nghiệp chồng mình lên của Kristen. Tôi biết rằng cộng sự của mình sẽ bình luận vài câu cạnh khóe sau khi họ rời đi.
“Anh chị đến đây khá sớm vào sáng nay,” tôi nói. “Khoảng mấy giờ?”
“Đúng thế,” Kristen nói. “Chúng tôi không thể đi sớm hơn vào thứ Sáu. Có quá nhiều việc cần làm nên chúng tôi rời đi lúc mười giờ tối. Đến ngôi nhà gỗ rất muộn, sau nửa đêm. Thành thực mà nói, tôi không chắc chính xác là mấy giờ.”
“Tôi gục luôn,” Connor xen vào. “Tôi không thể nói chắc chắn là mình đến nơi lúc mấy giờ. Tôi lăn ra ngủ ngay lập tức. Tôi kiệt sức.”
Kristen nhìn chồng mình bằng ánh mắt khó chịu. “Cả hai chúng tôi đều làm những công việc căng thẳng và đúng, chúng tôi ngủ rất nhanh.”
“Hai người có thấy điều gì bất thường ở mấy ngôi nhà không?” Montrose hỏi. “Hai người hay đến đó, đúng không?”
Connor trả lời. “Đúng, chúng tôi từng đến đó. Lần nào cũng thế. Vẫn là tác phẩm nghệ thuật hình bạch tuộc trên tường, vẫn bãi biển đó.”
“Hai người có nhìn thấy hoặc nói chuyện với những người trọ ở mấy căn kia không?” Montrose tiếp tục.
Kristen trả lời câu này. “Tôi có. Connor ngủ gần hết buổi sáng. Tôi nói chuyện với người phụ nữ ở ngôi nhà bên cạnh một chút. Bà ấy có vẻ ngọt ngào. Bà luôn chân luôn tay với mấy đứa trẻ.”
“Vậy thì, Connor,” tôi nói, “anh đã ở đó cả buổi sáng đúng không? Tôi tưởng là cả hai ra ngoài để leo núi hay gì đó.”
Connor xoa xoa sau đầu.
“Tôi bị đau nửa đầu,” anh nói. “Tôi uống ít thuốc và lăn quay ra ngủ. Kris ra ngoài một mình.”
Cô ấy nhìn về phía chồng. “Chuyện đó đang diễn ra ngày một nhiều. Tôi bảo anh ấy đến gặp một bác sĩ khác nhưng tôi thì biết gì đâu? Tôi chỉ hành nghề luật. Không phải y.”
Và thế là bạn biết đấy. Kristen Moss là một trong số luật sư luôn tìm ra cách để đưa nghề nghiệp của họ xen vào mọi cuộc trò chuyện.
“Chị đã đi đâu vậy?” Tôi hỏi Kristen.
“Tôi đã không đi đâu mới đúng chứ?” cô ấy trả lời bằng một câu hỏi. “Tôi lái xe tới Cushman và đi bộ quanh một phần của hồ. Trời rất nắng. Nhưng cũng không phải chuyện lớn. Tôi đã thoa nhiều kem chống nắng.”
“Còn anh thì sao, Connor?”
“Đeo tai nghe chống ồn và ngủ. Tôi bị ốm. Uống quá nhiều vào đêm hôm trước. Đau nửa đầu hôm nay. Chỉ vậy thôi.”
“Cậu có nghe thấy gì không?” Montrose hỏi.
“Không,” anh ấy nói. “Tai nghe dòng cao cấp nhất.”
Dĩ nhiên là cao cấp nhất rồi , tôi nghĩ.
Kristen lùi ghế khỏi bàn và nhìn chồng một cái để anh ấy làm theo. Anh ấy làm theo thật. Cô ấy trượt danh thiếp của mình về phía tôi.
“Số di động của Connor ở mặt sau nếu hai vị muốn liên hệ với anh ấy. Tôi cũng đính kèm số điện thoại riêng của tôi tại công ty.”
Có phải cô ấy đang đề cập đến việc mình là luật sư không?
“Chà,” Montrose nói, “tưởng thế nào.”
“Ừ,” tôi bổ sung, “nhưng ít ra ta cũng biết được một luật sư giỏi.”
Ông ấy ném sang tôi một nụ cười mỉm. “Cô ta thú vị, tôi sẽ công nhận thế. Tội nghiệp thằng ngốc mà cô ta cưới - cậu ta chắc suốt ngày phải nghe vợ nói với mọi người là cậu ta không phải là bồi bàn bình thường đâu mà là bồi bàn trưởng.”
“Chúng ta không biết gì về họ,” tôi nhắc ông ấy.
“Và họ không biết gì về vụ này. Quý cô Độc lập và Quý ngài Đau nửa đầu. Chúa ơi! Đúng là trời sinh một cặp! Tôi thấy thương cho mấy người ở Hawaii. Hai người đó sẽ là những người khó chịu nhất từng đến Hawaii kể từ khi thằng ngu nào đó bấm báo động tấn công tên lửa giả.”
Chúng tôi nói chuyện thêm một lúc trước khi quay lại hành lang để trở về văn phòng làm việc của mình.
“Tất cả những gì chúng ta có là anh chồng và người dẫn chó đi dạo. Anh chồng thì không đeo kính, người dẫn chó đi dạo thì tám mươi tuổi.”
“Ông ý bảy mươi bảy,” tôi nói.
“Sao cũng được. Quan điểm của tôi là những nhân chứng tận mắt chứng kiến của chúng ta không phải là ‘dòng cao cấp nhất’,” Montrose nói, nhại lại câu nhấn mạnh của Connor Moss.
“Họ thấy có ai đó bắt Sophie,” tôi nói.
“Adam Warner nói thế. Ông cụ đi trên bãi biển đã thấy Sophie và cuộc vật lộn. Ông ta không thể nói chắc chắn là ai kéo cô ta đi.”
“Thế ông nghĩ là điều gì đã xảy ra? Cô ấy biến mất rồi, ông biết mà.”
“Ừ. Phải. Cô ta biến mất. Và tôi không biết chuyện gì đã xảy ra. Câu chuyện ‘một kẻ lập dị bắt cóc vợ tôi’ có vẻ thiếu thực tế.”
“Chuyện đó xảy ra mỗi ngày,” tôi nhắc ông ấy. “Chỉ là không ở đây.”
Montrose nhún nhẹ vai. “Tôi không nghi ngờ gì về chuyện đó,” ông ấy nói. “Nhưng giữa ban ngày ban mặt? Lúc mười một giờ trưa hả?”
“Thời gian hơi bất thường,” tôi chấp nhận. “Tôi nghĩ là một bước đi táo bạo như vậy không thể xảy ra nếu kẻ đó không chủ ý theo dõi cô ấy.”
“Và cô ta đánh rơi ly rượu,” ông ấy nói. “Cô ta nghiện rượu hay gì?”
“Tôi không có thông tin về việc này khi nói chuyện với người thân của cô ấy,” tôi trả lời. Ngay lập tức tôi thấy mình ngu ngốc, bởi tôi thậm chí còn không hỏi họ. Mười một giờ trưa là khá sớm để uống rượu. Ngay cả trong kỳ nghỉ. Mặc dù tôi không nghĩ tới việc hỏi về ly rượu, có điều gì đó khiến tôi nghi ngờ rằng liệu người thân của cô ấy có chịu nói nếu con gái họ có vấn đề với rượu không - dĩ nhiên là họ sẽ không nói trong những giờ điều tra đầu tiên.
“Sự thật là,” Montrose đang ngồi trên chiếc ghế văn phòng cổ lỗ của mình được gắn lại với nhau bằng băng keo, một kiểu sửa chữa theo phong cách MacGyver mà ông coi là điều đáng tự hào, nói “chúng ta chẳng biết cái quái gì về Adam và Sophie Warner cả.” Ông ấy ngừng lại một lát. “Ý tôi là, tôi không biết. Nhưng cô thì biết, phải không, Lee?”