Căn nhà gỗ kêu kẽo kẹt theo mỗi bước chân khi tôi đi đi lại lại trên mặt sàn bằng gỗ linh sam được đánh bóng. Lúc này đã quá tám rưỡi và Mặt Trời vẫn chiếu rọi trên mặt nước bên ngoài cửa sổ. Chiếc đồng hồ cổ Seth Thomas trong phòng bếp tích tắc như một máy đánh nhịp, nhắc rằng tôi đang ở một mình, trong khi tôi không cần ai nhắc cả. Tôi chưa bao giờ là kiểu người hay đi đi lại lại. Tuy nhiên, chiều nay tôi có nhiều chuyện phải suy nghĩ. Tôi đi qua căn phòng có giường tầng mà Aubrey ngủ đêm hôm trước. Tôi tự hỏi con bé đang đối phó với ông bà nó như thế nào. Con bé ba tuổi nhưng rất thông minh. Con bé biết là ông ngoại ghét bố nó. Và tôi biết, mà không mảy may nghi ngờ chút nào, rằng trong cuộc chiến tranh giành tình cảm của con bé, tôi sẽ luôn đánh bại ông ta. Đó có lẽ là thứ duy nhất mà ngay cả ông ta cũng phải chấp nhận thua cuộc. Helen chắc đang xả nước vào bồn tắm, lấp đầy bồn bằng bọt bong bóng xà phòng và kiểm tra để đảm bảo nước không quá nóng. Bà ấy rất chu đáo. Đôi khi tôi thấy bóng dáng của Helen ở Sophie, những phần tính cách mà tôi ghét cay ghét đắng. Thi thoảng, khi có một chuyện gì đó mà cô ấy khinh thường hoặc không đồng ý nhắm đến cô ấy, cô ấy sẽ giả vờ không nghe thấy. Cô ấy luôn nói được thôi khi không tán thành. Sophie sẽ vào trong phòng ngủ và thả rèm nhằm tạo ra một pháo đài tối tăm để không phải đối diện với cái thứ đang làm phiền cô ấy. Tôi đã không biết về điều đó khi cưới. Tôi nhìn thấy những điều cô ấy muốn phô ra với thế giới: thú vị, thông minh và gợi cảm.
Hài hước làm sao khi những tính cách đó thường là tấm màn mỏng để che đi con người thật. Những thứ đó đều rất dễ che đậy. Sẵn sàng phiêu lưu. Gật đầu trước những viễn cảnh phức tạp khi cô ấy không hề muốn nghe, sẵn sàng chơi trò phòng ngủ ngay cả khi không có phòng ngủ nào. Ban đầu, Sophie là tất cả những thứ đó. Tôi không hề biết đó đều là những thứ được dựng lên. Tôi đã nghĩ đó là những tính cách thật trong con người cô ấy.
Dịch vụ tệ hại, nhưng điện thoại của tôi vẫn réo dồn dập. Tôi ngồi sụp xuống ghế sô pha to tướng màu xanh dương trong phòng khách và đọc lướt qua các tin nhắn bắt đầu gửi tới từ lúc sáu giờ và đến giờ vẫn chưa ngừng lại.
Anh bạn, tôi đã nghe tin về Sophie.
Cần anh đến đó không?
Cái quái gì vậy?
Sẽ tìm thấy cô ấy thôi.
Con sẽ về tối nay chứ?
Aubrey vẫn ổn. Phải không?
Chó chết.
Chuyện gì xảy ra vậy?
Anh ổn không?
Các tin nhắn từ gia đình và bạn bè, những người đã vô tình biết đến bi kịch này từ bản tin và mạng xã hội. Tôi hồi âm đầy đủ nhất có thể nhưng không thực sự biết nên trả lời ra sao. Dĩ nhiên là tôi không ổn. Ừ, người ta sẽ tìm thấy cô ấy. Không, tôi không cần ai bây giờ cả. Họ thì có thể làm gì chứ? Những lời nói và sự quan tâm chân thành không giúp gì được cho tôi trong lúc này. Tôi có thể giả vờ là chúng có ích. Tôi có thể nói dối. Nhưng sự thật phức tạp hơn thế nhiều. Tôi yêu vợ tôi. Tôi cũng ghét cô ấy. Tôi thích cái danh xưng của chúng tôi. Nhưng - và rất khó để bản thân thừa nhận điều này - đó là một thời gian dài trước đây, trước khi chúng tôi có Aubrey. Sau khi con bé được sinh ra, chúng tôi đã thay đổi. Tôi đã trở thành một ông bố. Sophie, một người mẹ. Tôi nhận ra một điều rằng mẹ thì luôn hơn bố. Mẹ làm chủ mọi thứ. Bố chỉ đóng góp vai trò. Bố là sinh học. Mẹ là thiêng liêng. Công cuộc làm mẹ sẽ bào mòn cuộc hôn nhân từng chút một. Cho đến từng mảnh vụn cuối cùng.
Tôi tắt điện thoại và đi lấy chai rượu whisky mang theo từ Seattle. Mặc dù kỳ vọng rằng chúng tôi sẽ ở bên nhau cuối tuần này, nhưng tôi biết mình sẽ có thừa thời gian để ngồi, hờn dỗi và uống. Tôi đã thuyết phục cô ấy rằng cuối tuần là cơ hội để chúng tôi đưa mối quan hệ trở về đúng hướng và Sophie chấp nhận cái cớ ấy. Ý tôi là chấp nhận theo cái kiểu mà cha mẹ đồng ý đi xem trận bóng chày của con cái ấy. Họ không muốn tới đó. Họ chẳng được lợi lộc gì từ đó cả. Nhưng họ vẫn tới vì lời đề nghị và vì đã quá chậm chạp để đưa ra một cái cớ đủ hợp lý tới mức bạn không phá tan được bằng một biểu cảm giả vờ thất vọng.
Tôi không nói về tình trạng hôn nhân của chúng tôi cho bất cứ ai. Tôi chưa bao giờ nói. Tôi cảm thấy Sophie cũng thế. Cô ấy giống mẹ của mình. Cô ấy rút lui và giữ kín mọi chuyện cho riêng mình. Cô ấy học được điều đó từ việc quan sát Helen khi bà ấy xây một bức tường vô hình để tránh bản thân bị Frank xâm phạm. Tôi không phải Frank. Tôi không giống ông ta chút nào cả. Nhưng những đặc điểm tính cách mà bạn tiếp thu được lại thường không đến từ thực tế đang có mà dựa trên quá khứ không thể trốn thoát. Hôn nhân của chúng tôi lung lay trong im lặng. Âm thầm hỗn loạn. Tôi yêu cô ấy mà không mảy may nghi ngờ điều gì. Nhưng Sophie thì sao? Tôi không biết cô ấy thực sự cảm thấy thế nào về tôi. Nếu thực sự yêu tôi dù chỉ một chút, cô ấy đáng ra đã không làm những chuyện như vậy.
Tôi làm một hớp whisky, vị ngọt bùng cháy lấp đầy cổ họng bằng hương vị quen thuộc. Việc nghĩ về Sophie luôn là trò tiêu khiển của tôi khi uống rượu. Thật buồn cười khi ta yêu ai đó nhiều đến mức tình yêu trở thành nỗi đau.
Tôi gọi cho Helen.
“Aubrey thế nào rồi ạ?” tôi hỏi.
“Có tin tức gì mới ở đó không?” bà ấy hỏi, giọng hơi lạc đi vì lo lắng.
“Không. Không có gì. Không một động tĩnh gì cả. Aubrey thế nào rồi ạ?”
“Con bé không biết chuyện gì đang xảy ra nên vẫn ổn.”
Tôi có thể nghe thấy giọng Helen lạc đi thêm đôi chút. Tôi quên mất rằng bên trong vẻ ngoài lãnh đạm và bình thản ấy là một con người. Không hay ho lắm khi nghĩ thế, tôi biết. Nhưng đó là cách mà tôi luôn nhìn nhận bà ấy.
“Frank đang tức giận muốn sùi bọt mép,” bà ấy nói, cố gắng kéo bản thân ra khỏi cảm xúc đang khiến bà ấy tan nát.
“Ông ấy đang làm gì rồi?”
“Ông ấy đang trong phòng làm việc. Ông ấy đang gọi điện cho mọi người từ FBI đến các phương tiện truyền thông.”
“FBI á?”
“Việc bắt cóc,” bà ấy nói. “Frank tin là ai đó đã bắt Sophie và sẽ đòi tiền chuộc. Dĩ nhiên là ông ấy sẽ trả tiền. Mẹ biết là con cũng sẽ làm thế.”
“Dĩ nhiên rồi,” tôi bảo bà, “nhưng không có khoản tiền chuộc nào cả. Đây không phải là một vụ bắt cóc.”
Bà ấy không nói gì trong một giây. Bà ấy đang nghĩ về những gì chồng bà nhắc bà nói với tôi.
“Chúng ta không biết điều đó,” bà ấy nói.
Tôi nghe thấy tiếng Frank ở đằng sau. Ông ta đang đi tới chỗ điện thoại.
“Ai đó?” Ông ta hỏi.
“Adam.”
Frank cầm lấy điện thoại. “Bên cậu có thông tin gì rồi?”
“Không có gì,” tôi nói. “Cảnh sát đang làm việc.”
“Không phải cậu đã gặp mấy tay thám tử kia rồi à? Nếu cậu hỏi thì tôi sẽ gọi đó là hai tên ngốc tù túng.”
Tôi không nói gì.
“FBI không thể tham gia trừ khi họ bị thuyết phục rằng đây là một vụ bắt cóc. Yêu cầu tiền chuộc và tất cả những thứ đó. Cậu có tin được thứ nhảm nhí đó không? Không phải là vụ án ở cấp độ liên bang. Tôi dám cá là mấy gã đó sẽ thấy khác nếu người bị bắt là đứa con gái bé nhỏ của họ.”
Ông ta luôn luôn gọi cô ấy như thế. Con gái bé nhỏ của ông ấy. Như thể cô ấy ngừng phát triển từ năm sáu tuổi và không phải là một phụ nữ trưởng thành ba mươi ba tuổi.
“Con nghĩ là nếu mọi việc như vậy thì ta đã nhận được tin từ kẻ bắt cóc rồi,” tôi nói, mặc dù không chắc lắm về lô-gíc của cái điều tôi đang nói. Trong khi Frank chửi rủa ầm ĩ, tôi suy nghĩ thật kỹ. Tôi nghĩ xem mình có thể nói gì với ông ta. Điện thoại của cô ấy đang ở trong căn nhà gỗ. Điện thoại của tôi đang nằm trong tay tôi. Trừ khi kẻ bắt cóc có số điện thoại của tôi vì đây là vụ bắt cóc được lên kế hoạch sẵn chứ không phải hành động ngẫu nhiên của một kẻ lập dị nào đó, còn không thì khó có khả năng hắn liên lạc được với tôi. Dĩ nhiên, hắn ta có thể gọi điện cho cảnh sát, tôi đoán thế. Hoặc các phương tiện truyền thông. Việc liên lạc trực tiếp không phải là một phương án khả thi.
Nhưng tôi không nói gì cả. Frank chỉ thích âm thanh từ giọng nói của chính ông ta.
“Tôi đã gọi cho KOMO TV,” Frank cuối cùng cũng nói. Làm chương trình, công bố thông tin . “Linda London sẽ xem xét liệu cô ta có tìm được thông tin gì hay không.”
Linda London là người cuối cùng trong nhóm người gạo cội ở đài truyền hình Seattle TV có một vài thành công có thể chấp nhận được khi thử biến đài truyền hình này thành nguồn thông tin dành cho nhóm người thời thượng, là đám đông những người trẻ tuổi ở Seattle đang bành trướng thành phố này kể từ khi Amazon bắt đầu cuộc chiến đầy thắng lợi để thống trị thế giới. Linda gần năm mươi tuổi, nhưng bất chấp ca nâng mặt và những lần tiêm Botox khiến gương mặt bà ta trở nên gần như vô cảm - ngay cả khi đứng trước cảnh tượng đám cháy khiến hai người chết - thì bà ta vẫn chiến đấu đến cùng để được lên sóng.
Tôi không chịu nổi bà ta. Tôi từng nhắc đến chuyện này rồi. Frank biết điều đó. Tôi dám chắc đó là lý do ông ta tự tay chọn bà ta.
“Tuyệt,” tôi nói. “Mọi sự trợ giúp đều đáng trân trọng. Cần phải tìm được Sophie.”
Tôi nghe thấy tiếng dừng ô tô và nhìn qua cửa sổ về hướng bãi đỗ xe. Đó là chiếc Lexus màu xanh da trời. Cặp đôi từ căn nhà gỗ số ba, căn Hoa Huệ Tây, đã trở về. Cô vợ vòng tay quanh người chồng, dẫn anh ta đi qua đám cỏ. Tôi áp tai vào điện thoại để nghe những gì Frank nói nhưng ông ta nói xong rồi. Ông ta thậm chí còn không thèm nói tạm biệt. Ông ta chỉ đưa trả điện thoại cho Helen, người là điển hình của việc nói ra những điều không liên quan.
“Bố mẹ có bánh anh đào để ăn tráng miệng tối nay.”
“Tạm biệt, Helen,” tôi nói. “Gửi cho Aubrey một nụ hôn chúc ngủ ngon giúp con.”
Sau đó tôi gọi điện cho gia đình mình. Đầu tiên là mẹ tôi ở Chandler, Arizona. Sau đó là bố tôi đang đi săn ở Spokane. Cuối cùng, anh trai tôi, Keegan, ở Los Angeles. Tôi nói với họ những thông tin giống nhau và họ thể hiện rõ tính cách của mình qua cách trả lời.
Tôi: “Con muốn mẹ nghe thông tin từ con trước khi báo chí đưa tin.”
Mẹ: “Ôi, chúa ơi!”
Bố: “Chắc chắn là con bé không chạy trốn với thằng nào chứ?”
Keegan: “Cần anh bay đến đó không?”
Tôi biết Keegan sẵn sàng bỏ lại mọi thứ ở khách sạn Quận Cam mà anh đang quản lý. Anh ấy sẽ tới đây trước sáng mai.
“Em vẫn ổn, anh ạ,” tôi nói. “Cứ để xem cảnh sát tìm được gì. Họ đang xử lý vụ này. Một trong số họ là Lee Husemann.”
“Em gái của Kip á?”
“Vâng,” tôi nói. “Trái Đất đúng là tròn mà.”
Chúng tôi nói chuyện thêm một chút rồi tôi gác máy, quay lại với ly rượu whisky.
Tôi bước tới phòng tắm hơi và bật bộ điều nhiệt. Tôi nghĩ về bố và cách mà ông phỉ báng Sophie như thể đó là điều mà tôi muốn ông ấy làm vậy. Cách mà mẹ tôi cầu cứu Chúa và rồi bắt đầu cầu nguyện trong khi điện thoại của tôi mất sóng liên tục. Chuyện đó không quan trọng. Việc nói ra lời cầu nguyện của bà còn quan trọng hơn chính bản thân vị Chúa hay bất cứ ai nghe thấy điều đó.
Phòng tắm hơi nằm cạnh nhà bếp. Nó được hun nóng bởi một buồng đốt bằng điện của Thụy Điển và được lát những tấm ván bằng gỗ tuyết tùng loại không có mắt gỗ. Mở cánh cửa ra sau khi bật buồng đốt lên chính là cách mời luồng hơi nóng phả vào mặt. Chẳng khác gì một cú tát! Nó gần như đúng với những gì tôi cảm thấy vào lúc này. Tôi đã cởi bỏ quần áo và cầm cái khăn tắm, quấn hờ quanh eo. Tôi ngồi trên băng ghế gỗ và để mặc hơi nóng làm cho mồ hôi từ trán chảy xuống và hòa cùng nước mắt.
Dù mọi người nghĩ gì về tôi ở văn phòng hoặc trong cuộc sống cá nhân, tôi không phải là người vô cảm. Tôi có cảm xúc. Tôi thực sự có. Chẳng qua tôi chỉ thấy mình không cần làm quá lên cảm xúc của mình. Tôi được phép làm thế này. Tôi đang ở một mình. Vợ tôi ra đi rồi. Tôi biết là bất kỳ chuyện gì xảy ra tiếp theo đều là thuận theo tự nhiên.
Không thể kiểm soát cả thế giới. Không thể điều khiển những người ở quanh ta. Không bao giờ có thể.
Nửa giờ sau, tôi lịm đi trên ghế sô pha với chai rượu trên tay.
Điều tiếp theo mà tôi nhận thức được là điện thoại của mình rung lên như một đàn ong sát thủ. Bây giờ là chín giờ sáng. Chết tiệt! Tôi ngủ quá giấc. Sao có thể chứ?
Một tin nhắn từ anh trai tôi: Kiểm tra Facebook của em đi.