Kẻ Sát Nhân Quỷ Quyệt

Lượt đọc: 1581 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
15: ADAM

Tôi quay lại Hoa Tử Đằng để đóng gói hành lý của mình và Sophie. Còn làm gì khác hơn được chứ? Tôi có lẽ sẽ ngồi lỳ ở đây, ngay bên ngoài căn nhà gỗ và khóc. Và tôi suýt chút nữa đã làm như thế, nhưng tôi cạn khô nước mắt rồi. Tôi đang ở trong hoàn cảnh mà mọi chuyện diễn ra một cách thật khó tin, cứ như thể chúng là những chuyện sẽ chỉ xảy đến với một ai đó khác. Chứ không phải với tôi. Chẳng còn lý do gì để ở lại đây thêm một giây phút nào nữa. Sophie chết rồi. Cô ấy đã được tìm thấy rồi. Chuyện đã xảy ra thì chẳng thể nào thay đổi. Kết thúc thật rồi!

Bên trong căn nhà, tôi tìm thấy cặp kính râm của cô ấy, một cặp kính kiểu cổ điển của thương hiệu Fendi. Cặp kính nằm trên mặt bàn ăn như thể đang nhìn chằm chằm vào tôi. Khi cất nó đi, tôi nhớ lại lúc cô ấy mua nó trong chuyến đi tới Vườn nho Martha của chúng tôi.

Đó là quãng thời gian thật sự vui vẻ. Và việc nhìn thấy chiếc kính râm, bằng cách nào đó, đã khiến tôi nhớ lại những lý do mình yêu Sophie và đã rất lâu rồi tôi mới lại nhìn thấy bằng chứng về tình yêu đó. Cả cách mà chúng tôi rời xa nhau trước khi có Aubrey. Tôi biết mình có một phần lỗi trong đó. Tôi luôn bận rộn. Tôi bị cuốn vào suy nghĩ rằng mình càng cống hiến cho công việc thì càng nhận lại được nhiều thành quả. Cái suy nghĩ chiết tiệt ấy! Nó chỉ đồng nghĩa với việc tôi có ít thời gian dành cho cô ấy. Nó đồng nghĩa với việc tôi phải nhận lấy sự thất bại mà tôi không hề mong muốn trong cuộc hôn nhân của chính mình. Tôi có thể thấy cô ấy đấu tranh ra sao để gìn giữ tổ ấm của chúng tôi. Tôi thực sự nhận ra những nỗ lực ấy. Cô ấy luôn chào đón tôi bằng những nụ hôn thật dài. Cô ấy gửi cho tôi những địa điểm mà chúng tôi có thể tới trong một chuyến đi, hay những nhà hàng mà chúng tôi nên thử. Cô ấy tìm lý do để chúng tôi không phải gặp gỡ cha mẹ - nói theo cách khác, để tôi không phải ở cùng họ.

Tôi là một thằng ngu. Tôi nhìn nhận mọi việc một cách mù quáng. Nhưng cô ấy vẫn không bỏ cuộc. Sophie là một chiến binh. Cô ấy là kiểu người sẽ đứng lên để bảo vệ người khác trước khi nghĩ tới bản thân. Và tất nhiên, tâm trạng của cô ấy rất thất thường. Giờ đây, tôi tự hỏi có bao nhiêu phần trầm uất của cô ấy là do tự nhiên mà có và bao nhiêu phần là do tôi gây ra.

Chúng tôi như một chiếc tàu đang chìm dần xuống đáy đại dương. Một nửa thời gian tôi ngủ trên ghế sô pha. Chúng tôi chưa bao giờ nhắc đến hai từ ly dị, nhưng mọi chuyện lại đang tiến gần đến cái đích đó. Tôi ở lại công ty rất muộn, hoặc đi chơi với đám bạn. Cô ấy cũng làm thế. Tôi nhớ mình từng trở về và ngôi nhà đó trống rỗng và lạnh lẽo đến mức giống như một khách sạn lưu trú dài hạn hơn.

Và rồi mọi thứ thay đổi.

Tôi về nhà sau giờ làm và thấy căn nhà tràn ngập mùi thơm của món mỳ Ý Lasagna nổi tiếng của Sophie. Nổi tiếng, bởi vì tôi khoe khoang với bất cứ ai về nó mỗi khi nhắc đến món ăn yêu thích của mình.

Giờ thì cô ấy ra đi rồi, tôi nhớ lại cái đêm mà chúng tôi quyết định bắt đầu lại. Chúng tôi đã phá lên cười vì tình trạng của cả hai lúc đó.

“Em không muốn có một người bạn sống chung phòng,” cô ấy nói.

“Anh cũng thế,” tôi đáp.

“Em mệt mỏi vì cảm giác cô đơn dù đang ở cùng anh trong một căn phòng, Adam ạ.”

Sau đó, cô ấy liền khóc và tôi dang tay ôm cô ấy vào lòng.

“Làm sao mà chuyện này lại xảy ra với chúng ta chứ?” tôi hỏi.

“Em,” cô ấy nói. “Là lỗi của em. Em đã để mặc cho sự thờ ơ tích tụ dần và khi chúng bao vây lấy em, em quyết định từ bỏ tất cả.”

“Một phần cũng là lỗi của anh,” tôi thừa nhận. “Anh để cho mọi thứ vuột khỏi tầm kiểm soát, cả công việc ở công ty và cả em. Anh quên mất điều gì mới là quan trọng. Đúng thế, anh đã quên mất.”

Chúng tôi làm tình sau bữa tối và tôi ôm Sophie cả đêm. Chúng tôi tìm thấy nhau một lần nữa. Tôi đã nghĩ, cơ hội thứ hai này sẽ không xảy đến thêm một lần nào nữa. Vào buổi sáng một tháng sau đó, Sophie huých tay để đánh thức tôi dậy. Cô ấy đứng cạnh giường và nhìn tôi, trên tay cầm que thử thai. Lâu rồi tôi mới thấy cô ấy hạnh phúc như vậy.

“Chúng mình sắp có con.”

“Gì cơ?” tôi ngồi bật dậy và đeo kính.

“Anh sẽ được làm bố, Adam ạ.”

Khi ngồi đó, trong căn nhà gỗ, tôi đã muốn nện nắm đấm xuống mặt bàn. Nhưng tôi không làm vậy. Giờ đây, hai cột mốc quan trọng nhất của cuộc đời tôi là: ngày sinh của Aubrey và ngày mất của Sophie. Giữa hai cột mốc đó là hy vọng, là tình yêu và là lời hứa rằng tôi sẽ không mắc phải sai lầm nào nữa.

Giống như Sophie.

Tôi đặt kính râm xuống và nhìn ra bên ngoài khung cửa sổ có bề mặt kính lượn sóng. Teresa Dibley đang ở bãi cỏ đằng trước khu nhà gỗ. Đến lúc này tôi mới nhận ra bà ấy đang đợi tôi. Tôi đi về phía bà như thể bà là một người bạn. Có lẽ là kiểu tóc của bà làm tôi nhớ đến mẹ mình. Nỗi đau buồn đã đẩy tôi đi về phía bà.

“Cô ấy chết rồi,” tôi nói to. “Sophie chết rồi.”

Bà ấy chìa tay ra và tôi nắm lấy bàn tay đó. “Tôi rất tiếc. Tôi đã thấy trên bản tin. Clark chỉ cho tôi trên điện thoại. Tôi rất lấy làm tiếc.”

Miệng tôi mấp máy từ cảm ơn, nhưng tôi không thực sự nghe thấy chúng.

Mắt bà ươn ướt. “Tôi có thể giúp gì không?”

Tôi thậm chí còn không quen biết người phụ nữ này nhưng bà ấy đang đề nghị giúp đỡ. Tôi tự hỏi liệu những người khác có giống như thế không? Có phải người xa lạ này thật bất thường không? Nếu là tôi, liệu tôi sẽ nhìn đi chỗ khác hay đề nghị hỗ trợ?

“Không,” tôi nói. “Tôi sẽ về nhà bây giờ. Tôi chỉ cần gặp lại con gái thôi.”

Bà ấy gật đầu. “Cậu chắc là mình lái xe được chứ? Cậu vừa chịu sự tổn thương lớn nhất từ trước tới nay và sau một đêm như đêm qua, tôi không hiểu được ý định lái xe đi bất kì nơi đâu của cậu.”

Tôi không biết bà ấy muốn nói gì.

“Tối qua cậu thức rất khuya,” bà ấy nói. “Tôi thấy đèn vẫn sáng.”

Tôi gật đầu nhanh với bà. “Tôi không ngủ được. Tôi ngồi trong phòng xông hơi. Uống quá nhiều và cố gắng suy nghĩ tích cực. Mặc dù thế, sau những gì đã chứng kiến, tôi không nghĩ là có kết quả nào khác ngoài những thứ đã xảy ra hôm nay.”

Đôi mắt rưng rưng của bà vẫn nhìn tôi.

“Cậu có cần tôi giúp thu xếp đồ đạc không?” bà ấy hỏi.

Tôi không cần giúp đỡ. Tôi chỉ muốn tìm cách để hiểu được những điều đã xảy ra và làm thế nào để vượt qua được những ngày tháng tiếp theo.

“Không,” tôi bảo bà. “Tôi có thể tự thu xếp. Chỉ là vài cái túi du lịch. Bà có muốn dùng đồ ăn trong tủ lạnh không?”

“Vậy để tôi sắp xếp lại căn nhà nhé. Cậu biết đấy, rửa bát và kiểm tra những đồ đạc được cung cấp sẵn trong phòng?”

Tôi chấp nhận lời đề nghị giúp đỡ này. Tôi cần phải rời khỏi đây.

Lần đầu tiên trong đời, tôi hoan nghênh màn tắc đường chết giẫm trên đường về cái siêu đô thị ngày càng phình to, Seattle-Tacoma. Cả trong ngày Chủ Nhật ngay trước kỳ nghỉ được hưởng lương. Nó luôn vượt quá mức mà người ta có thể hiểu. Cây cầu Tacoma Narrows có lẽ cũng đang hóa thạch thành hổ phách. Các nhà khảo cổ học sẽ phải tách chúng tôi ra sau nhiều kỷ nguyên nữa, sau khi đống kim loại xiêu vẹo và cuộc thảm sát chồng chất ở khu vực phía đông cuối cùng cũng được xử lý xong.

Không gì khiến tôi vui hơn thế. Bất cứ thứ gì có thể trì hoãn cuộc gặp gỡ của tôi với bố mẹ vợ.

Một hình ảnh xuất hiện trong đầu khi tôi gõ từng nhịp ngón tay trên tay lái bất động. Cả Sophie và Aubrey đều xuất hiện trong đó. Chúng tôi đang ở Hoa Tử Đằng và nướng marshmallow bằng bếp nướng ngoài trời trên bãi biển rải rác vỏ hàu. Sophie chăm chú nhìn Aubrey trong khi tôi cho cô con gái bé bỏng thử tự nướng.

“Giữ khoảng cách giữa xiên nướng và ngọn lửa,” tôi nhắc con bé. “Chúng ta muốn có màu vàng nâu, không phải màu đen theo kiểu mẹ con thích.”

“Xin lỗi nha,” Sophie nói, “nhưng marshmallow cháy ngon cực luôn.”

“Ngon cực luôn nếu em thích ăn tro,” tôi đáp.

Chúng tôi cùng cười to khi ngồi đó, trên chiếc ghế Adirondacks màu xanh dương tươi sáng, cùng hít thở không khí buổi chiều tà và ngắm những tàn lửa bay chấp chới từ nơi gỗ tuyết tùng và tống quán sủi đang cháy. Tiếng những cơn sóng vỗ bờ khiến cảnh vật càng trở nên bình yên.

“Có lẽ nhà mình có thể bắt cua vào ngày mai,” tôi nói. “Nhặt vài con hàu nữa.”

“Cua được đấy,” Sophie đáp, nhấp một chút rượu vang. “Hàu thì em xin kiếu nha.”

“Aubrey nhìn mệt lử rồi,” tôi nói. “Để anh đưa con bé vào trong. Anh sẽ quay lại sau.”

Sophie nở nụ cười với tôi. “Được,” cô ấy nói. “Em thích không khí ở đây. Em sẽ không nhúc nhích đâu.”

Những căn nhà gỗ còn lại đều tối đen khi tôi bế Aubrey lên các bậc thang dẫn lên Hoa Tử Đằng. Con bé đang ngủ. Hơi thở âm ấm của con bé phả nhẹ vào mặt tôi.

Trong khung cảnh hư ảo ấy, tôi biết một điều gì đó tồi tệ sắp xảy ra. Tôi cảm nhận được không khí nặng nề bao trùm lấy tôi như một tấm bạt đen.

“Ngủ ngon nhé, con yêu,” tôi nói và đặt con bé xuống giường.

Aubrey nhìn lên và khẽ mỉm cười trước khi nhắm mắt lại. Tôi tắt đèn ngủ được làm bằng vỏ sò bên cạnh rồi quay lại chỗ Sophie và bếp lửa ngoài bãi biển.

“Sao chúng ta lại đến mức này?” Sophie hỏi.

“Bọn mình lái xe tới,” tôi đùa.

Cô ấy làm mặt xấu và ra hiệu đổ thêm rượu. “Hài hước đấy,” cô ấy nói. “Ý em là đến mức này khi mà mọi thứ thoạt nhìn có vẻ hoàn hảo, nhưng lại không phải thế?”

“Anh không biết,” tôi nói và rót đầy rượu vào cốc, hình ảnh ngọn lửa bập bùng trên chai rượu. “Mọi chuyện cứ diễn ra thôi.”

Tôi nhìn vào bếp nướng ngoài trời và trong thoáng chốc đã tưởng tượng ra khuôn mặt của cô ấy trong đống than hồng. Cô ấy là người phụ nữ đẹp nhất mà tôi từng gặp. Tôi đã thấy thế ngay từ lần gặp đầu tiên. Tôi vẫn thấy vậy ngay lúc này. Tôi nghĩ mình sẽ luôn thấy thế. Tôi cảm nhận được nụ cười hiện diện trên gương mặt của mình.

Rồi tôi quay trở về với nỗi cô đơn tại Adirondack, đối diện với dòng nước êm đềm của Hood Canal. Không có Sophie. Không có Aubrey.

Tôi không muốn bước vào trong Hoa Tử Đằng.

Và khi về nhà, tôi sẽ không muốn bước vào trong ngôi nhà của mình.

Bước vào trong sẽ khiến mọi chuyện kết thúc thực sự. Thật trống rỗng. Thật xót xa.

Đây là thời điểm tốt nhất để hút một điếu. Nếu tôi là người thích hút thuốc. Ở công ty, tôi thừa nhận là mình cảm thấy hơi ghen tị với dân hút thuốc trong nhóm khi họ đánh cắp thời gian làm việc nhiều lần trong ngày để được ở một mình và ngẫm nghĩ khi bước chân ra khỏi cánh cổng của SkyAero. Nếu có ai đó tiêu cực nhìn vào, chuyện này giống như thể họ đã xoay xở để tạo ra một kiểu trại nào đó cho người vô gia cư trên bờ sông Duwamish, cái dòng sông xanh ngắt uể oải chảy vào Puget Sound. Họ ngẫm nghĩ trên đường đến và ra khỏi khu trại hút thuốc tạm thời của họ. Họ đứng trên bờ sông đầy bùn đất và ngẫm nghĩ.

Vợ tôi đã ra đi rồi và tôi quay trở lại với những kỷ niệm, với chiếc ghế bị phong hóa hướng ra không gian Hood Canal đen kịt và suy nghĩ. Một vài ánh đèn lấp loáng trên dòng nước. Tôi nghe thấy âm thanh một chú hải cẩu lặn xuống từ một chiếc phao bơi ngay trước mặt mình.

Cô ấy đi rồi.

Sophie đi thật rồi.

Tôi nhớ lại những khoảnh khắc bên nhau của chúng tôi. Trước tiên, như thể đó là một bộ phim đã được dựng thành công. Khi chúng tôi gặp gỡ. Khi tôi không thể ngừng nghĩ về cô ấy và biết rằng cô ấy là nửa kia đích thực của tôi. Kỳ nghỉ tới Paris trước khi cưới. Nụ cười tuyệt đẹp của cô ấy. Tiếng cười của cô ấy. Khi cô ấy năn nỉ tôi đặt mua căn nhà đó ở Mount Baker vì chất nghệ sĩ trong cô ấy nhìn ra được đó là một tổ ấm tuyệt vời, còn tôi thì chỉ thấy một núi tiền.

Và rồi tới mặt trái, mặt B.

Tôi nhận ra rằng mình không còn là người duy nhất trong hai chúng tôi cần làm việc đến tận khuya. Tôi đã cố thể hiện cho sếp, Carrie, rằng tôi nghiêm túc với công việc của mình thế nào. Và thực tình, không còn gì khác nữa cả. Cô ta rõ ràng có tán tỉnh tôi, nhưng cô ta cũng làm thế với bất kỳ kẻ nào khác nhìn vào mắt cô ta và không có bụng phệ. Và Sophie bắt đầu nhắn tin cho tôi ngay trước thời điểm tôi ra xe ô tô để di chuyển quãng đường cực hình dọc xa lộ 1-5 về nhà.

Không cần vội tối nay đâu. Có dự án lớn ở đây.

Có một lỗi ngu ngốc trên phần trưng bày cho phía Trung Quốc. May quá, bọn em phát hiện ra kịp thời.

Janna và em sẽ đi uống cùng nhau.

Nội dung mới cần nhiều thời gian hơn em muốn. Có lẽ sẽ phải cắm trại ở đây.

SAM tổ chức một bữa tiệc tối nay. Em sẽ tới đó sau giờ làm.

Trong thâm tâm tôi biết chuyện gì đang diễn ra với Sophie nhưng tôi không dám đối mặt với cô ấy về chuyện đó. Ở công ty, tôi luôn thẳng thắn bởi đó là vai diễn mà tôi lựa chọn nhằm thúc đẩy sự nghiệp của mình tiến về phía trước. Với Sophie, vì một vài lý do kỳ lạ nào đó, tôi không thể làm như thế. Tôi đã quá may mắn khi có cô ấy làm vợ. Tôi tự hào về cô ấy vô cùng. Ở bên cô ấy, tôi cũng bằng cách nào đó trở thành một con người tốt hơn. Thông minh hơn. Thành công hơn. Thậm chí bảnh bao hơn. Đừng nhầm lẫn, việc có Sophie bên cạnh không phải để khoe mẽ vợ như thể một món đồ trang sức. Tôi chính là một món đồ trang sức. Tôi chính là thằng cha may mắn có được người phụ nữ mà mọi thằng đàn ông đều mong muốn có được.

Sự thật là, tôi thực sự không muốn biết rõ những gì cô ấy đang làm và nói đúng hơn là đang làm chuyện đó với ai. Việc biết rằng có một người đàn ông khác trong mối quan hệ của chúng tôi là điều mà tôi không chấp nhận được. Tôi chưa từng thực sự phản bội cô ấy. Tôi đã có thể làm thế. Tôi đã nhận được nhiều lời mời mọc. Sếp của tôi, nhưng cô ta không tính. Cô gái dễ thương ngồi cạnh tôi ở quán rượu chuyên bán hàu ở Heathrow. Cô gái chuyên tưới cây tại tòa nhà của chúng tôi trước khi các biện pháp cắt giảm chi phí đẩy nghĩa vụ đó sang cho nhân viên.

Sự lừa dối của Sophie giống như một phiếu chẩn đoán ung thư chưa bao giờ được chính thức đưa ra - bởi biết về nó nghĩa là phải đối mặt với nó. Tôi cảm nhận được khối u đang phát triển bên trong cơ thể, càng lúc càng lớn. Đầu tiên là bằng quả óc chó, sau là quả đào, giờ là quả dưa vàng, ép sát vào khung xương sườn và nhắc tôi rằng cần đi gặp bác sĩ. Mối quan hệ của Sophie là khối u của tôi, là khối u mà tôi định bụng sẽ làm ngơ cho đến khi lặng lẽ chết đi khi đang ngủ. Không hay biết gì nữa. Ra đi một cách bình yên.

Khi tưởng tượng về Adirondack, tôi nhìn và nghe thấy một con hải cẩu khác lao xuống nước từ trên bệ sàn nổi của bờ vịnh. Aubrey yêu những con hải cẩu. Con bé muốn vuốt ve và thậm chí hôn chúng khi thấy một chú hải cẩu con rón rén tới cạnh thuyền của chúng tôi. Tôi mỉm cười với ký ức đó và đưa chai Maker’s Mark lên miệng. Tôi không phải là con sâu rượu. Giống như các viên quản lý khác tại văn phòng, tôi chỉ làm những gì cần thiết để hoàn thành công việc. Tôi làm việc từng bước một và không bao giờ kiểm tra lại.

Khi đang uống, tôi để ý thấy đèn sáng lên ở Hoa Cúc, ngôi nhà gỗ nhỏ bé nằm ở giữa mà Teresa Dibley ở cùng các cháu của bà. Tắt, rồi bật. Rồi lại tắt. Mấy đứa trẻ đó hẳn là cơn ác mộng đối với bà của chúng. Nhưng cơn ác mộng đó không đủ để ngăn những suy nghĩ của tôi quay lại mối quan hệ riêng của Sophie. Mối quan hệ. Chúa ơi, tôi ghét cái từ đó. Nó hợp thức hóa sự phản bội sâu sắc bằng cách tạo ra một vỏ bọc như thể đấy là điều gì đó tuyệt vời lắm hoặc như thể chẳng có gì xảy ra cả. Một mối quan hệ yêu đương. Một mối quan hệ ngoài hôn nhân. Một mối quan hệ công việc. Một mối quan hệ tiệc tùng. Hợp thức hóa mối quan hệ.

Tình trạng quan hệ đáng buồn.

Tôi hình dung tới chuyện nhét một mẩu ghi chú vào chai Maker’s Mark và liệng nó xuống dòng nước Puget Sound để cho cả thế giới biết rằng tôi đã cảm thấy như thế nào về vợ của mình.

Khốn kiếp, Sophie. Em thực sự đã phá nát cuộc sống của chúng ta. Tất cả luôn.

Tôi không làm thế, dĩ nhiên rồi. Thay vào đó, tôi uống. Tôi không thấy tức giận chút nào. Tôi chỉ cảm thấy trống rỗng trong lòng.

Tiếng còi xe. Một tiếng nữa, rồi tiếng, thứ ba vang lên. Màn hòa âm khủng khiếp.

Chết tiệt. Sàn cầu mở ra ngay trước mắt tôi trong khi dòng xe cộ lướt lên trên các nhịp cầu.

Tôi nổ máy và tăng tốc, điên tiết phất tay qua vai để rồi nhận ra mình chẳng quan tâm liệu mấy gã bấm còi có tức tối hay không.

Có phải là tôi ngủ gật hay rơi vào một trạng thái trốn chạy điên rồ nào đó không? Chai rượu Maker’s Mark vẫn còn gói trong hộp cùng một ba lô toàn rác đặt trên ghế sau xe, vậy là chí ít tôi đã không uống rượu.

Dẫu vậy, tôi vẫn váng vất sau cơn say - cái ngáp trống rỗng từ giấc mơ hoặc mộng ảo vẫn còn đọng lại.

Tôi cố tỉnh táo và dừng lại ở trạm xăng Mobil trên đường dẫn tới nhà bố mẹ của Sophie. Tôi quẹt thẻ tín dụng và để xăng bơm tự động. Chuyện này mất hai phút. Một cô gái bị cháy nắng gật đầu với tôi khi đang chờ bơm xăng cho chiếc Camry và đặt vỏ chai nước cùng giấy gói đồ ăn nhanh vào thùng rác bên cạnh mấy cái vòi bơm xăng. Trước khi lái xe đi, tôi làm theo, đè chặt rác của chính mình xuống.

“Tôi gần như sống luôn trong xe của mình,” cô ấy nói.

Sophie từng nói điều tương tự trước khi kiếm được công việc ở Starbucks, hồi cô ấy còn phải tới Microsoft ở Redmond.

“Ừ,” tôi nói. “Tôi cũng thế.”

Frank và Helen vẫn sống tại căn nhà nằm trên sân golf của Twin Lakes Golf và Country Club ở Federal Way từ hồi họ đưa Sophie về từ bệnh viện. Ngôi nhà ấn tượng theo cách riêng của nó, những dây leo ngổn ngang với lối vào rải đá cuội và cảnh quan xung quanh chứng tỏ có một tay lập dị thích kiểm soát đang sống ở đây. Hầu hết các bụi cây đều vuông vắn một cách hoàn hảo. Thảm cỏ hoàn mỹ như mặt bàn bi-a. Tôi cảm giác như từng hòn đá cuội đâm sầm vào bụng mình khi lái xe lên phía trên để đỗ. Tôi đi tới cánh cửa ra vào và vặn thử tay nắm nhưng nó bị khóa. Tầm này là giờ ngủ của Aubrey, tôi thầm hy vọng con bé đang ngủ và tôi sẽ không phải đối diện với nó. Gặp mặt Frank đã quá đủ với tôi rồi. Tôi kỳ vọng rằng ông ta sẽ kiếm được những lời đổ lỗi mới dành cho tôi. Ông ta rất tháo vát về mặt đó.

Helen mở cửa. Bà ấy nhìn nhợt nhạt gần bằng cái áo len màu kem mà bà đang khoác trên bờ vai xương xẩu của mình. Tôi chìa tay về phía bà mà không nói một lời nào, chúng tôi ôm nhẹ nhau trên ngưỡng cửa.

“Con xin lỗi,” tôi nói. “Con thật lòng xin lỗi ạ.”

Tôi cảm giác như cơ thể mỏng manh của Helen có thể sụp đổ khi bà rời khỏi vòng tay mình. Tôi biết bà đã biết chuyện xảy ra với Sophie, nhưng tôi có cảm giác mỗi lần ai đó nói rằng họ rất tiếc hoặc họ yêu quý Sophie như thế nào, chúng giống như những nhát dao cứa vào tim bà. Sự quan tâm, chia sẻ lúc này chỉ càng khiến nỗi đau vốn đã rút cạn sức sống từ cơ thể tàn tạ của mẹ Sophie thêm nhói.

“Vào nhà đi, Adam,” bà nói. “Bố mẹ vừa đặt Aubrey lên giường nhưng con bé vẫn còn thức.”

“Con bé không biết về chuyện của mẹ nó chứ ạ?” tôi hỏi.

Helen bước lùi lại và liếc nhìn sàn nhà bằng đá phiến bóng lộn dưới chân chúng tôi. “Frank đã kể cho con bé rồi,” bà nói. “Ông ấy nghĩ con bé có quyền được biết.” Bà nhìn tôi bằng một biểu cảm trộn lẫn giữa nỗi đau mất mát và sự cay đắng về người chồng của mình. Một biểu cảm kinh điển. Frank Flynn là kẻ thích thu hút sự chú ý. Ông ta phải là người đầu tiên và là người nói to nhất. Được nhớ đến nhiều nhất nữa. Nhiều lần ông ta đã đạt được điều đó, nhưng không phải vì những lý do mà ông ta tưởng. Ông ta phải nói cho Aubrey biết trước khi tôi làm chuyện đó. Phải tới đó đầu tiên để nói cho con bé biết là mẹ của nó chết rồi.

“Ông ấy rất nhẹ nhàng khi nói về điều đó,” Helen tiếp tục.

Tôi không muốn gây gổ ở đây. Tôi từ chối việc biến những thời khắc tồi tệ nhất đời mình thành sự khai mào chiến tranh. Tôi suýt nữa cười to vì điều đó: cuộc chiến đã bắt đầu từ rất lâu rồi, trước cả khi tôi và Sophie cưới. Tôi đã cố gắng lờ nó đi dù không thành công mấy. Frank muốn kiểm soát hoàn toàn những người phụ nữ xung quanh mình: đầu tiên là Helen, rồi đến Sophie, sau đó là Aubrey. Tôi là tảng thiên thạch bay lơ lửng bên ngoài quỹ đạo của ông ta. Ở ngoài đó, nhưng không thực sự ở đó. Nếu mà có ở đó, thì cũng cực kỳ hiếm khi.

Frank đang ngồi cạnh máy lọc khí trong phòng khách, chĩa cái điếu xì gà tỏa khói thuốc khắp nơi vào đó. Thật vô nghĩa. Cũng giống nhu chiếc xe Buick, cả căn nhà nồng nặc mùi xì gà của ông ta. Tôi tự hỏi làm thế nào mà Helen chịu đựng được việc này.

Hoặc bà ấy có còn để ý đến điều đó nữa không.

“Chúng ta mất Sophie rồi,” ông ta nói khi tôi tiến lại gần.

“Mất cô ấy thật rồi,” tôi nói, giữ lại cụm từ đó trong không gian đặc quánh và tự hỏi tại sao ông ta hành xử trước cái chết của cô ấy như thể cô ấy là kiện hành lý nào đó đang nằm trên băng chuyền hành lý. Cô ấy đã bị cưỡng hiếp. Bị giết chết. Cô ấy đang nằm trong tủ bảo quản tử thi ở nhà xác của quận.

“Con gái bé bỏng của tôi,” Frank tiếp tục. “Chúng ta phải làm cái quái gì bây giờ?” Ông ta nhìn tôi nhưng hướng lời nói sang phía vợ. Tôi chẳng là gì cả. Vẫn luôn như vậy.

“Chúng ta vẫn cần lập các kế hoạch, Frank ạ,” Helen nói.

Một mẩu tàn thuốc dài hai xăng-ti-mét có nguy cơ rơi xuống và cuối cùng ông ta cũng dập điếu xì gà của mình. “Chúng ta sẽ không bao giờ lập kế hoạch nữa. Để làm gì chứ? Sao phải bận tâm? Giờ thì tôi phải làm gì với cái cuộc sống này hả? Lập kế hoạch để làm gì đó cùng bà hả?”

“Ý tôi không phải thế,” Helen nói. “Ý tôi là kế hoạch cho tang lễ.”

Tôi biết việc chuyển chủ đề là vô ích - cuộc cãi cọ của họ đằng nào cũng sẽ tiếp tục hàng trăm lần nữa.

Dù thế, tôi vẫn lên tiếng. “Con nghĩ mình nên nói chuyện với Aubrey.”

“Con bé ngủ rồi. Tao đã nói chuyện với con bé rồi. Nó ổn.” Những lời của Frank là cú đánh thẳng vào mặt tôi.

Tôi nghi rằng con bé chưa ngủ và tôi biết không một đứa trẻ ba tuổi nào có thể ổn sau khi hay tin mẹ nó đã lên thiên đường.

“Helen nói con bé còn thức,” tôi nói, nhìn về phía mẹ của Sophie, cố gắng lôi kéo chút hỗ trợ.

“Không đâu, Adam,” Frank nói. Ông ta chật vật để ngồi dậy khỏi chiếc ghế tựa dài bằng da nhưng rồi phải bỏ cuộc. Ông ta bị mắc kẹt. Tôi nghĩ, tốt.

“Con bé cần bố của nó,” tôi nói.

Tôi biết tôi vừa bật trúng công tắc: Frank sẽ giơ chân lên và tè vào người tôi.

“Con bé cần một gia đình yên ổn,” ông ta nói.

Ông ta lại thất bại trong việc đứng dậy. Tốt.

“Ý bố đang muốn nói đến điều gì?” tôi hỏi.

“Đừng giả ngu chỉ vì mày đang đứng trước mặt vợ tao. Tao biết mày là một thằng chồng tệ hại, không chung thủy. Con gái tao đã tha thứ cho mày. Nhưng tao thì không bao giờ.”

Tôi thấy mặt mình nóng lên. Tôi chưa bao giờ ngoại tình. Chưa bao giờ. Dù chỉ một lần.

Sophie thì có. Cô ấy lừa dối tôi. Tôi muốn hét vào mặt lão già ngu ngốc, hói và to béo đó. Nhưng tôi không làm vậy. Tôi thậm chí chưa từng nói với Sophie rằng tôi biết về mối quan hệ kia của cô ấy. Việc đối chất chỉ khiến mọi chuyện tệ hơn. Và thành thực mà nói, tôi còn không biết vị trí của mình trong lòng cô ấy. Tôi cho rằng nếu ép cô ấy phải lựa chọn thì chưa chắc người cô ấy muốn ở bên đã là tôi.

“Con chưa bao giờ phản bội cô ấy,” cuối cùng tôi nói. “Dù chỉ một lần.”

Helen lên tiếng. “Thấy chưa, Frank? Tôi đã bảo ông rồi. Adam nói là nó không làm thế.”

“Lời của thằng đó thối như cứt.”

Ngay sau đó, Aubrey xuất hiện. Con bé mặc chiếc váy ngủ màu hồng nhạt mà tôi chưa thấy bao giờ.

“Chào con, con yêu,” tôi nói.

“Bố!”

Con bé sà vào vòng tay tôi và được tôi nhấc lên gần cái trần nhà sơn lấp lánh.

“Mẹ đang ở trên thiên đường,” con bé nói.

“Đúng thế, Aubrey,” tôi nói với con bé và cảm nhận được ánh nhìn của bố mẹ vợ đang xuyên qua người tôi.

“Con muốn làm một thiên thần,” con bé nói.

“Con là một thiên thần ở ngay đây trên Trái Đất này,” tôi đáp. Ôm con bé đã giúp gỡ bỏ một phần tức giận của tôi đối với Frank và tôi miễn cưỡng đặt con bé xuống. Tôi quay sang mẹ vợ. “Bọn con phải về nhà, Helen ạ.”

“Sao con không ở lại đây tối nay?” bà ấy hỏi.

“Con phải đi làm vào ngày mai.”

“Mày phải làm cái quái gì?” Frank nói. “Ngày mai là lễ Chiến sĩ trận vong.”

Ông ta đã bắt thóp tôi. “Ồ,” tôi nhận ra. “Phải rồi.”

“Và kể cả không phải là ngày lễ, cái công việc ngu xuẩn của mày vẫn hoãn lại được. Vợ của mày vừa bị giết đấy. Mày mất trí rồi phải không?”

Tôi không muốn ở lại đây. Tôi ghét ở lại đây.

“Làm ơn đi mà,” Helen nói.

Cuối cùng tôi cũng chịu thua.

“Được rồi. Con sẽ ở lại đây cho đến sáng mai.”

“Bố thích váy ngủ của con không?” Aubrey hỏi. “Của mẹ đấy. Mẹ mặc nó lúc còn bé tí.”

Helen nở một nụ cười buồn. “Mẹ tìm thấy nó vài ngày trước lúc sắp xếp lại nhà để xe. Mẹ định nói Sophie cầm đi cho ai đó.” Bà cúi xuống cháu gái và vuốt ve mái tóc của con bé. Bà thơm một cái lên chỏm đầu của Aubrey. “Mẹ Sophie sẽ thấy cháu là cô bé xinh xắn nhất trên thế giới trong bộ váy này. Đúng không, Frank?”

Frank không nói gì và tôi biết tại sao.

Với bố của Sophie, cô gái xinh xắn nhất thế giới sẽ luôn là cô gái đang nằm trong tủ bảo quản tử thi ở nhà xác của quận.

Phòng nghỉ dành cho khách đã nói lên mọi thứ về gia đình Flynn - và những cảm nhận của họ khi có khách trong nhà. Ở góc phòng là hộp giữ ẩm xì gà cổ lỗ sĩ của Frank, cái hộp bằng kính và gỗ gụ mà ông ta mua từ một sàn đấu giá ở Tacoma. Ông ta mất cả đống tiền vì nó. Để khoe khoang về nó. Sau đó, đúng như một gã ngốc, ông ta sửa lại nó từ trong ra ngoài: Lột bỏ lớp sơn bóng trên bề mặt gỗ lâu năm, đánh bóng lại các bản lề bằng đồng và làm cho nó trông giống như món đồ mới mua từ cửa hàng nội thất Drexel. Ông ta đã phá hỏng nó. Sophie và tôi thấy việc đó thật buồn cười. Dẫu vậy, chúng tôi không ý kiến gì. Có ai đó đã làm việc đó thay chúng tôi. Bởi vì cái hộp đó đã được chuyển từ vị trí nổi bật trong phòng làm việc tại gia của ông ta sang phòng ngủ dành cho khách.

Cái giường, và tôi không đùa đâu, là loại giường gấp di động. Đó là thứ thiết bị tra tấn với một thanh kim loại không bao giờ thất bại trong việc chọc vào lưng ta lúc hai giờ sáng.

Gia đình Flynn chưa bao giờ hứng thú với việc có khách ghé thăm. Tôi chắc chắn nguyên nhân là vì Frank không thích chia sẻ không gian của mình với bất cứ ai. Frank không thích chia sẻ bất cứ thứ gì. Vợ của ông ta. Con gái của ông ta. Cái hộp giữ ẩm xì gà ngu xuẩn của ông ta nữa.

Helen đã dọn lại cái giá vì đoán trước là tôi sẽ ở lại qua đêm. Bà ấy thậm chí còn bật cái đèn mà đến-chợ-đồ-cũ-cũng-phải-chối-bỏ trên tủ đầu giường. Tôi không hiểu nổi. Mọi thứ khác trong ngôi nhà của bố mẹ Sophie đều thuộc loại tốt nhất. Trừ căn phòng này. Tôi ngồi ở mép giường và chờ đợi nó sập lại như cái bẫy chuột. Tôi cảm thấy bị mắc bẫy. Tôi muốn đón con gái và về nhà. Tôi muốn có một chút không khí để thở. Muốn than khóc về cái chết của vợ trước khi những người quen biết nói với tôi là họ cảm thấy thế nào.

Nhưng quá muộn để làm điều đó, tôi biết mà.

“Adam?”

Helen đang ở hành lang bên ngoài cửa phòng tôi.

“Cửa không khóa,” tôi nói.

Bà ấy mở cửa, làm nó phát ra tiếng kẽo kẹt. “Linda London sẽ tường thuật tin tức về Sophie.”

Tôi ngồi dậy và đi theo bà tới chiếc ti vi khổng lồ mà Frank mua cho ông ta nhân dịp Giáng sinh vừa rồi. Một đoạn quảng cáo đang giới thiệu về đợt giảm giá thiết bị nhân dịp lễ Chiêh sĩ trận vong.

“Ngồi xuống,” Frank nói, hay đúng hơn là ra lệnh. “Câu chuyện về Sophie là tin tức nổi bật nhất và con bé xứng đáng với điều ấy.”

Đúng kiểu trở thành câu chuyện nóng hổi nhất khi bạn đã biến thành tro rồi ấy.

Khi Bản tin KOMO quay trở lại, một người dẫn chương trình tóc vàng xinh đẹp giới thiệu mình là “phóng viên kỳ cựu” Linda London từ “thị trấn nhỏ bé tại Hood Canal đang rúng động trước thảm kịch và bị bao phủ trong tấm màn bí ẩn.”

Biên tập viên này đã bày đủ mọi chiêu trò có thể.

Linda đứng bên cạnh mép nước. Đó là bản tin trực tiếp nên ánh đèn pha rọi thẳng vào bà ta chẳng có chút tác dụng nào. Mọi nếp nhăn trên khuôn mặt bà ta bị làm cho nổi bật và hiện rõ từng nét một. Bà ta thuật lại chi tiết về “phát hiện kinh khủng” đó và gia đình nạn nhân đang tan nát thế nào.

Frank nhìn sang tôi. “Tao đã nói chuyện với bà ấy trước khi mày tới đây. Không phải là trước máy quay. Chỉ qua điện thoại thôi.”

Dĩ nhiên là ông đã làm thế rồi.

Linda phỏng vấn một trong số những người không liên quan đang đứng xem và cô bé đó nhắc lại việc họ đã sốc như thế nào. “Chỗ chúng tôi ở đây là một nơi an toàn,” cô ta nói điều đó trong khi một cậu thanh niên trẻ tuổi mặc chiếc áo ba lỗ Patrón bên cạnh gật gù tỏ vẻ đồng ý.

Cậu ta rướn người về phía máy quay, mong sẽ được góp mặt phần nào đó trong mười lăm phút của bạn gái cậu ta. “Những chuyện như vậy không xảy ra ở quanh đây đâu,” cậu ta nói. “Vài vụ chết đuối thi thoảng xảy ra thôi. Không có giết người. Chúng tôi không phải là nơi có thể xảy ra các vụ giết người. Cô có thể đưa cái này vào bản tin.”

London kết thúc phân đoạn của cô gái để thả một quả bom.

“Các nguồn tin thân cận với cuộc điều tra,” cô ta nói, “chỉ ra rằng kẻ tình nghi đã được nhận diện. Họ không tiết lộ rằng đó là ai, nhưng chúng tôi kỳ vọng rằng nhiều thông tin chi tiết hơn sẽ được đưa ra.”

Frank đang ngồi trên chiếc ghế trông giống như vị Phật xấu xí nhất thế giới, nhìn sang phía tôi. “Tao tự hỏi rằng đó là ai.”

“Tất cả chúng ta đều vậy, Frank ạ,” Helen nói, cắt ngang sự khó xử trong chuỗi im lặng của tôi.

“Con sẽ về giường ngủ,” tôi nói.

“Làm sao mà mày còn ngủ được?” Frank hỏi. “Sau tất cả mọi thứ.”

Tôi biết đấy là cách nói ngắn hơn của mọi thứ mày đã làm.

Tôi mặc kệ ông ta và quay trở lại phòng ngủ dành cho khách. Tôi không hoàn toàn chắc chắn, bởi tiếng ti vi đang ganh đua với giọng nói của Frank, nhưng tôi nghĩ là mình nghe thấy ông ta nói, “Đừng lo, Helen, thằng chó đấy sẽ bị tống vào tù.”

Trong lúc cố gắng thiếp đi, tôi nhận ra giấc ngủ sẽ trốn tránh tôi lần nữa. Không có cách nào để phân định rõ ràng giữa những điều đã xảy ra và những điều tiếp theo sẽ xảy ra. Tôi bị mắc kẹt trong cái giường bẫy chuột và bị giam cầm trong vụ án sát hại vợ tôi.

« Lùi
Tiến »