Lúc này là mười giờ sáng, thứ Hai, ngày lễ Chiến sĩ trận vong và Frank Flynn đang ở đầu bên kia điện thoại. Cuộc gọi của ông ấy không làm tôi ngạc nhiên chút nào; kỳ thực, tôi có chút ngạc nhiên khi đến giờ ông ấy mới gọi. Thậm chí chỉ một cuộc gặp gỡ ngắn ngủi tại nơi bắt cóc Sophie, ngay trước Hoa Tử Đằng cũng đủ để tôi biết ông sẽ theo sát và tham gia vào vụ này ở mức tối đa mà chúng tôi cho phép. Ông ấy nã tôi liên tục bằng các câu hỏi về những gì tôi biết và tôi tỏ ra trung thực nhất có thể. Hầu hết những thông tin cần giữ kín thì tôi đều chưa nói - và sẽ không được tiết lộ cho đến khi hoàn thành xong việc khám nghiệm tử thi vào ngày mai.
“Cô cần tôi đến lấy lời khai không?” ông ấy hỏi.
“Tôi đã có lời khai của ông rồi,” tôi trả lời. “Trừ khi ông bỏ sót điều gì đó mà ông nghĩ là tôi nên biết.”
“Tôi rất chắc chắn chuyện Adam đã giết con gái tôi,” ông ấy nói.
Cách nói này rõ ràng - đúng như kỳ vọng - nhất có thể. Mặc kệ là chúng tôi có nhân chứng xác nhận cho câu chuyện của Adam về cuộc vật lộn trên bãi biển trong khi anh ấy cùng con gái đang cách bờ cả trăm mét, Frank Flynn vẫn chắc chắn một cách tuyệt đối rằng chính con rể đã giết chết con gái của ông ấy.
“Tại sao lại vậy, thưa ông?” tôi hỏi.
Bố của Sophie không nói chuyện vòng vo. Ông ấy làm tôi nhớ đến bố mình. Bố tôi không nóng tính như Frank Flynn. Nhưng hồi đó, bố tôi chưa bao giờ phải nói chuyện với thám tử đang điều tra về vụ giết hại con gái mình.
“Thằng đó ngoại tình sau lưng con bé,” Frank nói. “Khả năng là với ai đó ở nơi làm việc.”
“Làm sao mà ông biết được chuyện đó?”
Một lần nữa, ông ấy toàn lực tấn công tôi. “Con gái tôi kể. Thế nên tôi biết.”
“Được rồi,” tôi nói, tự hỏi rằng tại sao ông không đề cập đến chuyện này ở căn nhà gỗ khi mà Montrose và tôi đang ở đó. Ông Flynn không phải là kiểu người sẽ kiềm chế bản thân. “Cô ấy nói cho ông điều đó khi nào? Cô ấy có nói gì thêm không?”
Tôi muốn chỉ ra là nếu Adam có ngoại tình thật, thì điều đó không có nghĩa là anh sẽ thành kẻ giết người. Nếu mọi đàn ông ngoại tình đều là kẻ giết người, các nhà tù sẽ hết chỗ mất.
Frank Flyrm khựng lại một chút, một hành động mà tôi dám chắc là khá xa lạ với ông ấy. “Sophie chưa bao giờ trực tiếp nói ra chuyện đó với tôi,” ông ấy nói. “Con bé có lòng tự tôn quá cao để làm thế. Con gái tôi không phải là kiểu người sẽ để cho tôi hoặc mẹ con bé có bất cứ lý do gì để lo lắng. Có chuyện gì đó xảy ra giữa con bé và chồng nó.” Ông ấy dừng lại một chút. “Cô nên nói chuyện với Janna Fong, bạn thân nhất của con bé ở Starbucks. Tôi cá là cô ta biết rất nhiều. Tôi có số của cô ta ở ngay đây.”
Tôi viết lại thông tin của Janna Fong và hứa với ông rằng tôi sẽ tìm hiểu thêm, nhưng đó chủ yếu là phép lịch sự trước người đàn ông vừa mất đi con gái chứ không phải bởi đó là manh mối thực sự. Tôi biết rằng tốt hơn hết là đừng cho Frank biết về nhân chứng đã nhìn thấy cuộc vật lộn trên bãi biển. Ông ấy có lẽ sẽ nói rằng ông lão kia bị mù, hoặc người kia là đồng phạm của Adam. Đằng nào tôi cũng không có việc gì nhiều để làm cho đến khi nhận được kết quả khám nghiệm tử thi.
“Tôi sẽ gọi cho Janna,” cuối cùng tôi nói.
“Cô ta đang sống ở Tacoma,” ông ấy đáp. “Lấy chồng mùa hè năm ngoái. Một anh chàng tốt, tôi nghe bảo thế. Không giống con rể của tôi. Chắc chắn thế.”
Montrose đang nghỉ làm để cùng các con tới bán đảo trong kỳ nghỉ và cơ quan rất yên tĩnh. Tôi liên lạc được với Janna Fong sau vài lần gọi. Cô ấy đã nghe chuyện về Sophie và sẵn lòng giúp đỡ cuộc điều tra.
“Bằng bất kỳ cách nào mà tôi có thể,” cô ấy nói, giọng nói của cô truyền tới tai tôi khá nhỏ nhẹ đến mức nó gần như tiếng thì thầm.
Tôi bảo cô ấy là tôi sẽ tới Tacoma.
“Nếu chị đang ở nhà,” tôi nói.
“Có,” cô ấy trả lời rồi nói cho tôi địa chỉ. “Tôi ở đây cả ngày. Tôi không bận làm gì cả. Chồng tôi phải đi làm, như vậy cũng khá ổn. Chúng tôi cần thêm tiền. Hãy tới đi. Sophie là bạn tôi. Tôi không thể tin là chuyện này đã xảy ra.”
Janna Fong chào đón tôi trước cổng một ngôi nhà xinh xắn xây từ thời Victoria mới được tu sửa nằm giữa hai hàng cây theo phong cách Bắc Tacoma. Mái tóc đen của cô được búi lỏng và cổ cô được tô điểm bằng một chuỗi hạt san hô nhỏ. Tôi để ý thấy bụng bầu khá rõ của cô và nở một nụ cười với cô.
“Hai tháng nữa,” cô ấy nói. “Cảm giác giống như hai năm nữa ấy. Cô có con chưa nhỉ?”
Tôi lắc đầu. “Chưa. Một ngày nào đó, tôi hy vọng thế.” Tôi thật lòng nghĩ vậy.
Janna mời tôi dùng trà và tôi đi theo cô ấy vào bếp. Căn bếp được sơn màu hồng mẫu đơn nhạt. Chiếc kệ trong căn phòng chứa một bộ sưu tập đồ thủy tinh màu ngọc bích. Có cảm giác như chúng tôi vừa bước chân vào mùa xuân. Tôi thích cảm giác đó.
“Tôi đã khóc đến sưng mắt,” cô ấy nói, rót trà từ một ấm trà kiểu cổ điển màu hồng. Hương hoa nhài tràn ngập gian nhà. “Toàn bộ chuyện này y như một cơn ác mộng vậy.”
Cô ấy đang run rẩy và tôi vỗ nhẹ vào bàn tay cô.
“Tôi rất tiếc,” tôi chia sẻ.
“Cảm ơn cô,” cô ấy nói. “Tôi đã không gặp Sophie vài tháng nay, nhưng chúng tôi vẫn nói chuyện. Cô ấy là người bạn tuyệt vời của tôi. Từng là người bạn tuyệt vời của tôi.” Cô ấy hít thở nhanh một hơi thật sâu. “Bạn tốt nhất của tôi. Tôi đã trải qua quãng thời gian khó khăn với một anh chàng trước khi gặp Richard - chồng tôi - và Sophie đã giúp tôi vượt qua tất cả. Tôi không thể tin là cô ấy đã ra đi.”
“Tôi biết,” tôi nói. “Tôi ở đây vì một vài thông tin mà bố cô ấy nói cho tôi. Điều đó có thể có hoặc không liên quan tới những gì đã xảy ra hôm thứ Bảy.”
Tôi không nhắc đến hai từ hiếp dâm và giết hại. Tôi đổi nó thành những gì đã xảy ra bởi vì cô gái tốt bụng đang đứng ở phía bên kia cái bàn trong căn bếp thuộc thế giới thần tiên này không cần biết tới những điều xấu xí đó lúc này.
“Ông Flynn à?” cô ấy hỏi. “Tôi chưa bao giờ gặp ông ấy.”
Tôi có chút ngạc nhiên về điều này, nhưng ông ấy không nói là mình có quen biết cô gái. “Ông ấy nói là Sophie và Adam từng có vài trục trặc trong hôn nhân và có thể chị biết điều gì đó.”
Cô ấy khuấy đường cỏ ngọt trong tách trà của mình. “Khoảnh khắc nào với Adam cũng là quãng thời gian khó khăn cả,” cô ấy nói. “Nhưng đó là tôi cảm thấy thế. Adam và tôi như nước với dầu. Không hợp để thân thiết với nhau. Sophie yêu anh ta, hầu như là vậy.”
“Ý chị là sao, ‘hầu như là vậy’?”
“Cô ấy có thể chịu đựng những toan tính liên tục của anh ta để thăng tiến. Anh ta coi cuộc sống như trò chơi đổ xúc xắc để đua về đích. Trò Rủi ro thì phải. Tôi và các anh trai từng chơi trò đấy. Đặt cược lớn. Chinh phục thế giới. Cô biết đấy, chiến tranh ý.”
Tôi biết trò chơi đó. Rủi ro là trò ưa thích của Kip. Tôi còn nhớ một lần Kip và Adam cùng những người bạn khác chơi một ván Rủi ro hết cuối tuần. Tầng hầm bốc mùi như pizza và phòng thay đồ. Mẹ tôi đã điên lên khi trò chơi kết thúc. Bố thì nghĩ là trò đó khá vui và có chút tự hào khi Kip đã chơi rất chăm chỉ để chiến thắng. Tôi tự hỏi liệu Kip có nghĩ về Rủi ro khi anh ấy lên đường sang Afghanistan hay không.
“Thế còn những vấn đề trong cuộc hôn nhân của họ thì sao?” tôi hỏi.
“Không có vấn đề gì lộ rõ ra để tôi có thể nhìn thấy cả,” Janna nói.
“Bố cô ấy nghĩ Adam có một mối quan hệ khác.”
Cô ấy nhấp một ngụm trà. “Khả năng là có. Anh ta là kiểu người dễ ngoại tình. Không phải bởi anh ta không yêu Sophie. Ý tôi là, cô ấy có tất cả. Nhan sắc. Thân hình dễ thương. Rất tài năng. Có thể anh ta lạc lối một chút, nhưng chưa ở mức nghiêm trọng.”
“‘Lạc lối một chút’ à?”
“Một vài chuyện quái đản,” cô ấy nói với một cái nhún vai. “Sophie từng kể cho tôi là cô ấy phân vân không biết anh ta ở đâu sau giờ làm việc. Chắc là anh ta ở cùng cô bồi bàn nào đấy ở một nhà hàng gần nhà máy hoặc cùng cô sinh viên tài chính mới tốt nghiệp đang thực tập ở SkyAero.”
Nhìn chằm chằm vào tách trà của mình, cô ấy đột nhiên dừng lại.
“Chuyện gì vậy?”
“Tôi nhớ cô ấy có nói gì đó về một mối quan hệ khác trước khi Aubrey sinh ra, nhưng cô ấy không nói cụ thể. Khi nghĩ kỹ lại, tôi không nhớ được điều gì để gợi nhớ đến ai cả. Chỉ là cảm giác thôi.”
“Là cảm giác à?”
“Phải, tôi nhớ cô ấy từng hỏi là tôi sẽ nghĩ gì nếu anh ta bỏ trốn cùng một cô bồi bàn.”
“Một cô bồi bàn,” tôi lặp lại.
“Phải,” cô ấy nói. “Chúng tôi gần như cười phá lên về chuyện đó. Tôi bảo cô ấy là anh ta sẽ không bao giờ chạy trốn với một ai đó thấp kém hơn anh ta. Tôi không có ý tỏ ra hợm hĩnh và tôi biết chắc là có rất nhiều cô bồi bàn xinh đẹp ngoài kia, nhưng thực sự, với Adam mà nói, điều đó sẽ là một bước lùi quá lớn.”
“Tôi biết chị nói đó chỉ là cảm giác,” tôi nói, “nhưng chị có nghĩ là gần đây Adam đang phản bội cô ấy không?”
Janna khẽ nhún vai. “Thật lòng mà nói, tôi không biết chắc. Chúng tôi nói về đủ thứ chuyện - hầu hết là về bạn trai tôi, công việc của chúng tôi, con gái cô ấy sau khi Aubrey ra đời - nhưng Adam chưa bao giờ là chủ đề được quan tâm. Anh ta ở đó, dĩ nhiên rồi, như một cái bóng mà cô ấy không bao giờ lay chuyển được.”
Tôi lưu lại lời của cô ấy và sắp xếp lại chúng. “Cô ấy có muốn từ bỏ cái bóng đó không?”
Janna nở một nụ cười yếu ớt. “Tôi nghĩ thế. Cô ấy bảo tôi rằng đôi khi anh ta còn là kẻ thích kiểm soát hơn cả bố cô ấy và nếu như cô từng nghe qua về ông Flynn - người mà tôi chưa gặp bao giờ - cô sẽ biết chuyện này nói lên rất nhiều điều.”
Tôi không muốn đào sâu về ông Flynn. Thay vào đó tôi nói, “Lúc nãy chị đã nói ‘vài chuyện quái đản’ khi nhắc đến Adam. Ý chị là sao?”
Cô ấy ngần ngại. “Tôi không biết. Những chuyện lập dị, tôi đoán vậy. Một lần khi Sophie và tôi đi mua sắm ở Bellevue, chúng tôi đã dùng xe của Adam. Khi chúng tôi để đồ vào cốp xe, có một loại búp bê tình dục ở trong đó.”
Tôi không rõ là cô ấy đang nói về cái gì.
“Loại búp bê gì cơ?”
Cô ấy làm một biểu cảm chán ghét. “Mấy con búp bê bơm hơi để cánh đàn ông làm trò ấy, tôi đoán vậy. Dẫu sao, cô ấy đã rất tức giận vì nó vẫn còn ở đó. Cô ấy nói là Adam bảo với cô ấy rằng đó là của một người bạn ở công ty. Trò đùa trong bữa tiệc độc thân hoặc cái gì đó kiểu kiểu thế.”
Tôi sắp xếp lại thông tin đó và đặt nó qua một bên trước khi tiếp tục.
“Janna, gần đây,” tôi nói, đào sâu vào đó, “Sophie thế nào? Hạnh phúc? Bồn chồn? Có cảm giác gì về điều đó không?”
“Tốt hơn. Đó là điều chắc chắn. Mọi thứ lắng xuống sau khi Aubrey ra đời. Tôi nghĩ rằng việc có con là điều tốt cho cô ấy, cho cả hai. Họ vẫn cãi nhau nhưng luôn có cô con gái nhỏ để quay về. Sophie khá kín đáo, nhưng không phải là quá bí mật đến mức tôi không biết.”
“Vậy là họ đang hạnh phúc?” Tôi hỏi.
“Hạnh phúc đến mức có thể.”
“Tôi không rõ ý của chị là gì.”
Janna mời tách trà thứ hai, nhưng tôi từ chối.
“Cần rất nhiều thứ để cảm thấy hạnh phúc. Với một công việc đòi hỏi cao và một đứa con, đến cuối cùng thì còn lại bao nhiêu thời gian để mà hạnh phúc? Như tôi này… Tôi đang kiệt sức. Tôi không thể hình dung ra mình sẽ tàn tạ thế nào khi Sophie chào đời.”
Nhắc đến tên đứa con khiến giọng cô nghẹn lại.
“Tôi mới quyết định sau khi nghe tin.”
“Một cái tên mang nhiều ý nghĩa.”
“Sophie rất tuyệt vời.” Nước mắt lăn dài trên má Janna. “Tôi không biết liệu mình có quen được với chuyện coi cô ấy là quá khứ không. Điều này thật sai lầm. Cô nhất định phải bắt được kẻ đã giết cô ấy.”
“Chúng tôi đang tiến hành việc đó.”
Cô ấy ngần ngại một lúc. “Tôi không biết đó là ai, nhưng tôi chỉ không tưởng tượng nổi rằng đó là Adam. Tôi không hình dung nổi.”
“Tại sao lại vậy?”
Janna hít thở một hơi thật sâu. “Anh ta là một thằng tồi. Anh ta thật hết chịu nổi. Anh ta cũng phù phiếm nữa. Anh ta là toàn bộ những điều đó. Nhưng anh ta cũng biết là mình đã may mắn như thế nào khi có được một cô gái như Sophie. Cô ấy là điều tuyệt vời nhất từng xuất hiện trong đời anh ta. Và Aubrey thì sao? Con bé như một lớp kem phủ trên miếng bánh ngọt. Không có cuộc hôn nhân nào hoàn hảo và họ có những vấn đề của họ. Tôi mong cô hiểu rằng tôi yêu quý cô ấy như thế nào, bởi vì điều mà tôi muốn nói với cô có thể sẽ nghe không đúng lắm.”
Cô ấy nhìn chằm chằm vào tôi. Tôi thấy nước mắt cô ấy chực rơi.
“Chị nói đi,” tôi bảo cô ấy.
“Sophie và Adam xứng đáng với nhau. Họ thực sự như thế. Cô ấy khá kín đáo. Im lặng. Cô ấy cũng có mặt tối, bị trầm cảm và hầu như anh ta chẳng để tâm. Một sự xứng đôi tồi tệ để tồn tại, theo cách nghĩ của tôi.”
Trước khi lái xe trở lại Shelton, tôi kiểm tra tin nhắn. Có một tin nhắn từ Adam.
Giọng của anh rất nhẹ. Anh ấy không hề thì thầm, nhưng tôi có cảm giác là anh đang nói với âm lượng thấp nhất để không làm phiền tới ai. Có lẽ là cô con gái nhỏ của anh ấy?
“Anh nghe nói em đã nhận diện được kẻ tình nghi,” anh ấy nói. “Anh vẫn đang làm quen với mọi chuyện và tự hỏi là anh nên làm gì bây giờ. Chỉ là anh muốn gọi điện và cảm ơn em vì mọi thứ. Em luôn là người đặc biệt với anh. Cả gia đình em đều rất đặc biệt với anh.”
Anh ấy đang nghĩ đến Kip. Không phải tôi. Tôi biết mà. Anh ấy đang nhớ đến những lần mà bố chúng tôi đưa Kip và anh ấy đi câu cá ở Vịnh Neah hằng năm từ thời trung học cho đến mùa hè Kip nhập ngũ. Tôi đã đi theo họ đôi lần khi lớn hơn. Nhưng đó thực sự là Màn trình diễn của Adam và Kip từ đầu đến cuối. Tôi chỉ đơn thuần là phần bổ sung, là một cô bé vụng về đã cảm nắng người bạn thân nhất của anh trai.
Vì lý do nào đó không thể gọi tên, tôi lắng nghe tin nhắn thoại đó thêm hai lần nữa trước khi xóa nó đi.
Văn phòng Pháp y Quận Kitsap nằm trên ngọn đồi phía trên khung cảnh được nhồi nhét từng hàng từng hàng xe hơi mới coóng, ngay cạnh đường Auto Center ở Bremerton. Tôi lái xe lên bãi đậu. Montrose phải chở mấy đứa con của mình tới ba nơi khác nhau trước khi tới, vì theo như ông ấy mô tả thì “tuần này thứ Ba là thứ Hai” và gia đình ông đang đảo lộn hết cả lên.
Tôi biết ơn sự đơn giản trong cuộc sống của tôi.
Phía bên trái bãi đậu xe, tôi thấy một vài lính hải quân mới nhập ngũ đang làm việc trên một cánh đồng gần khu phức hợp. Tôi luôn nghĩ về anh trai mình mỗi khi nhìn thấy những gương mặt trẻ tuổi đang phụng sự đất nước. Họ nhập ngũ vì nhiều lý do khác nhau. Vài người là để chiến đấu. Vài người là để thoát khỏi tình cảnh tồi tệ ngay tại chính căn nhà của mình. Những người khác làm thế bởi vì việc đấu tranh cho một cái gì đó chính là lý do để họ tồn tại. Giống như Kip. Anh ấy là như vậy. Một chiến binh.
Tôi khựng lại khi nhận ra chiếc Buick màu nâu sẫm đang đậu trong khu vực dành cho khách.
Frank và Helen Flynn đang ở đây.
Tôi không rõ lý do tại sao họ lại tới. Adam đã nhận dạng Sophie rồi và họ không cần phải ép mình trải qua một trải nghiệm kiểu đó thêm một lần nữa.
Trợ lý pháp y, Celia Greene, gặp tôi sau khi nhân viên an ninh cho phép tôi vào trong tòa nhà. Cô ấy đang trong độ tuổi hai mươi, với mái tóc màu vàng ngắn cũn cùng thứ gì đó nhìn giống như hàng chục khuyên tai ở mỗi cái tai. Ngay bên dưới đường viền cổ áo của cô lộ ra một nửa phần trên của hình xăm thư pháp. Tôi không đoán ra hình xăm đó viết gì và tôi biết mình sẽ lại thắc mắc khi đi ngủ. Tôi là vậy đấy. Một người thích giải đố và không bỏ lỡ tập nào của chương trình Chiếc nón kỳ diệu, điều tôi không bao giờ thừa nhận với bất kỳ ai.
“Chúa tốt lành ơi,” cô ấy than với tôi mà không buồn chào hỏi, “bố của nạn nhân thực sự là một lão hãm tài.”
Tôi cố không để lộ chút cảm xúc nào. “Có chuyện gì vậy?”
Cô ấy trợn mắt nhìn lên. “Lão ta khăng khăng muốn nhìn thấy cô ấy. Em đã bảo ông ta là thi thể đang được chuẩn bị để khám nghiệm và đã được nhận diện rồi. Ông ta có thể nhìn cô ấy sau khi khám nghiệm, khi mà thi thể được gửi về nhà tang lễ.”
“Điều đó không thỏa mãn được ông ấy,” tôi nói, đã biết trước là gần như không gì có thể thỏa mãn được Frank Flynn. Ông ấy đã gửi cho tôi ít nhất bảy tin nhắn tính từ hôm thứ Bảy. Mỗi tin nhắn lại đưa ra một gợi ý sắc sảo - mà chẳng ai yêu cầu - để “giúp đỡ” công việc điều tra.
“Không,” cô nói. “Ông ta và vợ đang ở trong phòng quan sát để đợi ai đó vén màn lên.”
“Bác sĩ pháp y được phép để chuyện đó xảy ra không?” tôi hỏi.
“Chắc chắn rồi,” Celia nói.
Trong ký ức yêu thương. Tôi nghĩ hình xăm viết thế. Phần trên của các chữ cái chỉ ra chữ T, K, Ư, Y và T. Khoảng cách giữa các chữ có vẻ đúng. Tôi tự hỏi người được ghi nhớ trên ngực cô ấy là ai, nhưng tôi không hỏi.
“Cô bé đang ở với Deb trong phòng báo cáo,” cô ấy bổ sung.
Tôi choáng. “Họ mang con bé theo á?”
“Em hiểu mà. Đúng không? Ai lại mang một đứa trẻ ba tuổi đến nhà xác chứ?”
“Frank Flynn sẽ làm thế,” tôi nói. “Ông ta là người như thế.”
“Em có thể nhìn ra là bà Flynn không vui vì chuyện này một chút nào hết. Bà ấy gần như im lặng.”
Tôi muốn nói với Celia rằng đấy là cách cư xử thường thấy của Helen, nhưng rồi lại thôi. Đi vào phòng quan sát, tôi thấy mẹ của Sophie đang nắm chặt một hộp khăn giấy và Frank thì chễm chệ đằng trước cửa sổ quan sát như thể ông ấy không muốn bỏ lỡ một trận đấu bóng bầu dục trên ti vi.
Ông ấy trừng mắt nhìn tôi. “Chúa ơi,” ông ấy nói. “Tôi đã nghĩ là cô sẽ không bao giờ tới đấy.”
Tôi kỳ thực đã đến sớm mười phút, nhưng tôi không nhắc tới điều đó.
“Giờ tôi đang ở đây rồi,” tôi đáp.
Tôi nghe thấy tiếng khăn giấy được kéo ra từ hộp. Helen đang khóc nức nở.
Tôi đặt bàn tay mình lên vai bà. “Bà không cần phải ở đây đâu, bà Flynn.”
Bà ấy gật đầu với tôi và nhìn về phía chồng.
“Bà ấy muốn ở đây,” ông ấy nói. “Đây là đứa con duy nhất của chúng tôi. Chúng tôi muốn giành công lý cho Sophie và sẽ tham gia vào mọi việc có thể.”
“Tôi xin lỗi,” bà ấy nói, đúng hơn là chỉ mấp máy môi.
Frank phóng ra một cái nhìn đầy uy lực đến nỗi Helen ngay lập tức nhìn đi chỗ khác như thể bà ấy vừa bị đánh vào mặt.
“Tất cả chúng ta đều muốn có công lý,” tôi nói. “Đó là lý do tôi ở đây. Đó là lý do tôi sẽ chiến đấu vì Sophie cho đến khi bắt được kẻ phải chịu trách nhiệm cho cái chết của cô ấy. Có thực sự cần phải tranh cãi về một vấn đề mà rõ ràng là chúng ta đồng quan điểm không?”
Frank khóa chặt sự chú ý trên người vợ mình trong vài giây trước khi quay lại đối mặt với tôi.
“Cô nói ra được những điều đúng đắn,” ông ấy nói, “nhưng tôi đã tìm hiểu về cô. Thành tích của cô không tốt lắm, cô biết mà.”
“Frank!” Helen nói. “Làm ơn đi.”
Ông ấy đang đề cập tới vụ án một phụ nữ trẻ bị thắt cổ và giết hại được tìm thấy ở hồ Mason. Chúng tôi nghĩ bạn trai của cô chính là người đứng đằng sau cái chết, nhưng không thể xây dựng được chứng cứ đủ mạnh để buộc tội anh ta.
Frank lắc đầu bằng sự khinh bỉ cường điệu. “Tôi tự hỏi gia đình của Cathy Rinehart đang cảm thấy thế nào vào lúc này.”
Tôi biết ông ấy muốn làm gì, nhưng tôi từ chối bị cắn câu. Tôi tự hỏi hẳn là loại người như thế nào lại sử dụng nỗi đau của người khác để khiến ai đó cảm thấy tồi tệ.
“Tan nát cõi lòng,” tôi nói.
Ông ấy không hề nao núng. Frank không phải là kiểu người dễ nao núng. Ông ấy đối mặt trực diện với mọi thứ như thể một chiếc xe tải đang chạy mà không có phanh.
“Tức giận nữa,” ông ấy quật lại, trước khi thả một quả bom nhỏ. “Tôi đã gọi điện cho bố của Cathy Rinehart và ông ấy tuôn ra một tràng giận dữ.”
Tôi hiểu điều đó. Tôi hiểu. Nỗi đau là động lực mạnh mẽ. Tôi cố gắng hết sức để tránh đối đầu với người đàn ông đang ở ngay trước mặt mình. Ông ấy có toàn quyền để giận dữ với thế giới này. Tuy nhiên, ông ấy không có quyền cố tình gây dựng một câu lạc bộ với thành viên là cha mẹ của các nạn nhân mà những kẻ giết người đã lẩn tránh được công lý. Tôi quyết tâm bắt được hung thủ sát hại Cathy. Tôi quyết tâm bắt được hung thủ trong vụ Sophie.
“Bà Flynn, bà có chắc là mình muốn nhìn thấy Sophie lúc này không?” tôi hỏi, tôi biết rằng mình cần phải thật nhẹ nhàng vào lúc này. “Bà không bắt buộc phải làm thế.”
Frank trả lời hộ vợ, đúng như tôi nghĩ rằng ông ấy luôn làm vậy. “Bà ấy muốn thế,” ông ấy nói.
Nhưng tôi không quan tâm. Bất kể là chuyện gì đang xảy ra giữa họ - và tôi biết khá rõ rằng đó là chuyện gì - tôi không phải một phần trong đó. Helen là một con người. Bà ấy không phải món đồ.
“Tôi đang hỏi bà ấy,” tôi nói.
Frank giận xì khói. Mặt ông ấy trông như một cái đèn đỏ giao thông to tướng.
Helen nhìn có vẻ bối rối, tôi nhận ra đây là một trong những trạng thái thường xuyên nhất của bà ấy. Hiển nhiên là bà ấy không quen với việc chứng kiến ai đó lờ đi ý kiến của chồng mình. “Không,” bà nói một cách yếu ớt, trước khi bắt gặp cái nhìn chằm chằm của ông ấy. “Ý tôi là không, tôi chắc chắn mình muốn nhìn thấy con bé.”
“Được rồi, bây giờ,” tôi nói, “sau khi bà nhìn thấy cô ấy, chúng tôi sẽ đóng rèm cửa lại. Sau khi hai người ra ngoài, tôi sẽ quan sát trong lúc bác sĩ pháp y tiến hành khám nghiệm kỹ lưỡng để xác định nguyên nhân gây ra cái chết của cô ấy và để thu thập mọi bằng chứng có trên cơ thể cô ấy.”
Frank ra hiệu cho Helen đến đứng cạnh trong lúc đang đứng đối diện với cửa sổ.
Tôi nhấn nút và rèm cửa ở phía bên kia cửa kính được kéo lên.
“Chó chết,” Frank nói gần như ngay lập tức khi nhìn thấy Sophie nằm trên xe đẩy bệnh nhân bằng thép, được che hờ bằng một tấm vải. “Thằng chó chết. Nó thực sự đã giết con gái nhỏ của tôi. Thằng khốn đấy!”
Helen không nói gì. Bà ấy đứng lặng ở đó như tượng trong khi chồng bà thì quát tháo. Bàn tay bà đã biến thành càng cua và tờ khăn giấy trong tay bà bị vò lại thành một hình cầu gần như hoàn hảo.
Tôi hỏi một câu đã biết trước câu trả lời - câu hỏi mà Adam đã trả lời ở hiện trường vụ án.
“Đây có phải là Sophie không?”
Frank xoay phắt lại. “Chó chết,” ông ấy nói. “Đồ ngu! Dĩ nhiên là nó rồi!”
“Frank, làm ơn mà,” Helen cuối cùng cũng lẩm bẩm. Lời nói của bà ngay lập tức bị hút vào cái mồm há to của ông ấy, cùng toàn bộ không khí trong căn phòng đau buồn nhất từng được xây dựng lên. Một ý nghĩ vụt qua trong đầu tôi rằng người trang trí nội thất và nhà thầu đã bắt tay nhau để khiến không gian này trầm tĩnh nhất có thể. Một bảng màu êm dịu với các tông màu xanh dương và xám nhạt khác nhau trên nền trắng nhẹ nhàng. Một bức tranh trừu tượng hình những đám mây được treo trên ghế sô pha mà tôi hình dung là do hàng trăm tỉ giọt nước mắt tạo thành.
Frank phớt lờ vợ mình và chĩa thẳng một ngón tay về phía tôi. “Lũ khốn các người phải bắt giam Adam Warner vì chuyện này! Thằng đó là kẻ sát nhân! Bọn tôi biết điều đó. Các người biết điều đó! Giờ thì bắt đầu đi, bằng không tôi thề là sẽ khiến các người phải hối hận vì đã không làm thế!”
Tôi tiếp nhận lời đe dọa của ông ấy. Có lẽ tôi đã phản ứng lại nếu như không chắc chắn về kỹ năng của mình với tư cách là một nhân viên điều tra và nếu như tôi bị mất đi lòng trắc ẩn với người cha của một phụ nữ bị giết hại đang nằm trên xe đẩy.
Thay vào đó, tôi ấn nút và rèm cửa sổ hạ xuống. Tôi mở cửa và ra hiệu cho ông bà Flynn rằng họ nên ra ngoài.
“Aubrey ở hướng này,” tôi nói.
Helen không nhìn tôi. Bà ấy bước qua, đầu cúi xuống. Tôi cảm nhận được hơi nóng từ cái đầu như đèn đỏ giao thông của Frank khi ông ấy đi qua.
“Cô tốt hơn hết là nên thông báo đầy đủ thông tin cho chúng tôi,” ông ta nói một cách dữ tợn.
“Tôi sẽ nói cho ông bà biết mọi thứ mà tôi có thể nói,” tôi trả lời. “Nhưng tôi cần làm rõ điều này - làm rõ mọi chuyện giống như cách mà ông bà đã làm nãy giờ thôi - sẽ có những chuyện mà tôi không được phép tiết lộ, bởi vì tôi muốn kẻ sát nhân gây ra chuyện này phải bị kết án và cách ly khỏi xã hội trong một thời gian dài.”
“Ý cô là cô sẽ không cho chúng tôi biết sự thật hả?” Frank hỏi. “Chuyện này thật tốt quá.”
“Tôi cũng muốn những điều như ông muốn,” tôi nói.
Ông ấy ưỡn cái cơ thể phồng phềnh của mình lên. “Vậy thì hãy bắt thằng con rể của tôi và kết thúc tất cả chuyện này đi.”
“Chúng tôi không biết chuyện gì đã xảy ra, thưa ông Flynn,” tôi nói. “Nhưng chúng ta sẽ sớm biết thôi.”
Tôi không bảo với ông ta rằng tôi biết chắc chắn Adam Warner không làm chuyện đó. Không phải vì chứng cứ - điều mà nhân chứng nói rằng ông ấy nhìn thấy - hoàn toàn không hề chĩa về phía anh. Mà đó là vì tôi biết anh ấy. Tôi hiểu tính cách của anh ấy. Anh ấy không phải là người sẽ làm tổn thương người khác. Anh ấy tốt bụng. Sau tất cả, anh ấy đã cứu tôi .
Tôi quan sát khi họ đón Aubrey. Cô bé miễn cưỡng đặt chú gấu nhồi bông mà Celia đã đưa cho mình xuống - một công cụ mà các nhân viên ở văn phòng pháp y sử dụng để làm trấn tĩnh và đánh lạc hướng trẻ em ngay tại chỗ. Frank nói rằng món đồ chơi đầy lông đó thật bẩn thỉu và con bé nên vứt nó đi. Aubrey nhìn giống mẹ hơn là bố và tôi tự hỏi là điều đó sẽ tác động ra sao đến ông bà Flynn và Adam sau này. Tôi tự hỏi liệu họ có nghĩ đến Sophie khi nhìn Aubrey trong suốt quá trình con bé trưởng thành hay không. Tôi tự hỏi rằng có khi nào họ nghe thấy tiếng cười của Aubrey và nghĩ đến người phụ nữ được phát hiện trong đám lau sậy tại Octopus Hole hay không. Tôi tự hỏi liệu Aubrey có tồn tại một cách độc lập không, hay họ sẽ biến cô bé thành lời gợi nhớ khôn nguôi về một điều đã ra đi mãi mãi.
Tamara Collier đã làm bác sĩ pháp y ở quận Kitsap được sáu tháng, thay thế cho một bác sĩ pháp y lâu năm và đáng kính đã rời bỏ nơi đây để đến vùng đất Makah tại bán đảo Olympic. Quận của chúng tôi chỉ mới gửi cho bác sĩ Collier vài vụ - hai vụ tử vong liên quan đến tai nạn xe hơi, một vụ cháy nhà và vụ mà Frank Flynn đã đập vào mặt tôi như thể đập một cái bánh kem ôi thiu: Cathy Rinehart.
Chúng tôi chào hỏi và khi dẫn tôi vào bên trong phòng khám nghiệm, cô cho tôi biết là đã xác định được nguyên nhân cái chết.
“Chấn thương do bị tấn công đằng sau đầu,” cô nói, nhìn về phía tôi qua cặp kính thuốc. “Ai đó đánh cô gái rất mạnh. Dùng toàn lực như đánh quả bóng chày.”
Tôi không thích phép so sánh này. Tôi chưa bao giờ thực sự mê thể thao.
“Em hiểu,” tôi đáp trong lúc cô ấy xoay đèn chiếu sáng vào đầu Sophie. Tóc cô ấy đã che khuất nó ở hiện trường vụ án, nhưng dấu vết vẫn ở đấy, vết bầm tím cùng vết thương dài và sâu phía sau đầu.
Bác sĩ Collier quá thấp, đến mức cô phải giẫm lên bệ đỡ để thực hiện quá trình khám nghiệm. Cô ấy mặc chiếc áo xanh bác sĩ thùng thình được viền lại bằng băng keo. Tôi có hai suy nghĩ vào lúc này. Cô ấy rất tháo vát và quận Kitsap quá ki bo đến mức không cấp cho cô một cỡ áo vừa vặn.
“Có phải quanh cổ cũng là vết bầm không?” tôi hỏi.
“Quan sát tốt đấy. Nó khá mờ, nhưng đúng là thế. Có vẻ cái tên khốn gây ra chuyện này cũng đã bóp cổ cô gái. Chị không nghĩ đó là lý do giết chết cô ấy. Chị phải mổ ra để tìm hiểu thêm.” Cô ấy liếc sang phía cái cưa. Tôi không định nán lại để xem cái này đâu.
“Thế còn tấn công tình dục thì sao?” tôi hỏi. “Tại hiện trường, bọn em nghĩ là có một vài dấu hiệu.”
Cô ấy nhìn tôi. “Thế giờ em có thấy không?” cô ấy hỏi, với một tông giọng làm thay đổi toàn bộ không khí của cả căn phòng. Cô ấy nhỏ bé, nhưng niềm tin vào công việc của cô lại rất to lớn.
“Em không phải là nhân viên pháp y,” tôi nhanh chóng nói. Tôi đã có đủ xung đột cho một ngày rồi. “Chỉ tự hỏi là chị nghĩ sao thôi.”
Cô ấy liếc nhìn qua gọng kính thuốc. “Chị chắc cũng sẽ nói thế. Chị sẽ lấy mẫu từng phần một, theo từng phương pháp một và xem xem phòng xét nghiệm sẽ nói cho chúng ta điều gì. Nhưng, đúng, chị nghĩ là em và đội thực địa hiện trường đã nghĩ đúng.” Cô ấy ngừng nói và nhìn lại thi thể trước mặt mình, ánh đèn mờ mờ chiếu lên vùng da thiếu sức sống của Sophie.
“Em không dám kỳ vọng là sẽ có nhiều dấu vết để chị tìm thấy,” tôi nói.
“Sẽ có ích hơn nếu mấy người bọc tay cô gái lại.”
“Cô ấy được kéo ra từ Hood Canal,” tôi đáp. “Em đã không nghĩ chuyện đó là cần thiết.”
Vị bác sĩ pháp y ngước lên. “Meg Fleiss được kéo lên trong tình trạng hoàn toàn khỏa thân ở sông Mississippi, như một cái phao dập dềnh. Phòng khám nghiệm ở Biloxi tìm thấy sợi vải quần áo trong mấy cái khuyên ngực và trùng khớp với kẻ tình nghi. Cô ấy đã ở dưới nước trong bảy ngày.”
Tôi không thực sự nhận ra vấn đề liên quan ở đây. Sophie không có bất kỳ chiếc khuyên nào để có thể móc lấy sợi vải.
“DNA?” Tôi hỏi. “Dưới các ngón tay cô ấy chăng?”
Bác sĩ Collier đưa ánh mắt trở lại thi thể của Sophie. “Không. Chẳng có gì cả. Nhưng lần tới, bọc bàn tay lại. Hãy luôn bọc chúng lại.”
Tôi đứng đó trong khi cô ấy lấy những chiếc tăm bông dài và cho chúng chạy dọc bên trong miệng của Sophie, âm đạo và hậu môn của cô ấy. Cô ấy quệt tăm bông hai lần cho mỗi vùng cơ thể và đặt những chiếc tăm bông vào trong các ống riêng biệt, niêm phong chúng và rồi ghi chú nội dung cùng mã số vụ án.
Trong lúc quan sát bác sĩ pháp y làm việc, tôi biết rằng đây đã có thể là số phận của mình nếu hồi đó Adam không tìm thấy tôi. Tôi không biết khi nào thì kẻ tấn công sẽ quay lại hoặc tại sao hắn lại vứt bỏ tôi ở đó. Tại sao tôi lại rất nghe lời hắn. Tôi ghét nghĩ đến kết cục có thể đã xảy ra khi đó. Tôi có thể đã nằm trên bàn, dòng nước trộn lẫn máu đỏ chảy xuống ống dẫn nước, não của tôi bị lấy ra và cân, các nội tạng được ghi vào danh mục và rồi được trả lại chỗ cũ một cách tùy ý trong các khoang của cơ thể. Tôi có thể đã giống như Sophie Warner.
“Phòng xét nghiệm đang hoạt động ở đằng sau,” cô ấy nói, tăng tốc cái cưa của mình: tín hiệu để tôi rời đi.
“Được rồi,” tôi nói, kéo bản thân quay về thực tại. “Cảm ơn bác sĩ.”
Ngay lúc này, nguồn sức mạnh từ đâu đó thôi thúc tôi hét lên và nguyền rủa Albert Hodge và những điều hắn đã làm với tôi. Tôi không bao giờ, chưa bao giờ nghĩ về hắn ta. Tôi đã cố sức xua đuổi cái ngày ấy ra khỏi đầu, giống như nó là một sai sót trong vở kịch ở trường mà tôi không bao giờ muốn nhớ lại. Sophie, trên cái bàn đó, đã đưa tất cả trở lại. Nhìn thấy Adam Warner cũng khiến những ký ức tưởng đã ngủ yên quay trở về.
“Cô ổn chứ?” vị bác sĩ pháp y hỏi, tắt cái cưa của mình đi.
“Em chỉ cảm thấy hơi mệt thôi,” tôi lảng tránh.
Cô ấy nở một nụ cười cảm thông. Tôi biết cô ấy đang cố tỏ ra ân cần. “Chị hiểu. Phải có gan to để làm việc này. Bố chị nói gan chị làm bằng gang. Lớn lên trên một nông trại ở Ellensburg. Mổ thịt bò Angus…”
Cô ấy còn đang nói dở thì tôi lao phắt từ phòng khám nghiệm tử thi xuống nhà vệ sinh dưới sảnh. Tôi xả nước và vỗ nước lên mặt. Điều này giúp ích một chút, nhưng chỉ một chút. Celia, trợ lý của bác sĩ pháp y, xuất hiện từ trong một buồng vệ sinh.
“Chúa ơi,” cô ấy nói, “lão đó đúng là một tay dở hơi. Chị đừng để tâm mấy chuyện đó.”
“Ừ,” tôi nói, không cho cô ấy biết rằng dù Frank Flynn có tồi tệ đến mấy cũng không phải nguồn cơn gây ra phản ứng của tôi.
Tôi không muốn cô ấy biết tôi đang thực sự nghĩ gì hoặc cảm nhận như thế nào. Khi mang trong mình một tâm sự và không bao giờ nói ra chuyện đó, bạn cũng sẽ không bao giờ để lộ nó ra trước mặt người lạ, thậm chí còn không biết làm thế nào để diễn đạt suy nghĩ của mình. Bạn sợ rằng lời nói của mình có thể sẽ khiến mọi thứ trở nên tồi tệ hơn.
Như thể mọi chuyện còn có khả năng tệ hơn được nữa vậy.
“Chị nhận được tin nhắn từ cộng sự,” tôi nói dối. “Cần phải quay về Shelton. Em giúp chị nói với bác sĩ Collier rằng chị muốn là người đầu tiên biết các kết quả xét nghiệm, được không?”
“Chắc chắn rồi, thưa thám tử,” Celia nói. “Đừng lo. Chị sẽ bắt được hắn thôi. Em tin là thế. Em tin chị.”
Tôi biết là cô ấy có ý tốt, nhưng sự tử tế của cô ấy chỉ khiến tôi cảm thấy thảm hại hơn mà thôi.
Khi kiểm tra điện thoại trên ô tô, tôi thấy hai tin nhắn.
Tin đầu tiên là của Linda London, phóng viên từ KOMO. Bà ấy là kiểu người đi thẳng vào vấn đề.
“Cô cần lên sóng và nói về cái chết của Sophie Warner. Tôi đang có rất nhiều mảnh ghép của câu chuyện, nhưng khán giả cần thông tin từ một nguồn chính thức. Tôi đã cử một đội tới chỗ của cô rồi.”
Tôi không gọi lại cho bà ấy.
Tin nhắn thứ hai là từ Teresa Dibley, người phụ nữ đang ở trọ cùng hai đứa cháu của mình tại căn nhà gỗ nhỏ bên cạnh Hoa Tử Đằng.
“Có lẽ chẳng phải là chuyện gì to tát đâu,” bà ấy nói, “nhưng tôi mong được nói chuyện nếu cô có thời gian. Mấy đứa nhỏ và tôi sẽ vẫn ở đây đến bốn giờ ngày hôm nay. Rút bớt một ngày trong kỳ nghỉ đau thương này, ít nhất là thế.”
Tôi gọi điện lại cho Teresa.
“Tôi đã nghĩ tới chuyện về nhà,” Teresa Dibley bắt đầu, “nhưng tôi đã thanh toán trước và sẽ không được hoàn tiền.” Chúng tôi quay lại sàn nhà trước của Hoa Cúc, ngắm nhìn Clark và Destiny chèo thuyền trên mặt nước long lanh như thủy tinh của vùng bờ biển được rào chắn bảo vệ.
“Chuyện xảy ra ở đây,” bà ấy nói thêm, giọng rất nhẹ, “gần như là quá sức chịu đựng.”
“Tôi hiểu,” tôi chia sẻ.
“Hai đứa trẻ ấy sống không hề dễ dàng,” bà tiếp tục, nhìn về những đứa cháu của mình. “Nhiều chuyện phức tạp. Chúng là những đứa trẻ ngoan, nhưng tôi không biết mình có kịp nuôi chúng lớn không. Tôi ước mình trẻ lại hai mươi tuổi.”
“Bà đang làm rất tốt,” tôi bảo bà. “Các cháu của bà trông rất hạnh phúc.”
Bà ấy mỉm cười, nhìn về phía bọn trẻ và mời tôi trà đá. Bên ngoài thềm nhà được lát gỗ tuyết tùng, trời khá nóng dù làn gió mát lạnh từ mặt nước vẫn thổi tới, vì vậy tôi vui vẻ đồng ý.
“Có một vài điều khiến tôi thấy không yên,” Teresa nói, đưa cho tôi chiếc cốc. “Tôi đã đọc tin tức về vụ này. Và chà, tôi không muốn can thiệp vào những gì cảnh sát đang làm. Đó không phải là tính cách của tôi.”
“Không,” tôi nói. “Chuyện này tốt mà. Tôi muốn được nghe những suy nghĩ của bà.”
Teresa đặt chiếc cốc của mình xuống. “Khi cậu Warner quay về sau khi, cô biết đấy, đi tìm cô Warner.”
Bà ấy bối rối. Tôi nhìn thấy điều ấy trong mắt bà.
“Vâng,” tôi nói. “Tôi biết chuyện này rất khó khăn.”
Bà ấy trông hơi xấu hổ, tôi vốn không định khiến bà cảm thấy như vậy.
“Xin lỗi,” bà nói, nén lại nỗi buồn vì những điều đã xảy ra. “Dẫu sao thì, cậu ấy đã sụp đổ hoàn toàn. Khó khăn lắm mới di chuyển được từ xe ô tô đến căn nhà gỗ. Tôi chưa từng thấy ai bị cuốn vào nỗi đau kiểu đó. Dù tôi đã chứng kiến nhiều chuyện rồi. Với con trai tôi. Cả con dâu tôi nữa.”
Đúng lúc đó, Clark từ trên thuyền vẫy tay với bà.
Teresa ngay lập tức nhảy dựng lên. “Destiny! Để nguyên cái áo phao đó trên người cháu, bằng không cháu không bao giờ được đặt chân lên thuyền lần nào nữa đâu.”
Teresa nhìn tôi và lắc đầu. “Đứa trẻ đó sẽ khiến tôi sớm xuống mồ mất thôi.”
Tôi cười. “Những đứa trẻ thử thách sức chịu đựng của ta thường sẽ làm được những chuyện tuyệt vời nhất. Tôi vẫn luôn nghĩ vậy.”
“Cô sẽ cảm thấy khác khi có một đứa con,” bà ấy nói.
“Tôi mong sẽ được như vậy một ngày nào đó.”
Chúng tôi uống trà và Teresa đề cập tới điều mà bà ấy muốn nói khi gọi điện thoại cho tôi.
“Chiều Chủ Nhật, tôi đề nghị dọn dẹp căn nhà gỗ để giúp cậu Warner có thể rời đi luôn. Cô biết đấy, không ai muốn mất chi phí dọn dẹp nếu như tránh được nó, đúng không? Đấy là điều tối thiểu tôi có thể làm, xét trên những chuyện mà cậu ấy đã trải qua.”
Tôi cảm thấy nhịp tim của mình tăng lên, tôi cũng từng kiểm tra căn nhà đó. “Bà đã tìm thấy thứ gì đó?” tôi dò hỏi.
“Ồ, không,” bà ấy đáp. “Không hẳn. Nhưng tôi để ý thấy vài điều có vẻ mâu thuẫn với những gì bản tin nói. Họ nói là vào thứ Sáu, đêm trước khi cô ấy bị giết, nhà Warner đã ăn tối trong căn nhà gỗ. Bánh mì kẹp hoặc thịt bò bít tết. Tôi không chắc chắn là họ đã ăn gì.”
“Và sáng thứ Bảy họ đã ăn bánh quế,” tôi nói.
“Đúng,” Teresa trả lời. “Tôi cũng thấy điều đó. Có hai cái đĩa trong bồn rửa bát và một cái bát dùng để trộn bột. Máy rửa bát trống không. Không còn chiếc đĩa, cốc hay bất cứ thứ gì khác.”
“Có thể họ đã dùng máy rửa bát ngay tối hôm đó,” tôi gợi ý.
“Phải. Tôi đã nghĩ tới chuyện đó. Khi dọn dẹp tủ lạnh, tôi thấy ba cái bánh mì kẹp mua ở cửa hàng. Hai cái là thịt bò nướng và cái còn lại đã bị ăn một nửa là bơ lạc và mứt.”
Tôi suy ngẫm lời nói của bà. “Và hai miếng thịt bít tết nữa đúng không?” tôi hỏi.
Bà ấy gật đầu với tôi. “Phải. Cả hai miếng đều còn ở đó. Chuyện đó khiến tôi băn khoăn khi đọc tin tức. Nó có vẻ không nhất quán.”
Bà ấy nói đúng. Chúng không hề nhất quán.
“Mấy cái bánh mì kẹp là từ IGA ở Hoodsport,” bà ấy tiếp tục. “Tôi nghĩ khả năng là mấy miếng bít tết cũng mua từ đó.”
Tôi hỏi xem còn điều gì có vẻ bất thường nữa không.
“Tôi biết là cô Warner đang uống rượu vang lúc bị bắt đi. Chai rượu đang ở trong tủ lạnh. Nó là rượu vang trắng, loại nắp vặn. Tôi đã sử dụng nó tối qua để hấp mấy món mà tôi và bọn trẻ đào được trên bãi biển.”
“Rác vẫn còn ở trong căn nhà chứ?” tôi hỏi, hy vọng sửa chữa được một sai sót trong quá trình điều tra mà đến giờ tôi mới nhận ra. Cái ý nghĩ có sai sót xảy ra khiến bụng tôi quặn lại. Teresa Dibley nhìn ra biểu cảm của tôi thay đổi từ hứng thú sang lo lắng, nhưng bà ấy không nhận xét gì và tôi thấy cảm kích vì điều đó. Tôi cũng bắt đầu đổ mồ hôi.
Bà ấy lắc đầu và đặt chiếc cốc đã uống cạn xuống và ra hiệu rằng Clark đã đưa em gái ra quá xa bờ.
“Một chuyện nữa,” bà ấy nói và liền đứng dậy. “Mấy cái thùng rác bên dưới bồn rửa ở nhà bếp đều trống trơn. Túi rác trong thùng cũng bị vứt mất rồi. Tôi nghĩ chuyện đó khá kỳ lạ. Tại sao lại mang rác đi nếu như bạn định sẽ để đồ ăn lại?”
Montrose và tôi vừa ăn trưa vừa chơi lô tô với danh sách tội phạm, báo cáo về tội phạm được ân xá và ghi chú về những liên lạc gần đây với người dân địa phương khi cố gắng tìm xem liệu ai có khả năng bắt cóc và tấn công tình dục Sophie Warner. Có bốn người sinh sống gần đây có phạm tội liên quan đến hiếp dâm. Hai trong số đó có sử dụng vũ khí. Chỉ có một người từng giam cầm một phụ nữ.
Theo như báo cáo, Jim Coyle, bốn mươi chín tuổi, sống chỉ cách các căn nhà gỗ ở Lilliwaup ba ki-lô-mét. Hắn làm tài xế xe tải cho một công ty vận tải nhỏ có trụ sở bên ngoài Port Townsend ở quận lân cận Jefferson. Hắn bị bắt giữ vì tội bắt cóc khi mới hai mươi tuổi và bị kết án bảy năm tù. Sự việc này liên quan đến người bạn gái lâu năm mới chia tay hắn. Hắn muốn có thêm một cơ hội nữa, nhưng cô gái từ chối. Hắn dùng súng khống chế cô ấy hơn bốn giờ đồng hồ trước khi thả cô ấy ra. Hắn khai rằng việc quan hệ tình dục của họ ngày hôm trước là tự nguyện, nhưng người phụ nữ trẻ thì khăng khăng nói điều ngược lại.
Ít nhất thì ban đầu là thế.
Coyle đã nhận tội và bị giam trong tù. Tuy nhiên, hai năm sau khi hắn mãn hạn tù, nạn nhân của hắn xuất hiện trên truyền hình và nói cho cả thế giới biết rằng cô ấy rất xin lỗi. Cô ấy đã thức tỉnh và muốn sửa chữa lỗi lầm.
“Anh ấy không hề làm tổn thương tôi,” cô ấy nói với một bác sĩ tâm lý hói đầu và múp míp trên sóng truyền hình. “Đó một phần cũng là lỗi của tôi.”
Vô tội hay không, chúng tôi vẫn quyết định sẽ đến gặp hắn ta một chuyến.
Một giờ sau, chúng tôi lái xe qua con đường dẫn tới mấy căn nhà gỗ và có mặt tại địa chỉ của Coyle. Montrose có cặp mắt tinh tường hơn tôi. Ông ấy thấy lối vào căn nhà của Coyle ngay lập tức. Nó khá hẹp - rất hẹp, tôi nghĩ thế, cho một ngôi nhà chung tường - và bị che khuất dưới tán lá của hàng cây phong lá rộng và cây độc cần.
“Mấy kẻ dị hợm hay sống ở đây,” ông ấy nhận xét và đỗ xe lại.
“Và ông làm được tất cả việc này mà không cần đến GPS,” tôi nói.
Ông nhún vai. “GPS chỉ dành cho đám kém cỏi.”
Một người đàn ông mặc quần bò xanh bị vấy sơn và áo ba lỗ xuất hiện từ một căn nhà di động một buồng ở đầu lối đi dài và tàn tạ dành cho xe ô tô. Một chùm lông ngực màu trắng thò ra từ cổ áo. Chúng dài đến nỗi tôi nghĩ có khi còn bện chúng lại được.
Khi chúng tôi đỗ xe, Jim Coyle đã ở ngay bên cạnh ghế lái tài xế, nhìn chúng tôi bằng ánh mắt không hề thân thiện. “Nhìn thấy biển báo ‘Cấm Xâm Phạm’ không?” Gương mặt hắn hung đỏ dưới ánh Mặt Trời. Đôi mắt hắn nâu đến mức khó mà phân biệt được đồng tử và con ngươi. Hắn không hề cười. Kỳ thực, trông có vẻ như hắn chẳng bao giờ cười. Gương mặt hắn không hề in hằn đường nét nào của nụ cười.
Montrose mở cửa xe khiến Coyle phải bước lùi lại và tôi ra đứng cùng ông ấy bên ngoài chiếc xe. Trong khi Montrose giới thiệu, có thể thấy ngay lập tức là Coyle đã quen với chuyện có những người không mời mà đến như chúng tôi.
“Tôi biết tại sao mấy người lại ở đây,” anh ta nói.
“Thật sao?” Montrose hỏi.
Coyle khoanh tay trước ngực, đẩy nhúm lông của hắn đến gần cằm. “Tôi phạm tội cách đây rất lâu rồi,” hắn nói. “Tôi yêu sai người và cô ta giăng bẫy tôi.”
“Anh đã khống chế cô ấy bằng súng,” tôi nói.
“Tôi đã nhận tội cho chuyện đó. Đúng, dĩ nhiên tôi có làm. Nhưng cô ta là kẻ dối trá và đã phải xin tha thứ sau đó. Gọi điện cho tôi. Làm phiền tôi. Nói là cô ta xin lỗi. Tôi có thể làm được gì với điều đó chứ? Thẩm phán chẳng nói gì hết. Tội danh vẫn còn ở đó. Tôi vẫn là một thằng hiếp dâm khốn kiếp và đó là lý do mà mấy người đang ở đây. Khốn khiếp.”
Một chú chó Pomeranian kêu ăng ẳng, một trong những giống chó mà tôi không thích nhất, chạy như bay từ trên nhà di động xuống và Jim nhấc bổng nó lên.
“Hôm qua anh ở đâu?” tôi hỏi.
“Tôi lái một đống hàng xuống Longview. Quay trở lại đây vào sáng nay.”
Montrose nhìn quanh. “Xe của anh đâu?”
Coyle chuyển con chó của mình lên vai trái. “Trong bãi đậu xe ở Chehalis. Nó hơi bị bó phanh.”
“Bó phanh thì đương nhiên là chuyện chẳng ai thích cả,” Montrose nói.
Tôi liếc ánh mắt đầy ẩn ý của mình sang phía người cộng sự. Ông ấy luôn hứa là sẽ kiềm chế sự chán ghét bộc phát trước các đối tượng tình nghi có tiền án, nhưng có vẻ ông không bao giờ làm được điều đó. Khi nhìn ra đằng sau Coyle, tôi thấy chiếc xe bán tải của hắn. Nó màu đỏ. Trên bộ cản sau của chiếc xe, tôi có thể nhìn ra ở mép có màu xanh của cây sậy.
Nếu được lấy mẫu xét nghiệm tử tế, tôi có thể tìm ra xem nó có cùng loại với giống cây mọc ở bờ Octopus Hole, nơi mà thi thể của Sophie được tìm thấy hay không.
“Tôi không có nghĩa vụ phải nói thêm với hai người. Tôi không có luật sư, nhưng tôi đoán là sẽ tìm được một người thôi. Giờ thì các người xong việc ở đây rồi.”
“Đi thôi,” tôi nói với Montrose.
Người đàn ông không có nụ cười ấy quay người và bước về phía ngôi nhà di động. Montrose cùng tôi quay trở lại xe.
“Cô đang ủ mưu gì vậy?” ông ấy hỏi tôi.
“Chúng ta cần quay lại đây,” tôi nói với ông. “Nhưng cần một lệnh khám xét.”
“Cô lúc nãy có nhìn gì đó đằng sau hắn ta. Ít nhất cô đã thấy thứ gì đó khả nghi, phải không?”
“Một chiếc xe Ford,” tôi nói. “Nó khớp với vài thông tin mà tôi từng thấy trên Facebook.”
Montrose nhìn sang tôi và lắc đầu. Tôi biết kiểu nhìn ấy. Chúa ơi, tôi biết rõ nó hơn bất cứ thứ gì. Tôi đợi. Ba. Hai. Một. Và nó tới.
“‘Facebook’?” Ông ấy hỏi. “Thiệt hả? Giờ chúng ta đang phải dùng cái đống tào lao sống ảo để làm công cụ điều tra hả? Có chuyện quái gở gì xảy ra với thế hệ của cô vậy?”
“Không có gì là chúng tôi không xử lý được miễn là thế hệ của ông nghỉ đi.” Tôi cáu lại với ông một cách dữ dội.
Ông ấy giữ im lặng cho đến khi chúng tôi quay trở lại đường cao tốc.
“Được rồi, giờ thì cuộc tranh cãi nhỏ qua rồi, nói cho tôi về cái xe tải mà cô thấy trên Facebook đi.”
Tôi gượng cười xấu hổ. “Không chỉ là thấy thôi đâu. Tối qua, tôi lướt trang Theo dõi Tội phạm Quận Mason và có người đã đăng tin rằng ngay trước khi Sophie biến mất, họ thấy một xe bán tải màu đỏ đỗ trên con đường cạnh Canal View. Không có ai ngồi trên xe. Người đăng này chia sẻ thông tin bởi vì anh ta đọc ở một bài đăng khác rằng Adam Warner đã kể cho cảnh sát rằng mình chạy theo gã đàn ông đã mang vợ anh ấy đi và người đăng tin nghĩ một ai đó có lẽ đã đợi sẵn ở con đường phía trên căn nhà gỗ.”
“Tôi biết hết mấy thứ này rồi, Lee.”
“Nhưng có chuyện này thì ông chưa biết: tôi nghĩ có vài dấu vết lau sậy phù hợp với những gì tôi thấy ở địa điểm vớt xác ở bộ cản sau trên xe tải của hắn.”
Lần này đến lượt ông ấy đưa ánh mắt đầy ẩn ý liếc sang tôi.
“Cô bây giờ là bác sĩ pháp y thực vật luôn hả?” ông ấy hỏi.
“Chúng ta sẽ phải làm hai việc và cần thực hiện nhanh chóng,” tôi nói.
“Được rồi. Cần làm những việc gì?”
“Tìm hiểu xem liệu Coyle có thực sự lái xe không và khi nào. Tìm hiểu thêm về chiếc xe tải thông qua người dùng Facebook đã đăng tải thông tin trước đó. Rồi xin một lệnh khám xét để quay lại. Nếu Sophie đã ở trên cái xe tải đấy, chúng ta sẽ phải chứng minh điều đó.”
Chúng tôi dừng xe ở một chỗ dọc theo đường cao tốc, nơi này có tầm nhìn rộng ra khung cảnh tráng lệ của Hood Canal. Mặt nước tối màu đến nỗi nó nhìn gần như màu chàm - dù có đeo kính râm hay không. Thủy triều dâng cao và một cơn gió nhẹ được eo biển khuếch đại lên, đưa những con sóng đầy bọt trắng xóa tràn qua những tảng đá đang rào chắn bờ mép của con đường chạy dọc theo bờ biển. Đường truyền điện thoại không ổn định, nhưng vẫn có thể tìm lại tên của người đăng Facebook. Tôi nhờ nhân viên tổng đài tìm giúp địa chỉ. Montrose đang gọi điện tới công ty vận tải đường bộ. Có vẻ như ông ấy phải chờ điện thoại kết nối một lúc lâu.
“Được rồi,” ông nói. “Anh chắc chứ?”
Ông ấy ngắt cuộc gọi.
“Không đi làm hôm qua,” ông nói. “Gọi điện báo ốm.”
Dù không muốn vội vã kết luận, vì như thế là không đúng quy trình làm việc, tôi vẫn nghĩ ngay tới kết luận. “Hắn là kẻ mà chúng ta đang tìm,” tôi nói. “Đúng không?”
“Tôi có linh cảm lớn là hắn.” Montrose vận hành dựa trên cà phê và trực giác. Nhiều cảnh sát đều thế.
Tôi nhìn xuống màn hình điện thoại của mình. “Hãy tới gặp Sheila Simmons một chuyến.”
“Ai vậy?”
“Người đăng tin Facebook. Nhân viên tổng đài vừa báo lại thông tin liên hệ của cô ấy. Cô ấy nhìn thấy chiếc xe bán tải trên đường cao tốc phía trên những căn ngôi nhà gỗ vào khoảng thời gian bắt cóc Sophie.”
Ông ấy đảo mắt nhìn với vẻ chán ghét, nhưng vẫn nhún nhường. “Đi hướng nào?”
“Hướng Nam,” tôi trả lời, nhìn vào địa chỉ của cô ấy trên điện thoại. “Cô ấy ở Hoodsport.”
Địa chỉ của Sheila Simmons dẫn chúng tôi tới một căn nhà nhỏ màu vàng nằm ngay cạnh thư viện cộng đồng. Mức độ gọn gàng của căn nhà tương đương với kích cỡ nhỏ con của nó. Không hẳn là một căn nhà nhỏ, nhưng tôi sẽ ngạc nhiên lắm nếu cô ấy có nhiều hơn 65 mét vuông để ở. Tôi gõ cửa - xét cho cùng, đây chính là một manh mối Facebook quan trọng và Montrose thì vừa bối rối vừa cáu kỉnh với cái cách mà mọi người đang phá vỡ các quy chuẩn vốn có để chạy theo mạng xã hội.
“Đầu tiên là ca nhạc,” ông ấy từng than vãn. “Rồi đến ti vi. Rồi thì các bản tin rỗng tuếch. Có phải mọi thông tin rồi sẽ do người ta tự cung tự cấp hết cho nhau không? Chuyện gì đã xảy ra với cái thời mà mọi người luôn đồng tình với nhau bởi vì những gì chúng ta thấy và đọc đều được đưa đến tận tay chúng ta?”
Tôi bấm chuông, nhưng không ai trả lời.
“Cô ta chắc đang ở đâu đó bên ngoài để livestream ca nhạc,” ông ấy nói mà không ra vẻ mỉa mai chút nào.
Tôi nhét một tấm danh thiếp với dòng chữ Gọi cho tôi được viết nguệch ngoạc ở mặt sau và chúng tôi lên đường trở về Shelton. Trên đường đi, chúng tôi điểm đi điểm lại về vụ án.
“Tại sao Coyle lại nói dối chúng ta nếu như hắn không dính líu đến vụ này?” Montrose hỏi.
“Tại sao hắn lại bắt cóc một người lạ và vứt thi thể cô ta ở ngay gần nhà mình?” tôi hỏi.
“Bọn biến thái,” ông ấy nói, “đặc biệt là những kẻ đã biến thái một thời gian dài, không suy nghĩ giống người bình thường đâu, Lee. Dây thần kinh của mấy gã đó rối tung cả lên. Một kẻ hiếp dâm và giết một phụ nữ bất kỳ, người hắn không quen biết, sẽ coi người khác không hơn gì một thứ đồ vật để xâm chiếm. Một phần thưởng. Một cơ hội để cảm thấy rằng chúng là kẻ chiến thắng vĩ đại.”
“Chiến thắng ai cơ?”
“Chúng ta,” Montrose nói khi chúng tôi lái xe qua một tổ hợp các tòa nhà xa xỉ và cả những cấu trúc khiêm tốn hơn thuộc về những người hay đến nghỉ vào cuối tuần dọc theo đường cao tốc. Nhiều ngôi nhà được đặt tên bằng cách biến tấu tên của người chủ: Tổ chim và Chum đựng vàng của Boyd. Những ngôi nhà khác thì chơi chữ: Bờ Đau, Đi Bến và cái tên yêu thích của tôi, Chỉnh đốn Vĩ độ. Thiệt tình.
“Một cuộc đối đầu giữa chúng ta và chúng,” ông ấy nói. “Và tin tức nóng hổi dành cho Facebook hoặc Twitter hay bất cứ chỗ nào mà cô đăng tin lên nhé: chúng ta sẽ chiến thắng vụ này.”
Montrose đã đi tới cuộc hẹn với bác sĩ khá muộn vào cuối ngày trước khi người dùng Facebook là Sheila gọi điện tới, xin lỗi rối rít vì đã không liên lạc lại với tôi sớm hơn. Cô ấy quá mức hăm hở muốn nói chuyện với tôi. Thực ra là điên cuồng. Cô ấy nói mình sẵn sàng đến đồn cảnh sát bất cứ khi nào. Tất cả những gì tôi cần làm là báo cho cô ấy thời gian.
Tôi nói ngay bây giờ cũng được và hai mươi phút sau cô ấy đã có mặt ở quầy lễ tân. Cô ấy gần ba mươi tuổi. Cô mặc quần bò và áo cộc tay cổ rộng có dòng chữ “Hama Hama” thêu ở đằng trước.
“Tôi làm việc ở một quán rượu hàu,” cô ấy nói khi tôi đưa cô vào phòng thẩm vấn và rút ra một cuốn sổ ghi chép để thu thập bất cứ điều gì mà cô định chia sẻ - những điều mà cô chưa đăng trên Facebook. “Tôi đã ở đó khi chồng của cô gái tới để hỏi manh mối về người vợ mất tích của anh ta. Giờ thì là cô vợ đã chết của anh ta, tôi cho là vậy.”
“Vậy là chị đã nói chuyện với Adam Warner và bố vợ của anh ấy?” tôi hỏi.
Cô ấy lắc đầu. Tóc cô ấy xoăn và bồng bềnh như đồ chơi lò xo Slinky khi cô ấy lúc lắc đầu.
“Không. Không hẳn. Tôi chỉ nghe họ nói chuyện. Người đàn ông nhiều tuổi hơn là người nói chủ yếu. Nói là có ai đó bắt cóc ai đó - con gái ông ấy, tôi đoán thế - và hỏi xem chúng tôi có thấy gì không. Ông ấy nói rằng chuyện đó xảy ra ngay đằng trước mấy căn nhà cho thuê cổ xưa thú vị mang tên các loài hoa đó. Có thể cô không tin nhưng tôi biết rõ nơi đó.”
“Chị biết rõ hả?” tôi hỏi.
“Đúng. Tôi từng ở đó vài lần với anh chàng mà tôi hẹn hò. Sống cùng bố mẹ anh ấy và chúng tôi cần một không gian riêng. Được rồi, lúc đó tôi cũng sống với bố mẹ tôi. Dẫu sao thì, tôi đi qua đó mỗi ngày.”
“Nhưng có một thứ khiến chị để mắt đến vào ngày hôm ấy đúng không?”
“Đúng thế. Tôi đang trên đường đi làm. Lúc đó khoảng mười giờ ba mươi và tôi bị muộn. Tôi đáng ra phải có mặt ở chỗ làm lúc mười giờ ba mươi. Dẫu sao thì, tôi đã thấy một chiếc xe tải đậu ngay ở rìa đường.”
“Chính xác là ở đâu?”
“Ngay trước lối rẽ vào mấy căn nhà gỗ.”
“Loại xe tải nào?”
“Tôi không phải là người rành về xe tải. Tôi nghĩ nó giống một chiếc Jeep hơn. Tôi cũng nghĩ nó là một chiếc Ford. Có thể là Chevy. To lắm. Tôi thực sự không biết là hãng gì, nhưng tôi biết màu sắc của nó.”
“Thông tin đó sẽ có ích,” tôi nói, mặc dù đã biết từ bài đăng Facebook của cô ấy rồi.
“Màu đỏ,” cô ấy nói. “Đỏ.”
“Được rồi. Tốt,” tôi nói. “Chị có thấy người lái xe không?”
Mấy lọn tóc xoăn của cô ấy lại nảy lên lần nữa. “Không. Tôi không thấy rõ ai ở trong xe cả. Lúc đó tôi đi rất nhanh, nên không dám chắc là không có ai ở bên trong; nhưng khi đó, tôi đã nghĩ rằng đấy là một chỗ ngu ngốc để đậu xe. Phần rìa đường ở đó không tiện để dừng xe. Lái thêm mười mét nữa sẽ có chỗ rộng hơn. Thậm chí có cả cái bàn ăn dã ngoại ở đó.”
“Nếu nhìn thấy chiếc xe tải đó lần nữa, chị có nghĩ là mình nhận ra được nó không?”
“Kiểu nhìn trực tiếp hay trên ảnh chụp?”
“Cách nào cũng được,” tôi nói.
Cô ấy nhìn tôi. Cô ấy đang sắp xếp các mảnh ghép lại với nhau. Tôi có thể thấy điều đó.
“Điều đó có nghĩa là chị biết chiếc xe tải đó thuộc về ai đúng không?”
“Tôi không thể nói cho chị điều gì về cuộc điều tra,” tôi bảo cô ấy.
Cô ấy đẩy người lùi ra khỏi bàn. “Nếu thế thì không công bằng lắm,” cô nói, thái độ nhanh chóng chuyển từ kiểu của một công dân đầy trách nhiệm sang một cô gái cáu kỉnh tuổi đôi mươi. “Tôi đang kể cho chị rất nhiều thứ và những người theo dõi tôi trên mạng hẳn là xứng đáng được cập nhật thông tin hơn.”
Những lời đó của cô ấy khiến tôi bực mình. Giờ thì tôi tự hỏi liệu có phải cô ấy bịa ra chuyện chiếc xe tải hay không. Có phải đăng bài viết chỉ là cách giúp cô ấy thêm thắt gì đó lên bảng tin và có được thật nhiều lượt thích hay không. Tôi ghét việc Montrose có thể nói đúng về mạng xã hội. Tôi thấy nó có tiềm năng lớn để giải quyết vụ án. Montrose coi nó là cơ hội để cho mọi kẻ lập dị trên hành tinh này được đưa chính anh ta, hoặc cô ta vào cuộc điều tra tội phạm.
Để kiếm lượt thích.
Tôi cảm ơn Sheila vì đã dành thời gian tới đây và bảo cô ấy rằng tôi sẽ giữ liên lạc. Có thể cô ấy đã thấy chiếc xe tải màu đỏ. Có thể nó là của Jim Coyle. Và mặc dù đúng là hắn nói dối chúng tôi về việc lái xe tải tới Longview, nhưng đó là một chứng cứ khá mong manh. Sẽ không một thẩm phán nào cho phép chúng tôi làm căng với một người từng là nạn nhân của việc báo cáo sai lệch từ phía cảnh sát, mặc dù chỉ sai lệch một phần nào đấy thôi.
“Một phóng viên từ Seattle muốn nói chuyện với tôi vì giờ tôi đã là một phần của cuộc điều tra,” Sheila nói. “Có được không?”
“Chúng tôi không bao giờ bảo công dân là họ có quyền lên ti vi hay không. Việc đó tùy chị thôi.”
“Tôi nên nói gì với bà ấy?” cô ấy hỏi. “Về người đang bị tình nghi.”
Giờ thì tôi thực sự thấy bực. “Chị có thể nói với bà ta bất cứ điều gì chị muốn. Tôi chưa hề nói cho chị bất kỳ điều gì ở đây, vì thế đừng nhắc đến tôi trong buổi phỏng vấn.”
Sheila giả vờ như bị tổn thương. Tôi biết là cô ấy không hề bị tổn thương.
“Tôi chỉ cố gắng trở nên có ích thôi,” cô ấy nói trong lúc tôi dẫn cô ấy quay lại quầy lễ tân và tiến tới cánh cửa dẫn ra ngoài.
“Tôi đánh giá cao điều đó,” tôi nói dối. “Cảm ơn chị vì đã tới đây, Sheila.”
Tôi là kẻ ngốc nhất thế giới. Montrose sẽ nói với tôi như thế. Tôi xứng đáng với mọi lời cạnh khóe mà ông ấy dùng để bình luận về chuyện này. Tôi sẽ chỉ ngồi đó và nhận lấy nó. Lối thoát duy nhất chính là sự thật.
Và tôi không hề biết sự thật là gì.