Căn nhà ở vùng Mount Baker của Seattle là - đã là - một chỉ số phù hợp để đánh giá tình trạng cuộc sống của chúng tôi. Dự án tu sửa tốn nhiều tiền hơn so với mức chúng tôi có thể chi trả và đã bị đình trệ vài tuần. Nhà thầu phụ trách sàn nhà đã phá hỏng nó và lắp đặt mấy thứ vớ vẩn mặc dù chúng tôi đã nói rất, rất cụ thể về những thứ chúng tôi muốn. Sophie thậm chí còn nói chi tiết hơn cả tôi. Tôi phát điên với gã đó, cái gã gần như không nói được tiếng Anh - hoặc ít nhất là giả vờ nói không trôi chảy như khi chúng tôi thuê hắn. Chắc là tôi dọa hắn sợ chết khiếp rồi. Tôi mong là thế. Lúc mà tôi tuôn ra hàng chửi rủa kia, cốt yếu là muốn dọa cho hắn sợ để hắn làm hợp đồng cho tốt.
“Mày muốn tao gọi cho An ninh nội địa tới bắt mày hả?” tôi thậm chí còn la lên như thế.
Sophie nhìn tôi không hài lòng. Tôi đã đi quá xa rồi.
Khi Carlos rời đi, cô ấy quay về phía tôi và chỉ trích.
“Anh biết đấy,” cô ấy nói, mắt hơi trợn lên, “em hiểu là tình hình cái sàn nhà không như chúng ta mong muốn, nhưng anh không cần phải đe dọa gia đình của anh ta, Adam ạ. Đôi khi em cảm thấy mình thậm chí không hiểu được người đàn ông mà em cưới.”
Lúc đó tôi không nói với cô ấy nhưng đã có ý nghĩ rằng: Đôi khi tôi thậm chí không hiểu được người đàn bà mà tôi ngủ cùng mỗi tối.
Và giờ cô ấy ra đi rồi. Cuộc tranh cãi kết thúc rồi. Mãi mãi. Tôi không bao giờ có cơ hội để nói với cô ấy rằng tôi không thực sự có ý định tống cổ Carlos sang bên kia biên giới, rằng tôi không thực sự là một tay rắn mặt như cô ấy tưởng.
Tôi nhìn lên mặt đồng hồ to hơn cái miệng cống đầy phô trương của tôi. Helen và Frank sẽ trả lại Aubrey lúc bảy giờ. Họ không bao giờ, chưa bao giờ muộn. Tôi uống chút rượu Maker’s và loanh quanh trong ngôi nhà dang dở của chúng tôi. Tôi không chắc tại sao mình lại đóng gói một số đồ đạc của cô ấy, nhưng khi nhận ra thì tôi đã đang làm chuyện đó rồi. Có lẽ việc Helen tìm thấy váy ngủ cũ của Sophie trong nhà để xe và đưa nó cho Aubrey đã châm ngòi cho việc này. Hoặc có thể do tôi đã uống quá nhiều rượu whisky.
Phải, chắc là vì thế.
Tôi bắt đầu với những đồ đạc là quà tặng của bố mẹ vợ. Sự thật là gu của Frank khá rẻ tiền còn Helen thì không biết đẹp là gì. Trên bàn uống cà phê là chiếc bát sứ rẻ tiền mà Frank khăng khăng rằng đó là báu vật nào đó từ chuyến đi tới Mexico của họ. Ông ta quá ngu xuẩn nên mới không bóc cái nhãn dưới đáy bát ra. Nó trị giá bốn đô-la Mỹ. Ngoài ra còn những bức ảnh đóng khung, dát bạc khác mà tôi chắc chắn là Helen đã đưa cho chúng tôi qua các năm. Tất cả đều có ảnh của Sophie và Aubrey, nhưng hầu hết là Sophie. Sophie đang cưỡi trên lưng con ngựa tại Công viên Sở thú Woodland. Sophie đứng cạnh một trong những bức tranh của cô ấy ở trường trung học. Frank ca ngợi rằng Sophie có thể đã là một Picasso tiếp theo nếu không trở thành vợ của một tay quản lý ở SkyAero và làm thiết kế đồ họa cho Starbucks.
“Bọn chúng thậm chí còn không pha nổi một cốc cà phê ra hồn.” ông ta nói.
Tôi giữ lại các bức hình của Aubrey.
Tôi uống cốc whisky thứ hai. Lần này, để giúp mình tỉnh táo, tôi thả một cục đá to tướng vào trong cốc.
Khi chuông cửa reo, qua mắt thần ở cửa, tôi thấy ba người họ đứng trên bậc thềm. Helen nhìn như kiểu vừa bị hăm dọa trên suốt quãng đường từ Twin Lakes tới đây. Aubrey thì trông có vẻ rất phấn khích khi được trở về nhà. Frank thì sưng sỉa, cũng là thái độ thường gặp khi ông ta nghĩ là đang không có ai để ý. Ông ta để dành thói quen phồng mang trợn má thái quá cho những thời điểm thích hợp.
Tôi vặn mở cánh cửa và hạ đầu gối xuống để đón Aubrey khi con bé lao đến. Tôi nhấc bổng con bé, tung lên không trung theo cách mà tôi vẫn làm. Lần này, tôi không làm trò này vì con bé. Cũng không phải vì tôi. Tôi làm thế để Frank Flynn thấy rằng bất kể ông ta đang nghĩ hay hy vọng điều gì, cô nhóc bé bỏng trông giống con gái ông ta vẫn yêu tôi nhất.
Miếng giấy dán tường Helen lên tiếng trước tiên, bản thân chuyện này cũng mới xảy ra lần đầu tiên.
“Trên đường tới đây, bố mẹ đã nghĩ…” bà ấy nói, nhìn xung quanh phòng khách và hiểu ra việc tôi đang đóng đồ đạc.
Tôi đặt Aubrey xuống. Con bé ngay lập tức lao vào phòng mình để đoàn tụ với đồ chơi của nó. “Vâng?”
“…rằng có lẽ,” bà ấy ngập ngừng, “Aubrey nên ở với bố mẹ - con biết đấy, cho đến khi mọi thứ xong xuôi.”
Tôi không chắc là bà ấy đang muốn nói gì. Tôi muốn nói rằng mọi thứ đã xong xuôi rồi. Sophie chết rồi. Cuộc sống của tôi. Cuộc sống của Aubrey. Mọi thứ đã thay đổi mãi mãi. Không gì có thể xong xuôi hơn thế.
Chúa ơi, tôi đáng ra không nên để cho bọn họ làm tôi cảm thấy có lỗi đến mức giao Aubrey cho họ tối thứ Hai.
“Bọn con có Katrina,” tôi nói. “Aubrey sẽ ổn khi ở đây. Con ở đây.”
Frank câm như hến một cách bất thường.
“Đúng, nhưng mẹ ở nhà cả ngày,” Helen tiếp tục. “Không nên để người lạ chăm sóc con bé.”
Tôi chắc chắn rằng Frank đang sử dụng Helen như một lá chắn và bà ấy thì quá yếu - hoặc quá kiệt sức vì ông ta - để có thể chống lại. “Katrina không phải là người lạ,” tôi nói. “Cô ấy đã ở cùng kể từ khi bọn con đón Aubrey từ bệnh viện về nhà. Mẹ đã chẳng nói gì về việc cô ấy là người lạ khi Sophie còn sống. Tại sao bây giờ mẹ lại nói thế?”
Tôi biết câu trả lời, nhưng tôi mừng vì mình đã hỏi câu đó.
“Đừng nói chuyện với vợ tao kiểu đó!” Frank nói, cuối cùng ông ta cũng chịu giải phóng những cái gai nhọn trong người mình.
“Mẹ xin lỗi,” Helen nói, biểu cảm của bà ấy nhũn ra. Bà lúng túng. Một loại cảm giác mà bà luôn hiểu quá rõ.
“Bà không cần phải xin lỗi,” Frank khăng khăng trong khi Helen chớp mắt liên tục. Tôi chờ đợi bà bật khóc một lần nữa. Tôi tự hỏi liệu những giọt nước mắt của bà có thể đổ đầy cái bồn tắm hoặc có khi là cả cái bể bơi hay không. Sau đó, ông ta đối mặt với tôi. “Nhìn xem, Adam, bọn tao với mày chưa bao giờ thực sự hòa thuận.”
Hòa thuận cái con khỉ , tôi nghĩ.
“Và mày biết lý do của việc đó, đúng không?” ông ta hỏi.
Ngoại trừ việc ông ta là một cái nhọt, tôi thực lòng không biết còn lý do nào khác. Không có thằng đàn ông nào xứng đáng với cô con gái duy nhất của ông ta.
Ông ta không chờ tôi trả lời và tôi uống một hớp rượu. Viên đá trong ly va vào răng cửa và tôi nhăn mặt.
“Frank, làm ơn đi,” Helen nói với tông giọng giống của chuột nhắt hơn-bao-giờ-hết.
Ông ta gạt phăng bà ấy như xé toạc miếng xơ vải. “Aubrey nên ở cùng một gia đình nguyên vẹn,” ông ấy nói. “Con bé đã trải qua quá nhiều chuyện rồi.”
Tôi muốn cười phá lên. Thế là tôi cười.
“‘Gia đình nguyên vẹn’? Chắc ông đang đùa. Phải là cầm tù mới đúng. Sophie từng bảo tôi rằng cô ấy nghĩ mẹ mình là nạn nhân của hội chứng Stockholm - rằng bà ấy đã mất đi mọi ý thức về bản thân vì ông đã kiểm soát bà ấy như thể bà chỉ là một dự án khoa học.”
Mắt tôi lướt qua Helen. Tôi thấy có phần thương xót bà. Phải nhìn bà quằn quại dưới bàn tay của Frank trong những năm qua quả thật là điều tởm lợm. Sophie đã muốn giải phóng cho mẹ mình. Cô ấy yêu mẹ. Ngay bây giờ, tôi chỉ muốn chích điện cho bà ấy tỉnh lại giống như một bộ liệu pháp sốc điện trực tuyến.
“Cô ấy gọi mẹ là,” tôi nói, “‘bà mẹ rô-bốt của tôi.’ Chắc mẹ nên biết điều này.”
Helen đặt các ngón tay mình lên môi trong một giây, hơi run rẩy và rồi bước nhanh về phía phòng của Aubrey ở cuối hành lang, căn phòng ấy sáng lên như đồng được đánh bóng trên cái nền nhà bằng gỗ sồi chết tiệt bị hoàn thiện quá mức.
“Thằng chó chết,” Frank nói với tôi, giữ cho giọng thật nhỏ như thể đang muốn tha mạng cho đối phương. “Tao sẽ không để cho mày xúc phạm vợ tao.” Mặt ông ta đỏ lên. Nó là một phong vũ biểu biểu thị mức độ tức giận. “Mày không cần phải nói thế. Bọn tao với mày đều căng thẳng. Bọn tao với mày đều phải đối diện với đòn giáng mạnh nhất mà bọn tao có thể tưởng tượng ra. Helen đang căng thẳng đến nỗi mất hết cân bằng.”
Nhưng với những gì tôi thấy, bà ấy đã sống cả đời mình như vậy rồi.
Tôi ngồi xuống một trong những chiếc ghế Stickleys - hàng xịn, không được tái sản xuất, đúng như Sophie khăng khăng đòi cho bằng được. Tôi không muốn bị cuốn vào việc này. Nếu có điểm gì tích cực trong cái chết của Sophie, thì đó chính là tôi gần như không bao giờ phải nhìn thấy con người này thêm lần nào nữa. Nếu muốn gặp Aubrey, ông ta sẽ phải thay đổi cách cư xử. Tôi ngán ông ta lắm rồi.
Tôi ngán ông ta đến tận cổ rồi.
“Tự rót cho mình một ly rồi ngồi xuống đi,” tôi bảo ông ta. “Ông sẽ cần nó đấy.”
Ông ta nhìn chằm chằm vào tôi kiểu chế nhạo. Ông ta đang đánh giá tôi. Ông ta nghĩ tôi sẽ đối đãi với ông ta theo cái cách mà ông ta có thể thắng. Nhưng ông ta không thể đâu.
“Nói tiếp đi, Frank,” tôi nói trong khi ông ta nhìn về phía chai rượu.
Ông ta đánh hơi thấy điều gì đó. Tôi có thể cảm nhận được. Tôi thích thế. Ông ta xoay cái miếng bịt chai màu đỏ trên chai Maker’s và đổ một ly đầy. Ông ta hớp một ngụm lớn.
“Ông yêu quý Aubrey,” tôi nói.
“Con bé là máu mủ của tao,” ông ta đáp.
“Phải rồi. Con bé là thứ cuối cùng của con gái ông mà ông có.”
Ông ta nhìn tôi chằm chằm. Mắt ông ta lại trợn lên. “Mày đang muốn nói gì?”
“Ông muốn gặp con bé, đúng không?”
“Đó là quyền của tao,” Frank nói, đặt ly xuống. “Ông bà có quyền được gặp cháu của mình.”
Tôi thích hướng đi của cuộc nói chuyện này. Thật thú vị, tôi nghĩ thế.
“Chỉ khi họ phù hợp thôi,” tôi đáp lại ông ta.
“Mày đang muốn nói gì, Adam? Mày có thể nói toạc ra luôn không hả? Tao không phải là mấy tay bợ đỡ mày ở nhà máy đâu.”
“Tôi không làm việc ở nhà máy đâu Frank,” tôi chỉnh lại.
Frank thậm chí không chớp mắt. “Cứ phun ra luôn đi, thằng kia,” ông ta gầm lên.
Tôi nhìn ông bố của người vợ đã chết bằng ánh mắt mà tôi mong là giống những luồng laser có thể đốt cháy đôi mắt dữ tợn, lạnh lẽo của ông ta. Đôi mắt đó không bao giờ nhìn tôi với biểu cảm nào khác ngoài sự chán ngán và ngờ vực. Thậm chí là căm ghét.
“Nếu ông muốn được thăm Aubrey,” tôi nói chậm rãi, để cho mỗi từ ngữ được thẩm thấu như món si-rô ôi thiu đổ trên bánh kếp, “ông sẽ phải tỏ ra bớt giống một thằng khốn đi. Trước mặt tôi. Trước mặt Helen. Hiểu không?”
Môi của Frank bặm chặt lại, lỗ mũi xì khói.
Đau tim? Có lẽ thế. Đây là khoảnh khắc tuyệt vời nhất cho một ngày đau khổ tuyệt đối.
“Mày đang đe dọa tao?” cuối cùng ông ta lên tiếng hỏi. “Thật hả? Có phải đấy là điều mà mày đang làm không, Adam? Mày sẽ không muốn làm thế đâu.”
Tôi nhấm nháp ly rượu, viên đá chạm vào răng tôi.
“Thứ mà tôi không muốn làm chính là tiếp tục chịu đựng tính khí khốn nạn của ông,” tôi nói. “Vợ tôi đã qua đời rồi. Con gái ông chết rồi. Tôi không cần phải qua lại với ông và Helen chỉ để khiến cô ấy vui nữa. Tôi đã yêu Sophie đủ nhiều để chịu đựng con người ông, nhưng tôi không phải làm thế nữa, Frank ạ. Tôi không cần chịu đựng ông thêm một giây nào nữa. Tôi có thể nói ngay bây giờ là ông không bao giờ được gặp lại Aubrey nữa và ông biết gì không? Con bé mới ba tuổi thôi. Con bé sẽ quên ông giống như sẽ quên Sophie.”
Tôi để những lời lẽ đó lơ lửng trong không gian trước khi nói nốt. Ông ta để cho tôi làm thế.
“Có lẽ không bao giờ gặp ông nữa sẽ là điều tốt nhất cho con bé,” tôi nói.
“Mày mất trí rồi,” ông ta trả lời, đó là câu trả miếng khá ngắn đối với loại người như Frank Flynn.
“Không,” tôi đáp trả. “Ông hết thời rồi, Frank. Khi ta cưới một cô gái, ta sẽ liên quan đến cả gia đình cô ấy. Giờ thì cô ấy mất rồi, tôi được giải phóng khỏi ông rồi. Ngay lập tức, mang vợ của mình biến đi.”
Frank đứng đó, đối diện với tôi và cuối cùng, ông ta nói với tôi điều hay ho nhất mà ông ta nói được - mục đích ông ta đến đây, tôi nghi ngờ là thế.
“Mày đã giết Sophie,” ông ta buộc tội tôi.
Ông ta nghĩ điều này sẽ làm tổn thương tôi, nhưng không hề. Tôi không hề lùi bước trước kẻ mà dường như chỉ theo đuổi một thứ duy nhất trong cuộc đời: loại bỏ mọi người xung quanh ông ta. Không còn tôi. Không còn Sophie. Không còn Aubrey. Không còn ai nữa.
Ông ta có thể làm bất kỳ chuyện gì ông ta muốn với Helen. Bà ấy có thể đã bị tẩy não, nhưng bà ấy có thể thoát ra nếu muốn.
“Cứ tiếp tục nói thế đi,” tôi bảo ông ta. “Mỗi lần ông làm tôi cáu, tôi sẽ loại luôn một lần ông được phép tới thăm Aubrey.”
Helen xuất hiện từ hành lang. Tôi không chắc bà đã nghe được bao nhiêu. Vừa đủ, tôi mong thế.
Tôi không đứng dậy. Tôi đã chịu đựng quá đủ việc phải giả vờ là mình thích mấy người này. Giả vờ là họ từng cho tôi lý do gì để thể hiện bất kỳ sự tôn trọng nào. Ông ta là một kẻ bắt nạt. Bà ta là kiểu người yếu đuối nhất trong số các thể loại nhu nhược.
“Adam, làm ơn đừng tách Aubrey ra khỏi bố mẹ,” Helen nói.
Tôi phớt lờ bà ta.
“Tôi đã để một vài đồ đạc của Sophie trong cái thùng giấy cạnh cửa ra vào,” tôi không hướng câu nói này vào cụ thể ai trong số họ. “Giúp tôi chuyện này và mang nó đi cùng mấy người đi.”
Căn nhà có cảm giác nhẹ nhàng hơn khi cánh cửa đóng lại. Tôi có thể nghe thấy tiếng Frank nguyền rủa Helen khi họ đi xuống các bậc thềm dẫn tới xe ô tô, nhưng chuyện đó không làm phiền tôi chút nào. Tôi đi qua hành lang để tới phòng ngủ của Aubrey. Con bé đã ngồi sẵn trên giường chờ đợi. Con bé giống như một thiên thần nhỏ và dù không biết mọi thứ sẽ ra sao, tôi nghĩ rằng việc giảm bớt thời gian ở cùng mấy con quái vật đã nuôi lớn mẹ của con bé sẽ là một chuyện tốt đối với con bé.