Một đêm mùa hè ở Shelton là tất cả những gì tôi cần để khắc ghi trong đầu rằng tại sao nơi này sẽ luôn là nơi tôi kết thúc mỗi ngày.
Thị trấn của tôi.
Mái ấm của tôi.
Tôi hồ nghi rằng mình sẽ không thể nghĩ về Shelton theo cách nào khác, bất chấp cái điều đã xảy ra ở đây khi tôi còn là một cô bé.
Tôi dừng lại để mua đồ ăn cho mèo tại một siêu thị nhỏ dọc đường về nhà.
Shannon Carson đang ở sau quầy. Tôi và cô ấy là bạn học phổ thông, dù không thân thiết lắm. Cô ấy làm thu ngân ca đêm để trả tiền học cho khóa học kế toán trực tuyến trong hai năm. Tôi chúc mừng khi cô ấy khoe mới hoàn thành khóa học.
“Đây là thị trấn của những người thành công muộn,” cô ấy nói, đặt thức ăn của Millicent vào trong bịch ni-lông.
Tôi không tranh cãi về điều đó.
“Tớ mới nghe nói về vụ án mà cậu đang đảm nhiệm,” cô ấy nói.
Tớ chắc chắn là ai cũng nghe nói rồi , tôi nghĩ vậy.
“Ừ,” tôi nói. “Một vụ khá buồn.”
Cô ấy chờ tôi kể thêm thông tin, nhưng tôi không kể.
“Ừ,” cô ấy nói để lấp vào khoảng trống im lặng giữa chúng tôi. “Những chuyện như thế không thường xảy ra ở khu này.”
Tôi cũng không thể tranh cãi về điều đó. Mặc dù phần còn lại của thế giới này đang thay đổi theo thời gian nhưng chúng tôi hầu như vẫn như xưa. Hầu hết. Bãi chiếu phim ngoài trời Skyline - một kết cấu cố định và là địa điểm tổ chức nhiều nghi thức đến mức không đếm xuể - vẫn hoạt động, giống như nó của ngày xưa khi những chiếc ô tô đầu tiên xếp hàng đến xem các bộ phim ngoài trời năm 1964. Chúng tôi là Kinh đô Cây thông Giáng sinh của Thế giới và đó không phải là ý tưởng giả tạo được dựng lên bởi một phòng thương mại hăng say quảng bá quá mức. Simpson đã sở hữu xưởng gỗ vào thời mà bố tôi vẫn phải làm việc nặng nhọc theo ca. Nhưng làm việc vất vả không phải là vấn đề đối với hầu hết mọi người hồi đó. Khi trở thành cảnh sát tuần tra và sau đó là thám tử, tôi ít khi phải làm những vụ án mà tôi không biết tên hoặc danh tiếng của những người liên quan. Shelton đã và vẫn luôn là một nơi như vậy. Mọi người đều biết nhau. Chúng tôi leo bộ trên những ngọn đồi thấp Olympic trong chiếc áo phông và quần đùi ngay khi có dấu hiệu đầu tiên của tiết trời ấm áp, khi ốc và cua xuất hiện trên các bãi biển lởm chởm đá và đôi lúc nặng mùi, giống như cách mà người Skokomish vẫn sống trong hàng thế kỷ. Chúng tôi chộp lấy từng giây từng phút những mùa hè nhỏ giọt của mình vì biết rằng đến cuối tháng Chín, bàn chân chúng tôi sẽ mọc mạng nhện cho đến tận mùa xuân tiếp theo.
Những người di cư từ nơi khác đến mang theo hàng núi tiền kiếm được từ các công việc ở Seattle hoặc các bất động sản mà họ vừa tẩu tán được đều nghĩ rằng chúng tôi thật kì quặc, nếu không muốn nói là hoàn toàn bị bỏ lại ở thời đại khác.
Chúng tôi chỉ mỉm cười, hoặc là cười với nhau. Thật tốt khi có thể tận hưởng một cuộc sống theo cách này khi mà kiểu cuộc sống còn lại chỉ là mưu sinh tại đô thị lớn cùng toàn bộ những vấn đề và sự bất mãn kèm theo.
Dù bất cứ lúc nào, chúng tôi đều cũng sẽ chọn thị trấn nhỏ của mình.
Khi tôi vừa về đến nhà với sự chào đón của Millicent, điện thoại đổ chuông. Đó là cuộc gọi từ Frank Flynn và tôi không thể nuốt nổi một cuộc gọi nào của ông ấy nữa. Thật lòng mà nói, tôi chưa bao giờ cảm thấy như vậy về một thành viên trong gia đình của nạn nhân. Nhưng cha của Sophie Warner là kiểu người sẽ biến những khoảnh khắc tồi tệ nhất có thể xảy ra trong cuộc đời ông ấy trở nên khắc nghiệt hơn. Lúc này đã quá chín giờ và thời điểm hơi muộn này sẽ cho tôi một cái cớ yếu ớt để khỏi phải nhấc máy. Tôi có thể đã ngủ rồi. Dĩ nhiên là tôi chưa ngủ. Tôi nhìn điện thoại của mình và chờ đợi thứ âm thanh báo hiệu rằng một tin nhắn đã được để lại. Phải mất một lúc. Tôi chắc chắn đó là phong cách đặc trưng của Frank Flynn - hoàn toàn không phải là điều gì tốt.
“Thám tử,” ông ấy nói, “tôi mong là cô đang ở đâu đó bên ngoài để tìm kiếm bằng chứng buộc tội thằng con rể chó chết của tôi. Helen và tôi vừa ở nhà nó tối nay. Nó dám đe dọa tôi. Nó nói sẽ tách Aubrey ra khỏi tôi nếu tôi tiếp tục đi tìm sự thật. Chà, nhưng không ích gì đâu. Không có ai xô ngã được Frank Flynn chỉ bằng một câu đe dọa. Adam đang âm mưu gì đó. Cô cần phải tới đấy và hỏi tội thằng đó. Thẩm vấn nó trong buồng tối hay gì đó. Ước gì cô được phép trói nó lại rồi dội nước để tra tấn nó. Tôi ước tôi có thể đánh cho nó khai ra. Đừng bắt tôi phải làm thế. Làm cái công việc chết tiệt của cô đi và moi ra sự thật từ nó.”
Trong khi ông ấy nói không ngừng, tôi có thể nghe thấy tiếng Helen ở đằng sau đang khóc lóc, lặp đi lặp lại tên Aubrey.
Frank ngừng nhắm vào tôi để nói với vợ mình.
“Chuyện này còn lớn hơn cả chuyện của Aubrey, Helen! Chuyện này là về Sophie. Bà bình tĩnh lại đi!”
Rồi ông ấy lại tiếp tục cái thông điệp mà nhất quyết phải truyền đạt tới tôi.
“Nó cư xử rất quái lạ tối nay. Nó không nhận tội. Nhưng nó đã nói và làm những hành động cho thấy tội lỗi hiển nhiên là do nó gây ra. Nó nói là nó vui khi Sophie chết rồi. Nó vui. Nó nói thế. Và nghe này, thám tử: nó đã bỏ toàn bộ đồ đạc của con bé vào trong cái thùng to và đưa cho chúng tôi. Như thể nó cực kỳ nôn nóng muốn xóa bỏ con bé ra khỏi cuộc đời nó. Ai lại làm thế nếu không có tội chứ? Tôi mong cô hãy nhấc đít lên và làm cho xong vụ án này. Tôi biết là ai làm chuyện đó. Thằng đó đã làm. Cô phải gọi lại cho tôi đấy.”
Tôi lấy chút bia từ trong tủ lạnh và uống trong lúc đứng cạnh bồn rửa bát. Tôi giống như bố tôi vậy. Ông luôn suy nghĩ sáng suốt nhất khi ở trong bếp, cầm bia trên tay, nhìn ra ngoài cửa sổ.
Trời bên ngoài tối mịt. Đèn pha nhà hàng xóm rọi một luồng sáng trắng chói mắt vào hàng rào ngăn cách giữa hai sân nhà chúng tôi, tạo thành những cột sáng trên thảm cỏ. Tôi nghe thấy tiếng cửa chui cho mèo bật mở khi Millicent quay vào nhà.
Hôm nay là một ngày dài. Dài nhất, thực sự dài. Nhà xác. Cuộc chạm trán với ông bà Flynn. Cuộc đối đầu với Jim Coyle. Những chuyện vô nghĩa với người dùng Facebook tên Sheila. Cuộc gọi vừa nãy. Tôi cảm nhận được áp lực - của chính mình và cả những người khác. Tôi không thể để vụ án này trở thành một vụ Cathy Rinehart thứ hai. Tôi biết là khi đi ngủ, tôi sẽ lại nghĩ về cô ấy và cách mà chúng tôi đã làm cô ấy thất vọng khi để cho kẻ phạm tội trốn khỏi vòng pháp luật. Chuyện này vẫn xảy ra. Có lẽ thường xuyên hơn tôi tưởng.
Tôi bật vòi hoa sen để loại bỏ mùi hóa chất từ nhà xác bám dính trên tóc và da tôi. Tôi bước vào trong và để mặc nước xối lên người. Khi xoay cổ tay, tôi thấy vết sẹo nhỏ hình chiếc kẹp tóc, đó là lời nhắc nhở hữu hình duy nhất về thời thơ ấu từng là nạn nhân của tôi. Nó luôn xuất hiện vào khoảng thời gian này mỗi năm khi Mặt Trời nhẹ nhàng làm rám nắng làn da đầy tàn nhang của tôi để lộ ra dấu vết trăng trắng, mong mỏng đó.
Mỗi lần nhìn thấy nó, tôi đều quay mặt đi.
“Cô biết là mình không nên làm vụ này mà, Lee.”
Zach Montrose đang đứng ở ngay ngưỡng cửa văn phòng tôi. Tôi biết ngay là ông ấy vừa biết được chuyện gì vào cái giây đầu tiên mà những lời nói đó phát ra từ hàng môi dính đầy nicotine của ông, nhưng tôi không thừa nhận điều đó. Tôi nghĩ là tôi có thể lo được vụ này. Tôi chịu ơn Adam, tất nhiên rồi. Nhưng còn hơn cả thế. Tôi nợ Sophie và những cô gái, những phụ nữ khác, những người không được công lý bảo vệ. Tâm trí tôi không bao giờ quên được rằng mình là kẻ may mắn.
Các mối liên hệ cá nhân là những động lực thúc đẩy mạnh mẽ và rõ ràng, chứ không phải là thứ gây phân tâm. Chính là thế. Tôi thấy được điều đó qua ánh nhìn trên gương mặt ông.
Tôi nghĩ đến phương án nhắc đến cuộc hẹn khám bệnh của ông về giai đoạn đầu của bệnh Parkinson để kết thúc nhanh chủ đề này, nhưng tôi không làm thế. Ông ấy chưa trực tiếp nói với tôi. Một cô bé mới vào làm bên phòng nhân sự kể lại. Tôi không muốn mách lẻo.
Hơn hết, tôi không muốn làm tổn thương ông ấy.
“Tại sao cô không nói cho tôi biết việc Adam Warner là người tìm ra cô?” Ông ấy hỏi với giọng điệu rõ ràng là thất vọng nhiều hơn tức giận.
Tôi hẳn là nên kể cho ông. Ý nghĩ ấy xuất hiện ngay khi tôi biết vợ Adam chính là người biến mất. Chỉ có điều đây là ký ức mà tôi không muốn nhìn lại theo bất cứ cách nào.
Montrose trượt xuống ngồi vào một chiếc ghế bên cạnh bàn của tôi. Ông ấy đang mặc chiếc áo bằng vải Chambray và chiếc quần bò phai màu hiệu Wrangler. Thông thường, tôi sẽ trêu ông ấy về cách lựa chọn quần áo như thợ may. Rằng nhìn ông giống que kem việt quất đến thế nào. Đấy là trò đùa nho nhỏ của chúng tôi. Tuy nhiên, không phải hôm nay. Không phải vào thời điểm mà ông ấy đến tìm tôi vì một chuyện mà tôi đáng ra nên giãi bày từ trước.
“Làm thế nào mà ông biết được?” tôi hỏi, nhìn thẳng vào mắt ông.
“Vô tình gặp Belinda Stephens ở Safeway,” ông ấy trả lời. “Cô ta đáng ra nên làm cảnh sát thay vì nhân viên thư viện.”
Hoặc là làm một cái loa phóng thanh, tôi nghĩ.
“Belinda vẫn luôn giỏi trong việc đưa ra những thông tin quá đỗi rõ ràng,” tôi nói.
Montrose khoanh tay trước bộ ngực vạm vỡ của mình. “Có phải tôi là người duy nhất trong thị trấn không biết không? Tôi cảm thấy mình như một thằng ngốc đấy, Lee. Tôi không thích bị biến thành thằng ngốc đâu.”
“Tôi không có ý đó,” tôi nói. “Tôi rất xin lỗi.”
“Cô không thấy là chuyện này có thể gây tổn hại đến cuộc điều tra thế nào à?”
“Có,” tôi nói. “Dĩ nhiên rồi. Nhưng chuyện đó đã xảy ra cách đây lâu rồi. Anh ấy chỉ tìm thấy tôi thôi. Anh ấy không làm gì cả. Chỉ tìm thấy tôi thôi.”
“Phải rồi,” ông nói. “Và chuyện đó sẽ không khiến cô bỏ qua cho cậu ta chứ hả?”
“Không có chuyện bỏ qua ở đây, Montrose. Đúng, tôi biết ơn những gì anh ấy đã làm. Rất biết ơn. Thật tình, đó là điều mà tôi không bao giờ nghĩ đến. Nhưng tôi sẽ không bỏ qua cho kể cả giáo hoàng nếu người đó có liên quan đến vụ án. Ông đáng ra nên biết điều đó chứ. Tôi làm việc dựa theo nguyên tắc.”
Montrose nhúc nhích một chút. Tôi biết người đàn ông này. Ông ấy đang suy nghĩ. Ông ấy là một cộng sự tuyệt vời và ông ấy hỗ trợ tôi, nhưng ông ấy cũng làm việc dựa trên nguyên tắc. Ông ấy phải như thế. Ông ấy không được mắc sai lầm nào nữa, bởi vì ông đã rơi xuống đáy một lần rồi và ông ấy chắc chắn như đinh đóng cột là sẽ không bao giờ quay trở lại đó nữa.
“Lee, dù muốn hay không, cậu ấy là đối tượng mà chúng ta cần xem xét. Chúng ta chưa biết vụ này sẽ dẫn đến đâu.”
Tôi không bảo vệ Adam, dù một phần trong tôi thực sự muốn thế. Tôi có thể nhắc lại về Axel Bakker và ông có thể phản bác lại rằng ông lão đã già và thị lực rất kém. Tôi có thể nói gì đó về việc Aubrey cũng ở đấy và ông có thể phản bác rằng con bé chỉ là một đứa trẻ và không biết rằng mình đã nhìn thấy gì.
Nhưng tôi không nói.
“Chúng ta luôn tuân theo các bằng chứng, Montrose. Không đời nào mà ta loại bỏ hết được các cảm xúc thiên vị cho một cái gì đó hoặc một ai đó, nhưng chuyện đấy không ngăn cản chúng ta tìm ra sự thật.”
“Một sự thiên vị rất lớn cần vượt qua đấy, Lee.”
“Nếu bố tôi quấy rối một đứa trẻ hàng xóm, ông nghĩ là tôi sẽ không trình báo chuyện đó sao?”
Ông ấy lắc đầu. “Không giống nhau.”
“Giống nhau,” tôi nói. “Ông biết tôi như thế nào mà. Ông biết là tôi không bao giờ bảo vệ cho những kẻ đã hại người khác. Không có chút khoan nhượng nào cả. Thật sự. Ông biết điều đó mà, đúng không?”
Montrose suy nghĩ một chút. Tôi biết là ông ấy biết tôi đúng. Tôi biết là ông ấy biết rõ tôi. Tôi cảm thấy hơi thất vọng khi ông ấy nhắc đến quá khứ theo hướng tôi yếu đuối tới mức che giấu sự thật về một tội ác kinh khủng.
“Ừ,” ông ấy nói. “Tôi biết điều đó. Chỉ có điều tôi không phải là người duy nhất ở quanh đây đặt câu hỏi về chuyện cô có làm hết sức hay không.”
“Cảnh sát trưởng cũng hiểu rõ tôi hơn mức đó.”
Ông ấy nhún vai với tôi. “Những người khác thích buôn chuyện. Tin đồn đôi khi lại bị coi là sự thật trong một số trường hợp.”
“Tôi sẽ giải quyết nó nếu chuyện đó xảy ra, Montrose,” tôi khẳng định. “Được không?”
“Được,” ông nói. “Còn một chuyện khác mà chúng ta cần xử lý.”
“Chuyện gì vậy?”
“Gọi Adam Warner tới đây để nói chuyện tử tế. Như hôm nay là lý tưởng nhất. Cô muốn gọi cho cậu ta, hay cô muốn tôi gọi?”
“Tôi sẽ làm,” tôi nói. “Không vấn đề gì. Còn gì khác không?”
Trước khi ông ấy trả lời, tôi đã lôi hồ sơ của Warner ra.
“Bắt đầu làm việc thôi,” tôi nói.
“Phòng xét nghiệm đang bị ứ đọng công việc,” tôi nói với ông. “Bác sĩ Collier nghĩ là sẽ mất nhiều thời gian hơn. Tên sát nhân quận Mason có vẻ không thuộc hàng ưu tiên.”
“Nên được ưu tiên,” ông ấy nói.
Trong khi cùng Montrose xem lại danh sách, tôi cảm thấy không khí trong phòng đã bớt nặng nề hơn. Trạng thái căng thẳng được tạo ra bởi những thông tin vừa tiết lộ giữa chúng tôi đang mờ dần. Chúng tôi đang tập trung vào những thứ sẽ thúc đẩy công việc.
“Nhìn vào đây này,” tôi nói, đưa ngón trỏ chạy dọc theo danh sách được viết nguệch ngoạc, vội vàng của tôi. “À phải, có một cuộc gọi mà tôi phải phản hồi lại. Thực ra là nhiều cuộc gọi. Tất cả đều từ Linda London.”
Montrose làm mặt xấu. “Cô không gọi lại à?” ông ấy hỏi.
“Đừng lo. Tôi chuyển bà ấy sang cho cảnh sát phụ trách thông tin để họ xử lý rồi. Tất nhiên,” tôi bổ sung, “chúng ta chưa trả lời phỏng vấn được.”
Từ chưa là từ quan trọng, một bài học lớn mà tôi học được. Tôi đã vội trả lời phỏng vấn cho Olympian trong vụ Cathy Rinehart. Đó là một sai lầm vô cùng to lớn. Trong cuộc phỏng vấn, tôi tuyên bố rằng mình đã nói với gia đình nạn nhân rằng chúng tôi chắc chắn sẽ làm sáng tỏ vụ sát hại con gái họ. Tôi nên hiểu biết thấu đáo hơn thế. Đừng bao giờ đưa ra dự đoán về một điều mà mình không thực sự kiểm soát được. Hồ sơ vụ án đó luôn nằm trên cùng trên cái tủ được sắp xếp gọn gàng hoàn hảo đằng sau tôi. Nó sẽ không bao giờ rời khỏi đó cho đến khi công lý được thực thi. Nó vừa chế nhạo vừa ám ảnh tôi mỗi sáng khi treo áo khoác hoặc đặt ví lên.
Chúng tôi là những viên chức nhỏ ở Văn phòng Cảnh sát Quận Mason. Quận chúng tôi rộng mênh mông, với dân cư thưa thớt giữa những cảnh quan vùng Tây Bắc kỳ vĩ nhất mà ta có thể tưởng tượng ra. Thực sự là đẹp như khung cảnh in trên tấm bưu thiếp. Mỗi khi có thể, Montrose và tôi sẽ lại cùng nhau xử lý một vụ án lớn. Dẫu vậy, chúng tôi vẫn tách nhau ra để làm công việc của riêng mình. Giống như bây giờ, ông ấy ra ngoài để theo dõi Jim Coyle, là cửa đặt cược tốt nhất của chúng tôi cho vụ này - và tôi đang thực hiện cuộc gọi “không vấn đề gì đâu” với Adam và trả lời cuộc gọi của Frank Flynn, mối tai ương của đời tôi. Đó là thước đo để thấy là tôi sợ việc gọi điện cho Adam đến mức lựa chọn tranh luận với bố vợ của anh ấy trước.
“Tôi muốn cô gọi lại ngay lập tức sau cuộc điện thoại đó,” Frank ngay lập tức quát tháo. “Thực sự có vấn đề rất lớn với cái cơ quan thực thi pháp luật đang quên mất gia đình của nạn nhân.”
“Xin chào, ông Flynn.”
Ông ấy đang chọc tức tôi, nhưng tôi phớt lờ.
“Ông để lại tin nhắn là có chuyện quan trọng muốn báo cho tôi?” Tôi hỏi, cây bút đã trong tư thế sẵn sàng ghi chép lại bất kỳ thông tin gì mà bố của nạn nhân cảm thấy cần khẩn cấp bổ sung cho hồ sơ vụ án.
“Nó đang xóa sạch Sophie ra khỏi cuộc sống của nó,” ông ấy nói. “Nó đang tháo dỡ mọi thứ mà con bé coi trọng trong đời.”
Tôi không hiểu. “Tôi cần biết thêm chi tiết. Xin ông hãy nói chậm lại.”
“Tôi sẽ không chậm lại,” ông ấy đáp. “Nếu tôi chậm lại thì cô và tay cộng sự thám tử tệ hại sẽ làm hỏng vụ này giống như mấy người đã làm với cô bé Rinehart.”
“Ý ông là sao khi nói ‘xóa sạch Sophie ra khỏi cuộc sống’ của anh ấy?”
“Đồ đạc,” ông ấy nói, gần như phun một đống nước bọt ra khỏi miệng. “Mọi thứ quan trọng với con bé, nó tháo hết ra. Chúng tôi đã có mặt ở đó khi nó làm thế. Trả lại tranh ảnh và các vật lưu niệm khác. Việc đó thực sự làm tổn thương Helen. Thực sự. Nó nôn nóng tống khứ mọi thứ của con bé đi. Giống như cách nó đã tống khứ Sophie.”
“Có lẽ những vật kỷ niệm gợi lại quá nhiều đau đớn cho anh ấy.”
Tôi nói sai mất rồi.
“Tôi có một kỷ niệm,” ông ấy nói, giọng ông rung lên vì cay đắng. “Nhìn thấy con gái tôi qua khung cửa sổ nhà xác.”
Điều đó thật tệ. Một tình huống tồi tệ. Một tình huống mà ngay từ đầu bố của Sophie đã xoay xở để khiến mọi chuyện tệ hơn bằng cách cố gắng có mặt ở đó.
“Tôi rất tiếc,” tôi nói. “Tôi biết là tất cả những chuyện này rất đau đớn.”
Tôi có thể nghe thấy tiếng Frank hít vào một hơi thật sâu. Ông ấy đã lên nòng và sẵn sàng khai hỏa. Tôi không thể nói được gì với người đàn ông này.
“Cô muốn biết đau đớn là gì không?” Ông ấy hét vào điện thoại. “Đau đớn là khi biết được thằng chó đẻ thối tha từng ngồi ở bàn tiệc Giáng sinh của cô đã giết chết con gái cô. Đó là đau đớn. Tôi nghĩ điều nó làm với Sophie sẽ giết chết Helen. Rồi sẽ có một nạn nhân khác trên tay cô.”
“Chúng tôi có nhân chứng, thưa ông,” tôi nhắc ông ấy. “Anh ấy đang ở trên thuyền với cháu gái của ông.”
Frank tuyệt nhiên không tin chút nào. “Nhân chứng là một lão già lẩm cẩm,” ông ấy phun ra. “Tôi thấy lão ta trên bản tin rồi. Kính mắt dày như đít chai cô-ca.”
Tôi để mặc ông chửi rủa. Axel Bakker có nhiều vấn đề nhưng thị lực của ông lão có vẻ ổn. Dù có kính hay không.
“Tại sao cô không thèm nghe lời tôi?” Frank hỏi.
Một nửa công việc của tôi là lắng nghe.
“Tôi có nghe,” tôi nhắc ông ấy. “Tôi hứa.”
“Thằng khốn kiếp đó. Nó ảo tưởng rằng mình là món quà mà Chúa ban xuống. Có lẽ nó đã thuê ai đó. Adam luôn khoe mẽ về cái đám bợ đỡ của nó ở văn phòng và cách nó làm thế nào để bắt bọn kia làm hết công việc cho nó.”
“Tôi sẽ xem xét vấn đề này,” tôi nói, cố gắng chấm dứt cuộc trò chuyện mà tôi vốn không có ý định bắt đầu.
“Cô nên thế,” Frank cuối cùng cũng nói khi mà ông ấy hớp mạnh không khí một lần nữa. “Mẹ kiếp! Cô nên thế.”
Nhìn bề ngoài, những lời ông ấy nói khá là phiền toái. Thực sự phiền toái. Tuy nhiên, nhờ vốn sống, tôi biết rằng mỗi người sẽ xử lý căng thẳng và đau buồn bằng những hành động khác nhau, đôi khi có vẻ còn vô lý. Mẹ đã cắt tóc tôi thành siêu ngắn sau ngày hôm đó bởi vì mẹ chắc chắn rằng mái tóc chính là thứ ban đầu đã thu hút Albert Hodge. Tôi trông chẳng khác gì một cậu con trai trong hai năm. Mặc dù tôi đã vượt qua được chuyện đó, mẹ tôi vẫn bị mắc kẹt lại trong trạng thái “điều có thể đã xảy ra”. Nó đã lấy mất linh hồn của một người phụ nữ trước đó vốn sống một cuộc đời đầy màu sắc. Niềm vui. Tình yêu. Nó giống như một căn bệnh ung thư tiến triển chậm vậy.
Chưa đến giữa trưa thì một tin nhắn từ bác sĩ Collier được gửi tới và xác nhận hầu hết những điều tôi đã biết - và vài điều tôi chưa biết. Sophie bị đánh chết bằng một loại công cụ khá cùn. Cô ấy chết vào một thời điểm nào đó hôm thứ Bảy. Quãng thời gian nằm trong nước lạnh đã gây nên những khó khăn nhất định, nếu không muốn nói là bất khả thi, để đưa ra kết quả cụ thể hơn. Kẻ giết người đã để lại DNA của hắn trong âm đạo của cô ấy. Theo những thông tin mà bác sĩ pháp y biết vào lúc này, mẫu xét nghiệm vẫn chưa được kiểm tra trên hệ thống.
Ứ đọng công việc ở phòng xét nghiệm hình sự của quận , cô ấy nhắc lại với tôi trong tin nhắn. Dẫu sao thì vẫn mong là chúng ta có được kết quả trong vài ngày tới.
Tuy nhiên, kết quả xét nghiệm chất kích thích được trả về và mặc dù Sophie không hề liên quan đến bất kỳ loại thuốc bị kiểm soát đặc biệt nào, báo cáo cho thấy một lượng lớn Diphenhydramine - thứ mà nhiều người nghĩ là Benadryl - được tìm thấy trong cơ thể cô ấy.
Tôi ghi chú lại liều lượng của thuốc.
Adam nói là vợ anh đang chữa chứng cảm lạnh, vì thế Benadryl không đáng ngạc nhiên lắm. Kết quả xét nghiệm chất kích thích hoàn toàn phù hợp với thông tin Adam cung cấp.
Nhưng một thứ khác thì không.
Tôi với lấy chiếc điện thoại bàn và gọi cho bác sĩ Collier.
“Xin chào, thám tử,” cô ấy nói.
“Bác sĩ, cảm ơn những thông tin sơ bộ của chị. Vẫn đang chờ kết quả DNA đúng không?”
Nhạc đang được bật ở đầu bên kia điện thoại. Giai điệu khá vui vẻ. Một ca khúc hồi mới ra mắt của Katy Perry, tôi nghĩ thế. “Vẫn đang đợi,” cô ấy trả lời.
“Em để ý thấy kết quả khám nghiệm chỉ ra bụng cô ấy gần như trống không,”
Cô ấy vặn nhỏ âm lượng của Perry. “Hầu như là thế,” cô ấy đáp. “Để chị xem lại. Chờ chút.”
Trong chốc lát, bác sĩ Collier quay trở lại. “Đúng rồi. Trống rỗng. Có vài hạt vừng trong đó, nhưng không còn gì khác. Sạch như mới.”
“Vậy lần cuối cùng mà cô ấy ăn là khi nào?” tôi hỏi cô ấy. “Chị có biết được không?”
“Khó nói lắm,” cô ấy trả lời. “Mấy cô nàng Seattle lúc nào cũng ăn kiêng hay thanh lọc cơ thể gì đó. Thôi, bỏ qua yếu tố Seattle sang một bên, chị cho rằng cô gái chưa ăn gì trong ít nhất mười hai tiếng. Không đồ ăn. Không nước uống luôn. Cô ấy hơi bị mất nước.”
“Không có bánh mì kẹp à?” Tôi hỏi, nghĩ về thứ mà Teresa đã tìm thấy trong tủ lạnh. “Không có đồ ăn từ cái đêm trước ngày cô ấy bị bắt cóc sao?”
“Chị vừa mới nói đấy,” cô ấy tiếp tục. “Không và không gì cả.”
Tôi cảm ơn cô ấy và gác máy. Tôi phải chống chọi lại cái cám dỗ muốn gục đầu xuống bàn.
Sophie không hề ăn tối vào cái đêm trước khi bị sát hại, mặc dù cô ấy đã mua thực phẩm ở Hoodsport.
Adam nói là họ đã uống rượu, ăn tối và xem phim.
Vào sáng hôm sau, chỉ có Adam và Aubrey ăn bánh quế dâu tây.
Tôi đau đầu nghĩ về một lời giải thích hợp lý - có thể Sophie đã bị ốm và quá mệt để ăn vào buổi tối và buổi sáng sau đó? - và không hiểu tại sao mình lại làm thế.
Tôi là một thám tử. Một thám tử sẽ đặt ra những câu hỏi này cho người duy nhất có thể trả lời được chúng. Và cô ấy sẽ làm điều đó nhanh nhất có thể.