Tôi nghe thấy tiếng các cành cây gãy, nhưng tôi không thể hét lên. Ai đó đang ở rất gần tôi. Có phải kẻ tấn công tôi đang quay lại để hoàn tất cái lời hứa đã bị cắt ngang bởi người nào đó đã nhìn thấy xe ô tô của hắn? Những lời nói của hắn cứ tua đi tua lại giống cái đĩa CD ưa thích của Kip vậy.
“Đùng có nói gì hay động đậy. Nếu mày làm thế tao sẽ biết ngay đấy. Đừng có hòng qua mắt được tao. Tao sẽ quay lại khi trời tối rồi mang mày về nhà.”
Ai đó đang tới rất gần. Có phải đó là người được cử đến để tìm tôi không? Nằm ở đó trong bóng tối, bên dưới những cành cây mà gã đàn ông mặc áo nỉ màu xanh và đỏ đó đã dùng để che giấu tôi, tôi nghe được tiếng ai đó gọi tên mình.
“Lee, em có ở đó không?” giọng nói vọng tới.
Kẻ tấn công đã bảo tôi nằm yên chờ hắn quay lại. Nếu tôi hé miệng và kêu cứu, hắn sẽ lại tới tìm tôi. Sau đó giết tôi và gia đình tôi.
Tôi đã tin hắn.
Bây giờ tôi mới nhận ra mình ngu ngốc thế nào.
Mặc dù đang lạnh run, nhưng tôi vẫn muốn sống.
Tôi nghe thấy tên mình lần thứ hai. Tôi thử cất tiếng gọi, nhưng không có gì phát ra từ cái miệng đang bịt kín băng dính của tôi.
“Lee ơi!” tiếng gọi vọng tới lần nữa.
Nó khá quen thuộc.
Là Adam Warner.
Khi nghĩ về khoảnh khắc anh ấy nhoài người xuống những cành cây đang che phủ tôi, tôi không thể kìm được nước mắt. Nó giống một cảnh trong phim khi mà những người yêu nhau gặp được nhau trên đỉnh tòa nhà Empire State hay khi họ phát hiện ra đối phương chính là người đã luôn gửi thư cho mình. Adam và tôi dĩ nhiên không phải là người yêu. Nhưng cảm xúc đó giống như những gọn sóng lao xao trên mặt hồ mà tôi chưa bao giờ hiểu hết.
Tôi run rẩy và lăn qua lăn lại để làm những cành cây được xếp tỉ mỉ trên người mình dịch chuyển.
“Ôi, lạy Chúa!” Adam thốt lên, quỳ hẳn xuống và gỡ những thứ đang che phủ tôi ra.
Đó là Adam, tất nhiên rồi. Nhưng khi anh ấy gỡ miếng băng dính trên miệng tôi xuống thì đối với tôi, anh ấy giống như một thiên thần. Anh ấy đang khóc. Cả hai chúng tôi đều khóc. Tôi không quan tâm chuyện anh ấy đang thấy tôi trần truồng. Tôi chỉ quan tâm chuyện anh ấy đã tìm thấy tôi.
“Em đã quá ngu ngốc,” tôi nói.
Ánh nhìn của anh ấy không hề chuyển xuống phía dưới cơ thể tôi.
“Không sao, không sao, em sẽ ổn cả thôi,” anh ấy trấn an tôi.
Đó cũng là một lời hứa.
Anh ấy gỡ miếng băng dính màu bạc trên cổ tay thâm tím và rỉ máu của tôi, rồi đến cổ chân. Bàn tay anh ấy run rẩy khi thực hiện động tác đó, miệng thì lặp đi lặp lại, “Em sẽ ổn thôi, Lee. Không sao đâu. Rồi em sẽ ổn thôi.”
Môi tôi bị đau vì băng dính.
“Anh hứa với em phải không?” tôi hỏi, dù thực ra đó không phải là một yêu cầu, mà là một lời cầu xin.
Anh ấy nhìn thẳng vào mắt tôi. “Anh có bao giờ nói dối em không?”
Tôi lắc đầu.
“Không,” anh ấy bảo tôi. “Không bao giờ.”
Adam cởi áo khoác của mình và choàng lên người tôi; khi anh ấy ôm tôi, tôi cảm nhận được hơi ấm từ lồng ngực đẫm mồ hôi của anh ấy. Anh ấy đang thở mạnh. Hơi thở mạnh mẽ của anh ấy phả vào gương mặt bị tổn thương của tôi. Trong một thoáng, nó khiến tôi nghĩ về gã đàn ông đã bắt tôi. Chỉ trong một giây thôi. Tôi không bao giờ muốn nghĩ về hắn hay cái việc mà hắn đã làm với tôi, đầu tiên là ở trong xe và rồi ở bãi đất trống nơi mọi người vứt bỏ những thứ mà họ không dùng đến nữa.
Tôi còn sống. Adam đã tìm thấy tôi.
Tôi uống nốt phần còn lại trong ly rượu. Tôi cảm thấy như thể mình vừa bị đưa trở lại khoảnh khắc ấy, thi thoảng nó tạo ra cảm giác xa lạ giống như một trải nghiệm mới vậy. Như thể tôi đang nhớ về câu chuyện được một người thứ ba kể lại. Giống như trò chơi thì thầm truyền tin vào tai nhau hồi xưa. Tôi không chắc đó có phải những gì đã xảy ra không hay tôi đã bị ép buộc chỉ nhớ đến phần tốt đẹp: Adam tìm thấy tôi. Sau đó anh trai tôi đến với một chiếc đèn pin. Anh đánh rơi nó khi đón lấy tôi từ tay cậu bạn thân nhất và bế tôi về nhà.
Millicent rên lên những tiếng gừ gừ.
“Anh ấy bảo tao là mọi chuyện sẽ ổn thôi,” tôi nói chuyện với con mèo của mình.
Cô mèo nhìn lên tôi theo cái cách mà tổ tiên chúng vẫn làm. Đó chỉ là sự thừa nhận rằng tôi đã nói chuyện với nó. Tôi toàn tự nghĩ ra ý nghĩa cho hành động của nó.
“Tao ổn,” tôi nói.
Millicent cựa quậy trên đùi tôi và thả mình xuống sàn nhà.
“Cảm ơn,” tôi nói khi cô mèo nhẹ bước về phía cánh cửa chui cho mèo và biến mất.
Albert Hodge chưa bao giờ bị xét xử vì tội tấn công tôi. Hắn chưa bao giờ bị xét xử vì tội sát hại đứa bé mười tuổi đến từ Chehalis mà hắn từng tấn công trước tôi. Thay vào đó, hắn đã làm cái chuyện mà tôi cầu mong là nhiều kẻ gieo rắc tội ác khác sẽ làm. Hodge đã tự kết liễu đời mình trong lúc cảnh sát cố phá cánh cửa của ngôi nhà di động Terry Travel của hắn. Bên trong, họ tìm thấy quần lót của tôi và cô bé mười tuổi đó. Tôi rất vui khi nghe tin này. Như thể đó là chuyện xảy ra với người khác chứ không phải là với tôi. Tôi thoát khỏi việc phải nhớ lại tất cả những chi tiết đó khi chỉ phải ngồi vào ghế nhân chứng ở tòa án quận Mason. Mặc dù sự thật không phải vậy, dĩ nhiên rồi, cả bố và mẹ tôi đều khăng khăng rằng câu chuyện của chúng tôi là tôi bị tra tấn về thể xác. Không phải là tình dục. Tôi đã nói dối về chuyện những chú mèo con bởi vì tôi cảm thấy quá đỗi xấu hổ khi ngu ngốc tình nguyện bước vào xe của hắn. Một lời nói dối thường kéo theo những lời nói dối khác. Mỗi lời nói dối là một viên gạch trên bức tường phòng vệ do tôi dựng lên.
“Cô bé rất may mắn,” cảnh sát trưởng Masters nói trong cuộc phỏng vấn với báo chí. “Chúng tôi kịp thời tìm thấy và cứu cô bé khỏi sự lạm dụng tồi tệ nhất.”
Mọi thứ trở lại bình thường sau đấy. Tôi gần như quên mất nó. Tôi thực sự đã quên. Đằng nào thì tôi cũng cố quên. Chỉ duy nhất một lần Adam và tôi đề cập đến chủ đề này là ở tang lễ của anh trai tôi. Khi đó, chúng tôi đứng đằng sau nhà thờ nơi cha mẹ tôi đã dựng lên bảng trưng bày thông tin về cuộc đời của Kip. Có một tấm hình của Adam, dĩ nhiên rồi. Anh ấy và Kip đứng cùng nhau, choàng qua vai nhau. Có vẻ là cùng khoảng thời gian với vụ việc đó.
“Em còn nhớ cái áo đó,” tôi nói khi chúng tôi đứng đó.
Nó chính là cái áo anh ấy mặc khi tìm thấy tôi.
“Ừ,” anh nói. “Anh đã nghĩ là cái áo ấy rất ngầu. Buổi hòa nhạc đầu tiên của anh: Metallica.”
“Anh đã mặc nó vào ngày anh tìm thấy em,” tôi nói trong khi vẫn nhìn vào những bức ảnh.
Anh ấy không nói gì trong một lúc lâu vì ngắm kỹ những tấm hình.
“Phải,” cuối cùng anh ấy cất lời. “Anh nhớ.”
Chúng tôi chưa bao giờ nói về chuyện đó. Tôi biết bây giờ không phải là thời điểm hay địa điểm thích hợp, nhưng tôi vẫn muốn nói điều gì đó.
“Cảm ơn anh,” tôi nói. “Vì đã tìm thấy em.”
Anh ấy chỉ vào tấm ảnh của Kip. “Em là tất cả đối với cậu ấy, Lee ạ. Cậu ấy rất thương em.”
Như vậy mới giống Adam. Anh ấy luôn nói ra những điều đúng đắn. Anh ấy biết cách để lái cuộc trò chuyện sang một hướng khác, đưa cuộc nói chuyện từ nội dung ủy mị sang đồng cảm thực sự.