Sáng thứ Sáu, Montrose hoạt bát một cách đáng ngờ nếu xét đến thói quen hay u ám vào đầu ngày và sự thất vọng của ông ấy khi Adam bị loại khỏi nhóm đối tượng tình nghi sát hại Sophie.
“Ông có định nói cho tôi biết chuyện đó không?” tôi lên tiếng.
“Ý cô là gì nhỉ?”
“Chúa ơi, ông diễn kịch dở lắm. Chắc chắn là có chuyện gì đó. Ông bắt tôi đoán thật hả?”
“Cô đoán xem.”
Tôi thở dài và chăm chú quan sát ông ấy. “Đó là tin tốt chứ?”
“Thực ra, là một tin cực tốt.”
“Chúng ta không có tin cực tốt. Ông nhầm phòng rồi.” Tôi khấp khởi nhìn ông, cố nghĩ xem có thể là chuyện gì. “Được rồi. Ông đang chờ người chủ của Jim Coyle gọi điện lại phải không?”
Ông ấy nhăn mặt rõ lộ liễu. Ra là thế.
“Vậy là họ đã gọi lại. Có chuyện gì xảy ra thế?”
Ông ấy bỏ cuộc. “Mọi thứ tuyệt vời chết đi được, Lee ạ. Hắn ta gây phiền toái cho họ hàng năm trời rồi và họ đang định cho hắn nghỉ. Hắn chưa bao giờ làm việc đạt kỳ vọng. Và nghe này, họ không có ghi nhận nào về việc xin nghỉ quá số ngày vì vấn đề sức khỏe. Đúng, hắn bùng việc, nhưng họ nghĩ rằng đó là vì hắn nghiện rượu.” Ông ấy ngừng nói và giả vờ nhìn đồng hồ đeo tay, chiếc Rolex mà ông sẽ phô ra bất cứ khi nào có thể. Tôi nghi ngờ nó là hàng nhái, nhưng chẳng bao giờ có ý định hỏi ông về chuyện đó. “Tôi đoán là hắn sắp nhận được quyết định sa thải rồi.”
“Áp giải Coyle tới đây thôi,” ông ấy nói.
Điện thoại của chúng tôi kêu tinh tinh cùng lúc.
“Tuyệt! Lệnh khám xét nhà của Coyle,” Montrose nói. “Hôm nay đúng là một ngày hoàn hảo.”
“Ông lái xe nhé,” tôi bảo ông.
Chỉ cần một lời nói dối là đủ để khiến Jim Coyle chuyển từ nghi can sang nghi phạm giết người. Tất nhiên lí do không chỉ có vậy. Coyle có tiền án liên quan đến bạo lực phụ nữ. Hắn đã nói dối chủ sở hữu lao động về hành tung của mình. Hắn sống cách nơi Sophie bị bắt chỉ vài phút. Dù tất cả đều là bằng chứng gián tiếp nhưng Coyle sở hữu chiếc xe tải trùng khớp với những lời mà Sheila Simmons - người đã đăng bài trên Facebook về hiện trường vụ án - nói rằng cô đã thấy trên đường cao tốc ngay phía trên các căn nhà gỗ Hoa Tử Đằng, Hoa Cúc và Hoa Huệ Tây vào khoảng thời gian Sophie biến mất.
Hơn nữa, tôi đã ghi lại trong bản báo cáo sau khi chúng tôi tiếp xúc với Coyle lần đầu tiên tại nơi ở rằng bộ cản sau trên xe tải của hắn dính dấu vết của cây lau sậy mà theo tôi thì - dù tôi không phải là một nhà thực vật học - giống với thứ tôi đã thấy ở nơi mà mấy người chèo thuyền kayak tìm thấy thi thể Sophie.
Có trong tay lệnh khám xét, Montrose và tôi cùng tới căn nhà di động của Coyle. Xe tải của hắn đã không còn ở đó và ngay khi ra khỏi ô tô, chúng tôi đã nghe thấy tiếng con chó của hắn kêu ăng ẳng. Tôi yêu động vật. Tôi yêu con mèo của tôi. Nhưng có một sự thật rằng tôi không hứng thú lắm với tiếng sủa ăng ẳng không ngừng của bất kỳ loại chó nào, điều này xuất phát từ việc hàng xóm của tôi có một con Chihuahua với dung tích phổi như của chó Saint Bernard.
“Hắn không ở đây,” tôi nói.
“Nhưng con chó Pomeranian chết tiệt thì có.”
Tôi cười. Montrose và tôi có thêm một điểm hợp nhau nữa bên cạnh cà phê Espresso và bia.
Tôi gõ cửa, tấm nhôm mỏng phát ra tiếng như tiếng của cái trống lẫy.
“James Coyle,” tôi lớn tiếng gọi, để hắn nghe được tiếng của tôi giữa tiếng sủa ăng ẳng của con chó Pomeranian, một tiếng sủa điên dại. “Thám tử Husemann và Montrose của quận Mason đây. Chúng tôi đến để tiến hành khám xét nơi này.”
Montrose và tôi nhìn nhau trong khi chờ đợi.
Tôi kiểm tra cửa và, ngạc nhiên thay, nó không khóa.
Chúng tôi lại nhìn nhau.
“Chắc nó sẽ câm mồm lại nếu ta thả nó ra,” Montrose nói.
“Chúa ơi, tôi mong là thế.”
Quả bóng phì phò có răng đó đang sủa ông ổng và chúng tôi cần tìm được Jim Coyle. Vì thế chúng tôi đi vào trong. Con chó tận dụng cơ hội để phi tới và chúng tôi cho nó phóng vọt vào trong sân.
“Úi,” Montrose nói.
Nhà của Coyle nhỏ và khá gọn gàng so với một người đàn ông độc thân. Ngay cả những chiếc gối kê trên sô pha cũng được đặt một cách ngay ngắn. Nó sạch sẽ nhưng không tạo cảm giác ấm cúng. Các bức tường trống trơn ngoại trừ bức hình một con bạch tuộc Thái Bình Dương màu xanh da trời to lớn được in trên vải bạt. Những cánh tay của nó vươn ra ngoài mép của khung hình. Tôi nhìn gần hơn và nhận ra một người phụ nữ bị một chân của con vật tám chi trói chặt. Thật đáng sợ! Tôi quay lại, ra hiệu cho Montrose chụp lại bức ảnh bằng điện thoại.
Căn phòng phía trước được bày biện để xem ti vi và uống bia. Trên bức tường đối diện tấm hình bạch tuộc là ba tấm biển neon của các hãng bia Rainier, Hamm’s và Rhinelander. Chiếc ti vi kiểu cũ được đặt trong chiếc tủ cổ lỗ sĩ làm bằng gỗ hồ đào khiến tôi nhớ đến thời ông bà tôi.
“Chẳng lẽ hắn chưa nghe tới màn hình phẳng à?” Montrose nói trong khi chúng tôi di chuyển quanh không gian chật chội để tìm kiếm bất kỳ dấu hiệu nào về việc Sophie Warner có thể từng ở đây.
“Không phải ai cũng quan tâm đến việc nhìn thấy lỗ chân lông trên gương mặt của thần tượng của mình đâu.”
Montrose chụp ảnh cả căn phòng.
“Streamer trên Hulu đang nói kìa.”
Tôi mặc kệ bình phẩm của ông ấy. Tôi bị thu hút vào một mẩu giấy màu vàng nằm trên cái bàn bếp nhỏ.
“Hắn để lại một lời nhắn,” tôi nói, cầm nó lên và đọc.
Tôi từng trải qua chuyện này rồi. Tôi biết là cho dù tôi nói hay làm gì các người vẫn sẽ tìm ra cách để đổ tội cho tôi. Tôi đáng ra nên giết con điếm đó khi có cơ hội. Cô ta là một kẻ dối trá. Toàn bộ bọn họ đều dối trá. Và ngay cả khi cô ta thừa nhận là đã nói dối, tôi vẫn bị bỏ mặc đến mục ruỗng trong tù. Làm ơn hãy tìm một gia đình cho AJ.
“Hắn có vài vấn đề lớn ở đây,” Montrose ngó qua vai tôi để đọc tờ giấy và nói.
Chúng tôi cất mẩu giấy vào túi và khám xét từng ngóc ngách của ngôi nhà.
“Tôi không nghĩ một gã kiểu đó sẽ tự tử đâu,” Montrose nói.
“Ông không bao giờ biết người ta đang nghĩ gì, Montrose ạ.”
Ông ấy nhún vai. “Cứ cho là vậy. Lời lẽ trong bức thư hơi ngang ngạnh. Không hỏi xin tha thứ. Chỉ hỏi xin nhà cho chó.”
Phòng ngủ của ngôi nhà quá nhỏ cho một chiếc giường đôi. Chỉ một chiếc giường đơn được sắp xếp gọn gàng thôi đã chiếm hết nửa căn phòng. Căn phòng gọn gàng, không có dấu vết đáng ngờ nào. Quần áo của hắn được treo trên mắc áo bằng gỗ và việc kiểm tra tủ ngăn kéo của hắn cũng diễn ra nhanh chóng, mọi thứ từ tất đến đồ lót đến áo phông và quần bò, được gấp ngay ngắn.
“Nhà tù sẽ biến cô thành thế này,” Montrose nói.
Tôi biết là không nên cảm thấy thương xót cho Coyle, nhưng tôi đang cảm thấy thế, dù chỉ một chút. Hoàn toàn có khả năng hắn bị buộc tội sai, một kiểu hủy hoại cuộc đời mà không bao giờ có thể sửa chữa được. Có lẽ hắn đã lưu luyến Sophie. Nhìn thấy cô ấy ở IGA và theo chân cô về căn nhà gỗ ở ngay trên Octopus Hole, sau đó quay trở lại và bắt cóc cô ấy vào ngày hôm sau. Sức khỏe của hắn đang giảm sút. Công việc của hắn đang có nguy cơ bị mất.
Khi chúng tôi xuất hiện, hắn đã hình dung ra tương lai tăm tối của mình.
“Có chút tự thương hại trong mẩu giấy của hắn ta,” Montrose nói. “Khi chúng ta tìm thấy và đưa hắn về, hắn sẽ có vài lý do thực sự để thương hại bản thân.”
“Đây là thư tuyệt mệnh,” tôi nói. “Chúng ta sẽ không tìm thấy hắn còn sống đâu.”
“Mấy gã kiểu đó chỉ giỏi nói thôi,” Montrose nói. “Tin tôi đi. Tôi đã ở trong ngành này lâu hơn cô. Tôi không có ý ra vẻ và không đánh giá cao cách nhìn nhận của cô, nhưng lần này tôi đúng.”
Chúng tôi từng có cuộc nói chuyện kiểu này rồi. Tôi từng phản ứng lại nhưng lần này thì tôi cho qua.
“Ta cần gửi một lệnh truy nã,” tôi nói. “Tôi nghĩ là toàn bang. Hắn có thể ở bất cứ đâu.”
“Tôi đồng ý,” Montrose nói. “Hãy gọi cho đội kỹ thuật đến xử lý hiện trường ở đây. Không có dấu tích nào của Sophie, nhưng biết đâu được họ sẽ tìm ra cái gì.”
“Thế còn con chó thì sao?” tôi hỏi trong lúc đóng cánh cửa mỏng của căn nhà di động và niêm phong nó bằng băng dính niêm phong an ninh.
“Chó nào?” Montrose hỏi lại.
Tôi làm mặt xấu. “Tôi hiểu rồi. Nhưng chúng ta cần gọi điện cho bên Kiểm soát Động vật.”
“Được rồi, quý cô mê mèo.”
Trong vòng một giờ đồng hồ, quận Mason đã ban hành lệnh truy nã toàn bang đối với James Edward Coyle, bốn mươi chín tuổi và xe tải của hắn ta, chiếc Ford F-250 màu đỏ với biển số xe của Washington. Hắn ta bị truy nã do liên quan tới vụ bắt cóc và sát hại Sophie Warner và cần được tiếp cận hết sức thận trọng.
Những ngày này mọi chuyện đang diễn tiến nhanh chóng. Trong vòng ba mươi phút sau khi phát lệnh truy nã, Bộ phận Thông tin Cảnh sát của chúng tôi đã phải trả lời bốn cuộc gọi từ truyền thông - bao gồm của Linda London, người luôn rong ruổi trên hành trình săn tìm những tin tức sốt dẻo.
Những câu chuyện bắt đầu xuất hiện trên Twitter rồi nhảy sang Facebook và cuối cùng là các trang điện tử của những tờ báo lâu đời. Mọi người bấm nút “thích” và điện thoại thông minh rung lên bần bật để thể hiện sự ngạc nhiên, phẫn nộ và vui sướng, như thể góc nhìn của họ có tác động quan trọng tới những người đang điều tra vậy. Sự thật là, đôi khi nó có tác động đến thật. Đôi khi những người cần xem nó sẽ thấy được câu chuyện và chúng tôi sẽ nhận được một cú điện thoại quan trọng. Đó luôn là điều chúng tôi hy vọng.
Tôi đã nghĩ tới chuyện gọi điện cho anh ấy rất nhiều lần kể từ buổi thẩm vấn. Nhưng bây giờ tôi phải gọi rồi. Anh ấy nhấc máy ngay khi tiếng chuông đầu tiên.
Và anh ấy trách mắng tôi ngay lập tức.
“Anh mới thấy tin tức trên trang chủ. Em phải gọi điện cho anh chứ. Sophie là vợ anh. Anh không phải là người nên biết đầu tiên hay sao?”
Anh ấy có vẻ lo lắng và tôi không trách anh ấy, nhưng đấy không phải là cách mà chúng tôi làm việc.
“Em không thể,” tôi nói. “Nhưng em đang gọi cho anh này.”
Tôi nghe thấy tiếng anh ấy hít thở mạnh. “Em thực sự nghĩ là gã đó hả?”
Tôi chỉ có thể tưởng tượng ra rằng anh ấy đang cảm thấy thế nào lúc này thôi. “Em không chắc,” tôi nói. “Nhưng bọn em sẽ bắt hắn về trình diện.”
Khi bọn em tìm thấy hắn , tôi nghĩ thầm.
“Chết tiệt,” Adam đột ngột chửi thề. “Anh đang làm việc và có một cuộc gọi khác. Anh phải nhận cuộc gọi đó. Gọi cho anh khi có bất cứ tin gì mới nhé, Lee. Được không?”
Tôi hứa rằng tôi sẽ gọi.