Tôi không thấy được số điện thoại khi có cuộc gọi đến từ chiếc điện thoại cố định được đặt trên bàn làm việc.
“Tôi biết là cô đếch quan tâm đâu,” giọng nói cất lên ngay khi tôi nhấc máy. “Nhưng tôi chẳng làm gì Sophie Warner hết.”
Đường truyền không tốt lắm. Tiếng từ đầu dây bên kia không rõ. Cũng không ảnh hưởng lắm. Tôi nhận ra giọng nói ấy.
“Anh Coyle? Có phải anh không?”
Anh ta không trả lời ngay.
“Là tôi và tôi chịu đựng đủ rồi,” anh ta nói. “Tôi chịu đựng đủ việc phải làm một thằng gánh tội thay cho mấy nhân viên điều tra đang muốn chứng minh gì đó rồi. Tôi chẳng làm gì sai trong vụ việc kia cả và tôi chẳng làm gì Sophie Warner cả.”
Từ vụ việc bám chặt lấy đầu óc tôi.
“Anh cần đến trình diện,” tôi nói, căng mình lên để nghe bất kỳ tiếng ồn nào xung quanh, bất kỳ manh mối nào về nơi mà Jim Coyle có thể đang ở. Xe tải của anh ta đang di chuyển là điều mà tôi nhận ra.
“Chẳng để làm gì cả,” anh ta đáp. “Đằng nào thì tôi cũng sắp xong đời rồi. Cô chỉ đang khiến mọi thứ diễn ra nhanh hơn thôi.”
“Làm ơn đi mà,” tôi nói. “Anh cần đến trình diện. Anh cần chứng minh là mình trong sạch.”
“Nghe này, cô thám tử. Tôi không cần phải làm gì cả. Đời tôi đã nát kể từ khi vào tù rồi. Tôi đang chết, quý cô ạ. Tôi sắp xong đời rồi.”
“Ý anh là sao? Đang chết á?”
Một khoảng lặng dài. “Ung thư,” anh ta thốt ra. “Nếu cô thực sự muốn biết. Rõ ràng là đều tại những kẻ như cô và toàn bộ những thứ cặn bã mà tôi đã phải trải qua.”
Trong khi điện thoại bị vỡ tiếng và giọng anh ta lúc rõ lúc không, anh ta nói cho tôi tên bác sĩ của mình và chuyện anh ta đang tìm kiếm một phương pháp điều trị thay thế như thế nào vì không có bảo hiểm y tế ở công ty vận tải. Tôi không biết làm sao mà chuyện này có thể xảy ra được, nhưng tôi ghi chép từng từ một. Anh ta bảo tôi rằng hãy giữ kín thông tin này vì không muốn bị mất việc.
“Họ sẽ tống cổ tôi đi ngay khi có thể.”
“Việc đó là trái pháp luật,” tôi nói.
Anh ta bật cười. “Nghiêm túc hả? Luật pháp à? Tôi chỉ muốn cô biết là cô và đồng nghiệp đã sai lầm về tôi. Tôi đáng ra nên nói cho cô biết từ trước. Nhưng tôi không nói. Tôi được điều trị vào cái hôm trước khi người phụ nữ đó mất tích. Tôi không về nhà cho tới buổi sáng hôm đấy khi cô tới để đổ hết mọi thứ lên đầu tôi.”
“Anh thực sự đã nên nói cho chúng tôi biết.”
“Phải. Chà, bây giờ tôi đang nói cho cô đây. Chẳng còn quan trọng nữa. Tôi không có công việc. Tôi không có địa vị và rất nhanh thôi tôi sẽ xong đời.”
“Anh cần đến trình diện,” tôi nói.
Sự im lặng lấp đầy bên tai tôi.
“Cô nhớ chăm sóc con chó của tôi.”
Và với câu nói đó, Jim Coyle cúp máy. Từ vụ việc tiếp tục dội lại. Nó là cách nói trại quen thuộc, phổ biến với tôi và gia đình tôi.
Mọi người hay hỏi tôi về những chuyện đã xảy ra hồi bé và tôi luôn nói rằng mình không nhớ lắm về “vụ việc” - theo cách nói của mẹ. Tôi giải thích về nó theo cách để mọi người đoán là tôi bị mất ký ức do tổn thương. Hầu hết mọi người đều chấp nhận lý do này. Tôi ước rằng mọi chuyện có thể đơn giản như vậy.
Sự thật là tôi nhớ hầu như từng phút một về quãng thời gian khổ sở bên Albert Hodge.
Buổi sáng hôm đó lưu lại trong đầu tôi như một cuốn tiểu thuyết hình ảnh, các tấm hình ấy kể lại câu chuyện bằng những đường nét đen trắng và những vệt màu sắc tung tóe đang gầm thét bên ngoài các vạch kẻ. Góc quan sát chuyển từ hình ảnh kẻ tấn công cởi quần và cưỡng ép tôi sang hình ảnh mà tôi biết đáng ra tôi phải nhìn hắn. Tôi thấy gương mặt tôi đông cứng lại vì sợ. Tôi vượt lên trên cảnh tượng ấy và quan sát mọi thứ như một người ngoài cuộc.
Chuyện đó không xảy ra với tôi.
Vậy mà nó lại đã xảy ra.
Nghĩ ngợi và nằm mơ về những gì đã xảy ra là những trải nghiệm khác xa so với bộc bạch bằng lời về những điều ám ảnh bạn. Khi kể cho ai đó, bạn sẽ khóc, run rẩy và kiệt quệ. Bạn cố tìm kiếm sự an ủi. Khi không chia sẻ mà chỉ nghĩ đến nó, bạn sẽ sụp đổ.
Tôi không thừa nhận điều đó với bất kỳ ai. Kể cả khi họ hỏi. Tôi kín tiếng như vậy đấy. Sự thật là tôi từng tham gia tư vấn tâm lý, cả đống tâm lý trị liệu nữa. Tôi chắc chắn chúng có ích cho những người khác, và tôi cho rằng mọi con đường chữa bệnh đều là một chuyện đúng đắn. Việc không nói về nó và giả bộ là mình không nhớ gì chính là con đường mà tôi chọn. Đó là quyền của tôi. Mọi người tùy chọn cách đối xử với những việc đã kết thúc. Tôi chọn đậy kín lại, ném nó ra một chỗ, vượt qua và tiếp tục sống. Tôi làm thế vì quá xấu hổ với sai lầm ngu ngốc mà tôi mắc phải. Bác sĩ trị liệu sẽ can thiệp ngay lập tức và làm gián đoạn luồng suy nghĩ đó để nhắc nhở rằng tôi đã là một đứa trẻ và bị biến thành nạn nhân. Rằng tôi không có lỗi về những điều đã xảy ra với tôi. Rằng những gì Albert Hodge đã làm đều là hành động xuất phát từ phía hắn, không phải xuất phát từ phía tôi.
Họ nói như vậy cũng chẳng sao. Họ cảm thấy tốt hơn khi nói vậy. Tôi không tức giận với họ.
Chỉ tức giận với tôi thôi.
Mẹ và tôi đã tranh cãi vào buổi sáng hôm đó trước khi tôi tới trường. Tôi đã vẽ chút mascara và với tôi đó là một vệt phấn mắt tinh tế. Tôi chỉ nghịch chút thôi. Không phải vì tôi muốn mình nhìn trưởng thành hơn, hấp dẫn hơn, thu hút sự chú ý hơn. Thành thực mà nói, tôi chỉ là một cô bé lần đầu thử trang điểm.
“Con vào nhà tắm ngay trước khi bố nhìn thấy con thế này,” mẹ nói.
Mặt tôi nóng bừng lên. “Con xin lỗi.”
“Con sẽ biết thế nào là lỗi nếu bố nhìn thấy con bây giờ. Không được trang điểm cho đến khi con mười sáu tuổi.”
“Và không được bấm lỗ tai cho đến khi con mười tám,” tôi bảo mẹ, với giọng điệu mà giờ đây tôi chắc chắn là hỗn xược.
Mẹ nhìn tôi và tôi đủ thông minh để không đứng đó và khiêu khích mẹ tôi lao vào trận cãi vã. Trên thực tế, đó không phải là một vấn đề gì lớn. Tôi đã làm theo những gì mẹ yêu cầu và tôi mừng vì bố không can thiệp vào. Phải, tôi đã xấu hổ.
Trên đường đi bộ đến trường, tôi nổi đóa lên một chút. Chỉ một chút. Đây không phải là một câu chuyện kiểu “Tôi giận mẹ và bỏ nhà ra đi”. Hoàn toàn không. Trong đầu tôi lúc đó chỉ là một màn kịch nhỏ được tôi bôi vẽ ra để có thể kể với mọi người. Tôi đã muốn bắt đầu với Charlene, nhưng cô ấy lại có cuộc hẹn với nha sĩ.
Vì thế, đúng, tôi đã tranh cãi với mẹ về việc trang điểm. Có lẽ chuyện đó đã tác động tiêu cực lên tôi. Có lẽ nó đã khiến tôi cảm thấy tủi thân. Dù nghĩ về chuyện đó rất nhiều trong những năm sau đấy, tôi vẫn không cảm thấy chắc chắn lắm. Đôi khi cảm giác chắc chắn về điều gì đó là bất khả thi.
Tôi thương mẹ đến mức tôi chưa bao giờ kể cho mẹ toàn bộ sự việc xảy ra. Tôi biết, nếu mẹ nghĩ rằng cuộc tranh cãi nhỏ của chúng tôi đã góp phần vào cái điều tôi đã làm, điều đó sẽ giết chết bà ấy.
Sự thật là Albert Hodge không hề dụ dỗ tôi bằng những chú mèo con, sau đó khống chế tôi. Tôi đã tự mình vào trong xe của hắn ta. Ngu xuẩn. Ngu xuẩn vô cùng. Thật không thể tin được tôi lại có thể ngu xuẩn đến mức ấy.
“Anh bị lạc đường,” Albert nói, chỉ tay vào tờ báo của hắn.
“Vâng,” tôi nói, “anh đang ở nhầm khu phía bên này của thị trấn. Anh phải quay lại và đi đường bên kia.”
“Mẹ kiếp!” hắn nói. “Xin lỗi, anh nói nhầm.”
“Không sao,” tôi bảo hắn.
“Anh là Al.”
“Em là Lee.”
Hắn quay trở lại nhìn tờ báo rồi lộ vẻ bối rối. “Chắc chắn là ở bên kia thị trấn hả? Giờ thì anh thực sự mất phương hướng luôn rồi.”
Hắn chỉ lớn tuổi hơn anh trai tôi một chút. Quá trẻ để sở hữu một chiếc ô tô giống như cái thuyền to đùng màu xanh da trời.
Và rồi tôi nói điều đó. Tôi không biết là tại sao.
“Em có thể chỉ cho anh chỗ rẽ nằm ở đâu. Nó nằm trên đường đến trường của em.”
Và tôi đã lên xe.
Sự thực là thế. Cửa xe khóa lại. Hodge vươn sang ghế ngồi bên cạnh và giơ nắm tay được bọc trong mảnh vải đã được nhúng vào một thứ mà sau này cảnh sát nói là chloroform, mặc dù tại thời điểm đó nó gợi tôi nghĩ đến hơi thở đậm mùi Vodka của dì Martina.
Trong cuốn tiểu thuyết hình ảnh trong đầu tôi, dì Martina đang ở trong một khung hình, cầm ly rượu Martini và huơ huơ ngón tay không đồng ý về phía tôi.
Tôi không nhớ được một vài phần của vụ việc. Tôi bị mất chút ký ức, không quá nhiều đến mức không nhớ được là hắn đã xé quần áo tôi như thế nào trong bãi đất trống, hoặc hắn đã ấn tôi xuống và cưỡng ép tôi như thế nào. Tôi đã bị sốc. Tôi nhớ là có một con bướm giáp đỏ chấp chới phía trên và tôi ước mình có thể bay lượn biết bao. Hắn cưỡng hiếp tôi. Bóp cổ tôi. Hắn thì thầm vào tai tôi những điều mà vẫn còn văng vẳng bên tai tôi đến tận hôm nay.
“Em thật là một cô bé ngoan,” hắn lặp đi lặp lại nhiều lần. “Em thích thế này, đúng không?”
Tôi không hề, dĩ nhiên rồi. Mặt của hắn cứ đỏ dần và đỏ dần lên. Tôi nghĩ hắn có thể bị đau tim. Mong là hắn sẽ bị. Cầu Chúa lắng nghe tôi và đánh chết hắn ta. Tôi chưa bao giờ đổ lỗi cho Chúa vì đã không thực hiện điều ước ở bãi đất trống đó. Tôi biết là mình sẽ không phải ở đó nếu không bước vào xe của hắn.
Sự tin tưởng và ngu ngốc luôn song hành. Dĩ nhiên, không ai thực sự biết được điều đó cho đến khi quá muộn.
Hai giờ sau khi Coyle gọi cho tôi, Montrose xác nhận rằng đối tượng quan tâm của chúng tôi đã tới gặp một nhân viên y tế theo kiểu nào đó ở Centralia, một thị trấn nhỏ ở giữa hai tiểu bang và khá nổi tiếng với những trung tâm bán buôn.
Và, tôi đoán là ở đó cũng nổi tiếng về cả phương pháp điều trị thay thế nữa.
“Một gã lang băm,” ông ấy nói. “Một gã lang băm chu đáo. Gã ấy nói Coyle đăng ký ở đó để được truyền dịch một loại thảo dược nào đó qua đêm vào hôm thứ Sáu trước khi Sophie Warner bị bắt cóc. Chú ý này, Lee. Việc điều trị thường là ở Super 8, nhưng họ không cho vật nuôi vào, thế nên Coyle và con chó mà không ai chịu nổi đó của hắn đã ở tại nhà nghỉ Bellflower. Gã lang băm quay phim lại toàn bộ việc điều trị, gã nói thế và rất sẵn lòng cho chúng ta xem phần ghi hình của Coyle mà không quan tâm đến luật bảo mật thông tin y tế. Tôi bảo là chắc chắn rồi, hãy gửi cho tôi vài đoạn phim đi. Gã nói là Coyle không hề ra khỏi cửa cho đến buổi trưa ngày thứ Bảy. Giả sử mấy đoạn phim đó là chính xác, thì tôi cho rằng hắn không phải là đối tượng của chúng ta đâu.”
Tôi muốn hỏi han về các vấn đề sức khỏe của Montrose. Có vẻ như tôi đã có cơ hội nhưng tôi không làm thế. Montrose không phải kiểu đàn ông thích nói về chuyện của mình. Tôi cũng không thích nói chuyện về chính tôi.
Chúng tôi vẫn thấy thoải mái theo cách đó.
“Chúng ta cần tìm ra anh ta,” tôi nói. “Anh ta có khuynh hướng tự sát.”
“Chúng ta không thể cứu tất cả mọi người, Lee ạ.”
Tôi mà lại không biết điều đó sao?