Tôi ngồi ở bàn làm việc và để lại thư thoại cho Adam sau vài lần gọi điện nhưng bất thành. Tôi đáng ra có thể đợi đến lúc gặp anh ở căn nhà gỗ nhưng tôi thấy hơi sai nếu cứ giữ kín tin tức như thế. Và tôi muốn anh biết là tôi không bao giờ nghĩ rằng anh có liên quan, rằng tôi biết là anh vô tội ngay từ giây phút thấy anh bên khu bờ chắn bê tông ở căn nhà gỗ tại Hood Canal.
Tôi chuyển tới anh thông tin về chuyện khớp DNA và bắt giữ Connor Moss ở Seattle. Tôi cẩn trọng về ngữ điệu của mình. Tôi phấn chấn, tất nhiên rồi. Nhưng người đàn ông mà tôi đang gọi điện đã phải chịu đựng nhiều loại đau thương kể từ khi mọi chuyện xảy ra. Niềm vui và sự nhẹ nhõm không hề giống nhau.
“Em rất tiếc về những chuyện mà anh phải trải qua kể từ khi Sophie bị bắt cóc. Em rất tiếc về tất cả điều đó. Em mong anh và Aubrey vẫn ổn. Em mong sớm gặp lại anh.”
Tôi nhìn ra cửa sổ. Cây mận đã mọc kín lá. Những chiếc lá xanh được tô thêm chút màu đồng từ sức nóng của mùa hè. Cái cây. Những cành cây. Sẽ luôn có sợi dây liên kết giữa tôi và Adam kể từ ngày anh ấy tìm thấy tôi. Tôi biết nếu lúc này thể hiện cảm tình với anh ấy, cảm xúc đó sẽ bị đặt sai chỗ. Tôi là một cô bé Shelton. Cậu bé từng ở Shelton giờ đây đang ở Seattle tạo dựng cuộc đời mới cho chính mình.
Tôi với lấy cốc cà phê.
“Cô đói không?”
Đó là Montrose.
“Có,” tôi nói, đặt cái cốc xuống. “Ông lái nhé.”
Ông ấy gật đầu và chúng tôi đi ra xe ô tô của ông và lái xuống phố Số Bốn tới một nhà hàng Mexico mà tôi vẫn muốn ăn thử kể từ khi nó khai trương vào dịp cuối tuần lễ Chiến sĩ trận vong.
Tôi để ý đến tay ông ấy.
“Tay ông đỡ run hơn rồi,” tôi nói.
Ông ấy mỉm cười.
“Ừ,” ông ấy đáp. “Thuốc mới. Không thể hoàn toàn ngăn sự tiến triển của nó, nhưng chúng tôi đang làm hết sức để khiến quá trình chậm lại. Cô biết chuyện lâu chưa?”
“Mới đây thôi,” tôi trả lời ông ấy.
Ông ấy không nhắc tôi là đừng kể cho ai khác.
Ông ấy biết là có thể tin tưởng tôi.
Sau cùng thì, lòng tin là tất cả.
Tôi không biết tại sao nhưng tôi quyết định mặc chiếc váy mới, mua từ cửa hàng trực tuyến Anthropologie ngay trước vụ Warner. Tôi không phải kiểu người thích chạy theo trào lưu. Ở Shelton, tôi không cần phải thế. Chiếc váy làm bằng chất liệu cotton với họa tiết in hoa xinh xắn, hiện đại. Hoàn toàn không phải là loại váy của các bà lão. Tôi đã thấy Chrissy Teigen mặc một thứ tương tự trên Instagram. Tôi thậm chí không cho phép mình nghĩ rằng đây là một lựa chọn mang phong cách gợi cảm, bởi vì đó không phải là thông điệp mà tôi muốn gửi tới bất cứ ai. Sự thật là tôi hiếm khi cảm thấy mình gợi cảm. Tôi nhìn không tệ nhưng cũng không phải kiểu lộng lẫy. Tôi làm tốt nhất trong khả năng của mình. Tôi luyện tập, ăn uống hợp lý. Lớp trang điểm của tôi nhẹ nhàng và chuyên nghiệp trong suốt cả tuần làm việc. Vào cuối tuần, tôi thường không trang điểm.
Tuy nhiên, hôm nay tôi có trang điểm. Đây không phải là buổi liên hoan. Connor Moss vẫn chưa bước vào quá trình xét xử. Nhưng dẫu vậy, tôi cảm thấy rằng việc bắt giữ hắn ta sẽ giúp Adam chữa lành vết thương.
Hắn ta sẽ phải đối diện với công lý, điều mà tôi không thể làm với Albert Hodge.
Tôi nhìn chằm chằm vào mình trong gương chiếu hậu khi lùi ô tô ra khỏi lối ra vào để lái xe lên các căn nhà gỗ gần Octopus Hole. Tôi nhìn khá tuyệt. Tôi chỉ tự hỏi là tại sao lại thế. Trong lúc lái xe, tôi lắng nghe bản nhạc đồng quê và những câu chuyện dại khờ về tình yêu, mất mát, và những chiếc xe bán tải trên những con đường đất. Ánh Mặt Trời lung linh trên mặt nước của Hood Canal và tôi đeo kính râm lên. Tôi biết Adam Warner không phải là kẻ sát nhân. DNA tìm thấy trong người Sophie đã chứng minh cho điều đó. Montrose và tôi chỉ làm công việc của mình khi thẩm vấn anh ấy, nhưng giờ đây tôi nhận ra cái giá của sự cần cù đôi khi là một tình bạn quan trọng.
Khi dừng lại để đỗ xe, tôi trông thấy Adam đang trên thuyền. Anh ấy đang ở cách bờ khoảng bốn, năm mươi mét, ngay liền kề một cụm phao neo màu trắng. Tôi đi tới khu bờ chắn nơi người ta nhìn thấy Sophie còn sống lần cuối cùng và nghĩ tới việc cô ấy đứng đó nhìn về phía chồng mình như thế nào. Anh ấy không có vẻ gì là đã nhìn thấy tôi, vì thế tôi ngồi xuống và quan sát.
Tôi nhận ra là anh ấy đã quyết định không đợi, Adam đang đổ tro của cô ấy xuống vịnh. Với tôi thì chuyện đó cũng không sao cả. Một cơn gió nhẹ đưa chút bụi bay xa hơn và rơi trên mặt nước phẳng như một tấm kính, trong khi phần lớn những thứ từ chiếc bình đựng tro đổ ào xuống nước. Cảnh tượng này khiến nước mắt trào dâng. Tôi không thể tưởng tượng được một khoảnh khắc nào cô đơn hơn, riêng tư hơn là lời tạm biệt mà anh ấy đang trải qua vào lúc này. Tôi cảm thấy như mình đang nhìn thấy một điều mà ta biết là không nên thấy. Anh ấy nhìn lên chỗ tôi và tôi vẫy nhẹ tay.
Adam đã thực hiện xong khoảnh khắc thiêng liêng cuối cùng ấy với người vợ bị sát hại của mình và bắt đầu chèo thuyền về hướng của tôi.
“Này,” anh ấy gọi tôi, bước từ con thuyền xuống vùng nước nông dọc bờ biển.
“Em xin lỗi,” tôi nói. “Em cảm giác như mình đang đột nhập vào thế giới riêng của anh vậy.”
Anh ấy nở một nụ cười buồn. Nụ cười giúp tôi thấy thoải mái hơn, nhưng tôi biết là nó không thật. Anh ấy cảm thấy tan nát vì sự mất mát đó. Đôi mắt không thể nói dối.
“Không sao đâu,” anh ấy nói, đặt chiếc bình đựng tro bằng nhôm lên bãi biển. “Anh đã muốn em ở đây. Anh hầu như không còn ai bên cạnh vào lúc này. Không có một người bạn nào thực sự hiểu.”
“Anh còn một cô con gái,” tôi nhắc anh ấy.
Anh ấy kéo chiếc thuyền tới vị trí cố định của nó trên một đám lũa và nhặt chiếc bình đựng tro mà giờ đây đã rỗng không.
“Ừ,” anh ấy nói. “Anh có con gái.”
“Bọn em đã bắt được hắn, Adam. Hắn sẽ phải vào tù.”
“Kẻ sát hại cô ấy đã ở đây vào cuối tuần đó,” anh ấy nói. “Không phải là một tên biến thái nào đó lái xe ngang qua đây hay theo đuôi cô ấy ở IGA. Ngay tại đây, cách đây hai căn nhà gỗ.”
“Em biết. DNA đóng vai trò quyết định.”
“Anh muốn gặp thằng khốn đó. Anh muốn giết chết hắn.”
“Hắn sẽ phải vào tù. Đấy là cách để giải quyết mọi chuyện.” Adam nhún vai một chút và tôi đi theo anh lên căn nhà gỗ. Anh ấy mời tôi uống trà đá hoặc bia.
“Có lẽ để sau đi,” tôi nói.
Chúng tôi nhìn mặt nước một lúc lâu. Mới đầu, chúng tôi không nói chuyện gì quan trọng, cũng không nói thêm gì về Connor. Chuyện đó quá ghê tởm. Thay vào đó, chúng tôi ngồi quan sát những chú chim đang sải cánh. Những người chèo thuyền kayak quanh cái vịnh nhỏ. Tiếng cười từ những đứa trẻ trong căn nhà gỗ bên cạnh, chúng đang đu đưa tập thể dục cho cái xích đu, phá vỡ sự thanh bình trong khoảnh khắc này. Nhưng theo hướng tích cực, âm thanh đó tràn đầy năng lượng. Hôm nay là một ngày nắng đẹp. Nếu phải chọn một nơi trên thế giới, tôi sẽ chọn chính chỗ này. Nếu có thể thay đổi toàn bộ những sự việc đã đưa tôi đến đây, tôi cũng sẽ làm.
“Em đói không?” anh ấy hỏi.
Tôi chưa ăn gì từ sáng đến giờ nên căn bản là tôi đói meo.
“Em có thể ăn thứ gì đó,” tôi nói.
Anh ấy đứng dậy. “Chúng ta tới Hama Hama đi.”
“Nghe hay đấy,” tôi bảo anh ấy. “Lâu lắm rồi em chưa đến đó.”
Chúng tôi cùng đi ra xe ô tô của anh và chiếc ghế xe trống không khiến tôi nghĩ về cô con gái nhỏ của anh. “Có phải Aubrey đang ở cùng bố mẹ Sophie không?”
Adam liếc sang và lắc đầu. “Không. Bảo mẫu đang trông con bé. Anh không muốn dính vào màn kịch của Frank và Helen vào một ngày thế này.”
“Quán rượu hàu” của Công ty Hama Hama là địa điểm hay được lui tới ở phía Bắc Lilliwaup trong hàng thập kỷ. Nó không hề được trang hoàng lộng lẫy, nhưng có nét riêng. Những người cần một nơi để ăn hàu ở địa phương sẽ ngồi lẫn với du khách đến từ ngoài thị trấn, cũng là những người đã biến nơi này thành địa điểm bắt buộc phải đến trong mọi hành trình đến Hood Canal. Adam và tôi gọi hai món hàu, áp chảo và nướng cả vỏ. Tôi không hâm mộ món hàu, nhưng trong một vài hoàn cảnh thì không còn gì tuyệt vời hơn một cốc bia lạnh và vài con hàu thật tươi.
Chúng tôi ngồi đối diện nhau bên chiếc bàn ăn dã ngoại. Chúng tôi không nói về vụ án như thể không có vụ án nào vậy. Chúng tôi nói về gia đình anh ấy và gia đình tôi. Chúng tôi cười đùa khi nhớ lại vài chuyện từng làm để giết thời gian ở Shelton hồi còn nhỏ.
“Em có tin nổi là bọn mình từng chơi trò đá lon không?” anh ấy nói.
“Đúng đấy,” tôi nói. “Hồi đó là thập niên chín mươi, nhưng Shelton thì vẫn như mắc kẹt ở những năm bốn mươi.”
Anh ấy hỏi tôi có đang hẹn hò với ai không. Đấy không phải là một câu hỏi biến thái. Mà chỉ là hệ quả của việc chúng tôi không biết nhiều lắm về đời sống của nhau sau khi anh ấy rời thị trấn.
“Lúc này không hợp lắm,” tôi bảo anh ấy. “Em hẹn hò với một anh chàng mà em gặp ở học viện tại Burien, nhưng mọi chuyện không đi tới đâu. Anh ấy nhận một công việc ở Mesa và em thì lại không hợp với khí hậu nóng nực ở đấy.”
“Một cô gái Tây Bắc Thái Bình Dương thực thụ.”
Tôi uống thêm bia. “Chính là em.”
Anh ấy nói về việc thay đổi công việc và anh đã gửi hồ sơ xin việc đến vài công ty nhưng vẫn chưa có tin tức gì. “Anh sắp hết tiền mặt rồi,” anh ấy nói. “Anh ghét phải rút bớt khoản tiền tiết kiệm hơn bốn trăm nghìn đô-la ra, nhưng có khả năng phải thế thôi.”
Tôi biết có khoản bảo hiểm nhân thọ ở Starbucks, nhưng tôi hình dung ra được tiền bạc ra đi rất nhanh khi bạn sống ở thành phố và thuê dịch vụ chăm sóc con cái và những khoản chi phí khác nữa.
“Em đoán là một vị trí cấp cao sẽ khó tìm hơn,” tôi nói.
Anh ấy gật đầu. “Khó mà tìm được một công việc phù hợp.”
Mặt Trời đang xuống thấp khi chúng tôi quay lại xe ô tô. Tôi cảm nhận được bia đã bắt đầu ngấm. Sẽ phải mất một lúc trước khi tôi có thể lái xe về Shelton.
“Em thấy mừng vì đã lên đây gặp anh,” tôi nói trong lúc chúng tôi đi qua cây cầu Lilliwaup.
“Anh cũng vậy, Lee. Có lẽ điều tốt đẹp duy nhất về toàn bộ những chuyện xảy ra chính là được gặp lại em.”
“Em rất tiếc về tất cả những chuyện mà anh và Aubrey đã trải qua.”
“Cảm ơn em,” anh ấy nói.
“Không, em thực sự cảm thấy thế.”
“Anh biết mà.”
Khi về tới Hoa Tử Đằng, chúng tôi lại ngồi trên chiếc ghế Adirondacks ở sàn phía trước của căn nhà. Tâm trạng tôi đã khác. Làn gió nhẹ đã ngừng thổi. Những đứa trẻ ở căn nhà bên cạnh không còn ở chỗ xích đu nữa. Sự im lặng bao trùm không gian. Chỉ có Adam và tôi đang ở đây.
“Em không nghĩ là mình nên lái xe,” tôi nói.
“Không sao cả. Hãy cứ ngồi ở đây thôi.”