Connor hé mở câu chuyện của mình về cách mà anh ta và Sophie gặp gỡ và trở thành tình nhân, tôi không nhìn ra bất kỳ sự xảo trá nào. Anh ta đã yêu cô ấy là chuyện không thể phủ nhận. Tôi tin vào câu chuyện của anh ta, rằng anh ta không thực sự biết chuyện gì đã xảy ra với Sophie, rằng anh ta không có ký ức gì về việc đó, nếu có, anh ta đã làm sau khi tới căn nhà gỗ. Tôi từng phải nghe lời nói dối từ những kẻ giỏi nhất và tệ nhất. Trực giác phát hiện nói dối của tôi gần như không bao giờ làm tôi thất vọng.
Kể cả vậy, những cơn sóng ngầm ghen tuông có thể là một con thác Niagara ẩn mình. Cho thêm một chút rượu vào trong hỗn hợp này và hoàn toàn có khả năng một vụ nổ đã xảy ra mà anh ta không thể nhớ ra.
“Anh chỉ gặp Aubrey một lần thôi sao?” tôi hỏi.
“Khi con bé còn nhỏ,” anh ta nói. “Phải, một lần đó thôi.”
“Anh và Sophie có liên lạc sau đó không?”
“Không một lần nào. Không gọi điện. Không email. Không tin nhắn.”
“Anh có theo dõi cô ấy không?” tôi hỏi.
Anh ta đẩy người lùi lại phía sau bàn. “Nghiêm túc sao? Không. Tôi không hề. Khi cô ấy nói là mọi chuyện qua rồi, tôi đã chấp nhận chuyện đó. Khi cô ấy nói là cô ấy muốn tôi gặp đứa trẻ, tôi đồng ý. Tôi chưa bao giờ chủ động liên lạc cả.”
“Connor,” tôi nói, “tôi không biết là tôi có thể giúp anh như thế nào hay tôi có nên giúp anh không. Tôi tin là anh không nhớ những gì đã xảy ra.”
“Một chút an ủi, nhưng cảm ơn, thưa thám tử. Tôi rất cảm kích vì có ai đó tin tôi.”
“Anh không cô đơn,” tôi nhắc anh ta. “Anh có Kristen.”
“Tôi đã có Kristen,” anh ta nói. “Chúng tôi sắp ly dị. Đó là điều tốt nhất. Cô ấy không thể chờ đợi được và thực sự thì không thể kháng cáo nếu như ta nhận tội, như tôi đã làm.”
“Tôi rất tiếc,” tôi nói. Và tôi thực sự thấy tiếc.
Anh ta dán chặt mắt xuống dưới. “Tôi cũng thế. Tôi thực sự đã phá nát cuộc đời tôi. Tôi đã kéo cô ấy xuống và giờ có lẽ cô ấy đã có cơ hội tìm kiếm hạnh phúc. Tôi mong cô ấy tìm được nó. Cô ấy thực sự là một người tốt.”
Tôi nghĩ tới việc Kristen trông đã sốc như thế nào khi chồng cô bị bắt giữ, khi cô ấy đứng đó ở ngay phía trước nhà mình trong bộ quần áo đi làm. Cô ấy vừa xinh đẹp vừa mạnh mẽ. Tôi cảm thấy tiếc cho cô ấy. Tôi biết cô ấy là luật sư - cô ấy nhắc cho tất cả mọi người biết điều đó - và cái nghề đó phải dựa vào việc giữ cho cảm xúc của mình tránh khỏi những tình huống tồi tệ nhất.
“Chuyện này không thể xảy ra được,” Kristen nói khi chúng tôi đến bắt Connor theo lệnh bắt giữ liên quan tới vụ sát hại Sophie. “Không phải là chồng tôi. Không phải là Connor của tôi. Anh ấy chẳng bao giờ làm hại ai, thậm chí cả một con ruồi.”
Cô ấy vẫn gắn bó với anh xuyên suốt quá trình mà chắc chắn là sự nhục nhã một cách đau đớn đối với một nhân viên tòa án khi đã kết hôn với một kẻ bị buộc tội giết người. Ti vi, báo chí và những trang nhất báo trực tuyến ồ ạt như một cơn bão tồi tệ nhất trong lịch sử Seattle, về sau, Kristen bổ sung luận điểm chống lại chồng mình bằng cách tiết lộ mối nghi ngờ của cô ấy về chuyện ngoại tình.
“Tôi đã không hề biết là anh ta đang gặp gỡ Sophie warner,” cô ấy nói với phóng viên truyền hình Linda London trong một cuộc phỏng vấn được phát sóng trước khi diễn ra thỏa thuận nhận tội của anh ta, “nhưng giờ mọi chuyện đã sáng tỏ. Đó là lý do chúng tôi tới căn nhà gỗ. Tôi đã muốn đi một nơi khác, nhưng anh ta nài nỉ mãi. Tôi không biết là có phải anh ta đã lên kế hoạch gặp cô ta không.”
Khi ngồi đối diện với anh ta trong phòng thẩm vấn ở nhà tù lạnh lẽo ấy, tôi bảo với anh ta rằng tôi không biết nên nói gì. “Axel Bakker đã nhìn thấy sự việc, Connor. Anh không thể hủy bỏ lời khai nhân chứng của ông ấy. Một người phụ nữ bị bắt cóc ngay giữa ban ngày ban mặt khi mà chồng cô ấy và con gái đang chèo thuyền bắt cua.”
“Tôi biết,” anh ta nói, “nhưng ông ấy không hề thấy tôi. Tôi đang mê man trong căn nhà gỗ của chúng tôi. Đáng ra chúng tôi phải là người ra ngoài bắt cua. Chúng tôi có rổ ở trong cốp xe. Nhưng tôi đã làm đảo lộn hết và phá hỏng nó.” Anh ta lắc đầu khổ sở. “Dù đằng nào chúng tôi cũng chẳng thể đi được.”
“Tại sao thế?”
“Phát hiện ra hôm Chủ Nhật khi chúng tôi thử đi bắt. Hóa ra việc bắt cua bị cấm cho đến tháng Sáu gì đó. Biển báo to đùng trên tất cả mấy cái thuyền nhỏ đi kèm với căn nhà gỗ.”
“Nhưng Adam Warner và con gái nhỏ của anh ấy đã đi bắt cua,” tôi nói.
Anh ta chỉ nhún vai. “Bắt cua trái phép,” anh ta trả lời. “Cách tuyệt vời để bị phạt một khoản tiền lớn. Người ta làm chuyện này nghiêm túc ở khu vực sông Sound.”
Tôi gật đầu, biết rằng điều này là đúng. Tôi hình dung ra cảnh Adam phớt lờ tấm biển báo trên thuyền, cứ thế đặt Aubrey và cái rổ bắt cua lên thuyền.
“Tôi cần phải đi rồi,” tôi bảo Connor.
“Vậy thì cuối cùng cô có giúp tôi không?” anh ta hỏi.
“Tôi không biết tôi có thể không,” tôi nói, đứng dậy và gõ vào mặt kính để gọi lính canh trại giam.
“Cảm ơn,” anh ta nói. “Cảm ơn vì đã gặp tôi. Tôi muốn cô biết rằng nếu một lúc nào đó tôi được ra khỏi đây, tôi sẽ đấu tranh với Adam Warner để giành quyền nuôi con hoặc thăm nom. Aubrey là con tôi.”
“Anh không hề biết chắc về điều đó,” tôi nói.
“Tôi có biết chứ,” anh ta đáp lại. “Tôi hiểu Sophie hơn ai hết. Cô ấy lừa tôi khi nói rằng cô ấy nghĩ đó có thể là con của Adam. Tôi biết điều đó mà không cần nghi ngờ chút nào. Khi nhìn vào mắt Aubrey, tôi thấy đôi mắt của chính mình.”
Tôi đứng trên khu bờ chắn và nhìn xuống ba chiếc thuyền nhỏ gắn liền với ba căn nhà gỗ ở ngay phía Nam của Octopus Hole - tự hỏi xem tại sao tôi lại vội vã tới đây. Có điều gì đó liên quan tới việc bắt cua và những chiếc thuyền nhỏ này, mỗi cái đều đang bị xích vào bến tàu và mỗi cái lại trưng ra tấm biển tuyên bố việc dừng đánh bắt cua.
Ấy vậy mà Adam và Aubrey vẫn đi ra đó. Và Adam, khi nhìn thấy vợ mình bị tấn công, sau đó liền chèo thuyền như một kẻ điên về bờ để cứu cô ấy. Vứt cái thuyền nhỏ của mình lên trên bãi cát, kéo mạnh con gái mình ra khỏi đó và bắt đầu đi tìm vợ, hét lên nhờ trợ giúp, để lại Aubrey với một người phụ nữ lớn tuổi tốt bụng ở đó và điên cuồng lao lên những bụi cây.
Chiếc thuyền nhỏ vẫn còn ở đấy lúc Montrose và tôi tới nơi, bị mắc cạn nằm nghiêng trên bãi cát nơi mà Adam bỏ nó lại.
Chiếc thuyền nhỏ, hoàn toàn trống rỗng đó, không hề có một cái rổ cua nào.
Có phải là nó không? Có phải nó chính là thứ khiến tôi hộc tốc trở lại nơi này không? Việc bắt cua đã bị cấm vào cuối tuần ấy và thuyền của Adam cũng không hề chứa cái rổ nào. Có lẽ anh ấy chỉ vừa vứt mấy cái rổ trái luật ấy xuống dòng nước khi thấy Sophie bị tấn công.
Như một kẻ ngốc, tôi rà lại vùng nước để tìm dấu vết của rổ cua, như thể chúng vẫn ở đây sau gần ba tháng vậy.
Tôi thở dài và quay người lại. Đôi mắt tôi dừng lại trên căn nhà gỗ to lớn màu xám, nơi mà Sophie Warner đã trải qua đêm cuối cùng của cô ấy trên Trái Đất. Các bậc thang chạy theo một đường thẳng tới đập ngăn nước biển và xuyên qua con đường mòn dẫn đến cửa trước của Hoa Tử Đằng, bị che khuất đi đằng sau cây tuyết tùng già to lớn. Tôi nhìn lướt qua căn nhà gỗ ở giữa, nơi mà Teresa Dibley và các cháu của bà đã ngủ - và nghĩ về cái cách những đứa trẻ thức dậy lúc nửa đêm và thằng bé đã nghe thấy tiếng gì đó. Cuối cùng, tôi chuyển sự chú ý của mình sang hướng Hoa Huệ Tây. Gia đình nhà Moss đã tới đó muộn vào đêm trước đó.
Thủy triều đã rút, vì thế tôi bước bộ qua đám vỏ hàu và đá cuội, ra xa hơn để quan sát tất cả.
Tôi không biết là mình đang tìm kiếm điều gì cho tới khi nhìn thấy nó.
Một vết lõm mờ nhạt chạy ngang qua bãi cỏ từ Hoa Tử Đằng tới Hoa Cúc và từ Hoa Cúc tới Hoa Huệ Tây. Một đường dẫn nước ngầm chăng? Không, mỗi căn nhà gỗ có một cái giếng riêng. Điện, tôi biết là nó đến từ con đường phía bên trên. Sẽ không có nghĩa lý gì khi để đường dẫn chất thải chạy từ căn nhà gỗ này sang căn nhà gỗ khác. Các mảng cỏ xanh tươi chỉ ra rằng có các hệ thống xử lý chất thải riêng biệt cho các đường ống xả thải.
Tôi còn nhớ mã số hộp khóa cửa của Hoa Tử Đằng, dãy “1234” vô cùng thiếu an toàn và khôn ngoan mà tôi nhìn thấy Adam bấm vào khi chúng tôi quay lại từ Quán rượu Hàu Hama Hama.
Dưới bãi biển, tôi thấy có một người bố và hai cậu con trai đang lật các tảng đá lên để tìm cua. Tôi có cảm giác như mình đang làm điều tương tự vậy.
Mặc dù không có chiếc xe nào trong bãi đậu, tôi vẫn gõ cửa trước khi xoay mã số trên ổ khóa. Không có ai đáp lại. Có vẻ như nhân viên dịch vụ dọn phòng vừa rời đi. Sàn nhà bếp vẫn còn ẩm. Một bó hoa cánh bướm to đùng được buộc lỏng đang chễm chệ trên bàn ăn. Nó, giống như hoa phi yến và cúc họa mi, làm tôi nhớ đến mẹ mình. Bà ấy yêu màu xanh dương và trắng.
Tôi nghĩ thêm về việc làm sao mà nhà Warner và nhà Moss cuối cùng lại tới Octopus Hole trong dịp cuối tuần dài và chết chóc đó của lễ Chiến sĩ trận vong. Việc đó là có chủ đích, dĩ nhiên rồi. Giả định từ trước đến nay là Connor đã theo dõi Sophie trên Facebook, cô ấy đã đăng lên đó kế hoạch cuối tuần của họ: “Adam và tôi đang tới Octopus Hole #CuốiTuầnLễChiếnSĩTrậnVong.” Kristen đã nói rằng chồng cô ấy khăng khăng muốn tới đó.
Nhưng thực tế thì đây là nơi quen thuộc của cô ấy.
Cô ấy đã đến đây nhiều năm cùng gia đình.
Cô ấy biết lịch sử của các căn nhà gỗ.
Nhưng Adam cũng vậy.
Tôi nghĩ về cái đêm mà tôi ở lại đây. Tôi thật ngu ngốc. Say rượu và mê đắm trong ký ức về một cậu bé đã tìm thấy tôi. Anh ấy kể cho tôi về những tay buôn lậu rượu ở Hood Canal trong thời kỳ cấm rượu; cái cách mà căn nhà gỗ này đã trở thành nơi bán rượu trái phép.
“Mỗi khi có nhân viên chính phủ đến gọi,” anh ấy bảo tôi, “họ sẽ di chuyển tủ sách để nó che lấp rượu mạnh đi, để lộ ra loại đồ uống mà chỉ có trẻ con muốn uống. Rất nhiều người ở đây thời kỳ đó để che giấu rượu.”
“Hood Canal là một nơi tốt để biến mất vào thời đó,” tôi nói. “Họ không bao giờ dạy điều đó ở trường.”
Tôi nhớ Adam và tôi đã ngồi trong phòng tắm hơi sau khi ăn hàu và uống quá nhiều bia. Có một thứ khiến tôi thấy lạ vào lúc đó. Nó xuất hiện trong đầu tôi khi tôi quay trở lại phòng tắm hơi nhỏ ấy - cái bảng nho nhỏ kỳ lạ cạnh lò đốt. Anh ấy đã cố tình phớt lờ nó. Chuyện này không có vẻ gì khác thường vào thời điểm đó, nhưng lúc này lại khiến tôi băn khoăn. Cánh cửa khá nhỏ, nhưng không nhỏ đến thế. Nó được đóng khung bằng gỗ tuyết tùng loại thượng hạng giống như phần còn lại của không gian này. Khi tôi đẩy mạnh một cái, nó bật mở ra. Gỗ tuyết tùng chỉ là lớp bao phủ bên ngoài gỗ linh sam vân nhỏ, cũng là loại gỗ ban đầu được dùng để xây các căn nhà gỗ. Các bản lề đã bị thời gian tàn phá, nhưng những chiếc ốc vít cố định chúng thì còn mới.
Tôi mở nó ra và thò đầu vào trong. Bên trong khá tối nên tôi với lấy chiếc điện thoại của mình và bật đèn pin lên. Chùm sáng của đèn hướng xuống một vài bậc thang mòn và cũ.
Tôi bắt đầu bước xuống bậc thang.
Không gian này không lớn lắm - có lẽ cỡ một phòng ngủ nhỏ. Sàn đất, nhưng tường bằng bê tông. Khi quét chùm sáng vào bóng tối, có một thứ thu hút sự chú ý của tôi.
Một chiếc mũ rơm.
Tôi điếng người khi nghĩ về Axel Bakker. Ông ấy nói Sophie đã đội một chiếc mũ rom trước khi biến mất sau cuộc vật lộn phía trên đập ngăn nước biển. Bên cạnh chiếc mũ, tôi thấy một cái gì đó sẫm màu trên nền đất. Khi cúi người xuống, tôi bắt gặp một thứ mà tôi gần như chắc chắn đó là một vũng máu khô. Nó màu gỗ gụ. vết này đã có ở đây một thời gian nhưng không phải màu đen. Nó vẫn là màu của máu. Tôi biết phòng xét nghiệm có thể nói cho tôi là nó đã ở đây bao lâu. Tuy nhiên, tôi biết là thời gian nó có mặt ở đây không quan trọng bằng việc đây là máu của ai.
Tôi tập trung vào những thứ đã diễn ra dưới này. Vụ sát hại Sophie có kết nối thế nào với không gian này?
Kết nối.
Các căn nhà gỗ có kết nối với nhau.
Tôi mò tới một lối mở dẫn xuống một hành lang ngắn. Nó có mùi ẩm mốc, nhưng không có mạng nhện. Nước nhỏ xuống từng giọt. Qua khe hở giữa những thanh gỗ trên trần lối đi, tôi nhận ra mình đang ở dưới căn nhà gỗ nhỏ. Một ý nghĩ lướt qua đầu tôi rằng rốt cuộc bé Clark Dibley hẳn đã nghe thấy thứ gì đấy vào đêm hôm đó. Và nó không phải là tiếng đóng cửa. Nó là tiếng thi thể bị di chuyển. Những căn nhà gỗ chỉ cách nhau hai mươi mét. Một phút sau tôi đã ở dưới Hoa Huệ Tây, căn nhà gỗ cuối cùng - căn nhà mà Kristen và Connor đã thuê. Đường hầm kéo dài ra xa hơn và tôi tiếp tục đi. Tôi nhận ra là tôi không cần đến điện thoại để chiếu sáng nữa. Tôi cảm nhận được cơn gió nhè nhẹ từ bên ngoài thổi tới.
Trước mặt tôi chính là lối mở ra vùng nước của Hood Canal, bị che khuất một phần bởi lau sậy và một đám lũa lộn xộn.
Kết nối.
Connor và Kristen tới Hood Canal vào cuối tuần bởi vì cô ta muốn thế - và không phải vì cô ta muốn có một kỳ nghỉ dài cùng anh chồng bồi bàn của mình. Cô ta biết thứ gì đang nằm dưới những căn nhà gỗ. Cô ta muốn tình địch của mình biến mất.
Những mảnh ghép của bức tranh dần được hé lộ. Tôi nhận ra mình đã vô thức quay lại ô tô và đang lái xe tới Seattle.
Tôi cần nói chuyện với Adam.
Adam chào tôi bằng ánh mắt ngạc nhiên khi tôi tới. Tôi biết mình trông rối bù, nhưng tôi thực sự không để ý đến chuyện đó. Tôi đã dành cả buổi sáng để làm vườn và cả buổi chiều để bò quanh cái lối đi giữa những căn nhà gỗ ở Octopus Hole. Anh ấy đang diện đồ để ra ngoài.
“Chào,” anh nói với tôi, giả vờ ngó lơ ngoại hình của tôi. “Phải chi anh biết là em tới. Anh đã có kế hoạch khác và đáng ra đã cho chúng leo cây vì em.”
“Không sao,” tôi nói. “Em cũng không định đi chơi.”
“Có chuyện gì thế?” anh hỏi, đưa tôi vào trong nhà và dẫn đường tôi tới phòng khách. Mọi thứ tôi nhìn thấy đều như bước ra từ quyển tạp chí. Và không phải là loại tạp chí mà tôi hay theo dõi. Thời thượng. Hoàn hảo. Hoang phí.
Adam mặc chiếc áo sơ mi bằng vải lanh màu xanh da trời và giày của anh ấy lấp lánh như một cặp gương soi. Tôi cũng để ý thấy cặp kính mới toanh có gọng Prada. Tôi tự hỏi làm sao anh ấy có thể tiêu xài phóng khoáng đến như vậy.
“Anh chắc phải tìm được việc rồi,” tôi nói.
Anh ra hiệu cho tôi ngồi xuống và mời tôi đồ uống. Tôi từ chối.
“Không hề,” anh nói. “Tuy nhiên, có vài triển vọng.”
“Ra vậy,” tôi nói.
Anh ấy rót cho mình rượu Whisky pha đá. “Em không đi cả chặng đường tới đây chỉ để nói với anh là trông anh bảnh thế nào đâu nhỉ?”
Anh ấy đoán đúng rồi.
“Em không có,” tôi nói. Tôi đang tìm kiếm từ ngữ để nói với anh rằng tôi nghĩ Kristen Moss có liên quan đến vụ sát hại Sophie. Tôi nghĩ Connor đã nói dối tôi. Nhà Moss đã làm chuyện đó cùng nhau. Phải là do hai người bọn họ. Cô ta là một phụ nữ nhỏ con; không đời nào cô ta có thể vật ngã Sophie và lôi cô ấy xuống hầm chứa bên dưới căn nhà. Còn cả vấn đề DNA của anh ta nữa. Tôi tự hỏi liệu Connor có cưỡng hiếp Sophie vào cái đêm trước hôm anh ta và Kristen giết cô ấy không. Tôi có cảm giác như anh ta đã muốn nói thêm gì đó với tôi, nhưng anh ta không muốn thừa nhận tội lỗi của bản thân. Khi Kristen đâm đơn ly hôn sau khi anh ta bị bỏ tù, anh ta đã muốn làm tổn thương cô ta.
Đây rõ ràng là một khả năng.
“Em nghĩ em đã biết chuyện gì xảy ra với Sophie,” tôi nói.
Adam uống một ngụm rượu. “Chúng ta đều biết chuyện gì xảy ra với cô ấy.”
Tôi cân nhắc biểu cảm của anh ấy. Tôi phân tích con người anh ấy đằng sau cái gọng kính mới thời thượng ấy. Tôi muốn thấy phản ứng của anh trước những điều mà tôi sắp nói cho anh.
“Phải,” tôi nói. “Và không phải.”
“Câu trả lời kỳ lạ thật đấy,” anh ấy nói, nghịch những viên đá trong cốc của mình. “Em có chắc là em không cần đồ uống không?”
“Em cần,” tôi nói. “Nhưng em không nên uống. Quãng đường lái xe về khá dài.”
“Ừ,” anh ấy nói, chuyển ánh nhìn của mình trở lại chiếc cốc. “Phải rồi. Thế phần không phải kia là gì?”
“Em nghĩ Kristen có tham gia vào vụ việc,” tôi nói.
Mắt anh ấy mở to. “Mẹ kiếp! Chuyện này không nói bừa được đâu. Kristen không bao giờ làm những chuyện kiểu như vậy.”
Mọi thứ ngưng trệ ngay lúc đó. Anh ấy tỏ ra phòng thủ. Đây là một cú sốc tỉnh ngộ bất ngờ và khác thường.
“Nghe như là anh biết cô ấy,” tôi nói.
Anh ấy nhún vai một chút. “Không hẳn,” anh trả lời. “Nhưng không cần nói cũng biết là bọn anh bị ràng buộc với nhau bởi các vấn đề pháp lý. Vợ anh. Chồng cô ấy. Nó là một mớ hỗn độn mà chỉ bọn anh mới thực sự chia sẻ được với nhau.”
Tôi ngẫm nghĩ trong khoảnh khắc đó. Tôi từng nghe những câu chuyện về gia đình của nạn nhân kết bạn với gia đình của kẻ giết người.
“Vậy là hai người đang trở thành bạn bè rồi?”
“Anh đoán thế,” anh ấy nói, nhìn đồng hồ đeo tay của mình, một chiếc đồng hồ bấm giờ khổng lồ lấp lánh. “Thực ra, bọn anh định cùng ra ngoài tối nay. Cô ấy gặp phải vài vấn đề trong công việc. Liên quan tới một vụ án.”
Anh ấy đang cố tỏ ra tự nhiên. Tôi không thúc ép. Sâu thẳm bên trong, chuông báo động đang reo to dần. Tôi cố gắng tắt âm thanh đó đi. Tôi thực sự đang cố gắng.
Adam đã cứu tôi.
“Anh sẽ làm gì nếu như cô ấy có liên quan?” tôi hỏi anh ấy. “Anh sẽ nói gì khi đó?”
Adam chớp mắt. “Anh đoán là anh sẽ nói, ‘Nhốt cô ta lại và đảm bảo là cô ta không bao giờ được ra ngoài’. Nhưng cô ấy không làm thế. Cô ấy không phải là kiểu phụ nữ như thế. Cô ấy xuất sắc. Tốt bụng. Rất biết chia sẻ.”
“Nghe như là anh thích cô ấy rồi ấy.”
“Chà, thật lòng thì, Lee,” anh ấy nói, “anh không biết nhiều về cô ấy.”
Lời của anh ấy đột nhiên có cảm giác như một lời nói dối, nhưng đây là Adam Warner. Anh ấy không phải là người dối trá. Anh ấy sẽ chẳng thể nói dối ngay cả có ai đó dạy cho anh ấy.
Tôi chắc chắn về điều đó.