Kẻ Song Trùng

Lượt đọc: 4280 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
VŨ TRỤ VÔ CÙNG
ngày 26 tháng 7
1

Giấc ngủ của Ralph chờn vờn rồi vụn vỡ vì những cơn ác mộng. Trong cơn mơ, anh ôm Terry Maitland đang hấp hối trong vòng tay của mình, và Terry nói, “Anh đã cướp các con của tôi.”

Ralph giật mình tỉnh dậy lúc 4 giờ 30 và biết rằng anh sẽ không thể ngủ lại được nữa. Anh cảm thấy như thể anh đã bước vào một cõi giới rõ ràng nào đó trước đây, và tự nhủ rằng mọi người đều cảm thấy như vậy trong vài giờ ngắn ngủi vừa qua. Như vậy là đủ để kéo anh vào phòng tắm đánh răng rửa mặt.

Jeannie vẫn đang ngủ như mọi khi, chăn trùm kín đầu chỉ để lộ chút tóc trên đỉnh đâu. Tóc cô ấy đã điểm hoa râm, tóc anh cũng vậy. Không nhiều, nhưng rồi sẽ nhiều hơn. Đó là một quy luật. Thông điệp của thời gian là một bí ẩn, nhưng đó là một bí ẩn bình thường.

Gió từ máy điều hòa không khí đã làm một số trang giấy mà Jeannie đã in ra tối qua bay xuống sàn. Anh nhặt chúng lên và xếp lại trên bàn làm việc, sau đó nhặt chiếc quần jean của mình lên, quyết định sẽ mặc nó vào một ngày khác (đặc biệt khi ở miền Nam Texas đầy bụi bặm), rồi đi về phía cửa sổ, tay vẫn đang cầm chiếc quần. Trời tờ mờ sáng. Hôm nay trời sẽ nóng đây và nơi họ đến thậm chí còn nóng hơn.

Anh chợt thấy - không ngạc nhiên lắm, dù anh không thể lý giải tại sao - Holly Gibney ở dưới đó, mặc quần jean và ngồi trên chiếc ghế làm vườn mà chính Ralph đã ngồi cách đây hơn một tuần, khi Bill Samuels đến. Vào cái buổi tối mà Bill đã kể cho anh nghe câu chuyện về những dấu chân biến mất và Ralph đã kể cho anh ta nghe câu chuyện về quả dưa vàng có giòi.

Anh mặc quần dài và tròng chiếc áo phông Oklahoma Thunder vào đầu, kiểm tra Jeannie một lần nữa, rồi rời phòng, tay trái ngoắc hal ngón vào đôi giày da đanh cũ nát mà anh đi như dép đi trong phòng ngủ.

❊ 2 ❊

Năm phút sau đó, anh xuất hiện ở cửa sau. Holly quay lại khi nghe thấy tiếng bước chần anh, khuôn mặt nhỏ nhắn của cô thận trọng và cảnh giác nhưng không phải (hoặc anh hy vọng thể) là không thân thiện. Sau đó, cô nhìn thấy những chiếc cốc trên khay Coca-Cola cũ và khuôn mặt cô bừng lên với nụ cười rạng rỡ. “Đó có phải thứ tôi đang thèm không?”

“Đúng thế nếu cô đang thèm cà phê. Tôi pha cho tôi, nhưng pha thêm một cốc khác trong trường hợp cô muốn uống. Vợ tôi thích pha nhiều sữa. Giống tôi.” Anh mỉm cười.

“Đen cũng được. Cảm ơn anh nhiều.”

Anh đặt khay lên bàn ăn ngoài trời. Cô ngồi đối diện với anh, cầm lấy một trong những chiếc cốc, nhấp một ngụm. “Ô, ngon quá. Thơm và đậm đà. Không gì ngon hơn một Gốc cà phê đen đậm đặc vào buổi sáng. Tôi nghĩ vây.”

“Cô đã dậy được bao lâu rồi?”

“Tôi không ngủ nhiều,” cô nói, né tránh câu hỏi một cách gọn gàng. “Ớ đầy thật dễ chịu. Không khí cũng trong lành.”

“Không còn trong lành khi gió tầy nổi lên, tin tôi đi. Rồi cô sẽ ngửi thay mùi từ các nhà máy lọc dầu ở thành phố Cap. Thứ đó làm tôi đau đâu.”

Anh dừng lại, nhìn cô. Holly ngoảnh mặt đi, đưa cốc lên sát mặt như thể che chắn. Ralph nghĩ về tối hôm qua, và cái cách cô căng mình trước mỗi cái bắt tay. Anh cảm nhân được người phụ nữ này cảm thấy nhiều cử chỉ và tương tác binh thường trên đời thật khó khăn. Thế nhưng cô ấy đã làm được một số điều đáng kinh ngạc.

“Tôi đã đọc thông tin về cô đêm qua. Alec Pelley đã đúng. Cô có hồ sơ khá đấy.”

Cô không trả lời.

“Ngoài việc ngăn gã Hartsheld đó ném bom vào một đám trẻ, cô và cộng sự, ông Hodges...”

Thám tử Hodges,” cô sửa lại. “Anh ấy nghỉ hưu rồi.”

Ralph gật đầu. “Ngoài ra, cô và thám tử Hodges còn cứu được một bé gái bị một gã điên tên là Morris Bellamy bắt cóc. Bellamy đã bị giết trong cuộc giải cứu. Cô cũng đã tham gia vào một cuộc đấu súng với một bác sĩ lầm lạc khi ra tay sát hại vợ mình, và năm ngoái cô đã tống giam một đám ăn trộm những con chó giống quý hiếm, hòng tống tiền chủ cũ hoặc bán chúng cho chủ mới nếu chủ cũ không chịu chỉ tiền. Khi nói rằng một phần công việc của cô là tìm kiếm vật nuôi bị thất lạc, đúng là cô đã không đùa.”

Mặt cô lại đỏ lựng từ cổ lên trán. Rõ ràng là việc ôn lại những chiến tích trong quá khứ khiến cô không thoải mái; cô thấy điều đó thực sự đau đớn.

“Bill Hodges lo hết những vụ đó đấy.”

“Không phải đám trộm chó. Anh ấy đã qua đời trước vụ đó một năm.”

“Đúng, nhưng lúc đó tôi có Pete Huntley. Cựu thám tử Huntley.” Cô nhìn thẳng vào anh. Ep mình làm thế thì đúng hơn. Đôi mắt của cô sáng và xanh biếc. “Pete rất giỏi, tôi không thể duy trì hoạt động của công ty nếu thiếu anh ấy, nhưng Bill còn giỏi hơn. Bill đã làm nên con người tôi của hiện tại. Tôi nợ anh ấy tất cả mọi thứ. Tôi nợ anh ấy cuộc sống của tôi. Tôi ước gì anh ấy ở đây bây giờ.”

Thay cho tôi à , ý cô là thế phải không?”

Holly không trả lời. Đó là một cầu trả lời, tất nhiên.

“Liệu anh ấy có tin vào quỷ biến hình El Cuco này không?”

“Ô có chứ.” Cô ấy nói điều đó mà không do dự. “Bởi vì anh ấy... và tôi... và bạn của chúng tôi, Jerome Robinson, người đã ở cùng chúng tôi... Có được lợi thế từ những trải nghiệm nhất định mà anh không có. Dù anh cũng sẽ có thể như vậy, tùy thuộc vào diễn biến của vài ngày tới. Anh có thể được trải nghiệm điều đó trước khi mặt trời lặn tối nay.”

“Tôi có thể tham gia cùng hai người được không?”

Đó là Jeannie, với tách cà phê của riêng cô.

Ralph ra hiệu cho cô ngồi xuống.

“Nếu chúng tôi lỡ đánh thức cô, tôi rất xin lỗi,” Holly nói. “Cô đã thật tử tế khi để tôi ở lại.”

“Ralph đấy, dậy sớm mà đi lại huỳnh huỵch như voi,” Jeannie nói. “Tôi định ngủ tiếp, nhưng sau đó tôi ngửi thấy mùi cà phê. Thơm quá. Ôi trời, hai người ăn mảnh.”

Holly nói, “Không phải tên bác sĩ đó.”

Ralph nhướng mày. “Gì cơ?”

“Tên anh ta là Babineau, và anh ta lầm đường lạc lối nhưng anh ta bị buộc phải làm thế, và anh ta không giết bà Babineau. Brady Hartsheld đã làm điều đó.”

“Theo những gì tôi đọc được trong những mẩu tin mà vợ tôi tìm thấy trên mạng, Hartsheld đã chết trong bệnh viện trước khi cô và Hodges lần ra Babineau.”

“Tôi biết chứ nhưng tin bài cũng có lúc sai. Tôi có thể kể cho hai người câu chuyên thật đúng không? Tôi không thích làm thế, tôi thậm chí không muốn nhớ những điều đó, nhưng anh có thể cần phải nghe. Bởi chúng ta sẽ gặp nguy hiểm, và nếu anh cứ tin rằng chúng ta đang đuổi theo một người trần mắt thịt — một kẻ gian manh, ra tay tàn độc nhưng vẫn chỉ là một con người - thì anh sẽ tự đẩy mình vào cái bẫy nguy hiểm lớn hơn thôi.”

“Nguy hiểm đã ở ngay đây,” Jeannie phản đối. “Kẻ dị biệt, kẻ trông giống như Claude Bolton... Tôi đã thấy hắn ở đây . Tôi đã nói điều đó vào tối hôm qua, tại cuộc họp!”

Holly gật đầu. “Tôi nghĩ kẻ dị biệt đã ở đây, tôi thậm chí có thể chứng minh điều đó cho cô, nhưng tối không nghĩ hắn hoàn toàn ở đây. Và tôi không nghĩ hắn ở đây bây giờ. Hắn đã ở đó , ở Texas, vì Bolton ở đó, và kẻ dị biệt sẽ ở gân anh ta. Hắn sẽ phải ở gần, bởi vì hắn...” Cô dừng lại, bặm môi. “Tôi nghĩ hắn đang lự làm kiệt sức mình. Hắn không quen có người đuổi theo hắn. Biết hắn là người như thế nào.”

“Tôi không hiểu,” Jeannie nói.

“Tôi có thể kể cho cô nghe câu chuyện về Brady Hartsheld được không? Nó có thể hữu ích.” Cô nhìn Ralph, một lần nữa cố gắng nhìn vào mắt anh. “Anh có thể không tin, nhưng anh sẽ hiểu tại sao tôi lại tin.”

“Cô nói đi,” Ralph nói.

Holly bắt đầu kể. Khi cô kể xong, mặt trời đã đỏ rực ở dằng đông.

❊ 3 ❊

“Chà chà,” Ralph nói. Đó là tất cả những gì anh có thể nghĩ ra.

“Điều này có thật?” Jeannie hỏi. “Brady Hartsheld... gi? Bằng cách nào đó, ý thức của hắn đã nhập vào ý thức của vị bác sĩ?”

“Đúng thế. Nó có thể bắt nguồn từ các loại thuốc thử nghiệm mà Babineau đã cho hắn uống, nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ đó là lý do duy nhất khiến hắn có thể làm được điều đó. Đã có thứ gì đó ở sẵn trong Hartsheld rồi, và cú đánh của tôi vào đầu hắn đã triệu hồi nó. Tôi nghĩ vậy.” Cô quay sang Ralph. “ Anh không tin điều đó, phải không? Tôi có thể gọi điện cho Jerome và anh ấy sẽ nói với anh điều tương tự... nhưng anh cũng sẽ không tin anh ấy đâu.”

“Tôi không biết phải tin vào điếu gì,” anh nói. “Sự xuất hiện ổ ạt của những vụ tự tử như thế này bắt nguồn từ những thông điệp ngầm trong các trò chơi điện tử... báo chí đã đưa tin về nó?”

“Báo chí, truyền hình, Internet. Tất cả.”

Holly dừng lại, nhìn xuống bàn tay mình. Các móng tay không được sơn sửa cầu kỳ, nhưng khá gọn gàng; cô đã bỏ thói quen gặm móng tay cũng như bỏ thuốc lá. Tự phá bỏ những thói quen. Đôi khi cô nghĩ rằng chuyến hành hương của cô đến nơi nào đó ít nhất cũng phải tương đương với sự ổn định về mặt tinh thần (nếu không phải là sức khỏe tâm thần thực sự) đã được đánh dấu bằng nghi thức loại bỏ những thói quen xâu. Thật khó để từ bỏ chúng. Chúng hệt như bạn bè thân thiết của cô.

Cô nói mà mắt không nhìn vào một trong hai người, thay vào đó nhìn xa xăm. “Bill được chẩn đoán mắc bệnh ung thư tuyến tụy cùng thời điểm vụ Babineau và Hartsheld xảy ra. Anh ấy đã ở trong bệnh viện một thời gian sau đó, nhưng rồi xin về nhà. Đến lúc đó, tất cả chúng tôi đều biết mọi sự sẽ kết thúc như thế nào... kể cả anh ấy, dẫu cho anh ấy không bao giờ nói vậy, và anh ấy đã chiến đấu với căn bệnh ung thư quái ác đó cho đến giờ phút cuối cùng. Tối nào tôi cũng ghé qua, một phần để chắc chắn rằng anh ấy ăn được gì đó, một phần chỉ để ngồi với anh ấy. Để giữ anh ấy làm người bầu bạn, nhưng cũng để... Tôi không biết...”

“Lấp đầy bản thân cô bằng anh ấy?” Jeannie nói. “Trong khi cô vẫn còn có anh ấy ở bên?”

Nụ cười rạng rỡ khiến cô trông trẻ ra lại xuất hiện. “Đúng vậy. Chính xác là thế. Vào một đêm nọ - không lâu trước khi anh ấy trở lại bệnh viện - khu nhà anh ấy ở bị mất điện. Do cây đổ vào dây điện hoặc gì đó. Khi tôi đến nhà của Bill, anh ấy đang ngồi trên bậc thềm trước và ngắm nhìn các vì sao. Cô sẽ không bao giờ nhìn thấy chúng nếu đèn đường vẫn sáng trưng , anh ấy đã nói vậy. Hãy nhìn xem có nhiều sao chưa kia và chúng sáng quá.

“Dường như anh ấy đã có thể nhìn thấy cả Dải Ngân hà vào đêm đó. Chúng tôi ngồi đó một lúc - chừng năm phút - không nói chuyện gì, chỉ ngắm nhìn bầu trời đêm. Thế rồi anh ấy lên tiếng, Các nhà khoa học đang bắt đâu tin rằng vũ trụ là vô cùng. Tôi đã đọc thông tin đó trên tờ New York Times tuần trước. Và khi cô có thể nhìn thấy tất cả những ngôi sao ở đó, và biết rằng còn có nhiều ngôi sao khác ngoài chúng, cô sẽ thấy chuyện đó thật dễ tin . Chúng tôi đã không nói chuyên nhiều về Brady Hartheld và những gì hắn làm với Babineau sau khi Bill ốm, nhưng tôi nghĩ anh ấy đang nói về chuyện đó.”

“Trên đời và trên trời có nhiều thứ hơn cả trong triết lý mà ta mơ tưởng,” Jennie nói.

Holly mỉm cười. “Tôi đoán Shakespeare đã nói hay nhất câu đó. Ông ấy đã nói khá nhiều câu hay nhưng theo tôi câu đó hay nhất.”

“Có lẽ anh ấy không đang nói đến Hartsheld và Babineau,” Ralph nói. “Có lẽ anh ấy đang cố diễn giải tình huống của chính mình.”

“Tất nhiên rồi,” Holly nói. “Vụ đó và tất cả các vụ bí án. Đó là những gì chúng ta cần...”

Điện thoại di động của cô kêu tít. Cô lấy nó ra từ túi sau, liếc nhìn màn hình và đọc tin nhắn.

“Tin của Alec Pelley,” cô nói. “Chiếc máy bay mà Gold thuê sẽ sẵn sàng cất cánh lúc 9 giờ 30 phút. Anh vẫn định tham gia chứ, anh Anderson?”

“Chắc chắn rồi. Và vì chúng ta đang cùng hội cùng thuyền - bất kể thuyền nào - tốt hơn hết cô nên gọi tôi là Ralph.” Anh uống hết cốc cà phê và đứng dậy. “Anh sẽ sắp xếp vài người để mắt đến nhà mình khi anh đi, Jeannie. Em ổn chứ?”

Cô chớp mắt. “Đẹp trai là được.”

“Anh sẽ nhờ Troy Ramage và Tom Yates. Hai người họ không đẹp trai như diễn viên điện ảnh, nhưng cả hai đã trực tiếp bắt giữ Terry Maitland tại sân bóng. Họ thấy mình cũng có phần can dự trong chuyện này.”

Holly nói, “Tôi cần kiểm tra lại một việc và tôi muốn làm ngay bây giờ, trước khi trời sáng. Chúng ta vào nhà được không?”

❊ 4 ❊

Theo đề nghị của Holly, Ralph kéo rèm che trong bếp và Jeannie đóng rèm trong phòng khách. Còn Holly ngồi vào bàn bếp với bút đánh dấu và cuộn băng dính Scotch Magic mà cô đã mua ở khu Văn phòng phẩm tại Walmart. Cô xé hai đoạn băng ngắn và đặt chúng lên trên đèn flash nhúng của iPhone. Cô tô màu xanh lam cho chúng. Cô xé thêm một đoạn băng thứ ba, đặt nó lên trên các dải màu xanh lam và tô nó màu tím.

Cô đứng dậy và chỉ vào chiếc ghế gần cổng tò vò. “Đó là cái hắn ngồi?”

“Vâng.”

Holly chụp hai bức ảnh ghế ngồi với đèn flash, di chuyển đến cổng tò vò, và chỉ tay. “Và đây là nơi hắn ngồi.”

“Vâng. Ngay đó. Nhưng không có dấu vết nào trên tấm thảm vào buổi sáng. Ralph đã xem rồi.”

Holly khuỵu một gối xuống, chụp thêm bốn bức ảnh tâm thảm, rồi đứng dậy. “Được rồi. Ổn rồi.”

“Ralph?” Jeannie hỏi. “Anh có biết cô ấy đang làm gì không?”

“Cô ấy đã biến điện thoại của mình thành một chiếc đèn cực tím.” Mình có thể tự làm việc này nếu chịu tin vợ mình - mình đã biết mảnh khóe này ít nhất năm năm rồi. “Cô đang tìm kiêm vết bẩn, phải không? Chất cặn bã, giống như những thứ trong nhà kho.”

“Đúng rồi, nhưng nếu có, sẽ ít hơn nhiều, nếu không thì anh đã có thể nhìn thấy chúng bằng mắt thường rồi. Anh có thể mua một bộ công cụ trực tuyến để thực hiện xét nghiệm này — nó có tên là CheckMate - nhưng thế này cũng ổn rồi. Bill đã dạy tôi. Hãy xem chúng ta có gì nào. Nếu có thật.”

Họ quây xung quanh cô, mỗi người một phía, và lần đầu tiên Holly không bận tâm đến sự gần gũi về thể xác. Cô đã quá chăm chú và quá hy vọng. Tôi có hy vọng Holly , cô tự nhủ.

Các vết bẩn đã ở đó. Một vết loang lổ màu vàng nhạt trên thành ghế, nơi kẻ đột nhập đã ngồi, và nhiều vết khác - giống như những giọt sơn nhỏ - trên tâm thảm ở rìa cổng tò vò.

“Chết tiệt thật,” Ralph thì thầm.

“Hãy nhìn cái này,” Holly nói. Cô ấy căng tay trên màn hình để phóng to một vết nứt trên thảm. “Hãy xem nó tạo ra một góc chuẩn thế nào? Đó là từ một trong những chần ghế.”

Cô quay trở lại ghế và chụp một bức ảnh bằng đèn flash khác, chỉ là lần này ở dưới thấp. Một lần nữa, họ tập trung xung quanh chiếc iPhone. Holly lại zoom màn hình lên và một trong những chân ghế nhảy ra phía trước. “Đó là nơi nó chảy xuống. Cô có thể kéo rèm lên được rồi, nếu muốn.”

Khi căn bếp thêm một lần nữa tràn ngập ánh sáng ban mai, Ralph lấy điện thoại của Holly ra xem lại các bức ảnh, vuốt từ cái này sang cái khác rồi quay lại. Anh cảm thấy bức tường hoài nghi của mình bắt đầu sụp đổ; đến cuối cùng, tất cả những gì anh cần lại chỉ là một vài bức ảnh trên màn hình iPhone nhỏ.

“Nó có nghĩa là gì?” Jeannie hỏi. “Y tôi là xét về mặt thực tế ấy? Hắn có ở đây hay không?”

“Tôi đã nói với cô rồi, tôi không có cơ hội nghiến ngẫm đủ để đưa ra cầu trả lời chắc chắn. Nhưng nếu tôi buộc phải đoán, tôi sẽ nói là... Cả hai.”

Jeannie lắc đầu như để đầu óc mình mẫn trở lại. “Tôi không hiểu.”

Ralph đang nghĩ về những cánh cửa khóa kín và chuông báo trộm không kêu. “Cô đang nói hắn là...” Ma là từ đầu tiên anh nghĩ đến, nhưng đó không phải là từ thích hợp.

“Tôi không tính nói gì cả,” Holly đáp, và Ralph nghĩ, Không, cô không làm vậy. Bởi vì cô muôn tôi nói ra điều đó.

“Hắn là một sự phản chiếu? Hay một hình đại diện, như trong trò chơi điện tử mà con trai chúng tôi hay chơi?”

“Ý tưởng thú vị đấy,” Holly nói. Mắt cô sáng lên. Ralph nghĩ cô có thể đã cố nín cười.

“Có cặn bẩn, nhưng chiếc ghế không để lại vết trên thảm,” Jeannie nói. “Nếu hắn ở đây theo bất kỳ khía cạnh vật lý nào, hắn chắc hẳn phải... rất nhẹ. Có lẽ không nặng hơn một chiếc gối lông vũ. Và theo cô, làm điều này... Sự phản chiếu này... khiến hắn kiệt sức?”

“Ít nhất thì điều đó có vẻ hợp lý với tôi,” Holly nói. “Chúng ta chỉ có thể chắc chắn một điều rằng có thứ gì đó đã ở đây khi cô xuống cầu thang vào sáng hôm qua. Anh có đồng ý với điều đó khống, thám tử Anderson?”

“Vâng. Và nếu cô không đổi sang gọi tôi là Ralph, Holly, tối sẽ bắt cô đấy.”

“Tôi đã lên tầng bằng cách nào nhỉ?” Jeannie hỏi. “Có phải hắn... làm ơn hãy nói với tôi rằng hắn đã không bế tôi lên sau khi tôi bất tỉnh.”

“Tôi không nghĩ vậy,” Holly nói.

Ralph nói, “Hoặc có thể là... thôi miên chẳng hạn... tôi chỉ đoán thôi?”

“Tôi không biết. Có rất nhiều điều mà chúng ta có thể không bao giờ biết được. Tôi muốn tắm qua, các vị không phiền chứ?”

“Tất nhiên,” Jeannie nói. “Tôi sẽ làm chút trứng.” Thế rồi Holly thốt lên: “Ôi Chúa ơi.”

Holly quay lại.

“Đèn bếp. Nó vẫn bật. Cái trên lò lướng. Có một cái nút.” Khi xem những bức ảnh, Jeannie có vẻ rất phấn khích. Nhưng giờ thì cô trông rất hoảng sợ. “Cô phải bật nút để bật đèn. Ít nhất hắn cũng phải ở đây thì mới làm được điều đó.”

Holly không nói gì về chuyện này. Ralph cũng vậy.

❊ 5 ❊

Sau khi ăn sáng, Holly quay trở lại phòng dành cho khách, bảo họ rằng mình đi thu dọn đồ đạc. Ralph thì nghĩ cô thực sự đang muốn cho anh chút thời gian và sự riêng tư để nói lời tạm biệt vợ. Tính khí cô cũng kỳ quặc, như Holly Gibney vậy, nhưng ngu ngốc thì không.

“Ramage và Yates sẽ quan sát bên ngoài,” anh nói với Jeannie. “Cả hai đều đang nghỉ phép.”

“Họ đã làm điều đó vì anh?”

“Anh nghĩ là vì Terry. Họ cũng cảm thấy tồi tệ như anh khi chuyện này lao dốc không phanh.”

“Anh mang súng chưa?”

“Lúc nào nó chẳng dính bên người anh. Khi hạ cánh, anh sẽ nhét nó vào bao thắt lưng. Alec cũng thế. Anh muốn em lấy súng của em ra khỏi két an toàn. Hãy mang bên người.”

“Anh có thực sự nghĩ...”

“Anh không biết phải nghĩ gì, anh với Holly sẽ lo chuyện đó. Nhớ để gần người và đừng bắn người đưa thư.”

“Nghe này, có lẽ em nên đến.”

“Anh không nghĩ đó là một ý kiến hay.”

Hôm nay anh không muốn họ ở cùng một chỗ, nhưng không muốn cho cô biết lý do vì nếu biết cô sẽ càng lo lắng hơn. Họ còn con trai, thằng bé hiện đang chơi bóng chày hoặc bắn tên vào các mục tiêu được bồi bằng những kiện cỏ khô hoặc làm thắt lưng đính cườm. Derek không lớn hơn Frank Peterson là bao. Với Derek, cũng như bao đứa trẻ khác, bố mẹ thằng bé là bất tử .

“Anh nói đủng,” cô nói. “Phải có ai đó ở nhà để phòng D gọi, anh có nghĩ vậy không?”

Anh gật đầu và hôn cô. “Anh cũng nghĩ thế.”

“Hãy cẩn thận.” Cô ngước nhìn anh, đôi mắt mở to, khiến ký ức đã khắc sầu trong tim anh lại ùa về. Chính đôi mắt ấy cũng đã từng ngước lên nhìn anh như thế, đầy yêu thương, hy vọng và lo lắng. Đó là đôi mắt của cô trong đám cưới của họ, khi họ đứng trước bạn bè và người thân của mình, trao lời thế non hẹn biển.

“Anh sẽ cẩn thận. Luôn như vậy.”

Anh bắt đầu tách dần khỏi cô. Cô kéo anh lại, siết chặt cánh tay anh.

“Đúng, nhưng vụ này không giống bất kỳ vụ nào mà anh từng theo. Cả hai chúng ta đều biết điều đó. Nếu có thể, hãy rút lui. Nếu không... nêu anh gặp phải chuyện gì đó anh không thể xử lý... hãy bỏ chạy. Lùi lại và trở về nhà với em, anh hiểu chứ?”

“Được rồi.”

“Đừng nói được rồi, hãy nói anh sẽ làm vây.”

“Anh sẽ làm vậy.” Một lần nữa anh lại nghĩ đến ngày họ thế nguyện.

“Em hy vọng anh sẽ làm như đã hứa.” Vẫn là ánh nhìn xuyên thấu ấy, đầy yêu thương và lo lắng. Ánh mắt như muốn nói Em đã tin yêu anh quá nhiều, vì thế xin đừng bao giờ khiến em hối hận. “Em cần nói với anh một điều và điều đó rất quan trọng. Anh có đang nghe không?”

“Có.”

“Anh là một người tốt, Ralph. Một người tốt đã mắc một sai lầm tồi tệ. Anh không phải là người đầu tiên làm điều đó và anh sẽ không phải là người cuối cùng. Anh phải sống với nó, và em sẽ giúp anh. Hãy sửa lỗi nếu anh có thể, nhưng xin đừng khiến nó tồi tệ hơn. Làm ơn.

Holly đang đi xuống tầng với âm thanh khá ồn như thể muốn đánh tiếng cho họ biết. Ralph đứng yên thêm một lúc, nhìn xuống đôi mắt mở to của vợ mình — chúng của hiện tại vẫn đẹp như bao năm trước. Sau đó, anh hôn cô và lùi lại. Cô siết chặt tay anh, thật mạnh và để anh đi.

❊ 6 ❊

Ralph và Holly đến sân bay bằng xe của Ralph. Holly đặt túi đeo vai trong lòng, hai đầu gối khép chặt. “Vợ anh có súng không?” Cô hỏi.

“Có. Và cô ấy thuộc diện bảo vệ của sở. Vợ và các con gái của cảnh sát nhân được đặc quyền như vậy ở đây. Còn cô thi sao, Holly?”

“Dĩ nhiên là không. Tôi đã bay xuống đây, và không được phép mang theo súng trên chuyến bay.”

“Tôi chắc chắn rằng chúng tôi có thể giúp cô lấy một khẩu. Rốt cuộc thì chúng ta sẽ đến Texas, chứ không phải New York.”

Cô lắc đầu. “Tôi không dùng súng kể từ lúc Bill còn sống. Đó là vụ cuối cùng chúng tôi làm việc cùng nhau. Và tôi đã bắn trật mục tiêu.”

Anh khống nói gì nữa cho đến tân khi họ nhập vào dòng xe đông đúc ở trạm thu phí hướng đến sân bay và thành phố Cap. Sau khi thoát khỏi đó, anh nói, “Những mẫu vật từ nhà kho đang nằm ở phòng thí nghiệm pháp y của Cảnh sát Tiểu bang. Cô nghĩ họ sẽ tìm thấy gì khi sử dụng hết đống máy móc hiện đại ở đó để phân tích? Cô có dự đoán gì không?”

“Dựa trên những gì xuất hiện trên ghế và thảm, tôi đoán nó chủ yếu là nước nhưng có độ pH cao. Tôi đoán sẽ có dấu vết của một loại chất lỏng giống như chất nhầy do tuyến củ, hay các tuyến Cowper tiết ra, tuyến này được đặt theo tên của nhà giải phẫu học William Cowper, người...”

“Vây cô nghĩ đó là tinh dịch.”

“Dịch trước khi xuất tinh thì đúng hơn.” Má cô hơi ửng hồng.

“Cô biết rõ đấy.”

“Tôi đã tham gia một khóa học về bệnh lý pháp y sau khi Bill qua đời. Trên thực tế là vài khóa học mới đúng. Học để... giết thời gian.”

“Có tinh dịch ở sau đùi Frank Peterson. Khá nhiều, nhưng với số lượng lớn bất thường. ADN khớp với của Terry Maitland.”

“Chất cặn bã trong nhà kho và cả nhà anh không phải là tinh dịch, cũng không phải là dịch trước khi xuất tinh, dù rất giống nhau. Khi phòng thí nghiệm kiểm tra xong những mẫu vật từ thị trấn Canning, tôi nghĩ họ sẽ tìm ra các thành phần không xác định và loại bỏ chúng như các tạp chất. Họ sẽ vui vì không phải dùng các mẫu này trước tòa. Họ sẽ không nghĩ đến chuyện họ đang xử lý một chất hoàn toàn không được biết đến: thứ mà hắn toát ra - hoặc tiết ra - khi hắn lột xác. Về phần tinh dịch được tìm thấy trên người cậu bé nhà Peterson... Tôi chắc chắn kẻ dị biệt cũng để lại tinh dịch khi giết hai bé gái nhà Howard. Hoặc là trên quần áo của chúng, hoặc trên cơ thể của chúng. Một dấu vết tương tự sợi tóc trong phòng tắm của ông Maitland và tất cả các dâu vân tay mà anh tim thấy.”

“Đừng quên các nhân chứng.”

“Vâng,” cô đồng ý. “Sinh vật này thích những nhân chứng. Tại sao lại không chứ khi hắn mang khuôn mặt của một kẻ khác?”

Ralph đi theo biển chỉ dẫn tới công ty mà Howard Gold thuê máy bay. “Vậy cô không nghĩ đây thực sự là tội phạm tinh dục hả? Chúng chỉ được sắp xếp để trông có vẻ giống như thế?”

“Tôi sẽ không đưa ra giả định đó, nhưng...” Cô quay sang anh. “Tinh dịch ở phía sau đùi của cậu bé, nhưng không có... Anh biết đấy... trong cậu bé?”

“Không. Thằng bé bị hãm hiếp bởi một cành cây.”

“Ôi.” Holly nhăn mặt. “Tôi nghĩ nếu khám nghiệm tử thi hai bé gái kia thì cũng không có tinh dịch bên trong đâu. Tôi nghĩ rằng có thể có yếu tố tình dục trong các vụ giết người của hắn, nhưng hắn có thể không có khả năng giao hợp thực sự.”

“Nhiều tên giết người hàng loạt bình thường cũng làm thế.” Anh bật cười trước điều này nhưng không hối hận vì từ thay thế duy nhất mà anh có thể nghĩ đến là những kẻ giết người nhân vãn.

“Nếu hắn ăn nỗi buồn, hắn cũng ăn nỗi đau của nạn nhân khi họ Sắp chết.” Sắc hông trên mả cô biến mất, khiến cô thật nhợt nhạt. “Nó có thể cực kỳ tuyệt hảo, như đồ dành cho người sành ăn hoặc một số loại rượu Scotch cổ điển hảo hạng. Và vâng, điều đó có thể khiến hắn hứng tinh. Tôi không thích nghĩ đến những điều này, nhưng tôi tin vào việc ta phải hiểu rõ kẻ thù. Chúng ta... Tôi nghĩ anh nên rẽ trái ở đó, thám tử Anderson.” Cô chỉ tay về phía lối rẽ.

“Ralph.”

“Vâng. Rẽ trái, Ralph. Đó là đường đến Regal Air.”

❊ 7 ❊

Howie và Alec đã đến, và Howie đang mỉm cười. “Giờ cất cánh đã bị lùi lại một chút,” ông nói. “Sablo đang trên đường đến.”

“Sao anh ấy xoay xở được nhỉ?” Ralph hỏi.

“Anh ấy không làm vậy. Tôi đấy. Chà, tôi đã lo một nửa. Thẩm phán Martinez phải nhập viện vì loét dạ dày, ơn Chúa. Có thể chỉ là do đã ăn quá nhiều đồ cay. Bản thân tôi cũng là một người mê Texas Pete, nhưng nhìn ông ấy rưới nó lên đồ ăn cũng khiến tôi phải rùng mình. Vụ còn lại mà Trung úy Sablo được cho là phải làm chứng, ADA nợ tôi một kèo.”

“Tôi có nên hỏi tại sao không?” Ralph hỏi.

“Không,” Howie nói, cười ngoác miệng.

Còn nhiều thời gian, bốn người họ ngồi trong phòng chờ nhỏ -không lớn bằng phòng chờ khởi hành - quan sát các máy bay cất và hạ cánh. Howie nói, “Khi về nhà vào đêm qua, tôi đã truy cập Internet và đọc về những kẻ song trùng. Kẻ dị biệt là một kiểu người như thế, chẳng phải sao?”

Holly nhún vai. “Từ đó chuẩn đấy.”

“Nhân vật hư cấu nổi tiếng nhất là trong truyện của Edgar Allan Poe. Người ta gọi hắn là William Wilson ?

“Jeannie biết truyện đó,” Ralph nói. “Chúng tôi đã nói chuyên vê nó.

“Nhưng trong cuộc sống cũng có rất nhiều. Có vẻ phải đến hàng trăm. Bao gồm cả người đã xuất hiện trên con tàu Lusitania. Có một hành khách tên là Rachel Withers ở khoang hạng nhất; một số người đã thấy một phụ nữ khác trông giống hệt cô ấy, ngay cả dải tóc trắng, trong suốt chuyến hải trình. Một số nói rằng kẻ song trùng đang ngồi ở khoang hạng chót. Một số lại nói cô ta là nhân viên. Cô Withers và một người bạn lịch lẫm của mình đã đi tim cô ta, và được cho là đã phát hiện ra cô ta chỉ vài giây trước khi một quả ngư lôi từ một chiếc U-boat của Đức bắn trúng mạn phải. Cô Withers qua đời, nhưng người bạn của cô vẫn sống sót. Anh ấy gọi bản song trùng của Withers là điểm báo của sự diệt vong . Nhà văn người Pháp, Guy de Maupassant, đã gặp bản song trùng của mình vào một ngày nọ khi đang đi dạo trên một con phố ở Paris - cùng chiều cao, cùng kiểu tóc, cùng đôi mắt, cùng một bộ ria mép, cùng một giọng nói.”

“Chà, người Pháp,” Alec nhún vai nói. “Anh mong chờ điều gì? Maupassant có lẽ đã mời gã nọ một ly rượu.”

“Vụ án nổi tiêng nhất xảy ra vào năm 1845, tại một trường nữ sinh ở Latvia. Cô giáo đang viết trên bảng thì bản song trùng của cô bước vào phòng, đứng bên cạnh cô và bắt chước từng động tác của cô, chỉ là không dùng phấn. Sau đó cô ta bước ra ngoài. Mười chín sinh viên đã chứng kiến cảnh đó. Không kỳ diệu sao?”

Không ai phản hồi gì. Ralph đang nghĩ về quả dưa vàng thối ruột, và những dấu chân biến mất, và điều mà người bạn đã chết của Holly đã nói: Vũ trụ vô cùng . Anh cho rằng đó là một khái niệm mà một số người có thể cảm thấy kích thích, thậm chí là đẹp đẽ. Ralph, một người công mình trong suốt sự nghiệp của mình, thấy điều đó thật đáng sợ.

“Chà, tôi nghĩ điều đó thật vi diệu,” Howie nói, có chút chua chát.

Alec nói, “Hãy cho tôi biết điều gì đó đi Holly. Nếu tên đó hấp thụ suy nghĩ và ký ức của nạn nhân khi lấy khuôn mặt của họ — thông qua một kiểu truyền máu thần bí nào đó, tôi đoán vậy - tại sao hắn lại không biết phòng khám tư gần nhất ở đâu? Và sau đó là Willow Rainwater, người lái xe taxi. Maitland quen biết cô ta từ chương trình bóng rổ dành cho trẻ em tại Y, nhưng người đàn ông mà cô ta chở đến Dubrow tỏ ra như chưa bao giờ gặp cô ta. Không gọi cô ta là Willow mà gọi là bà Raimvater. Quý bà thì đúng hơn.”

“Tôi không biết ” Holly nói, giọng gắt gỏng. “Tất cả những gì tôi biết là thông tin mà tôi đã góp nhặt được trên chuyến bay, và ý tôi là theo nghĩa đen, bởi tôi đã làm điều đó ở trên máy bay thật. Điều duy nhất tôi có thể làm là phỏng đoán và tôi cảm thấy mệt mỏi vì nó.”

“Giống đọc lướt thì đúng hơn,” Ralph nói. “Những người đọc lướt rất tự hào về việc họ có thể dượt qua hết cuốn sách dài này sang cuốn sách dài khác trên một chuyến bay, nhưng họ chủ yếu chỉ nắm được những ý chung chung. Nếu hỏi họ về các chỉ tiết, anh sẽ chẳng nhận được thông tin gì đâu.” Anh dừng lại. “ít nhất đó là lời của vợ tôi. Cô ấy có tham gia câu lạc bộ sách và có một người phụ nữ thường khoe khoang về kỹ năng đọc của mình. Điều đó làm Jeannie phát điên.”

Họ quan sát khi đội mặt đất bơm nhiên liệu cho King Air và hai phi công thực hiện thủ tục xem xét trước chuyến bay của họ. Holly lôi iPad ra và bắt đầu đọc (Ralph nghĩ bản thân cô ấy là người đọc lướt). Đến 10 giờ 15 phút, một chiếc Subaru Forester tấp vào bãi đậu xe nhỏ của Regal và Yune Sablo bước ra, lủng lẳng một chiếc ba lô camo trên vai, vừa đi vừa nói chuyên điện thoại. Anh ấy kết thúc cuộc gọi của mình khi bước vào.

“Xin chào! Cómo están *?"

Tiếng Tây Ban Nha, có nghĩa là “Mọi người khỏe không?”

“Ổn,” Ralph nói, đứng lên. “Vừa đi vừa trao đổi nhé.”

“Tôi vừa nói chuyện với Claude Bolton. Anh ta sẽ đón chúng ta ở sân bay Plainville. Nó cách Marysville, nơi anh ta sống, khoảng chín mươi cây số.”

Alec nhướng mày. “Tại sao anh ta lại làm vậy?”

“Anh ta lo lắng. Đêm qua anh ta không ngủ nổi, đi lên đi xuống năm đến sáu lần vì có cảm giác như ai đó đang theo dõi nhà mình. Anh ta nói điều đó khiến anh ta nhớ hồi ở trong tù khi mọi người đều biết có gì đó tồi tệ sắp xảy ra nhưng không biết là gì. Anh ta nói mẹ anh ta cũng đã viết di chúc. Anh ta hỏi tôi chính xác thì chuyện gì đang xảy ra và tôi bảo chúng ta sẽ kể cho anh ta nghe khi đến đó.”

Ralph quay sang Holly. “Nếu kẻ dị biệt có thực, nếu hắn ở gần Bolton, liệu Bolton có thể cảm nhận được sự hiện diện của hắn không?”

Thay vì phản đối lần nữa về việc phải đưa ra phỏng đoán, cô trả lời bằng một giọng nhẹ nhàng nhưng rất chắc chắn. “Tôi chắc chắn.”

« Lùi
Tiến »