Kẻ Song Trùng

Lượt đọc: 4277 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
TIẾT LỘ THIÊN CƠ
ngày 25 tháng 7
1

Cuối cùng, Holly quyết định không bay hạng thương gia, dù cô có thể làm thế nếu chọn chuyên Delta 10 giờ 15 phút, chuyến bay sẽ đưa cô đến thành phố Cap lúc 12 giờ 30 phút. Tuy nhiên, vì muốn có thêm thời gian ở Ohio, cô đã đặt một chuyến bay ba chặng đẩy gian nan trên những máy bay loại nhỏ có thể sẽ khiến cô phát điên dưới cái bầu không khí tháng Bảy không mây dễ chịu này. Chật chội và không mấy thoải mái nhưng có thể chịu đựng được. Điều cô cảm thấy khó chịu hơn là rất có thể cô sẽ không đến được thành phố Flint trước 6 giờ chiếu, đấy là trong trường hợp mọi sự sắp xếp của cô diễn ra hoàn hảo. Cuộc gặp tại văn phòng Luật sư Gold đã được lên lịch lúc 7 giờ, và Holly ghét cay ghét đắng chuyển đến muộn giờ hẹn.

Cô thu dọn chút đồ đạc ít ỏi của mình, trả phòng khách sạn và lái xe chừng 50 cây số 30 đến Regis. Trước tiên, cô đến ngôi nhà mà Heath Holmes đã ở cùng mẹ anh ta trong kỳ nghỉ. Nó đã bị niêm phong lại, các cửa sổ bung hết cả, có thể là do đám phá hoại đã nhắm mục tiêu vào chúng. Trên bãi cỏ, nơi cỏ mọc um tùm, là một tấm biển có nội dung CẨN BÁN. LIÊN HỆ NGÂN HÀNG QUỐC GIA ĐỆ NHẤT DAYTON.

Holly nhìn vào ngôi nhà, ngẫm nghĩ thể nào đám trẻ quanh đầy cũng sẽ sớm xì xào rằng nó bị ma ám (nếu chưa làm vậy), và đau đầu về bản chất của bi kịch. Giống như bệnh sởi, quai bị hoặc rubella, bi kịch cũng dễ lây lan. Nhưng không giống như những bệnh đó, người ta không thể chủng ngừa bi kịch. Cái chết của Frank Peterson ở thành phố Flint đã lây nhiễm bệnh tật cho gia đình bất hạnh của cậu và lan nỗi đau ấy ra toàn thị trấn. Cô không biết vụ án này có được coi là nghiêm trọng ở vùng ngoại ô này hay không, nơi đầy ít người có mối quan hệ lâu dài với nhau, nhưng gia đình Holmes rõ ràng đã bị xóa sổ; không thứ gì còn sót lại có liên quan đến họ, ngoại trừ ngôi nhà hoang này.

Cô định chụp một bức ảnh của ngôi nhà với tầm biển CẨN BÁN ở phía trước này - một mình chứng cho buồn đau và mất mát, nếu có - nhưng rồi lại quyết định không làm vậy. Những người cô sắp gặp có thể hiểu, có thể cảm nhận được những điều đó, nhưng hầu hết có lẽ sẽ không. Đối với họ, nó sẽ chỉ là một bức ảnh.

Cô lái xe từ nhà Holmes đến Nghĩa trang Yên nghỉ ở ngoại ô thị trấn. Tại đây cả gia đình họ đã được đoàn tụ: bố, mẹ và cậu con trai duy nhất. Không có hoa, và phiến đá đánh dâu nơi yên nghỉ của Heath Holmes đã bị bẩy lên. Cô tưởng tượng ra điều tương tự có thể xảy ra với phiến đá bia mộ của Terry Maitland. Nỗi buồn rất dễ lây lan và tức giận cũng vậy. Phiến đá trên mộ anh ta khá nhỏ, không có gì trên đó ngoài tên, ngày tháng và một lớp vẩy khô có thể là cặn của một quả trứng vỡ. Cô đã sắp xếp nó lại một chút. Cô không nghĩ nó sẽ thẳng thớm mãi như thế, nhưng con người luôn làm những gì mình có thể.

“Anh không giết ai, phải không anh Holmes? Chỉ là anh đã ở sai nơi và sai thời điểm.” Cô tìm thấy một chùm hoa nhỏ ở một ngôi mộ gần đó, và bứt tạm vài bông để rải trên mộ Heath. Những bông hoa cắt lìa khỏi gốc là một lời chia buồn không đẹp — chúng chết rồi - nhưng có còn hơn không. “Nhưng dẫu sao anh cũng đã mắc vào nó. Không ai ở đây tin sự thật cả. Tôi cũng không nghĩ những người tôi gặp tối nay sẽ tin điều đó.”

Cô sẽ cố gắng thuyết phục họ, luôn là thế. Con người luôn làm những gì mình có thể, cho dù đó là dựng thẳng bia mộ hay cố thuyết phục những người đàn ông và phụ nữ thế kỷ 21 rằng có quái vật trên đời, và lợi thế lớn nhất của họ là họ quá lý trí để tin.

Holly nhìn quanh và thấy một căn hẩm trên một ngọn đồi thấp gần đó (ở vùng này của Ohio, tất cả các ngọn đồi đều thấp). Cô đi về phía đó, nhìn chằm chằm vào cái tên được đục trên đá hoa cương phía trên lanh-tô vòm - GRAVES, mới hợp làm sao - và bước xuống ba bậc đá. Cô chăm chú ngắm nghía bên trong nơi đặt những chiếc ghế đá, chỗ người ta có thể ngồi và thiển định về những Ngôi mộ của những năm qua đã được chôn cất ở đây. Kẻ dị biệt có ẩn mình ở đây sau khi làm công việc bẩn thỉu của hắn không? Cô không tin là vậy, bởi bất kỳ ai - thậm chí là một trong những kẻ phá hoại đã xô đổ tấm bia của Heath Holmes - cũng có thể đi lang thang và ngó nghiêng vào trong. Hơn thế, mặt trời sẽ chiếu vào khu ngồi thiển này trong một hoặc hai tiêng buổi chiều, khiến nơi này ấm áp hơn. Nếu kẻ dị biệt giống như những gì cô nghĩ, hắn có thể sẽ thích bóng tối hơn. Không phải lúc nào cũng vậy song ít nhất là trong một khoảng thời gian nhất định. Những giai đoạn quan trọng. Cô vẫn chưa tìm hiểu xong, nhưng cô gắn như chắc chắn về điều đó. Và còn một điều nữa: giết người có thể là công việc cả đời của hắn, nhưng nỗi buồn là thức ăn của hắn. Sự buồn bã và tức giận thì đúng hơn.

Không, hắn không nghỉ chân ở căn hẩm này, nhưng cô tin hắn đã đến nghĩa trang này, có lẽ là trước cả khi Mavis Holmes và con trai bà mất. Holly nghĩ mình có thể ngửi thấy sự hiện diện ấy (dẫu cho điều này thật quá ly kì). Brady Hartsheld cũng tỏa ra thứ mùi ấy, mùi hôi của sự không tự nhiên. Bill đã biết điều đó; các y tá chăm sóc cho Hartsheld cũng biết điều đó, dù hắn được cho là đang ở trong tình trạng bán thân bất toại.

Cô thả bộ thong thả về phía bãi đâu xe nhỏ phía bên ngoài cổng nghĩa trang, chiếc túi đập vào bên hông cô trong mỗi bước đi. Chiếc Prius của cô đúng trơ trọi ở đó trong cái nắng hè oi ả. Cô đi ngang qua nó, sau đó xoay người chẩm chậm 180 độ để nghiên cứu mọi khía cạnh của khu vực xung quanh. Cô đang ở gần một vùng nông trại - cô có thể ngửi thấy mùi phần bón — nhưng nơi này cũng đang dần được công nghiệp hóa, một vành đai dịch chuyển xấu xí và cằn cỗi. Nơi này sẽ không xuất hiện trong tài liệu quảng cáo của Phòng Thương mại (giả sử Regis có Phòng Thương mại). Không có điểm hấp dẫn nào. Không có gì hút mắt; nó như bị ruồng rẫy, như thể Trái đất đang nói biến đi, không có gì cho mày ở đây đâu, tạm biệt và đừng bao giờ quay lại nữa . Chà, nghĩa trang này dẫu có nhưng cũng chẳng mấy ai ghé qua thăm viếng một khi mùa đông đến, và gió bấc sẽ khiến những người đó co ro chết rét sau những chuyến viếng thăm ngắn ngủi nhất để thể hiện tình cảm với người đã khuất.

Xa xa về hướng bắc là các đường ray xe lửa, nhưng chúng cũng hoen gỉ và có cỏ dại mọc um tùm giữa các thanh ray. Có một nhà ga xe lửa bỏ hoang từ lâu, các cửa sổ của nơi đó chỏng lên như ở nhà của Holmes. Gần đó, trên một đường ray nhánh là hai toa xe rời cô độc, bánh của chúng bị vùi trong mớ dây leo chằng chịt. Trông chúng như thể đã ở đó từ thời chiến tranh Việt Nam*. Gần nhà ga bỏ hoang là những kho chứa cũng bị bỏ hoang từ lâu và những thứ mà cô đoán là các lán sửa chữa. Thêm vào đó là một nhà máy xập xệ thấp thoáng trong những bụi hoa hướng dương và bụi rậm. Có lẽ một tên du thủ du thực nào đó đã xịt sơn lên những bức tường gạch vốn từng là màu đỏ giờ đã chuyển sang màu hồng một hình chữ Vạn. Ớ một bên đường cao tốc sẽ đưa cô trở lại thị trấn, một bảng quảng cáo ngả nghiêng có nội dung NẠO PHÁ THAI LÀ GIẾT NGƯỜI! HÃY CHỌN CUỘC SỐNG! Ở phía bên kia là một tòa nhà dài, thấp với tấm biển trên mái có nội dung DỊCH vụ RỬA XE Ô TÔ SPE DY ROBO. Trong bãi đậu xe trống của nơi đó còn có một tấm biển khác, tâm biển mà cô đã nhìn thấy hôm nay: BÁN NHÀ, LIÊN HỆ NGÂN HÀNG QUỐC GIA ĐỆ NHẤT DAYTON.

Tiếng Anh: Vietnam War, hay còn được biết đến với tên gọi Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam

Tao nghĩ mày đã ở đây. Không phải trong hẩm, nhưng ở gân đó. Nơi mày có thể ngửi thấy mùi nước mắt khi gió cất lên. Nơi mây có thể nghe thấy tiếng cười của những gã trai hoặc những cậu bé đấy đổ tấm bia hộ của Heath Holmes, rồi phóng uế lên đó.

Bất chấp cái nóng ban ngày, Holly vẫn cảm thấy ớn lạnh. Nếu có thêm thời gian, cô có thể đã điều tra những nơi trống trải đó. Không có nguy hiểm; kẻ dị biệt nọ đã rời Ohio từ lâu rồi. Và rất có thể cũng rời khỏi Thành phố Flint rồi.

Cô chụp được bốn bức ảnh: ga xe lửa, những toa xe, nhà máy, bãi rửa xe vắng vẻ. Cô đã xem lại chúng và cho rằng chúng sẽ giúp ích. Chúng phải thế. Giờ cô phải lên đường thôi.

Đúng rồi, và còn phải thuyết phục mọi người nữa.

Đó là nếu cô có thể. Vừa rồi cô cảm thấy mình thật nhỏ bé và đơn độc. Người ta có thể dễ dàng hình dung ra tiếng cười và sự chế giễu; nghĩ về những điều như vậy là lẽ tự nhiên thôi. Nhưng cô sẽ cố gắng. Cô phải làm vậy. Vì những đứa trẻ bị sát hại, đúng thế - Frank Peterson và hai đứa nhỏ nhà Howard và cả những đứa trước đó nữa - nhưng cũng là vì Terry Maitland và Heath Holmes. Con người sẽ luôn làm những gì mà mình có thể.

Cô còn phải dừng ở một điểm nữa. May mắn thay, nó tiện đường.

❊ 2 ❊

Một cụ già ngồi trên một băng ghế dài trong Công viên Cộng đồng Trotwood đã vui vẻ chỉ đường cho cô đến nơi người ta tìm thấy xác “những đứa trẻ tội nghiệp” ấy. Nó không xa lắm, ông ta nói, và cô sẽ nhận ra ngay nếu đến nơi.

Và đúng là thế thật.

Holly tấp xe vào lể đường, bước ra và nhìn chằm chằm vào một khe núi nơi những người than khóc - và những người tìm kiếm cảm giác lạ giả dạng người than khóc - đã cố biên thành một nơi tưởng niệm. Chủ yếu là những tấm thẻ treo có nội dung SORROW (thương tiếc) và HEAVEN (thiên đường). Có những quả bóng bay, một số đã xì hơi, một số vẫn căng tròn, dẫu cho người ta đã tìm thấy xác của Amber và Jolene Howard ở đây từ ba tháng trước đó. Có một bức tượng mẹ Mary mà con chiên nào đó đã trang trí thêm một bộ ria mép. Có một con gấu bông khiến Holly rùng mình. Cơ thể tròn trĩnh màu nâu của nó phủ đầy nấm mốc.

Cô giơ iPad lên, chụp một bức ảnh.

Ở đây không có cái thứ mùi mà cô ngửi thấy (hoặc tưởng tượng rằng cô đã ngửi thấy) tại nghĩa trang, nhưng cô chắc rằng kẻ dị biệt kia hẳn cũng đã ghé thăm nơi này vào một thời điểm nào đó sau khi xác của Amber và Jolene được phát hiện, thu lấy nỗi đau của những người đến ngôi đền tạm như một Burgundy cổ kính này để chia buồn. Cũng có thể là cả sự phấn khích của những người - không nhiều, nhưng có, chắc chắn có vài người - đến để suy tưởng về cảm giác khi làm những thứ mà hai đứa trẻ nhà Howard đã phải chịu đựng, và lắng nghe tiếng la hét của chúng.

Có, mày đã xuất hiện, nhưng không quá sớm. Mày đã không ở đây cho đến tận khi mày có thể làm thế mà không bị người ta chú ý đến, như cách mây đã làm vào cái ngày anh trai của Frank Peterson bắn Terry Maitland.

“Chỉ có lần đó là mày không thể đặng đừng, phải không?” Holly thì thầm. “Giống như một gã ăn mày đói meo cố cưỡng lại một bữa tối Lễ Tạ ơn đẩy ắp.”

Một chiếc xe tải nhỏ tấp vào và đỗ trước chiếc Prius của Holly. Ớ một bên của cản sau là nhãn dán ghi TAXI CỦA MẸ. Bên còn lại là nhãn dán TÔI TIN VÀO LẤN SỬA ĐỔI THỨ HAI VÀ TÔI ĐÃ BỎ PHIẾU. Một người phụ nữ chừng 30 tuổi ăn vận đẹp, trông phúc hậu và xinh xắn bước ra. Cô ấy đang cầm một bó hoa. Cô ấy quỳ xuống, đặt chúng bên cạnh một cây thánh giá bằng gỗ với một bên dấu chữ thập là dòng chữ CÁC CON À và CHÚA GIÊSU Ở BÊN CÁC CON ở nửa bên kia. Rồi cô ấy đứng dậy.

“Thật buồn phải không?” Cô ấy nói với Holly.

“Vâng.”

“Tôi là một người theo đạo Cơ đốc, nhưng tôi mừng vì gã đàn ông làm điều này đã chết. Vui mừng. Và tôi mừng vi hắn đang ở dưới địa ngục. Như thế tôi có ác quá không?”

“Hắn không ở địa ngục,” Holly nói.

Người phụ nữ giật mình như thể vừa bị tát vào mặt.

“Hắn mang đến địa ngục.”

Holly lái xe đến Sân bay Dayton. Cô chạy dưới tốc độ cho phép, nhưng vẫn phải cưỡng lại ý muốn vượt quá tốc độ. Vì một lý do nào đó, luật vẫn là luật.

❊ 3 ❊

Việc phải bay trên những chiếc máy bay loại nhỏ (Bill gọi chúng là Tin Can Airways) có những lợi thế riêng. Đâu tiên, chặng cuối cùng đã đưa cô xuống sân bay Kiowa ở hạt Flint, tiết kiệm giúp cô một trăm cây số đường lái xe từ thành phố Cap. Hãng du lịch Leapfrog cũng giúp cô có cơ hội dành thời gian nghiền ngẫm thêm. Trong thời gian tạm dừng ngắn ngủi giữa các chuyến bay, cô đã sử dụng Wi-Fi của sân bay để tải xuống nhiều thông tin nhất có thể và nhanh nhất

Có thể. Trong suốt các chuyến bay, cô đọc những gì đã tải xuống, lướt nhanh và tập trung cao độ, hẩu như không nghe thấy những tiếng kêu thất thanh khi chuyên bay thứ hai của cô, một động cơ phản lực cánh quạt ba mươi chỗ, va vào một lỗ hổng không khí và lao xuống đột ngột như thang máy.

Cô đến nơi chỉ muộn có năm phút, và bằng cách bứt tốc, trở thành người đầu tiên vào Hertz, nhận được cái liếc xéo từ người nhân viên bán hàng mệt mỏi đã bị cô đánh bại bằng một cú chạy nước rút cuối cùng. Trên đường vào thị trấn, thấy nó thấp thoáng ngay phía trước mặt, cô đã không thể cưỡng lại được cám dỗ vượt quá tốc độ cho phép. Nhưng chỉ năm tám cây số một giờ thôi.

❊ 4 ❊

“Đó là cô ấy. Chính xác rồi.”

Howie Gold và Alec Pelley đang đứng bên ngoài tòa nhà có văn phòng của Howie. Howie chỉ vào một người phụ nữ mảnh khảnh trong bộ vest công sở màu xám và áo blouse trắng đang đi như chạy trên vỉa hè, chiếc túi tote lớn đập vào một bên hông thon gọn của cô. Mái tóc được cắt ngắn ôm sát khuôn mặt nhỏ, với phần tóc mái xám chạm lông mày. Cô không trang điểm mà chỉ dùng chút son môi. Mặt trời đã lặn, nhưng hơi nóng vẫn hẩm hập, và một giọt mồ hôi chảy dài trên má cô.

“Cô Gibney?” Howie hỏi, bước tới.

“Vâng,” cô thở hổn hển. “Tôi có đến muộn không?”

“Thực ra là sớm hai phút,” Alec nói. “Tôi có thể cầm giúp cô túi được chứ? Trông nó nặng quá.”

“Tôi ổn,” cô nói, nhìn từ vị luật sư hói đầu với thân hình mập mạp sang người điều tra viên đã thuê cô. Pelley cao hơn sếp của mình ít nhất 15 xen-ti-mét, với mái tóc màu xám chải ngược ra sau, tối nay ông ta mặc quần âu màu da kèm áo sơ mi trắng mở nút cổ. “Những người khác đến chưa?”

“Đến gần hết rồi,” Alec nói. “Thám tử Anderson — à thiêng quá, họ kia rồi.”

Holly quay lại và thấy ba người đang đến gần. Một phụ nữ, vẫn giữ được vẻ duyên dáng trẻ trung dẫu cho đã ở giữa tuổi trung niên, dù quầng thâm dưới mắt chỉ được che bớt bởi chút phấn nền và phấn phủ, cho thấy có lẽ gần đây cô ấy đã ngủ không ngon giấc. Bên trái cô là một người đàn ông gầy gò, trông có vẻ lo lắng với một nhúm tóc bò liếm chỏng lên từ phía sau mái tóc vuốt keo cứng ngắc của anh ta. Và bên phải cô ấy...

Thám tử Anderson là một người đàn ông cao lớn với đôi vai xuôi và bắt đầu có dấu hiệu ục ịch nếu anh không tập thể dục thường xuyên hơn vả để ý đến thực đơn dinh dưỡng. Đẩu anh hơi chúi về phía trước, và đôi mắt màu xanh lam sáng, đang quét cô như máy quét la-ze. Đó không phải là Bill, tất nhiên không phải vây, Bill đã qua đời hai năm rồi và anh ấy sẽ không bao giờ trở lại. Hơn nữa, người đàn ông này trẻ hơn nhiều so với Bill khi Holly gặp anh lần đầu tiên. Chính sự tò mò háo hức trên gương mặt ấy khiến cô nhẩm lẫn vì chúng y hệt nhau. Anh đang nắm tay người phụ nữ, có lẽ đó là vợ anh. Thật thú vị khi cô ấy lại đi cùng anh đến đây.

Mọi người bắt đầu chào hỏi và giới thiệu nhau. Người đàn ông gầy gò có nhúm tóc bò liếm hóa ra lại chính là ủy viên công tố hạt Flint, William (“Hãy gọi tôi là Bill”) Samuels.

“Lên tầng thôi không nóng quá,” Howie nói.

Vợ Anderson - Jeanette - hỏi han về chuyến bay, và cô cũng lịch sự đáp lại. Sau đó, cô quay sang Howie và hỏi liệu có thiết bị nghe nhìn ở căn phòng mà họ sẽ sử dụng hay không. Ông ta nói với cô là có và cô có thể sử dụng chúng nếu có tài liệu cần trình bày. Khi họ bước ra khỏi thang máy, Holly hỏi nhà vệ sinh nữ. “Tôi có thể sẽ mất vài phút. Tôi từ sân bay đến thẳng đây.”

“Chắc chắn rồi. Cuối sảnh, rẽ trái. Mở khóa rồi đấy.”

Holly sợ vợ của Anderson sẽ tình nguyện đi cùng mình, nhưng Jeanette đã không làm thế. Thật tốt. Holly phải đi tiểu, nhưng cô có việc quan trọng hơn cần nghĩ, một vấn đề cần sự riêng tư tuyệt đối.

Trong phòng vệ sinh, cô vén váy lên, đặt chiếc túi ở giữa đôi giày lười, và nhắm mắt lại. Lưu tâm đến việc những căn phòng như thế này rất vang, cô chỉ thẩm cáu nguyên.

Lại là con, Holly Gibney đây, và con cần sự giúp đỡ. Người biết đấy, con không giỏi giao thiệp với người lạ dù chỉ là giao tiếp 1-1, vậy mà tối nay con phải gặp tận sáu người. Bảy, nếu vợ cửa Maitland cũng ở đây. Con không hoãng loạn, nhưng sẽ là nói dối nếu con nói rằng mình không sợ hãi. Bill có thể làm những việc như thế này, nhưng con không phải là anh ấy. Hãy giúp con lầm như những gì anh ấy sẽ làm nếu ồ đây. Hãy giúp con hiểu được sự ngờ vực tất yếu và không sợ hãi điều đó.

Cô nói ra tiếng lời cầu nguyện cuối, nhưng cũng chỉ dám thì thầm. “Xin Chúa, hãy giúp con không căng thẳng quá mà ợ hơi.” Cô dừng lại, sau đó nói thêm, “Con sẽ không hút thuốc.”

❊ 5 ❊

Cuộc họp diễn ra trong phòng họp của Howard Gold, và dù nó nhỏ hơn phòng họp trong The Good Wife (Holly đã xem tất cả bảy mùa, và bây giờ đã chuyển sang mùa tiếp), nơi này rất đẹp. Những bức tranh trang nhã, bàn gỗ gụ bóng, ghế da. Vợ Terry Maitland cũng đến. Cô ấy đến ngồi ở ngay bên phải Howie khi ông ta ngồi xuống chỗ ngồi ở đâu bàn và hỏi ai đang trông bọn trẻ.

Marcy cười tươi với ông ta. “Lukesh và Chandra Patel đã đồng ý trông giúp. Con trai của họ đã ở đội của Terry. Trên thực tế, Baibir đã ở gôn 3 khi...” Cô ấy nhìn thám tử Anderson. “Khi người của anh bắt anh ấy. Baibir đã rất đau lòng. Thằng bé không hiểu chuyện gì xảy ra.

Anderson khoanh tay và không nói gì. Vợ anh đặt tay lên vai anh và thì thầm điều gì đó mà không ai khác có thể nghe thấy. Anderson gật đầu.

“Tôi sẽ bắt đầu cuộc họp,” Gold nói. “Tôi không có chương trinh cụ thể, song có lẽ vị khách của chúng ta muốn là người bắt đâu. Đây là cô Holly Gibney, một thám tử tư được Alec thuê để điều tra ở đâu Dayton trong vụ này, giả định rằng hai vụ án thực sự có mối liên hệ nào đó với nhau. Đó cũng là nguyên nhân chúng ta có mặt ở đây để xác nhận, nếu có thể.”

“Tôi không phải là một thám tử tư,” Holly nói. “Cộng sự của tôi, Peter Huntley, là người có bằng điều tra viên tư nhân. Công ty chúng tôi chủ yếu tập trung vào các vụ thu hồi và truy tìm. Chúng tôi chỉ tiếp nhận điều tra tội phạm ở những vụ không động chạm đến cảnh sát. Chúng tôi khá may mắn với mẩy vụ tìm kiếm vật nuôi mất tích.”

Ví dụ như vậy nghe có vẻ khập khiễng, cô nóng bừng cả mặt.

“Cô Gibney lại quá khiêm tốn rồi, “Alec nói. “Tôi nghĩ cô đã từng tham gia vào vụ truy tìm tội phạm bạo lực đang chạy trốn tên là Morris Bellamy.”

“Đó là vụ của cộng sự của tôi,” Holly nói. “Cộng sự đầu tiên. Bill Hodges. Anh ấy qua đời rồi, Pelley - à, Alec - như anh biết đấy.”

“Vâng,” Alec nói. “Chia buồn với cô.”

Người đàn ông gốc La-tinh mà thám tử Anderson giới thiệu là Yunel Sablo của Cảnh sát Tiểu bang hắng giọng. “Tôi nghĩ,” anh ta nói, “cô và Hodges cũng đã tham gia vào xử lý một vụ giết người hàng loạt và có ý định khủng bố. Một thanh niên tên là Hartsheld. Và chính cô là người trực tiếp ngăn hắn lại trước khi hắn có thể gây ra một vụ nổ trong một khán phòng đông đúc. Nếu điều đó xảy ra thì có đến hàng ngàn người trẻ phải bỏ mạng.”

Mọi người bắt đầu xì xào. Holly cảm thấy mặt mình nóng ran. Cô rất muốn nói với họ rằng cô đã thất bại, rằng cô chỉ tạm dừng được ham muốn giết người của Brady trong một thời gian thôi, rằng hắn đã quay trở lại và gây ra nhiều cái chết hơn nữa trước khi bị chặn đứng, nhưng giờ không phải lúc.

Trung úy Sablo vẫn chưa chịu dừng. “Theo tôi được biết cô còn được thành phố tôn vinh?”

“Thực ra cả ba người chúng tôi đều được khen thưởng, nhưng cũng chỉ là một chiếc chìa khóa vàng và một tấm thẻ đi xe buýt miễn phí mười năm thối.” Cô nhìn họ, không vui khi nhận ra mình vẫn đang đỏ mặt như một đứa trẻ mười sáu tuổi. “Chuyện đó lâu rồi. Và đối với vụ này, tôi muốn dành báo cáo và cả những kết luận của tôi sau cùng.”

“Giống như chương cuối cùng của một trong những bí ẩn phòng vẽ tranh kiểu Anh cổ kính,” Gold mỉm cười nói. “Tất cả chúng tôi đều sẽ kể những gì chúng tôi biết, sau đó cô sẽ đứng lên và khiến chúng tôi kinh ngạc với lời giải thích về kẻ đã làm điều đó, và cách thức thực hiện của hắn.”

“Chúc anh may mắn với việc đó,” Bill Samuels nói. “Chỉ nghĩ về vụ Peterson thôi cũng khiến tôi đau đầu rồi.”

“Tôi nghĩ chúng ta có hầu hết các mảnh ghép rồi,” Holly nói, “nhưng tôi không tin chúng đã được bày sẵn trên bàn lúc này. Tôi cứ nhớ mãi một câu tục ngữ - tôi chắc rằng các vị sẽ nghĩ điều đó thật ngớ ngần — không tiết lộ thiên cơ cho kẻ thù. Nhưng giờ cả chính lân tà đều đã ở đây...”

“Chưa kể đến những người bạn của họ nữa,” Howie nói. Sau đó, khi nhìn thấy biểu hiện của Holly, ông đã chữa lại: “Tôi không có ý trêu chọc cô đầu, cô Gibney, tôi đồng ý với cô. Mọi thứ đã ở trên bàn. Ai bắt đầu trước đầy?”

“Yune,” Anderson nói. “Vì tôi đang nghỉ phép.”

Yune đặt một chiếc cặp lên bàn và lấy máy tính xách tay của mình ra. “Gold này, anh có thể chỉ cho tôi cách sử dụng máy chiếu được không?”

Howie đồng ý, và Hoỉly đã quan sát kỹ, như vây thỉ cố sẽ biết cách tự làm khi đến lượt. Khi các dây bên phải được kết nối, Howie tắt bớt đèn.

“Được rồi,” Yune nói. “Xin lỗi cô Gibney, nếu tôi có lỡ nhắc lại vài điều mà cô đã phát hiện ra khi còn ở Dayton.”

“Không sao đâu,” Holly nói.

“Tôi đã nói chuyện với Đại úy Bill Darwin của Sở Cảnh sát Dayton, và Trung sĩ George Highsmith của Sở Cảnh sát Trotwood. Khi tôi nói với họ rằng chúng ta đã vướng phải một vụ tương tự, có thể liên quan đến một chiếc xe van bị đánh cắp ở gần hiện trường vụ án của họ và của chúng ta, họ đã rất sẵn sàng giúp đỡ, và nhờ sự kỳ diệu của viễn thông, tôi có tất cả mọi thứ đây rồi. Nếu máy chiếu hoạt động thì được luôn.”

Màn hình nên của Yune xuất hiện. Anh ta nhấp vào một tệp có tên HOLMES. Hình ảnh đầu tiên cho thấy một người đàn ông trong bộ áo liền quần màu cam của nhà tù hạt. Anh ta có mái tóc màu nâu vàng cùng râu quai nón lởm chởm hai bên má. Đôi mắt anh ta hơi nheo lại, khiến diện mạo trông có phần nhiều sát khí hoặc chỉ đơn giản là sững sờ trước bước ngoặt đột ngột mà cuộc đời anh ta vướng vào. Holly đã nhìn thấy tấm ảnh tù này trên trang nhất của Dayton Daily News , số ra ngày 30 tháng Tư.

“Đây là Heath James Holmes,” Yune nói. “Ba mươi tư tuổi. Bị bắt vì tội giết Amber và Jolene Howard. Tôi có ảnh hiện trường vụ án của hai bé gái nhưng sẽ không cho các vị xem. Các vị sẽ không thể ngủ nổi. Tình trạng cắn xé tồi tệ nhất mà tôi từng thấy.”

Cả bảy người đang theo dõi đêu im lặng. Jeannie đang nắm chặt tay chồng. Marcy đang nhìn chằm chằm vào bức ảnh của Holmes như thể bị thôi miên, và đưa tay lên che miệng.

“Ngoài việc từng có chút tiền án hồi vị thành niên khi sử dụng xe ăn cắp cùng một vài vé phạt quá tốc độ, Holmes khá sạch sẽ. Các đánh giá về công việc hai lần một năm của anh ta, đầu tiên là tại Bệnh viện Kindred và sau đó là tại viện dưỡng lão Heisman, đều rất xuất sắc. Đồng nghiệp và bệnh nhân đánh giá cao anh ta. Có người còn nhận xét anh ta luôn thân thiện, biết quan tâm và luôn vượt quá kỳ vọng?

“Mọi người cũng nói về Terry như vậy,” Marcy thì thầm.

“Chẳng có nghĩa lý gì,” Samuels phản đối. “Mọi người cũng nói thế về Ted Bundy.”

Yune tiếp tục. “Holmes nói với các đồng nghiệp rằng anh ta định dành kỳ nghỉ một tuần để ở bên mẹ tại Regis, một thị trấn nhỏ cách Dayton và Trotwood năm mươi cây số về phía bắc. Giữa kỳ nghỉ của anh ta, thi thể của các cô bé nhà Howard được một người đưa thư phát hiện trên đường đi phát thư. Anh ta nhìn thấy một đàn quạ đông đúc réo nhau bay về một khe núi cách nhà Howard khoảng một cây số rưỡi, và đã dừng lại để điều tra. Trước cảnh tượng mà anh ta nhìn thấy, anh ta ước giá mà mình đã không dừng lại.”

Anh ta nhấp chuột, và hai bé gái góc vàng xuất hiện thế chỗ cho Heath Holmes râu tóc bờm xờm. Bức ảnh có lẽ đã được chụp tại một lễ hội hóa trang hoặc một công viên giải trí; Holly có thể nhìn thấy một vòng đu quay ở phía sau lưng chúng. Amber và Jolene đang tươi cười và giơ những cây kẹo bông lên như giải thưởng.

“Không bao giờ được đổ lỗi cho nạn nhân, nhưng hai cô bé con nhà Howard là một trong số ít ngoại lệ. Mẹ nghiên rượu, bố không chăm sóc con cái, một gia đình có thu nhập thấp sống trong một khu phố tồi tàn. Nhà trường đã xếp chúng vào danh sách những học sinh có nguy cơ, và chúng đã trốn học nhiều lần. Chúng đã làm việc đó vào thứ Hai, ngày 23 tháng Tư, khoảng 10 giờ sáng. Đó là khoảng thời gian Amber được giải lao, còn Jolene nói con bé muốn dùng nhà vệ sinh, vi vậy chúng có thể đã lên kế hoạch từ trước.”

“Thoát khỏi Alcatraz,” Bill Samuels nói.

Không ai cười cả.

Yune tiếp tục. “Người ta nhìn thấy chúng ngay trước buổi trưa trong một cửa hàng bán bia và tạp hóa nhỏ cách trường học khoảng năm dãy nhà. Đây là ảnh tĩnh, được chụp từ camera giám sát của cửa hàng.”

Hình ảnh đen trắng sắc nét và rõ ràng — giống như thứ được trích ra từ một bộ phim trinh thám ngày xưa, Holly nghĩ. Cô nhìn chằm chằm vào hai cô bé tóc vàng, một đứa cầm hai chai soda và đứa còn lại cầm hai thanh kẹo. Chúng mặc quần jean và áo phông. Không đứa nào có vẻ hài lòng; đứa cầm cầy kẹo đang chỉ tay, miệng con bé mở to và lông mày nhíu lại.

“Nhân viên bán hàng biết chúng lẽ ra phải đi học và sẽ không bán đồ cho chúng,” Yune nói.

“Chính xác,” Howie nói. “Anh gần như có thể nghe thấy đứa lớn hơn đang lầm bẩm chửi anh ta.”

“Đúng thế,” Yune nói, “nhưng đó không phải là phần thú vị. Kiểm tra góc trên bên phải của bức ảnh đi. Trên vỉa hè và đang nhìn vào cửa sổ. Đây, tôi sẽ phóng to nó lên một chút.”

Marcy thì thầm điều gì đó. Nó có thể là Chúa ơi .

“Là hắn, phải không?” Samuels nói. “Đó là Holmes. Đang quan sát chúng.”

Yune gật đầu. “Nhân viên bán hàng ở đó là người cuối cùng khai rằng đã gặp Amber và Jolene còn sống. Nhưng ít nhất một camera khác đã bắt được hình ảnh của chúng.”

Anh ta nhấp chuột, và một bức ảnh khác từ một camera giám sát khác xuất hiện trên màn hình ở phía trước phòng họp. Camera này được gắn ở một trạm bơm xăng. Mã thời gian ở góc cho biết lúc đó là 12 giờ 19 phút chiều, ngày 23 tháng Tư. Holly nghĩ đây chắc hẳn là bức ảnh mà người y tá cung cấp thông tin cho cô đã để cập đến. Candy Wilson đoán rằng chiếc xe trong đó có lẽ là chiếc xe tải của Holmes, một chiếc Chevy Tahoe “màu mè”, nhưng cô ta đã nhẩm. Bức ảnh cho thấy Heath Holmes đang sải bước, trở lại một chiếc xe tải có dòng chữ CẢNH QUAN VÀ BỂ BƠI DAYTON được in ở bên sườn. Anh ta có lẽ đã trả xong tiên xăng, anh ta đang quay lại xe với mỗi tay một lon nước ngọt. Thò đầu ra khỏi cửa sổ ghế phụ để nhận chúng là Amber, cô chị trong hai cô con gái nhà Howard.

“Chiếc xe tải đó bị đánh cắp khi nào?” Ralph hỏi.

“Ngày 14 tháng Tư,” Yune nói.

“Hắn đã cất giấu nó cho đến khi cần dùng đến. Có nghĩa là... đây là một tội ác có kế hoạch.”

“Có vẻ như vậy thật.”

Jeannie nói, “Và hai đứa bé cứ thế lên xe với hắn?”

Yune nhún vai. “Một lần nữa, đừng đổ lỗi cho nạn nhân - cô không thể đổ lỗi cho hai đứa bé vì chúng đã đưa ra những lựa chọn tồi - nhưng bức ảnh này cho thấy chúng đã chủ động lên xe với hắn, ít nhất là lúc đâu. Bà Howard nói với Trung sĩ Highsmith rằng cô chị có thói quen bắt xe khi muốn đi đến một nơi nào đó, dù cô bé được nhắc nhở rất nhiều lần rằng đó là hành vi nguy hiểm.”

Holly nghĩ rằng hai bức ảnh từ camera giám sát đã kể một câu chuyện dễ hiểu. Kẻ dị biệt đã thấy hai cô bé bị từ chối phục vụ tại cửa hàng bán bia và tạp hóa, và đã đề nghị sẽ mua cho chúng soda và kẹo, khi hắn đổ xăng xong. Sau đó, hắn có thể đã nói với chúng rằng hắn sẽ đưa chúng về nhà hoặc bất cứ nơi nào khác mà chúng có thể muốn đến. Chỉ là một người đàn ông tốt bụng giúp đỡ hai đứa nhóc đi nhờ xe - dẫu gì bản thân hắn cũng từng là trẻ con.

“Lần tiếp theo người ta nhìn thấy Holmes là sau 6 giờ chiều một chút,” Yune tiếp tục. “Ớ một Waffle House ở ngoại ô Dayton. Hắn dính máu trên mặt, tay và áo. Hắn nói với nhân viên phục vụ và người nhận gọi món rằng hắn bị chảy máu mũi, và đã rửa sạch vết máu trong phòng vệ sinh nam. Khi trở ra, hắn đã gọi vài món mang đi. Khi hắn rời đi, người đầu bếp và người phục vụ cũng nhìn thấy những đốm máu sau lưng áo sơ mi và quần của hắn, điều này cho thấy hắn có vẻ đã bịa chuyện, ai chẳng biết mũi ở đằng trước. Nhân viên phục vụ đã ghi lại biển số xe của hắn và gọi cảnh sát. Cả hai sau đó đều nhận ra Holmes trong nhóm sáu ảnh. Khó ai có thể nhầm mái tóc màu nâu vàng đó.”

“Hắn vẫn lái chiếc xe tải khi ghé qua Waffle House?” Ralph hỏi.

“Uh-huh. Sau khi xác hai đứa nhỏ được tìm thấy, người ta cũng phát hiện ra cái xe bị bỏ lại trong bãi đậu xe của thành phố Regis. Có rất nhiều máu ở phía sau, dấu tay của hắn và dấu tay của hai đứa nhỏ xuất hiện trên gần như tất cả mọi thứ. Cả trong máu. Một lần nữa, đầy là sự tương đồng vô cùng lớn với vụ giết Frank Peterson. Thực tế mà nói, chúng giống nhau đến kinh ngạc.”

“Từ nhà anh ta ở Regis đến chỗ chiếc xe tải được tìm thấy có gần không?” Holly hỏi.

“Chưa đến một cây số. Cảnh sát cho rằng hắn đã bỏ xe lại đó, đi bộ về nhà, thay bộ quần áo dính máu và nấu cho mẹ một bữa tối ngon lành. Cảnh sát thu được dấu vân tay gần như ngay lập tức, nhưng họ phải mất vài ngày để tìm ra thủ phạm.”

“Bởi vì Holmes từng có tiền án lái xe đánh cắp khi hắn còn ở tuổi vị thành niên,” Ralph nói.

Vâng, thưa sếp. Vào ngày 26 tháng Tư, Holmes đã đến viện dưỡng lão Heisman. Khi người trực - cô June Kelly - hỏi rằng sao hắn lại đến chỗ làm vào giữa kỳ nghỉ, hắn đã nói rằng mình phải lấy đồ quên ở tủ khóa và tiện đến thì ghé qua thăm vài bệnh nhân. Điều đó khiến cô ấy cảm thấy hơi kỳ quặc, bởi vì các y tá có tủ khóa, nhưng hộ lý chỉ có tủ nhựa riêng trong phòng nghỉ. Ngoài ra, ngay từ ngày đầu làm việc, các hộ lý đã được quán triệt phải gọi các bệnh nhân là cư dần, và Holmes thường chỉ gọi họ là bạn già của hắn. Rất thân thiện. Nhân tiện, một trong những người mà hắn ghé qua kiểm tra vào ngày hôm đó là bố của Terry Maitland và cảnh sát đã tìm thấy những sợi tóc vàng trong phòng vệ sinh của ông ấy. Những sợi tóc khớp với bằng chứng pháp y của Jolene Howard.”

“Thật là tiện,” Ralph nói. “Không ai cho rằng đó có thể là một hành động gài bẫy ư?”

“Đánh giá cái cách bằng chứng cứ thế xếp chồng lên nhau, họ chỉ cho rằng hắn đã bất cần hoặc muốn bị bắt,” Yune nói. “Chiếc xe tải, dấu vân tay, những bức ảnh trích từ camera giám sát... quần lót của hai đứa bé ở dưới tầng hẩm... và cuối cùng là lớp kem trên mặt bánh, tất cả đều trùng khớp ADN. Các miếng gạc má lấy từ nghi phạm trùng với ADN từ tinh dịch mà thủ phạm để lại tại hiện trường.”

“Chúa ơi,” Bill Samuels nói. “Thực sự không thể tin nổi lần nữa.”

“Ngoại trừ một chỉ tiết lớn,” Yune nói. “Heath Holmes không đủ may mắn để được ghi hình lại tại một buổi diễn thuyết tình cờ diễn ra vào đúng lúc hai đứa nhỏ nhà Howard bị bắt cóc và sát hại. Mẹ hắn thế rằng hắn đã ở Regis suốt thời gian đó, khẳng định hắn không hề quay lại Heisman, và chắc chắn hắn chưa từng đến Trotwood. Tại sao nó lại làm thế? , bà ấy đã nói vậy. Đó là một thị trấn tồi tệ đầy rẫy những kẻ xấu xa.

“Lời khai của bà ấy không hề có giá trị với bồi thẩm đoàn,” Samuels nói. “Này, nếu mẹ anh không nói dối vì anh, thì còn ai làm thế chứ?”

“Những người khác trong khu phố cũng đã nhìn thấy hắn trong suốt tuần nghỉ ngơi đó của hắn,” Yune tiếp tục. “Hắn cắt cỏ, sửa máng nước, sơn cổng và giúp người phụ nữ bên kia đường trổng hoa. Đây cũng là ngày hai đứa trẻ nhà Howard bị bắt cóc. Ngoài ra, chiếc xe tải màu mè đó của hắn khó có thể bị trộn lẫn khi hắn lái xe đi loanh quanh và chạy vài việc vặt.”

Howie hỏi, “Người phụ nữ bên kia đường, cô ta có thấy và ở gần hắn vào bất cứ thời điểm nào trùng với thời điểm hai đứa trẻ bị giết không?”

“Cô ấy nói vào khoảng 10 giờ sáng. Gần như là một chứng cứ ngoại phạm, nhưng không chắc chắn. Regis ở gần Trotwood hơn rất nhiều so khoảng cách từ Flint tới thành phố Cap. Cảnh sát đặt ra giả thuyết rằng ngay sau khi giúp người hàng xóm xong, hắn đã lái xe đến khu trung tâm thành phố, đổi chiếc Tahoe của mình lấy chiếc xe tải và đi săn .”

“Terry may mắn hơn Holmes,” Marcy nói, đầu tiên nhìn Ralph và sau đó nhìn Bill Samuels. Ralph bắt gặp ánh mắt của cố; Samuels thì khả năng cao là không. “Chỉ là không đủ may mắn.”

Yune nói, “Tôi còn tìm hiểu được một điều nữa - một mảnh ghép khác của câu đố, cô Gibney sẽ nói vậy - nhưng tôi sẽ để dành nó cho đến khi Ralph tóm tắt lại cuộc điều tra Maitland, cả đúng lẫn sai.”

Ralph tóm tắt lại vấn đề, nói những câu ngắn gọn, như thể đang làm chứng trước tòa. Anh nhấn mạnh chỉ tiết Claude Bolton đã nói với anh - rằng Terry đã cào xước tay anh ta khi họ bắt tay nhau. Sau khi nói với họ về việc phát hiện ra quần áo ở thị trấn Canning - quần dài, đồ lót, tất, giày thể thao nhưng không thấy áo sơ-mi - anh quay trở lại với gã đàn ông mà anh nhìn thấy ở trước tòa án. Anh nói rằng anh không chắc hắn có đang sử dụng chiếc áo sơ mi mà Terry đã mặc ở nhà ga xe lửa Dubrow để che đi cái đầu có lẽ là đầy sẹo và không có tóc của hắn hay không, song anh tin là vậy.

“Chắc hẳn bên truyền hình có đưa tin tại tòa án,” Holly nói. “Anh đã kiểm tra chưa?”

Ralph và Trung úy Sablo nhìn nhau.

“Chúng tôi làm rồi,” Ralph nói, “nhưng hắn không có mặt ở đó. Không xuất hiện trong bất kỳ cảnh quay nào.”

Bầu không khí có phần xáo động, và Jeannie lại nắm lấy cánh tay của anh lần nữa - thực tế là siết chặt. Ralph vỗ tay cô trấn an, nhưng anh đang nhìn người phụ nữ bay từ Dayton đến đây. Holly không tỏ vẻ khó hiểu. Trông cô rất hài lòng.

❊ 6 ❊

“Gã thủ phạm giết hai cô bé nhà Howard từng dùng một chiếc xe tải giao hàng,” Yune nói, “và khi xong việc, hắn quẳng nó ở nơi nào đó dễ phát hiện. Gã giết Frank Peterson cũng làm điều tương tự với chiếc xe van mà hắn dùng để bắt cóc cậu bé; hắn thực sự đã thu hút sự chú ý của mọi người bằng cách để nó sau Shorty's và nói chuyện với một vài nhân chứng - như Holmes nói chuyện với đầu bếp và nhân viên phục vụ ở Waffle House. Cảnh sát Ohio đã tìm thấy rất nhiều dấu vân tay trong chiếc xe tải giao hàng, cả vân tay của kẻ giết người lẫn nạn nhân; chúng tôi cũng tìm thấy rất nhiều dấu vân tay trên chiếc van. Nhưng những dấu vân tay trên chiếc van ít nhất có một bộ không xác định. Cho đến cuối ngày hôm nay, thì mọi sự sáng tỏ rồi.”

Ralph nghiêng người về phía trước, chờ đợi.

“Để tôi cho mọi người xem thứ này.” Yune thao tác trên máy tính xách tay của mình. Hai dấu vân tay xuất hiện trên màn hình. “Đây là của đứa trẻ đã đánh cắp chiếc xe van ở ngoại ô New York. Một dấu từ xe van, một dấu thu được khi cậu ta bị bắt ở E1 Paso. Bây giờ hãy kiểm tra thứ này.”

Anh ta tiếp tục thao tác, và hai dấu vân tay khớp với nhau một cách hoàn hảo.

“Xong Merlin Cassidy. Bây giờ đến Frank Peterson - một dấu vân tay từ pháp y và một dấu vân tay từ xe van.”

Hai dấu vân tay tiếp tục trùng khớp.

“Tiếp theo là Maitland. Một dấu vân tay từ chiếc xe van - một trong số nhiều dấu vân tay, tôi có thể nói vậy - và dấu vân tay còn lại lấy từ Sở Cảnh sát Thành phố Flint.”

Anh ta kéo hai dấu vân tay lại gần nhau và chúng trùng khớp hoàn hảo. Marcy thở dài.

“Được rồi, bây giờ hãy chuẩn bị tinh thần nào quý vị. Dấu vân tay bên trái, chưa xác định từ chiếc xe van; còn bên phải là dấu vân tay của Heath Holmes được lấy khi hắn bị bắt ở hạt Montgomery, Ohio.”

Anh ta lại kéo hai dấu vân tay lại gần nhau và chồng chúng lên, nhưng lần này chúng không khớp hoàn toàn, chỉ gần như khớp. Holly tin rằng bồi thẩm đoàn có thể chấp nhận đây là sự trùng khớp. Cô chắc chắn luôn.

“Các vị sẽ nhân thấy một vài khác biệt nhỏ,” Yune nói. “Đó là vì dấu vân tay của Holmes từ xe van hơi mờ, có thể do thời gian. Nhưng có đủ những điểm nhận dạng làm tôi hài lòng. Heath Holmes đã ở trong chiếc xe van đó vào một thời điểm nào đó. Đây là thông tin mới.”

Cả căn phòng rơi vào im lặng.

Yune đưa ra thêm hai dấu vân tay nữa. Hình bên trái sắc nét và rõ ràng. Holly nhận ra họ đã nhìn thấy nó. Ralph cũng vậy. “Đó là dấu vân tay của Terry,” anh nói. “Trên chiếc van.”

“Chính xác. Và ở bên phải, đầy là dấu vân tay trên mặt khóa bỏ lại trong nhà kho.”

Các đường vân vẫn như cũ, nhưng mờ một cách kỳ lạ ở một số chỗ. Khi Yune di chuột đưa chúng đè lấp lên nhau, dấu vân tay trên chiếc van khớp vào những đoạn đứt trên dấu vân tay ở khóa thắt lưng.

“Rõ ràng chúng là một,” Yune nói. “Cả dâu vân tay của Terry Maitland cũng vậy. Chỉ có điều, dấu vân tay trên chiếc khóa thắt lưng giống như vân tay của một người vô cùng già.”

“Sao lại có chuyện đó?” Jeannie hỏi.

“Không thể,” Samuels nói. “Tôi đã thấy một bộ dấu vân tay của Maitland trên thẻ lăn vân tay lúc hắn bị bắt... vốn được thực hiện vài ngày sau khi hắn chạm vào chiếc mặt khóa thắt lưng đó lần cuối. Chúng rõ ràng và đâm nét. Mọi đường và vân đều còn nguyên vẹn.”

“Chúng tôi cũng đã lấy một dấu vân tay chưa rõ từ mặt khóa đó,” Yune nói. “Nó đây.”

Không bồi thẩm đoàn nào chấp nhận điều này; có một vài đường và vân, nhưng chúng mờ nhạt, gần như không có gì ở đó. Hầu hết dâu vân tay chẳng khác nào một vệt mờ.

Yune nói, “Không thể chắc chắn, do chất lượng kém, nhưng tôi không tin đó là dấu vân tay của Maitland, và nó không thể là của Holmes, bởi hắn đã chết từ lầu trước khi chiếc mặt khóa đó xuất hiện lần đầu tiên ở nhà ga xe lửa. Nhưng... Heath Holmes thực sự đã ở trong chiếc xe van được sử dụng để bắt cóc cậu bé Peterson. Tôi lúng túng không biết giải thích khi nào, bằng cách nào hoặc tại sao, nhưng tôi thể sẽ bỏ ra một nghìn đô-la để biết ai đã để lại dấu vân tay mờ đó trên khóa thắt lưng và ít nhất năm trăm đô-la để biết làm thế nào mà dấu vân tay của Maitland trên đó lại trông già nua đến vậy.”

Anh ta rút phích cắm máy tính xách tay của mình và ngồi xuống.

“Có rất nhiều mảnh ghép trên bàn rồi,” Howie nói, “nhưng tôi không thể tạo ra một bức tranh. Còn ai còn mảnh ghép nào nữa không?”

Ralph quay sang vợ. “Hãy kể cho họ nghe đi,” anh nói. “Hãy cho họ biết em đã mơ thấy ai trong ngôi nhà của chúng ta.”

“Đó không phải là một giấc mơ,” cô nói. “Những giấc mơ phai mờ dần. Thực tế thì không.”

Cô bắt đầu chậm rãi, sau đó tăng tốc dần, cô kể cho họ nghe chuyện mình đã nhìn thấy ánh sáng đèn ở tầng dưới, và phát hiện ra người đàn ông đang ngồi phía bên kia cổng tò vò, trên một trong những chiếc ghế cạnh bàn bếp của họ. Cô kết thúc với lời cảnh báo mà hắn gửi tới anh qua cô, nhấn mạnh bằng những chữ cái màu xanh lam nhạt dần được in trên ngón tay hắn. Cô PHẢI (MUST) bảo anh ta dừng lại. “Tôi đã ngất lịm đi. Tôi chưa từng thế bao giờ.”

“Cô ấy thức dậy trên giường,” Ralph nói. “Không có dấu hiệu đột nhập. Báo động chống trộm vẫn bật.”

“Một giấc mơ,” Samuels thẳng thắn nói.

Jeannie lắc đầu mạnh đến nỗi khiến tóc cô tung lên. “Hắn đã ở đó!”

“Có điều gì đó đã xảy ra,” Ralph nói. “Tôi chắc chắn thế. Gã đàn ông với khuôn mặt bị bỏng và hình xăm trên những ngón tay...”

“Hắn không xuất hiện trong báng ghi hình,” Howie nói.

“Tôi biết điều này nghe thật điên rồ. Nhưng có một người khác liên quan đến vụ này có hình xăm trên ngón tay, và cuối cùng tôi cũng nhớ ra đó là ai. Tôi đã yêu cầu Yune gửi cho tôi một bức ảnh, và Jeannie sẽ xác nhận. Người đàn ông mà Jeannie nhìn thấy trong giấc mơ của cô ấy - hoặc trong nhà của chúng tôi - là Claude Bolton, bảo kê tại Gentlemen, Please . Người bị cứa vào tay khi bắt tay với Maitland.”

“Như Terry bị cứa lúc va vào người hộ lý,” Marcy nói. “Người hộ lý đó là Heath Holmes, phải không?”

“Ồ, chắc chắn rồi,” Holly nói, gần như lơ đễnh. Cô đang nhìn vào một trong những bức ảnh trên tường. “Còn ai vào đây nữa chứ?”

Alec Pelley lên tiếng. “Một trong hai người đã kiểm tra nơi nghỉ của Bolton chưa?”

“Tôi đã làm rồi,” Ralph đáp, và giải thích thêm. “Anh ta đang ở một thị trấn phía tây Texas tên là Marysville, cách đây sáu trăm cây số, và trừ khi anh ta giấu một chiếc máy bay cá nhân ở đâu đó, anh ta khó lòng có thể xuất hiện ở nhà chúng tôi vào lúc Jeannie nhìn thấy anh ta.”

“Trừ khi mẹ anh ta nói dối,” Samuels nói. “Như tôi từng nói, các bà mẹ thường sẵn sàng làm điều đó khi con trai của họ bị ngờ vực.”

“Jeannie cũng nghĩ như vậy, nhưng nó có vẻ khó khả thi trong trường hợp này. Cảnh sát đã lấy cớ đến đó, và anh ta nói rằng cả hai đều có vẻ thoải mái và cởi mở. Không có vẻ gì khiên cưỡng cả.”

Samuels khoanh tay trước ngực. “Tôi không chắc.”

“Marcy?” Howard nói. “Tôi nghĩ đến lượt cô chia sẻ rồi.”

“Tôi... Tôi thực sự không muốn. Hãy để ngài thám tử làm điều đó. Grace đã nói chuyện với anh ta.”

Howie nắm lấy tay cô. “Vì Terry.”

Marcy thở dài. “Được rồi. Grace cũng nhìn thấy một người đàn ông. Hai lần. Lần thứ hai là ở trong nhà. Tôi nghĩ con bé đang gặp ác mộng vi đau buồn trước cái chết của bố... như bất kỳ đứa trẻ nào...” Cô dừng lại, bặm môi dưới.

“Làm ơn,” Holly nói. “Việc đó rất quan trọng, bà Maitland.”

“Đúng thế,” Ralph đồng ý. “Rất quan trọng.”

“Tôi chắc chắn là chuyện đó không có thật! Chắc cú luôn!”

“Con bé có tả hắn không?” Jeannie hỏi.

“Cũng có. Lần đầu tiên là khoảng một tuần trước. Con bé và Sarah đang ngủ cùng nhau trong phòng của Sarah, và Grace nói rằng hắn lơ lửng bên ngoài cửa sổ. Con bé nói hắn có khuôn mặt Play-Doh và mắt ống hút. Có ai nghĩ đó chỉ là một cơn ác mộng không?”

Không ai nói gì cả.

“Lần thứ hai là vào Chủ nhật. Con bé nói nó đang chợp mắt thì tỉnh dậy và hắn đang ngồi trên giường. Lần này mắt hắn không còn là ống hút nữa, mà là mắt của bố bọn trẻ nhưng hắn vẫn khiến con bé sợ hãi. Hắn còn có hình xăm trên cánh tay. Và cả trên bàn tay.”

Ralph lên tiếng. “Con bé nói khuôn mặt Play-Doh của hắn đã biến mất. Rằng tóc hắn màu đen, ngắn, vuốt chỏng ngược. Và có một ít râu quanh miệng hắn.”

“Râu dê,” Jeannie nói. Cô trông có vẻ nhợt nhạt. “Đó là cùng một người. Lần đầu con bé có thể đã mơ, nhưng lần hai... Chính là Bolton. Chắc chắn là vậy.”

Marcy xoay lòng bàn tay áp vào thái dương và ấn, như thể cô bị đau đâu. “Tôi biết nghe có vẻ khó tin, song đó hẳn phải là một giấc mơ. Con bé nói áo của hắn đổi màu khi hắn nói chuyện với con bé và điều đó thường xảy ra trong mơ. Thám tử Anderson, anh có muốn kể phần còn lại không?”

Anh lắc đầu. “Cô đang làm rất tốt mà.”

Marcy day mắt. “Con bé nói hắn cười cợt con bé. Hắn gọi con bé là em bé, và khi con bé òa khóc, hắn nói hắn thích thấy con bé buồn. Sau đó, hắn bảo con bé chuyển lời đến thám tử Anderson rằng anh ta phải dừng lại, nếu không điều gì đó tồi tệ sẽ xảy ra.”

“Theo Grace,” Ralph nói, “lần đầu tiên người đàn ông xuất hiện, hắn trông như thể chưa hoàn thiện. Lần thứ hai hắn xuất hiện, con bé mô tả hắn giống như Claude Bolton. Chỉ là anh ta đang ở Texas. Nghĩ sao thì tùy các vị.”

“Nếu Bolton ở đó , anh ta đã không thể ở đây ,” Bill Samuels nói, tỏ ra bực bội. “Điều đó rõ như ban ngày mà.”

“Với Terry Maitland cũng thế,” Howie nói. “Và giờ chúng ta phát hiện ra là cả Heath Holmes cũng vậy.” Ông chuyển sự chú ý sang Holly. “Tối nay chúng ta không có quý cô Marple, nhưng lại có cô Gibney ở đây. Cô có thể ghép những mảnh này lại với nhau giúp chúng tôi không?”

Holly dường như không nghe thấy lời ông. Cô vẫn đang nhìn chằm chằm vào một bức tranh trên tường. “Mắt ống hút,” cô nói. “Vâng. Chắc chắn. Ông hút...” Cô như lạc trôi.

“Cô Gibney?” Howie nói. “Cô có gì cho chúng tôi hay không?”

Holly sực tỉnh. “À vâng. Tôi có thể giải thích chuyện đang xảy ra. Tất cả những gì tôi cần là quý vị hãy giữ cho mình một tâm trí cởi mở. Tôi nghĩ sẽ nhanh hơn nếu tôi cho các vị xem một phần của bộ phim mà tôi đã mang đến. Tôi để nó trong túi xách của mình, một đĩa DVD.”

Vừa lầm bẩm cầu nguyện nhanh để được tiếp thêm sức mạnh (và cầu nguyên mình có thể thuyết phục như Bill Hodges khi những người này tỏ ra hoài nghi, và có lẽ là phẫn nộ), cô đứng dậy và đặt máy tính xách tay của mình ra cuối bàn, nơi Yune từng ngồi. Sau đó, cô lấy ổ đĩa ngoài DVD của mình ra và kết nối nó.

❊ 7 ❊

Jack Hoskins định xin nghỉ ốm vì vết cháy nắng, nhấn mạnh rằng bệnh ung thư da đã tàn phá gia đình ông ta, nhưng rồi lại thôi. Đó là một ý kiến tồi, một ý kiến vô cùng khủng khiếp. Cảnh sát trưởng Geller gần như chắc chắn sẽ yêu cầu ông ta rời văn phòng của mình, và khi người ta xi xào (Rodney Geller không phải là người kín tiếng), Thám tử Hoskins sẽ trở thành trò cười ở sở. Trong trường hợp khó có thể xảy ra là viên cảnh sát trưởng đồng ý, ông ta sẽ phải đi khám bệnh, và Jack chưa sẵn sàng cho việc đó.

Tuy nhiên, ông ta đã bị gọi về sớm ba ngày, điều này thật không công bằng khi kỳ nghỉ chết tiệt của ông ta đã được lên lịch từ tháng Năm. Cảm thấy điều này khiến ông ta có quyền (quyền hợp pháp) biến ba ngày đó thành thứ mà Ralph Anderson gọi là Ấy nghỉ tại chỗ, ông ta đã dành buổi chiều thứ Tư đó để đi hết bar này đến bar khác. Đến điểm dừng chần thứ ba, ông ta đã gần như quên tiệt về cuộc gặp gỡ khủng khiếp ở thị trấn Canning, và đến quán thứ tư, ông ta đã không còn lo lắng quá nhiều về vết cháy nắng và sự thật kỳ lạ rằng có vẻ như ông ta đã bị nó vào ban đêm.

Điểm dừng chần thứ năm của ông ta là ở Shorty's. Ở đó, ông ta yêu cầu người pha chế - một phụ nữ rất xinh đẹp mà giờ ông ta không còn nhớ tên, mặc dù vẫn còn nhớ đôi chân dài miên man trong chiếc quần jean Wrangler bó sát - xem hộ gáy ông ta. Cô ta miễn cưỡng làm theo.

“Đó là một vết cháy nắng,” cô ta nói.

“Chỉ là một vết cháy nắng, phải không?”

“Vâng, chỉ là một vết cháy nắng.” Rồi sau một khoảng dừng, cô ta nói tiếp: “Nhưng có điều khá tệ. Có một vài mụn nước nhỏ. Anh nên bôi chút...”

“Lô hội. Tôi nghe nói rồi.”

Sau khoảng năm ly vodka-tonic (hoặc có thể là sáu), ông ta lái xe về nhà với tốc độ đúng giới hạn, nghiêm chỉnh nhìn thẳng qua tay lái. Bị dừng giữa đường sẽ không hay. Giới hạn pháp lý ở bang này là 0,08.

Ông ta về nhà vào đúng khoảng thời gian Holly Gibney đang bắt đầu phần thuyết trình của mình trong phòng họp của Howard Gold. Ông ta thay quần áo ngủ, nhớ khóa tất cả các cửa và vào phòng tắm để giải quyết việc cá nhân. Sau đó, một lần nữa ông ta lại dùng chiếc gương cầm tay để kiểm tra gáy của mình. Chắc chắn giờ vết cháy nắng có lẽ đã đỡ hơn, và bắt đầu bong vảy. Nhưng không. Vết cháy nắng đã chuyển sang màu đen. Những vết nứt sâu nằm chằng chịt trên gáy ông ta. Những giọt mủ đùng đục rỉ ra từ hai trong số chúng. Ông ta rên rỉ, nhắm mắt, rồi lại mở ra và thở phào nhẹ nhõm. Không CÓ lớp vảy màu đen. Không có những đường nứt. Không có mủ. Nhưng vết cháy nắng có màu đỏ tươi, và có một số mụn nước. Khi chạm vào nó ông ta không còn đau nhiều như lúc nãy, nhưng tại sao lại như vây, khi ông ta có chút gốc gác người Nga?

Mình phải ngừng uống thôi, ông ta nghĩ. Nhìn gà hóa cuốc là tín hiệu khá rõ ràng. Mình thậm chí có thể gọi đó là một cảnh báo.

Ông ta không có kem lô hội, vi vậy ông ta đã thoa lên vết cháy nắng một chút gel arnica. Nó đau nhói, nhưng cơn đau sẽ nhanh chóng biến mất (hoặc ít nhất là giảm xuống thành một cơn đau âm ỉ). Như thế tốt, phải không? Ông ta lấy một chiếc khăn mặt và trải nó lên chiếc gối của mình để tránh dây thuốc ra gối, sau đó nằm xuống và tắt đèn. Nhưng bóng tối thật không ổn. Dường như ông ta thấy đau hơn trong bóng tối, và ông ta dễ tưởng tượng ra có thứ gì đó trong phòng với mình. Thứ gì đó đã ở đằng sau ông ta lúc ở nhà kho bỏ hoang đó.

Điều duy nhất ở ngoài đó là trí tường tượng của mình. Lớp vẩy màu đen cũng là tường tượng của mình. Những vết nứt. Và mủ nữa.

Tất cả đều đúng, nhưng vẫn đúng khi ông ta bật đèn đầu giường lên, và cảm thấy dễ chịu hơn. Suy nghĩ cuối cùng của ông ta là một đêm ngon giấc sẽ giúp mọi chuyện ổn thỏa.

❊ 8 ❊

“Cô có muốn tôi tắt bớt đèn một chút không?” Howie hỏi.

“Không,” Holly nói. “Đây là thông tin, không phải để giải trí, và dù phim ngắn - chỉ tám mươi bảy phút - chúng ta sẽ không cần phải xem tất cả, hoặc gần hết.” Cô không lo lắng như từng sợ. Ít nhất là không cho đến giờ. “Nhưng trước khi cho các vị xem, tôi cần phải nói rõ một điều, điều mà tôi nghĩ rằng tất cả các vị phải biết ngay bây giờ, dù các vị có thể chưa sẵn sàng thừa nhân sự thật đó trong tâm trí tỉnh táo của mình.”

Họ nhìn cô, im lặng. Tất cả. Cô không thể tin mình đang làm điều này - chắc chắn không phải Holly Gibney, con chuột sợ sệt luôn ngồi ở cuối lớp học, người không bao giờ giơ tay, người mặc quần áo thể dục dưới váy và áo cánh trong những ngày tập thể dục. Holly Gibney, người dù ở độ tuổi đôi mươi cũng không dám cãi lời mẹ. Holly Gibney, người đã thực sự mất trí hai lần.

Nhưng đó là trước khi mình gặp Bill. Anh ấy tỉn mình sẽ làm tốt hơn, và trong mắt anh ấy thì mình đã làm được. Vầ giờ cũng vậy, vồi tất cả những người này.

“Terry Maitland không giết Frank Peterson và Heath Holmes không giết hai đứa nhỏ nhà Howard. Những vụ giết người này do một kẻ dị biệt thực hiện. Hắn sử dụng khoa học hiện đại của chúng ta — pháp y hiện đại của chúng ta — để chống lại chúng ta, nhưng vũ khí thực sự của hắn là sự từ chối tin tưởng của chúng ta. Chúng ta được dạy là phải luôn theo sát sự thật, đôi khi chúng ta đánh hơi thấy hắn khi các sự thật mầu thuẫn với nhau, nhưng chúng ta từ chối tin vào khả năng đó. Hắn biết điều đó. Hắn tận dụng nó.”

“Cô Gibney,” Jeannie Anderson nói, “cô đang nói những vụ giết người đó được thực hiện bởi một sinh vật siêu nhiên? Một thứ giống như ma cà rồng?”

Holly cân nhắc câu hỏi, môi bặm chặt. Cuối cùng, cô nói, “Tôi không muốn trả lời câu hỏi đó. Vẫn chưa đến lúc. Tôi muốn cho các vị xem một phần đoạn phim mà tôi đã mang đến trước. Đây là một bộ phim của Mexico, được lồng tiếng Anh và được ra mắt cách đây 50 năm dưới dạng phim kể hai cầu chuyện. Tựa tiếng Anh là Mexican Wrestling Women Meet the Monster (tạm dịch: Những nữ đấu vật Mexico đụng độ Quái vật), nhưng tựa tiếng Tây Ban Nha...”

“Ồ, thôi nào,” Ralph nói. “Chuyện này thật vớ vẩn.”

“Im đi,” Jeannie nói. Cô nói như thì thầm, nhưng tất cả đều nghe thấy sự tức giận trong đó. “Hãy cho cô ấy một cơ hội.”

“Nhưng...”

“Anh không có mặt ở đó đêm qua. Em thì có. Anh cần cho chuyện này một cơ hội.

Ralph khoanh tay trước ngực, giống như Samuels. Đó là một cử chỉ mà Holly biết rõ. Một cử chỉ phòng vệ. Một cử chỉ tôi sẽ không lắng nghe đâu. Cô vẫn tiếp tục.

“Tựa tiếng Mexico là Rosita Luchadora eAmigas Conocen El Cuco . Tiếng Tây Ban Nha là...”

“Đủ rồi!” Yune hét lên, khiến tất cả đều giật mình. “Đó là cái tên mà tôi không thể hiểu được khi chúng tôi dùng bữa tại nhà hàng đó vào thứ Bảy! Anh có nhớ câu chuyên khống, Ralph? Câu chuyên mà bà của vợ tôi đã kể cho cô ấy nghe khi cô ấy còn nhỏ ấy?”

“Làm sao tôi có thể quén được?” Ralph nói. “Cái gã với cái túi đen giết trẻ con và bôi mỡ chúng...” Anh dừng lại, cân nhắc - bất chấp sự cưỡng lại của bản thân - về Frank Peterson và các cô bé nhà Howard.

“Làm gì?” Marcy Maitland hỏi.

Yune nói: “Uống máu và bôi mỡ chúng lên người hắn. “Hắn nghĩ như thế giúp hắn trẻ lầu. El Cuco .”

“Đúng rồi,” Holly nói. “Ở Tây Ban Nha, người ta gọi hắn là El Hombre con Saco . Gã đàn ông với cái bao. Ở Bồ Đào Nha, hắn là Pumpkinhead . Khi trẻ em Mỹ chạm khắc bí ngô cho Halloween, chúng đang chạm khắc một hình hài giống El Cuco , giống như những đứa trẻ đã làm từ cách đây hàng trăm năm ở Iberia.”

“Có một bài vè về El Cuco ” Yune nói. “Thi thoảng bà của vợ tôi thường hát vào ban đêm. Duérmete, nino, duérmete ya... tôi không thể nhớ phần còn lại.”

“Ngủ đi con, ngủ đi,” Holly nói. “A/ Cuco đang ở trên trần nhà, hắn đến để ăn thịt con đấy.”

“Giai điệu bài hát ru hay quá,” Alec giễu. “Chắc hẳn bọn trẻ sẽ mơ những giấc mơ ngọt ngào.”

“Chúa ơi,” Marcy thì thầm. “Cô nghĩ cái thứ đó đã vào nhà của chúng tôi? Ngồi trên giường của con gái tôi?”

“Có hoặc không,” Holly nói. “Hãy để tôi chiếu bộ phim đã. Khoảng mười phút đầu tiên là đủ rồi.”

❊ 9 ❊

Jack mơ thấy mình đang lái xe trên một con đường cao tốc hai làn xe vắng vẻ, không có gì ngoài hai bên đường trống trải và bầu trời xanh ngút hàng ngàn cây số trên cao. Ông ta đang ngồi trước bánh lái của một chiếc xe tải lớn, có thể là một chiếc xe bồn, vì ông ta có thể ngửi thấy mùi xăng. Ngồi bên cạnh ông ta là một người đàn ông có mái tóc đen ngắn và một chòm rầu dê. Những hình xăm phủ kín cánh tay hắn. Hoskins biết hắn, vì ông ta thường xuyên đến Gentlemen, Please (dù hiếm khi với tư cách cảnh sát), và đã có nhiều cuộc trò chuyên vui vẻ với Claude Bolton, người có tiền án nhưng không phải là một gã tồi sau khi đã cải tà quy chính. Ngoại trừ việc phiên bản này của Claude trông rất tệ. Chính Claude này đã kéo rèm phòng tắm lại đủ để Hoskins có thể đọc được từ trên ngón tay của hắn: CANT.

Chiếc xe tải vừa đi qua một biển báo ghi MARYSVILLE, POP. 1280.

“Căn bệnh ung thư đó đang lan rất nhanh,” Claude nói, và vầng, đó là giọng nói phát ra từ sau bức màn phòng tắm. “Hãy nhìn vào bàn tay anh đi, Jack.”

Ông ta nhìn xuống. Tay ông ta đặt trên vô-lăng đã chuyển sang màu đen. Khi ông ta nhìn chằm chằm vào chúng, chúng rời ra. Chiếc xe bồn chạy lệch đường, chao đảo, nghiêng bên này, nhào bên kia. Jack biết nó sẽ nổ tung, và ông ta đã kéo mình ra khỏi giấc mơ trước khi điều đó có thể xảy ra, thở hổn hển và nhìn chằm chằm lên trần nhà.

“Chúa ơi,” ông ta thì thầm, kiểm tra để chắc rằng tay ông ta vẫn còn lành lặn. Chúng ở đó, và cả đồng hồ của ông ta cũng vậy. Ông ta mới ngủ được chưa đẩy một giờ. “Chúa....”

Ai đó cựa mình ở bên trái ông ta. Trong thoáng chốc, ông ta tự hỏi liệu mình có đưa cô nàng pha chế với đôi chần dài miên man về nhà không, nhưng không, ông ta chỉ có một mình. Dù sao thi một phụ nữ trẻ đẹp như thế cũng không muốn dính hu gì đến ông ta. Đối với cô ta, ông ta chỉ là một gã bốn mươi tuổi béo phì, say khướt, kẻ đang mất dần sức hút của mình...

Ông ta nhìn xung quanh. Người phụ nữ đang nằm trên giường với ông ta là mẹ ông ta. Ông ta biết đó là bà vì chiếc kẹp mai rùa đang lủng lẳng trên vài sợi tóc còn sót lại của bà. Bà đã đeo chiếc kẹp đó trong đám tang của mình. Khuôn mặt của bà đã được trang điểm bởi người làm dịch vụ tang lễ, giống như tượng sáp và búp bê, nhưng nhìn chung không quá xẩu. Khuôn mặt này đã biến mất gần hết, thịt nát xương tan. Chiếc váy ngủ của bà bết dính vào người vì đẫm mủ. Mùi thối hoẵng sực lên. Ông ta cố gắng hét lên, nhưng không thể.

“Căn bệnh ung thư này đang chờ con đấy, Jack,” bà nói. Ông ta có thể thấy răng bà nghiến vào nhau, bởi đôi môi bà đã biến mất.

“Nó đang ăn mòn con. Hắn có thể lấy nó ra, nhưng rồi ngay cả hắn cũng chẳng thể làm gì nếu quá muộn. Con sẽ làm những gì hắn muốn chứ?”

“Vâng,” Hoskins thì thầm. “Bất cứ điều gì.”

“Thế thì nghe đây.”

Jack Hoskins lắng nghe.

❊ 10 ❊

Không có cảnh báo nào của FBI ở đâu bộ phim mà Holly giới thiệu, điều này không làm Ralph ngạc nhiên. Ai lại bận tâm đến bản quyền của một cổ vật như vậy, có khi còn chẳng có ai thèm ngó ngàng? Ầm thanh là sự pha trộn giữa tiếng vĩ cầm réo rắt cùng những đoạn riff tiếng accordion norteno vui nhộn. Đĩa bị trầy xước, như thể đã được mở nhiều lần bởi những người trình chiếu đã chết từ lầu rồi, những người đã chẳng thèm quan tâm đến điều gì nữa.

Mình không thể tin nổi là mình lại đang ngồi ở đây , Ralph nghĩ. Chuyện này thật dấm dớ.

Thế nhưng cả vợ anh và Marcy Maitland đều đang tập trung cao độ hệt như những sinh viên đang ôn bài chuẩn bị thi cuối kỳ, và những người khác, dù rõ là không quá say mê nhưng cũng rất chăm chú. Yune Sablo cười nhạt. Ralph nghĩ đó không phải là nụ cười của một người cảm thấy chuyện này nực cười, mà là nụ cười của một người đang trồi ngược tâm trí về quá khứ, về với một thần thoại thời thơ ấu đã được biến thành hiện thực.

Bộ phim mở ra cảnh của một con phố về đêm, rặt chỉ toàn các quán bar hoặc nhà hàng, hoặc cả hai. Máy quay theo chân một người phụ nữ xinh đẹp trong chiếc váy xẻ thấp, đang tay trong tay đi dạo với cô con gái chừng bốn tuổi. Câu chuyện đi lướt qua một vùng tồi tàn của thành phố cùng với một đứa trẻ lý ra phải nằm trên giường vào buổi tối này có thể sẽ được giải thích cặn kẽ ở phần sau của bộ phim, nhưng không phải trong phần mà Ralph và những người khác đang xem.

Một tên say rượu lắc lư phía trước người phụ nữ, và trong khi miệng hắn mấp máy nói gì đó, diễn viên lồng tiếng cho hắn cũng bắt đầu nói đè vào, “Này, cô gái, hẹn hò không?” bằng thứ giọng Mexico léo nhéo khiến hắn nghe như thể Speedy Gonzales. Cô gạt hắn ra và bước tiếp. Sau đó, trong một vùng tranh tối tranh sáng giữa hai ngọn đèn đường, có một gã diện áo choàng đen lao ra từ một con hẻm như thể bước thẳng ra từ một bộ phim Dracula. Gã cầm chiếc túi đen bằng một tay. Tay còn lại giật lấy đứa trẻ. Mẹ đứa trẻ hét lên, đuổi theo và tóm được gâ dưới cột đèn đường tiếp theo, giật lại chiếc túi của gã. Gã quay ngoắt lại, ánh đèn đường soi chiếu vào khuôn mặt gã đàn ông trung niên với một vết sẹo dài trên trán.

Gã Áo choàng gẩm gừ, để lộ ra một mồm đầy ráng nhọn hoắt. Người phụ nữ lùi lại, hai tay giơ lên, bà mẹ đang kinh hãi đó trông chẳng khác nào một nữ ca sĩ opera đang chuẩn bị bắt đầu một điệu ca từ Carmen . Gã bắt cóc trẻ con tung chiếc áo choàng trùm lên đứa trẻ và bỏ chạy, nhưng chưa kịp biến mất thì một đồng nghiệp của gã bước từ một trong nhiều quán bar trên phố ra và gọi gã giật lại bằng thứ giọng speedy Gonzales ghê tởm khác: “Này Giáo sư Espinoza, anh đi đầu thế? Để tôi mời anh một ly nhé!”

Trong cảnh tiếp theo, người mẹ được đưa đến nhà xác của thị trấn (EL DEPOSITO DE CADAVERES xuất hiện trên cửa kính mờ), và két lên đau đớn khi tấm vải phủ được nâng lên để lộ ra xác đứa con không toàn thây của cô. Tiếp theo là cảnh bắt giữ gã đàn ông có vết sẹo trên trán, người mà hóa ra lại là một giảng viên được kính trọng tại một trường đại học gần đó.

Tiếp theo là một trong những phiên xử. Người mẹ làm chứng; hai gã có giọng Speedy Gonzales léo nhéo, bao gồm cả người đã đề nghị mời vị giáo sư một ly; bồi thẩm đoàn đã tạm nghỉ để xem xét phán quyết của họ. Thêm một điểm nhấn siêu thực cho những thủ tục dễ đoán này là sự xuất hiện của năm phụ nữ ở hàng sau, tất cả đều mặc những bộ trang phục trông giống siêu anh hùng với những chiếc mặt nạ lạ mắt. Không ai trong phòng xử án, kể cả thẩm phán, thấy họ lạc quẻ.

Bồi thẩm trở ra; giáo sư Espinoza bị kết án tử hình vì tội giết người; anh ta gục đầu và tỏ vẻ ăn năn. Một trong những người phụ nữ đeo mặt nạ đã nhảy dựng lên và tuyên bố, “Các vị nhẩm rồi! Giáo sư Espinoza sẽ không bao giờ làm hại một đứa trẻ!”

“Nhưng tôi đã thấy anh ta!” Người mẹ hét lên. “Lần này cô nhẩm rồi, Rosita!”

Những người phụ nữ đeo mặt nạ trong trang phục siêu anh hùng bước ra khỏi phòng xử án trên những đôi bốt đẹp đẽ của họ và bộ phim chuyển sang cân cảnh chiếc thòng lọng treo cổ. Máy quay quay lại để cho khán giả thấy một đoạn đầu đài được bao quanh bởi một đám đông người xem. Giáo sư Espinoza đã được dẫn lên các bậc thềm. Khi sợi dây được đặt quanh cổ, ánh mắt của anh ta nhìn chằm chằm vào một người đàn ông mặc áo choàng của nhà sư có mũ trùm đầu ở phía sau đám đông. Hắn kẹp một cái túi màu đen giữa hai chần của hắn.

Đây là một bộ phim ngớ ngần và kém chất lượng, nhưng Ralph vẫn cảm thấy sởn gai ốc và đưa tay nắm lấy tay Jeannie. Anh biết chính xác họ sẽ được xem gì tiếp theo. Nhà sư đẩy mũ trùm đầu ra sau để lộ khuôn mặt của giáo sư Espinoza, vết sẹo trên trán và tất cả. Hắn cười toe toét, lộ ra những chiếc răng nanh bằng nhựa lố bịch... Chỉ vào chiếc túi đen của mình... và cười.

“Ở đó !” Vị giáo sư từ giá treo cổ hét lên. “Hắn ở đó, đó!”

Đám đông quay lại, nhưng gã đàn ông với chiếc túi đen đã biến mất. Espinoza có chiếc túi đen của riêng mình: một chiếc mũ đen trùm lên đâu. Từ bên dưới nó, anh ta hét lên, “Con quái vật, con quái vật, con quái...” Cái bẫy mở ra, và anh ta lao thẳng xuống.

Tiếp theo là cảnh các nữ siêu anh hùng đeo mặt nạ đuổi theo nhà sư giả trên mái nhà, và đúng lúc này Holly nhấn nút tạm dừng. “25 năm trước, tôi đã xem một phiên bản có phụ để thay vì lồng tiêng,” cô nói. “Ớ cảnh cuối, vị giáo sư đã hét lên El Cuco , El Cuco .”

“Còn gì nữa?” Yune thì thầm. “Chúa ơi, tôi chưa từng được xem những bộ phim luchadora * kiểu đó từ khi còn nhỏ. Chắc hẳn đã có hàng tá những bộ phim như thế.” Anh ta dáo dác đưa mắt nhìn những người khác như thể vừa sực tỉnh khỏi cơn mơ. “ Las luchadoras - các nữ đấu vật. Và ngôi sao của bộ phim này, Rosita, cô ấy rất nổi tiếng. Các vị nên nhìn thấy lúc cô ấy cởi chiếc mặt nạ ra, ay caramba *” Anh ta giật tay lại như thể vừa chạm vào một thứ gì đó nóng hổi.

Tiếng Tây Ban Nha, có nghĩa là “đô vật”.

Tiếng Tây Ban Nha, có nghĩa là “ôi, không”.

“Không chỉ cả tá, mà ít nhất phải có năm mươi bộ phim như thế,” Holly nói khẽ. “Người Mexico thích las luchadoms. Những bộ phim ấy giống như những bộ phim siêu anh hùng ngày nay. Tất nhiên là với ngần sách nhỏ hơn nhiều.”

Cô muốn giới thiệu đến họ thể loại phim lịch sử hấp dẫn này (ít nhất là nó hấp dẫn với cô), nhưng đầy không phải lúc, không phải khi thám tử Anderson trông như thể anh ta vừa nuốt phải thứ gì mắc ói. Cô cũng sẽ không nói với họ rằng cô yêu thích những bộ phim luchadora . Chúng được chiếu phục vụ giải trí trên đài truyền hình Cleveland địa phương chuyên phát sóng Shlock Theater vào mỗi tối thứ Bảy. Holly cho rằng đám sinh viên địa phương say mèm đã đùa cợt về phần lồng tiếng kém cỏi và những bộ trang phục mà rõ ràng họ coi là màu mè, song las luchadoras lại chẳng có gì hài hước với một nữ sinh trung học sợ hãi và bất hạnh như cô. Carlotta, Maria và Rosita đều mạnh mẽ, dũng cảm, luôn giúp đỡ những người nghèo khổ và bị áp bức. Rosita Muftoz, người nổi tiếng nhất, thậm chí còn tự hào gọi mình là cholita*, đó là cách mà nữ sinh trung học bất hạnh đó thường xuyên cảm nhận về bản thân: một đứa con lai. Một kẻ lập dị.

Nữ đấu vật.

“Hầu hết các bộ phim về nữ đâu vật Mexico đều phỏng lại những truyền thuyết cổ xưa. Bộ phim này cũng thế. Mọi người có thấy nó giống với những gì chúng ta biết về các vụ giết người không?”

“Giống đến hoàn hảo,” Bill Samuels nói. “Tôi sẽ nói thế với cô. Vấn đề duy nhất là nó thật dở. Ngớ ngần. Nếu cô thực sự tin vào El Cuco , cô Gibney, thì cô khác nào tu hú đâu.”

Xem cáỉ gã đã nói vdi mình vê những dấu chân biển mất kìa , Ralph nghĩ. Anh không tin El Cuco , nhưng anh nghĩ người phụ nữ này hẳn phải rất gan dạ khi cho họ xem bộ phim đó dù cô biết chắc họ sẽ phản ứng như thế nào. Anh rất muốn xem Gibney của Finders Keepers sẽ đáp lại ra sao.

El Cuco được cho là sống nhờ máu và mỡ của trẻ em,” Holly nói, “nhưng trong thế giới này - thế giới thực của chúng ta - hắn sẽ sống sót không chỉ nhờ những thứ đó, mà còn dựa vào những người nghĩ như anh, anh Samuels. Theo tôi thì là tất cả các vị. Hãy để tôi chỉ cho mọi người xem một điều nữa. Tôi xin hứa là chỉ một đoạn trích thôi.”

Cô chuyển đến chương 9 của DVD, chương thứ 2 từ dưới lên. Chương này bắt đầu với cảnh một trong những luchadora - Carlotta - dồn nhà sư đội mũ trùm đầu vào một nhà kho bỏ hoang. Hắn cố trốn thoát qua lối một cái thang tiện lợi. Carlotta tóm vào lưng áo choàng đang tung phần phật của hắn và ném hắn qua vai cô. Hắn thực hiện một cú lộn nhào giữa không trung và ngã ngửa ra đất. Chiếc mũ trùm đầu phật ra sau, để lộ ra một khuôn mặt không có hình thù cụ thể, chỉ có một sự trống rỗng bao trùm. Carlotta hét lên khi từ vị trí lẽ ra là hai hốc mắt phụt ra một tia sáng rực. Chúng hẳn đã có một sức mạnh đẩy lùi thần bí nào đó, vi Carlotta loạng choạng dựa vào tường và giơ một tay lên trước chiếc mặt nạ luchadora của mình, cố gắng che chắn cho bản thân.

“Dừng lại,” Marcy nói. “Ôi Chúa ơi, làm ơn.”

Holly gõ vào máy tính xách tay của mình. Hình ảnh trên màn hình đã biến mất, nhưng Ralph vẫn có thể nhìn thấy nó: một hiệu ứng quang học cũ rích so với những thứ CGI mà bạn có thể xem ở bất kỳ rạp Cineplex nào ngày nay, nhưng đủ để gây ấn tượng nếu bạn từng nghe được câu chuyện của một cô bé nào đó kể về kẻ đã đột nhập vào phòng ngủ của cô bé.

“Bà có nghĩ đó là những gì con gái bà đã thấy không, bà Maitland?” Holly hỏi. “Không hẳn vậy, ý tôi không phải thế nhưng...”

“Đúng. Tất nhiên rồi. Mắt ống hút. Con bé đã nói thế. Mắt ống hút.”

❊ 11 ❊

Ralph đứng dậy. Anh nói giọng đều đều và bình tĩnh. “Thành thực mà nói, mong cô thứ lỗi, cô Gibney, và xét đến quá khứ của cô... ừm, tìm hiểu... Tôi phải nói rằng không có con quái vật siêu nhiên nào tên là El Cuco sống bằng máu trẻ em. Tôi sẽ là người đầu tiên thừa nhận rằng vụ án này - hai vụ án, nêu chúng có liên quan và có vẻ như chúng ta ngày càng chắc chắn rằng chúng có liên quan - có vài yếu tố rất kỳ lạ, nhưng cô đang đưa chúng tôi đi lạc hướng rồi.”

“Hãy để cô ấy nói cho xong đã,” Jeannie nói. “Trước khi anh đóng cửa hoàn toàn tầm trí của mình, vì Chúa, hãy để cô ấy nói hết đã.”

Anh thấy vợ mình đang tức giận đến mức sôi máu. Anh hiểu tại sao, thậm chí có thể thông cảm cho vợ được. Vì anh từ chối tận hưởng cầu chuyện nực cười của Gibney về El Cuco , Jeannie cảm thấy anh cũng đang không tin vào những gì mà chính cô đã thấy trong nhà bếp của họ vào sáng sớm nay. Và anh muốn tin cô, không chỉ vì anh yêu và tôn trọng cô, mà vì người đàn ông mà cô mô tả khớp hoàn toàn với đặc điểm nhân dạng của Claude Bolton, và anh không thể giải thích điều đó. Tuy nhiên, anh vẫn nói những điều định nói, với tất cả họ và đặc biệt là với Jeannie. Anh phải làm thế. Đó là chiếc mỏ neo mà con thuyền cuộc đời anh đã neo vào. Đúng, có giòi trong quả dưa vàng, nhưng chúng đã chui vào đó bằng một cách tự nhiên nào đó. Việc họ không biết nó là gì không thể thay đổi hoặc phủ nhận được nó.

Anh nói, “Nếu chúng ta tin vào quái vật, vào siêu nhiên, làm sao chúng ta có thể tin được vào bất cứ điều gì khác nữa?”

Ralph ngồi xuống và cố nắm lấy tay Jeannie. Cô dịch tay ra xa anh.

“Tôi hiểu cảm giác của anh,” Holly nói. “Tôi hiểu rồi, tin tôi đi, tôi rất hiểu. Nhưng thám tử Anderson này, tôi đã thấy những điều khiến tôi tin vào điều này. o, không phải bộ phim, cũng không phải là truyền thuyết đằng sau bộ phim. Nhưng trong mọi truyền thuyết đều có một phần sự thật. Chúng ta hãy tim hiểu nó ngay bây giờ. Tôi muốn cho anh xem một dòng thời gian mà tôi đã vẽ ra trước khi rời Dayton. Tôi có thể làm điều đó không? Sẽ không mất nhiều thời gian đâu.”

“Thoải mái đi,” Howie nói. Ông có vẻ ngạc nhiên.

Holly mở một tập tin và chiếu nó lên tường. Chữ của cô nhỏ nhưng rõ ràng. Ralph nghĩ những gì cô vẽ ra sẽ được chấp nhận trong phòng xử án. Anh phải khen cô vì điều đó.

“Thứ Năm, ngày 19 tháng Tư. Merlin Cassidy đã để chiếc xe van tại một bãi đậu xe ở Dayton. Tôi tin rằng nó đã bị đánh cắp cùng ngày. Chúng ta sẽ không gọi tên trộm là El Cuco , mà chỉ gọi hắn là kẻ dị biệt. Thám tử Anderson sẽ cảm thấy thoải mái hơn với điều đó.”

Ralph giữ im lặng, và lần này khi anh cố nắm lấy bàn tay của Jeannie, cô đã để anh làm vây, dù cô không đan các ngón tay của mình vào tay anh.

“Hắn đã cất giữ nó ở đâu?” Alec hỏi. “Có ai có ý tưởng nào không?”

“Chúng ta sẽ biết điều đó, nhưng bây giờ, tôi có thể tập trung vào khoảng thời gian ở Dayton không?”

Alec khoát tay để cô tiếp tục.

“Thứ Bảy, ngày 21 tháng Tư. Gia đình Maitland bay đến Dayton và nhận phòng khách sạn. Heath Holmes thật đang ở Regis với mẹ anh ta.”

“Thứ Hai, ngày 23 tháng Tư. Amber và Jolene Howard bị giết. Kẻ dị biệt đã ăn thịt và uống máu chúng.” Cô nhìn Ralph. “Không, tôi không biết. Không chắc chắn. Nhưng từ các dòng tít trên báo, tôi chắc chắn rằng các bộ phận cơ thể đã biến mất, và các thi thể cạn khô máu. Điều đó có giống với những gì đã xảy ra với cậu bé Peterson không?”

Bill Samuels lên tiếng. “Vì vụ Maitland đã khép lại và chúng ta đang có một cuộc thảo luận không chính thức ở đây, nên tôi có thể nói với cô là đúng như vậy. Cổ bị róc thịt, vai phải, mông phải và đùi trái của Frank Peterson cũng thế.”

Marcy ú ớ như bị bóp nghẹt cổ họng. Khi Jeannie định dợm bước về phía chỗ cô, Marcy đã vẫy tay ra hiệu cô cứ ngồi xuống. “Tôi ổn. Ý tôi là... không, tôi không ổn lắm, nhưng tối sẽ không ngất xỉu hay gì đâu.”

Nhìn khuôn mặt tái nhợt của cô, Ralph không chắc lắm.

Holly nói tiếp, “Kẻ dị biệt đã vứt chiếc xe tải mà hắn dùng để bắt cóc hai đứa trẻ ở gần nhà Holmes...” Cô mỉm cười khi nói đến đó. “... nơi mà hắn chắc chắn rằng sẽ có ai đó thấy nó, và trở thành một phần khác trong bằng chứng chống lại vật tế thần đã chọn của hắn. Hắn quẳng đồ lót của hai đứa bé ở tầng hẩm nhà Holmes - chất thêm một viên gạch khác lên bức tường.”

“Thứ Tư, ngày 25 tháng Tư. Xác của hai đứa trẻ nhà Howard được tìm thấy ở Trotwood, giữa Dayton và Regis.”

“Thứ Năm, ngày 26 tháng Tư. Trong khi Heath Holmes ở Regis, giúp mẹ anh ta việc nhà và chạy vài việc lặt vặt, kẻ dị biệt đã xuất hiện tại viện dưỡng lão Heisman. Hắn định tìm ông Maitland hay bất kỳ ai khác cũng được? Tôi không chắc, nhưng tôi nghĩ hắn đã nhắm Terry Maitland, vì hắn biết nhà Maitland từ bang khác đến, nơi đó rất xa nơi này. Kẻ dị biệt, hoặc các vị gọi hắn là gì thì tùy, rất giống nhiều kẻ giết người hàng loạt ở một phương diện. Hắn thích di chuyển loanh quanh. Bà Maitland, có khi nào Heath Holmes đã biết trước việc chồng bà định đến thăm ông nội bọn trẻ không?”

“Tôi đoán vậy,” Marcy nói. “Viện Heisman vẫn luôn muốn được báo trước khi có người thân từ các vùng khác đến thăm bệnh nhân. Họ sẽ sắp xếp việc cắt tóc, chuẩn bị quần áo chỉnh tế và sắp xếp các chuyến đi ra ngoài viện, khi có thể. Bố của Terry thì không. Ông ấy gặp các vấn đề nghiêm trọng về tầm thần.” Cô nghiêng người về phía trước, mắt dán chặt vào Holly. “Nhưng nêu kẻ dị biệt này không phải là Holmes, ngay cả khi hắn trông giống Holmes, làm sao hắn có thể biết được?”

“Ổ, có thể chứ, thậm chí còn dễ dàng nếu cô chấp nhận tiền để cơ bản,” Ralph nói. “Nếu gã đàn ông đó sao chép Holmes, có thể nói là vậy, thì hắn có khả năng sẽ tiếp cận được mọi ký ức của Holmes. Tôi nói đúng chứ, cô Gibney? Cầu chuyện diễn ra như thế phỏng?”

“Hãy cứ giả sử như thế, ít nhất là ở một mức độ nào đó, nhưng đừng quá vội vàng đưa ra kết luận. Tôi chắc chắn rằng tất cả chúng ta đều mệt mỏi, và bà Maitland có lẽ muôn trở về nhà với các con.”

Hy vọng là trtíổc khi cô ấy ngất ra đấy , Ralph nghĩ.

Holly tiếp tục. “Kẻ dị biệt biết có người sẽ nhìn thấy và chú ý đến hắn ở Heisman. Đó là những gì hắn muốn. Và hắn chắc chắn sẽ để lại nhiều bằng chứng hơn khiến Holmes thật bị buộc tội: sợi tóc của một trong hai đứa trẻ bị sát hại. Nhưng tôi tin rằng lý do quan trọng nhất đưa hắn đến đó vào ngày 26 tháng Tư là để trại máu sang Terry Maitland, giống như hắn đã trại máu sang Claude Bolton sau này. Cùng một kịch bản. Đầu tiên là những vụ giết người. Sau đó là đánh dấu nạn nhân tiếp theo. Mọi người có thể gọi là cơ thể tiếp theo của hắn. Rồi hắn đi trốn. Nói đúng thi là đi ngủ đông. Giống như một con gấu, thi thoảng hắn đi từ nơi này sang nơi khác, nhưng chủ yếu hắn vẫn ở trong một cái hang được chọn trước trong một khoảng thời gian nhất định, nghỉ ngơi, trong khi biến đổi.”

“Trong truyền thuyết, quá trình biến đổi mất rất nhiéu năm,” Yune nói. “Có thể là cả thế hệ. Nhưng đó là truyền thuyết. Cô không nghĩ là sẽ mất nhiều thời gian như vậy phải không, cô Gibney?”

“Tôi nghĩ cùng lắm chỉ vài tuần, vài tháng. Trong thời gian biến đổi từ Terry Maitland sang Claude Bolton, khuôn mặt của hẳn có thể sẽ trông giống như được tạo ra từ Play-Doh.” Cô quay lại nhìn thẳng vào Ralph. Cô thấy làm thế này thật khó, nhưng đôi khi nó là cần thiết. “Hoặc như thể hắn bị bỏng nặng.”

“Đừng quy chụp,” Ralph nói. “Đó là tuyên bố không có cơ sở.”

“Vậy tại sao người đàn ông bị bỏng lại không có mặt trong bất kỳ báng ghi hình an ninh nào?” Jeannie hỏi.

Ralph thở dài. “Anh không biết.”

Holly nói, “Hầu hết các truyền thuyết đều chứa đựng một phần sự thật, nhưng chúng không phải là sự thật, nếu anh hiểu ý tôi. Trong các cầu chuyên, El Cuco sông bằng máu và thịt tươi sống, giống như ma cà rồng, nhưng tôi nghĩ sinh vật này cũng tiêu hóa những cảm xúc xấu xa. Có thể gọi nó là máu ngoại cảm ? Cô quay sang Marcy. “Hắn nói với con gái cô rằng hắn vui khi thấy con bé buồn. Tôi tin đó là sự thật. Tôi tin hắn đang nuốt trọn những nỗi buồn của con bé.”

“Và của cả tôi nữa,” Marcy nói. “Và của Sarah nữa.”

Howie lên tiếng. “Chẳng điều nào trong số này đúng cả, không đúng chút nào, nhưng gia đình Peterson khớp với kịch bản đúng không? Tất cả họ đều chết trừ người bố, nhưng anh ta cũng sống đời thực vật. Một sinh vật sống dựa trên bất hạnh của người khác - một kẻ ăn những nỗi đau buồn thay vi nuốt gọn tội lỗi — hẳn hắn rất thích nhà Peterson.”

“Còn buổi biểu diễn chết tiệt đó ở tòa án thì sao?” Yune nói. “Nếu thực sự có một con quái vật ăn những cảm xúc tiêu cực, đó sẽ là bữa tối Lễ Tạ ơn dành cho nó.”

“Mọi người có ngớ ngần không?” Ralph hỏi. “Ý tôi là, tất cả?”

“Tỉnh mộng đi,” Yune nói một cách gay gắt, và Ralph chớp mắt như thể vừa bị tát nổ đom đóm mắt. “Tôi biết nó phi lý nhường nào, tất cả chúng ta đều vậy, anh không cần phải tiếp tục nói với chúng tôi như thể anh là người đàn ông tỉnh táo duy nhất trong nhà thương điên. Nhưng có điều gì đó ở đây vượt ra khỏi trải nghiệm của chúng ta. Người đàn ông ở tòa án, người không có mặt trong bất kỳ băng ghi hình an ninh nào, chỉ là một phần trong đó.”

Mặt Ralph nóng ran, nhưng anh vẫn im lặng và đón nhận lời trách mắng.

“Anh phải dừng đối đầu với mỗi bước tiến của chuyện này đi, anh bạn. Tôi biết anh không thích những câu đố, tôi cũng thế, nhưng ít nhất hãy thừa nhận rằng các mảnh ghép ở đây đều vừa vặn. Có một chuỗi các mắt xích ở đây. Nó nối từ Heath Holmes đến Terry Maitland đến Claude Bolton.”

“Chúng ta biết Claude Bolton đang ở đâu,” Alec nói. “Tôi nghĩ chúng ta nên xuống Texas để thẩm vấn anh ta.”

“Tại sao chứ, Chúa ơi?” Jeannie hỏi. “Tôi đã nhìn thấy người đàn ông trông giống anh ta ở đây, chỉ mới sáng nay!”

“Chúng ta nên thảo luận việc đó,” Holly nói, “nhưng tôi muốn hỏi bà Maitland một câu trước. Chồng bà được chôn ở đâu?”

Marcy giật mình ngước lên. “Ở đâu...? Tại sao, ở đây. Trong thị trấn này. Nghĩa trang Công viên Tưởng niệm. Cô biết mà, chúng tôi đã không... lập kế hoạch cho việc đó, hoặc bất cứ điều gì tương tự. Tại sao chúng tôi phải làm thế? Tháng Mười hai này, anh ấy mới 40 tuổi... Chúng tôi nghĩ chúng tôi còn nhiều năm... Chúng tôi xứng đáng có được những năm tháng ấy, giống như bất kỳ ai sống tốt đời đẹp đạo...”

Jeannie lấy một chiếc khăn tay từ túi của mình ra và đưa cho Marcy, người bắt đầu lau mắt với vẻ châm chạp đến đờ đẫn.

“Tôi không biết mình nên làm gì... Tôi chỉ là... Cô biết đấy, tôi cảm thấy choáng váng... Cố trấn an rằng anh ấy đi rồi. Giám đốc nhà tang lễ, ông Donelli, gợi ý chúng tôi đến Công viên Tưởng niệm vì Hillview gần như đã kín chỗ... và ở phía bên kia của thị trấn, ngoài ra...”

Ngăn cô ấy lại đi , Ralph muốn nói với Howie. Thật là đau đớn và vô nghĩa. Nơi chôn cất hắn thì có nghĩa lý gì chứ, ngoại trừ đối vớiMarcy và các con gái của cô ấy.

Nhưng một lần nữa anh lại tiếp tục im lặng và lắng nghe, bởi đó là một kiểu mắng mỏ khác, phải không? Ngay cả khi Marcy Maitland có thể không có ý như vậy. Anh tự nhủ cuối cùng chuyên này cũng sẽ qua, để anh tự do khám phá cuộc sống bên ngoài Terry Maitland chết tiệt. Anh phải tin rằng sẽ có một cuộc sống như thế.

“Tôi biết một nơi khác,” Marcy tiếp tục, “tất nhiên là có, nhưng tôi chưa bao giờ để cập với ông Donelli. Terry đã đưa tôi đến đó một lần, nhưng nó quá xa thành phố... và thật cô đơn...”

“Nơi khác là nơi nào?” Holly hỏi.

Một bức tranh đột ngột hiện lên trong tâm trí Ralph - sáu anh chàng cao bồi đang vác một chiếc quan tài bằng ván. Anh linh cảm một ngã ba khác sắp xuất hiện.

“Nghĩa địa cũ ở thị trấn Canning,” Marcy nói. “Terry đã đưa tôi đến đó một lần, và có vẻ như không có ai được chôn cất ở đó trong một thời gian dài, kể cả người đến thăm cũng chẳng có. Không có hoa hay cờ tưởng niệm. Chỉ có một vài bia mộ đổ nát. Hầu hết chúng đều không thể đọc tên.”

Ralph giật mình liếc nhìn Yune, người đang khẽ gật đầu.

“Đó là lý do tại sao anh ấy quan tầm đến cuốn sách đó ở sạp báo,” Bill Samuels nói với giọng trầm mặc. “A Pictorìal History of Flint County, Douree County, and Canning Totunship.”

Marcy tiếp tục lau mắt bằng khăn tay của Jeannie. “Tất nhiên anh ấy sẽ quan tâm đến một cuốn sách như thế. Gia đình Maitland đã ở khu vực này của bang kể từ sau Cơn sốt đất năm 1889. Ông bà cố của Terry - hoặc thậm chí là các cụ kỵ đời trước, tôi không biết chắc - đều được chôn cất ở Canning.”

“Không phải ở thành phố Flint à?” Alec hỏi.

“Hồi ấy làm gì có thành phố Flint nào. Chỉ có một ngôi làng nhỏ tên là Flint. Cho đến khi nơi này trở thành tiểu bang, vào đầu thế kỷ XX, Canning là thị trấn lớn nhất trong khu vực. Tất nhiên, được đặt theo tên của chủ đất lớn nhất. Khi xét về diện tích, gia đình Maitland đứng thứ hai hoặc thứ ba. Canning từng là một thị trấn quan trọng cho đến khi những cơn bão bụi lớn ập đến vào những năm 20 và 30, khi phần lớn lớp đất mặt màu mỡ bị thổi bay. Ngày nay, chẳng có gì ngoài đó ngoài một cửa hàng và một nhà thờ hầu như không có ai lui tới.”

“Và nghĩa địa,” Alec nói. “Nơi người ta chôn cất người chết cho đến khi thị trấn bị làm cho khô cạn. Bao gồm cả tổ tiên nhà Terry.”

Marcy cười mệt mỏi. “Nghĩa địa đó... Tôi đã nghĩ nó thật khủng khiếp. Giống như một ngôi nhà hoang chẳng ai màng đến.”

Yune nói, “Nếu kẻ dị biệt hấp thụ những suy nghĩ và ký ức của Terry khi quá trình biến đổi diễn ra thì hắn hẳn sẽ biết về nghĩa địa.” Lúc này anh ta đang nhìn vào một trong những bức tranh trên tường, nhưng Ralph biết rõ điều gì đang diễn ra trong đầu anh ta. Anh ta đang bắt đầu động não. Nhà kho. Những bộ quần áo bị bỏ lại.

“Theo truyền thuyết - có hàng tá truyền thuyết về El Cuco trên mạng - những sinh vật này giống như những điểm đến chết chóc,” Holly nói. “Đó là nơi chúng cảm thấy như đang được ở nhà nhất.”

“Nếu có những sinh vật ăn nỗi buồn,” Jeannie trầm ngâm, “một nghĩa địa sẽ trở thành một quán cà phê tuyệt đẹp, phải không?”

Ralph ước vợ mình đã không đến đây. Nếu không phải vì cô, anh đã rời đi từ mười phút trước. Đúng vậy, nhà kho nơi những bộ quần áo được tìm thấy nằm gần nghĩa địa hoang đó. Vâng, thứ dịch đã biến cỏ khô thành màu đen thật khó hiểu, và vâng, có lẽ đã có một kẻ dị biệt nào đó. Đó là lý thuyết mà anh sẵn sàng chấp nhận, ít nhất là vào lúc này. Nó đã lý giải được rất nhiều điều. Một kẻ dị biệt có ý định tái tạo một truyền thuyết Mexico thậm chí có thể giải thích nhiều điều hơn thế... nhưng nó không lý giải được tại sao người đàn ông biến mất tại tòa án, hay làm thế nào Terry Maitland có thể ở hai nơi cùng lúc. Anh tiếp tục cưỡng lại những điều đó; chúng giống như những viên sỏi mắc kẹt trong cổ họng anh.

Holly nói, “Hãy để tôi cho mọi người xem một số hình ảnh mà tôi đã chụp được ở một nghĩa địa khác. Chúng có thể mở ra một cuộc điều tra bình thường hơn. Nếu thám tử Anderson hoặc trung úy Sablo sẵn sàng nói chuyện với cảnh sát ở hạt Montgomery, Ohio, thì được.”

Yune nói, “Ớ thời điểm này, nếu tôi phải nói chuyện với giáo hoàng để làm rõ được chuyện này thì tôi cũng làm.”

Holly trình chiếu lần lượt các bức ảnh lên màn hình: ga xe lửa, nhà máy với hình chữ Vạn được sơn ở một bên hông, tiệm rửa xe vắng vẻ.

“Tôi chụp những bức này từ bãi đậu xe của Nghĩa trang Yên nghỉ ở Regis. Đó là nơi chôn cất Heath Holmes cùng bố mẹ anh ta.”

Cô lướt qua các bức ảnh lần nữa: ga tàu, nhà máy, tiệm rửa xe.

“Tôi nghĩ kẻ dị biệt đã lái chiếc xe van mà hắn trộm được từ bãi đầu xe ở Dayton đến một trong những nơi này, và tôi nghĩ nếu anh thuyết phục được cảnh sát hạt Montgomery khám xét chúng, một số dấu vết của hắn có thể vẫn còn. Ở đó, hoặc có thể ở đây.”

Lần này, cô chiếu bức ảnh chụp những toa tàu nằm chỏng chơ vắng vẻ bên cạnh đó. “Hắn không thể giấu chiếc xe van trong một trong hai toa tàu, nhưng hắn có thể đã từng ở đó. Chúng thậm chí còn gần nghĩa trang hơn.”

Cuối cùng cũng có thứ gì đó Ralph có thể tiếp nhận. Một cái gì đó có thật. “Những nơi có mái che. Có thể có dấu vết. Ngay cả sau ba tháng.”

“Vết bánh xe,” Yune nói. “Có thể có nhiếu quần áo bỏ đi hơn nữa.”

“Hoặc những thứ khác,” Holly nói. “Anh sẽ kiểm tra chứ? Và họ nên chuẩn bị để làm xét nghiệm acid phosphate.”

Tinh dịch vương vãi , Ralph nghĩ, và nhớ lại những thứ vương trong nhà kho. Yune đã nói gì về những thứ đó? Một pha xuất tinh xứng đáng được ghi trong Sách Kỷ lục Guinness , phải không nhỉ?

Yune có vẻ ngưỡng mộ. “Cô am hiểu quá.”

Mặt cô ửng hổng và cô nhìn xuống. “Bill Hodges đã làm rất tốt công việc của mình. Anh ấy đã dạy tồi rất nhiều điều.”

“Tôi có thể gọi cho công tố viên Hạt Montgomery, nếu cô muốn,” Samuels nói. “Kiếm ai đó từ bất kỳ sở cảnh sát nào có thẩm quyền trong thị trấn đó - Regis nhỉ? - để phối hợp với các cảnh sát bang. Dựa trên những gì mà đứa trẻ nhà Elhnan tìm thấy trong nhà kho ở thị trấn Canning, thì điều đó rất đáng để xem xét.”

“Cái gì?” Holly đột ngột hỏi. “Cậu ta tìm thấy gì, bên cạnh chiếc khóa thắt lưng với các dấu vân tay trên đó?”

“Một đống quần áo,” Samuels nói, “Quần dài, quần lót, giày thể thao. Có một số có tinh dịch trên đó, trên cả cỏ khô. Nó biến cỏ khô thành màu đen.” Anh ta dừng lại. “Dù không có áo sơ mi. Chiếc áo sơ mi đã bị mất.”

Yune nói, “Chiếc áo đó có thể là thứ mà gã đàn ông bị bỏng đội trên đầu giống như một chiếc khăn trùm đầu khi chúng tôi nhìn thấy hắn tại tòa án.”

“Nhà kho này cách nghĩa địa bao xa?” Holly hỏi.

“Chưa đến một cây số,” Yune nói. “Chất cặn trên quần áo trông giống như tinh dịch. Đó có phải là điều cô đang nghĩ không, cô Gibney? Đó là lý do tại sao cô muốn cảnh sát Ohio thực hiện xét nghiệm acid phosphate?”

“Không thể là tinh dịch được,” Ralph nói. “Quá nhiều.”

Yune phớt lờ điều này. Anh ta nhìn Holly chằm chằm, như thể bị cô bỏ bùa mê. “Cô đang nghĩ những thứ trong nhà kho là một loại chất thải do lột xác mà ra? Chúng tôi đang kiểm tra các mẫu nhưng vẫn chưa có kết quả.”

“Tôi không biết mình đang nghĩ gì,” Holly nói. “Nghiên cứu của tôi về El Cuco cho đến nay không nhiều hơn mấy truyền thuyết mà tôi đã đọc khi bay xuống đầy, và chúng không đáng tin cậy. Chúng được truyền miệng, thế hệ này sang thế hệ khác, rất lâu trước khi khoa học pháp y tồn tại. Tôi chỉ có thể nói rằng cảnh sát ở Ohio nên kiểm tra những địa điểm trong ảnh của tôi. Họ có thể không tìm thấy bất cứ thú’ gì... nhưng tôi nghĩ họ sẽ tim thấy. Tôi hy vọng họ sẽ tìm thấy. Các dấu vết, như thám tử Anderson đã nói.”

“Cô nói xong chưa, cô Gibney?” Howie hỏi.

“Vâng, tôi nghĩ vây.” Cô ngồi xuống. Ralph nghĩ cô trông có vẻ mệt mỏi, và tại sao không chứ? Cô đã quay cuồng suốt mấy ngày liển. Còn phát điên vì phải tìm ra một người.

Howie nói, “Thưa quý vị, có ai có ý kiến gì về việc tiếp theo chúng ta sẽ làm không? Mọi người cho ý kiến nào.”

“Bước tiếp theo có vẻ đã rất rõ ràng,” Ralph nói. “Kẻ dị biệt này có thể đang ở đây, ở Flint này - lời khai từ vợ tôi và Grace Maitland cho thấy điều đó - nhưng ai đó cần phải xuống Texas và thẩm vấn Claude Bolton, xem anh ta biết gì. Nếu thực sự có bất cứ điều gì. Tôi tự ứng cử.”

Alec nói, “Tôi muốn đi với anh.”

“Tôi nghĩ đó là chuyến đi mà tôi cũng muốn theo,” Howie nói. “Trung úy Sablo?”

“Tôi cũng muốn, nhưng tôi có hai vụ tại tòa. Nếu tôi không làm chứng, hai thằng bé hư đốn đó có thể sẽ được tại ngoại. Tôi sẽ gọi cho ADA ở thành phố Cap, xem có khả năng hoãn hay không, nhưng chắc không hy vọng gì nhiều. Tôi không thể nói với anh ấy rằng tôi đang truy tìm dấu vết của một con quái vật Mexico biến hình.”

Howie cười. “Tôi nghĩ không nên. Còn cô thì sao, cô Gibney? Muốn đi xa hơn một chút về phía nam không? Tất nhiên, cô sẽ được thêm phí.”

“Vâng, tôi sẽ đi. Bolton có thể biết những điều chúng ta cần tìm. Nếu thế thì chúng ta có thể đặt những câu hỏi phù hợp.”

Howie nói, “Thế còn anh thì sao, Bill? Muốn xem chuyện này dẫn về đầu không?”

Samuels cười nhạt, lắc đầu, sau đó đứng lên. “Tất cả những điều này thật thú vị, theo một cách điên rồ, nhưng theo như tôi biết, vụ án đã khép lại. Tôi sẽ gọi cho cảnh sát ở Ohio, nhưng chỉ vây thôi. Bà Maitland, tôi rất tiếc vì mất mát của bà.”

“Anh nên như vậy,” Marcy nói.

Anh ta nhăn mặt trước cầu trả lời đó, nhưng vẫn tiếp tục. “Cô Gibney, chuyện này thật thú vị. Tôi đánh giá cao công việc khó khăn và sự siêng năng của cô. Cô cũng dẫn giải thật thuyết phục, thuyết phục đến mức đáng ngạc nhiên cho sự huyền diệu này, tôi chân thành đấy, nhưng tôi sẽ về nhà, lấy một cốc bia từ tủ lạnh ra và bắt đầu quên đi toàn bộ điều này.”

Họ nhìn anh ta thu dọn chiếc cặp của mình và rời đi, nhúm tóc bò liếm lúc lắc như vẫy một ngón tay cảnh cáo khi anh ta ra khỏi cửa.

Khi anh ta khuất bóng, Howie nói ông sẽ thu xếp việc đi lại của họ. “Tôi sẽ thuê King Air mà tôi hay sử dụng. Các phi công sẽ biết đường băng hạ cánh gần nhất. Tôi cũng sẽ thu xếp một chiếc xe hơi.

Nếu chỉ có bốn chúng ta thì một chiếc sedan hay một chiếc SUV nhỏ là được.”

“Thêm một chỗ cho tôi,” Yune nói. “Để phòng trường hợp tôi có thể sắp xếp việc ở tòa.”

“Được nhé.”

Alec Pelley nói, “Ai đó cần liên hệ với Bolton tối nay, và nói với anh ta rằng anh ta hãy chuẩn bị đón khách.”

Yune giơ tay. “Tôi có thể làm việc đó.”

“Hãy giải thích cho anh ta hiểu rằng không ai truy lùng anh ta vì anh ta đã làm gì đó bất hợp pháp. Chúng ta không muốn anh ta đào tẩu đâu nhỉ?” Howie nói.

“Hãy gọi cho tôi sau khi anh nói chuyên với anh ta,” Ralph nói với Yune. “Ngay cả khi đã muộn. Tôi muốn biết anh ta phản ứng như thế nào.”

“Tôi cũng vậy,” Jeannie nói.

“Anh nên nói với anh ta một điều khác,” Holly nói. “Anh nên dặn anh ta cẩn thận thì hơn. Vi nếu như tôi đoán đúng, anh ta có thể sẽ là con mồi tiếp theo.”

❊ 12 ❊

Trời đã về khuya khi Ralph và những người khác bước ra khỏi tòa nhà của Howie Gold. Bản thần Howie vẫn ở trên lầu thu xếp, và điều tra viên của ông cũng ở cùng ông. Ralph băn khoăn không biết họ sẽ nói chuyện gì khi những người khác đã ra về.

“Cô Gibney, cô sẽ ở đâu?” Jeannie hỏi.

“Nhà nghỉ Flint Luxury. Tôi đã đặt trước một phòng.”

“Ổ không, cô không thể,” Jeannie nói. “Sang trọng mồm thôi. Chỗ đó tệ lắm.”

Holly trông có vẻ bối rối. “Chà, chắc phải có một Holiday Inn...”

“Đến nhà chúng tôi đi,” Ralph nói, cướp lời Jeannie và hy vọng điều đó giúp anh ghi điểm. Chúa biết anh có thể sử dụng chúng.

Holly do dự. Cô không thoải mái khi ở nhà người khác. Cô là thế ngay cả khi ở nơi cô đã lớn lên, khi có những chuyến nghỉ phép ngắn ngày về bên mẹ. Cô biết rằng trong ngôi nhà của những người xa lạ này, cô sẽ thức rất khuya và dậy rất sớm, nghe thấy từng tiếng kẽo kẹt lạ thường của tường và sàn nhà, dỏng tai nghe tiếng thì thầm của vợ chồng Anderson và tự hỏi liệu họ có đang nói về cô không... mà họ gần như chắc chắn sẽ làm vậy. Cô hy vọng rằng nếu cô phải thức dậy trong đêm để đi tiểu, họ sẽ không nghe thấy cô. Cô cần ngủ. Cuộc họp đã đủ căng thẳng và thái độ phản đối liên tục của thám tử Anderson là điếu dễ hiểu song cũng gầy ra nhiều mệt mỏi.

Nhưng , như Bill Hodges đã nói. Nhưng.

Sự không tin của Anderson là chữ nhưng ấy. Đó là lý do cô phải nhận lời, và cô đã làm vậy.

“Cảm ơn hai người, tuyệt quá, nhưng tôi phải chạy chút việc trước. Không lầu đâu. Hãy cho tôi địa chỉ nhà của hai vị và tôi sẽ tim đường bằng iPad.”

“Tôi có thể giúp gì cho cô không?” Ralph hỏi. “Tôi rất vui khi...”

“Không. Thật sự là không cần đâu. Tôi sẽ ổn thôi.” Cô bắt tay với Yune. “Hãy đi với chúng tôi nếu anh có thể, trung úy Sablo. Tôi chắc chắn anh muốn.”

Anh ta mỉm cười. “Tôi muốn chứ, tin tôi đi, nhưng giống như bài thơ đó nói - tôi có những lời hứa phải giữ.”

Marcy Maitland đang đứng một mình, ôm túi trước bụng và trông phờ phạc. Jeannie đi về phía cô không chút do dự. Ralph thích thú quan sát Marcy lúc đầu lùi lại, như thể bật chế độ báo động, sau đó cho phép mình được ôm. Sau một lúc, cô thậm chí còn gục đầu lên vai Jeannie Anderson và ôm lại. Cô trông như một đứa trẻ mệt mỏi. Khi hai người phụ nữ tách nhau ra, cả hai người đều đang khóc.

“Tôi rất tiếc vi những mất mát của cô,” Jeannie nói.

“Cảm ơn cô.”

“Nếu tôi có thể làm bất cứ điều gì cho cô hoặc hai đứa trẻ, bất cứ điều gì...”

“Cô không thể, nhưng anh ta có thể.” Cô hướng sự chú ý của mình sang Ralph, và dù đôi mắt vẫn còn đẫm lệ, nhưng chúng thật lạnh lùng. Dò xét. “Kẻ dị biệt này, tôi muốn anh bắt hắn. Đừng để hắn bỏ chạy chỉ vì anh không tin hắn có mặt trên đời. Anh có thể làm được điều đó không?”

“Tôi không biết,” Ralph nói, “nhưng tôi sẽ thử.”

Marcy không nói gì nữa, chỉ nắm lấy cánh tay được Yune Sablo chìa ra và để anh dẫn cô đi về phía xe của mình.

❊ 13 ❊

Đi thêm nửa dãy nhà, đâu xe trước cửa hàng Woolworth’s bị bỏ hoang từ lâu, Jack ngồi trong xe tải của mình, nhấm nháp chút nước từ một chiếc bình và quan sát cả nhóm trên vỉa hè. Người duy nhất ông ta không thể xác định là một phụ nữ mảnh mai trong bộ vest mà một nữ doanh nhân thường mặc khi đi công tác. Tóc cô ta ngắn, phần tóc mái bù xù, lởm chởm như thể cô ta đã tự cắt chúng. Chiếc cặp đeo trên vai trông đủ lớn để đựng được cả một chiếc radio sóng ngắn. Người phụ nữ đó đứng nhìn khi Sablo, viên cảnh sát bang, đưa vợ của Terry Maitland ra xe. Sau đó, cô ta đi về phía chiếc xe của mình, hẳn là một chiếc xe cho thuê ở sân bay vì không có điểm gì nổi bật. Hoskins thoáng nghĩ đến việc đi theo cô ta, nhưng quyết định bám theo nhà Anderson. Rốt cuộc thì chính Ralph là người đã dẫn ông ta đến đây, và chẳng phải ai đó từng nói rằng ta sẽ về nhà với cô gái mà ta đã dẫn đến bữa tiệc khiêu vũ sao?

Ngoài ra, Anderson cũng đang quan sát. Hoskins chưa bao giờ thích anh ta, và kể từ lời đánh giá cụt lủn một năm trước {Không có ỷ kiến, anh ta đã viết như vậy... như thể anh ta chẳng quan tầm), Jack đã ghét cay ghét đắng anh ta. Jack cũng vui thầm khi Anderson vướng phải lùm xùm vụ bắt giữ Maitland, và ông ta không ngạc nhiên khi phát hiện ra tên khốn tự cho mình là đúng đó giờ đang nhúng tay vào mọi thứ thay vì cho qua. Một vụ đã đóng rồi chẳng hạn.

Jack đưa tay vuốt gáy, nhăn mặt, rồi khởi động chiếc xe tải của mình. Ông ta nghĩ mình có thể về nhà sau khi thấy gia đình Anderson vào trong, nhưng ông ta nghĩ có lẽ mình cũng cần đâu xe bên đường và để mắt đến ngôi nhà của họ. Hãy xem chuyện gì đã xảy ra. Ông ta đã chuẩn bị sẵn một chai Gatorade để đi tè nếu cần, và ông ta thậm chí còn có thể chợp mắt một chút, nếu cơn đau rát dịu lại. Đây không phải là lần đầu tiên ông ta ngủ trong chiếc xe tải này; ông ta đã làm thế vài lần kể từ ngày vợ cũ bỏ đi.

Jack không chắc điều gì sẽ xảy ra tiếp theo, nhưng ông ta đã có mục tiêu rõ ràng: ngăn chặn sự can thiệp. Can thiệp vào chính xác chuyện gì thì ông ta không biết, chỉ biết nó có liên quan gì đó đến cậu bé nhà Peterson. Và nhà kho ở thị trấn Canning. Bây giờ thế là đủ, và - bỏ vết cháy nắng sang một bên, ung thư da sang một bên -ông ta đang thấy hứng thú.

Ông ta cảm thấy rằng khi thời điểm cho bước tiếp theo đến, ông ta sẽ nhận được hướng dẫn.

❊ 14 ❊

Với sự trợ giúp của ứng dụng điều hướng, Holly đã lái xe rất nhanh chóng và dễ dàng đến Walmart của thành phố Plint. Cô thích Walmart, quy mô ổn, cũng chẳng ai thèm để ý đến sự tồn tại của bạn. Người ta dường như chẳng thèm đếm xỉa đến những người mua sắm khác như họ vẫn làm ở các cửa hàng khác; cứ như thể mỗi người có một khoang riêng tư, được thoải mái mua quần áo, trò chơi điện tử hoặc giấy vệ sinh với số lượng lớn. Ta thậm chí cũng chẳng cần phải nói chuyện với nhân viên thu ngân, nếu sử dụng tính năng tự thanh toán. Holly luôn làm vậy. Cô mua sắm rất nhanh vì cô biết chính xác mình muốn gì. Đẩu tiên cô đến khu VĂN PHÒNG PHẨM, sau đó đến khu ĐỒ NAM, cuối cùng là PHỤ TÙNG Ô TÔ. Cô mang giỏ của mình ra quầy thanh toán tự động và nhét biên lai vào ví. Đây là những chỉ phí công tác mà cô mong sẽ được hoàn trả. Đó là nếu cô còn sống. Cô có một ý tưởng ( trực giác nổi tiếng của Holly , Bill Hodges đã nói thế) có nhiều khả năng Ralph Anderson - giống Bill ở một số khía cạnh, và rất khác với anh ấy ở những khía cạnh khác - sẽ có thể vượt qua hố sâu cách biệt trong tâm trí anh ta.

Cô quay trở lại xe và lái đến nhà Anderson. Nhưng trước khi rời bãi đậu xe, cô đã lầm nhẩm một lời cầu nguyện ngắn gọn. Cho tất cả bọn họ.

❊ 15 ❊

Điện thoại di động của Ralph đổ chuông khi anh và Jeannie đang đi vào bếp. Đó là Yune. Anh ta đã có được số của của Lovie Bolton ở Marrysville từ John Zellman, ông chủ của Gentlemen, Please , và đã liên lạc được với Claude mà không gặp khó khăn gì.

“Anh đã nói gì với anh ta?” Ralph hỏi.

“Chủ yếu là việc chúng ta đã thỏa thuần ở văn phòng của Howie thôi. Rằng chúng ta muốn thẩm vấn anh ta vi chúng ta có vài nghi ngờ về vụ Terry Maitland. Tôi cũng nhấn mạnh rằng chúng ta không nghĩ bản thân Bolton có tội gì và những người sẽ đến gặp anh ta sẽ đối xử nghiêm túc với anh ta như những công dân riêng tư. Anh ta hỏi anh có phải là một trong số họ không. Tôi đã nói rằng đúng. Mong rằng điều đó ổn với anh. Anh ta cũng có vẻ ổn.”

“Tốt rồi.” Jeannie đi thẳng lên lầu, và giờ anh nghe thấy tiếng báo khởi động chiếc máy tính để bàn mà họ dùng chung. “Còn gì nữa?”

“Tôi đã nói rằng nếu Maitland đã bị ghim thì Bolton cũng có thể gặp rủi ro tương tự, đặc biệt khi anh ta là người có tiền án.”

“Anh ta phản ứng thế nào?”

“Ổn. Anh ta không tỏ ra dè chừng hay gì cả. Nhưng rồi anh ta đã nói một điều rất thú vị. Hỏi tôi rằng liệu tôi có chắc người mà anh ta gặp ở cầu lạc bộ thoát y vào đêm cậu bé Peterson bị sát hại là Terry Maitland không.”

“Anh ta nói thế á? Tại sao?”

“Bởi Maitland đã hành động như thể anh ta chưa bao giờ gặp Bolton trước đây, và khi Bolton hỏi đội bóng chày thế nào, Maitland đã trả lời chung chung. Không có chút thông tin chỉ tiết nào, dù đội đã vào vòng tranh suất vớt. Anh ta cũng nói với tôi rằng Maitland lúc đó đi một đôi giày thể thao rất đẹp. Giống như những đôi giày mà bọn trẻ dành dụm mua để được trông như dân chơi , anh ta đã nói thế. Theo Bolton, anh ta chưa bao giờ nhìn thấy Maitland như vậy.”

“Đó là đôi giày thể thao mà chúng ta tìm thấy trong nhà kho.”

“Không có cách nào để chứng minh điều đó, nhưng tôi chắc chắn là anh đúng.”

Từ trên lẩu, lúc này Ralph nghe thấy tiếng nghiến kèn kẹt của chiếc máy in HewlettPackard cũ của họ và tự hỏi Jeannie đang làm cái quái gì vây.

Yune nói, “Anh còn nhớ Gibney đã kể cho chúng ta nghe về sợi tóc mà họ tìm thấy trong phòng của bố Maitland tại viện dưỡng lão chứ? Của một trong những cô bé bị sát hại?”

“Chắc chắn rồi.”

“Anh có muốn cược rằng nếu chúng ta xem xét các giao dịch tín dụng của Maitland, chúng ta sẽ tìm thấy lịch sử thanh toán đôi giày thể thao đó kèm một biên lai có chữ ký của chính chủ không?”

“Tôi đoán kẻ dị biệt trong giả thuyết này có thể làm được điều đó,” Ralph nói, “nhưng chỉ khi hắn thó được một trong những tấm thẻ tín dụng của Terry.”

“Hắn thậm chí không cần phải làm điều đó. Hãy nhớ rằng nhà Maitland đã sống ở thành phố Flint bao lâu nay rồi. Họ có thể có tài khoản bán chịu tại nửa tá cửa hàng ở trung tâm thành phố. Tất cả những gì gã này cần làm là bước vào quầy bán đồ thể thao, chọn những đôi giày tuyệt đẹp và ký tên. Ai sẽ đặt câu hỏi về anh ta chứ? Mọi người trong thị trấn đều biết anh ta. Tóc và đồ lót của hai đứa trẻ cũng vậy, anh không thấy à? Hắn mượn khuôn mặt của họ và làm những việc bẩn thỉu, nhưng điều đó là chưa đủ đối với hắn. Hắn cũng bện một sợi dây và treo cổ họ. Bởi hắn gặm nhấm những nỗi sầu muộn. Hắn tìm vui từ những nỗi buồn!

Ralph dừng lại, đưa tay lên ngang mắt, gang bàn tay hết cỡ để bóp hai thái dương.

“Ralph? Anh còn ở đó không?”

“Còn. Nhưng Yune... anh đang tạo ra những bước nhảy vọt mà tôi chưa sẵn sàng thực hiện.”

“Tôi hiểu. Tôi còn chẳng tin nổi mình. Nhưng anh ít nhất cũng nên lưu ý đến khả năng xảy ra.”

Nhưng đó không phải là một khả năng , Ralph nghĩ. Không có khả năng nào hết.

Anh hỏi Yune liệu anh ta có dặn Bolton hãy cẩn thận không.

Yune bật cười. “Tôi dặn rồi. Anh ta cười. Nói rằng có ba khẩu súng trong nhà, hai khẩu súng trường và một khẩu súng lục, và mẹ anh ta là người bắn giỏi hơn anh ta, dù bị khí phế thũng. Anh bạn, tôi ước gì tôi được xuống đó với anh.”

“Hãy cố biến điều đó thành hiện thực.”

“Tôi sẽ cố.”

Khi anh kết thúc cuộc gọi, Jeannie bước xuống với một tập giấy mỏng. “Em đang nghiên cứu thông tin về Holly Gibney. Em nói này, ngoài việc là một phụ nữ ăn nói nhẹ nhàng và hoàn toàn không có gu ăn mặc, thì cố ấy có rất nhiều thứ.”

Khi Ralph đón lấy các trang giấy, đèn pha ô tô bất chợt rọi thẳng vào đường lái xe. Jeannie lấy lại chúng ngay trước khi anh có thể đọc được thêm nhiều hơn tiêu để lớn trên tờ đầu tiên: CẢNH SÁT ĐÃ NGHỈ HƯU, HAI NGƯỜI KHÁC ĐÃ TIẾT KIỆM ĐƯỢC HÀNG NGÀN ĐÔ-LA TẠI BUỔI HÒA NHẠC THÍNH PHÒNG MINGO . Anh cho rằng Holly Gibney là một trong hai người đó.

“Hãy giúp cô ấy mang đồ vào đi,” Jeannie nói. “Anh có thể đọc những thứ này trên giường.”

❊ 16 ❊

Hành lý của Holly bao gồm chiếc túi đeo vai đựng máy tính xách tay, một chiếc túi nhỏ vừa khoang trên đầu của máy bay và một chiếc túi Walmart bằng nhựa. Cô để Ralph xách túi nhỏ nhưng nhất quyết nhận phần cầm chiếc túi đeo vai và chiếc túi nhựa Wally World.

“Hai người đã quá tử tế khi để tôi ở lại đây rồi,” cô nói với Jeannie.

“Đó là vinh hạnh của chúng tôi. Tôi có thể gọi cô là Holly được không?”

“Vâng, hãy gọi như thế đi. Sẽ ổn hơn đấy.”

“Phòng cho khách của chúng tôi ở cuối hành lang trên lẩu. Chăn ga mới thay và có phòng tắm riêng. Đừng quên để ý bàn máy may của tôi nếu cô phải dùng nhà vệ sinh lúc nửa đêm nhé.”

Holly không giấu nổi vẻ nhẹ nhõm không thể nhẩm lẫn trên gương mặt, và cô mỉm cười. “Tôi sẽ để ý.”

“Cô có muốn uống ca cao không? Tôi có thể pha. Hoặc thứ gì đó mạnh hơn?”

“Tôi chỉ muốn đi nằm thôi. Xin lỗi hai người nhưng tôi đã có một ngày rất dài.”

“Tất nhiên rồi. Tôi sẽ chỉ đường cho cô.”

Nhưng Holly nán lại một lúc, nhìn qua cổng tò vò và tiến vào phòng khách nhà Anderson. “Kẻ đột nhập nhà cô đã ngồi ngay đó khi cô xuống cầu thang à?”

“Vâng. Trên một trong những chiếc ghế nhà bếp.” Cô đưa tay chỉ rồi khoanh tay trước ngực, lòng bàn tay khum khum đỡ khuỷu tay. “Lúc đầu, tôi chỉ có thể nhìn thấy từ đầu gối trở xuống của hắn. Sau đó là cả hình xăm trên ngón tay của hắn. MUST. Rồi hắn nghiêng người về phía trước và tôi có thể nhìn thấy khuôn mặt của hắn.”

“Khuôn mặt của Bolton.”

“Vâng.”

Holly suy nghĩ một chút rồi nở một nụ cười rạng rỡ khiến cả Ralph và vợ anh đều ngạc nhiên. Nụ cười ấy khiến cồ trông trẻ ra nhiều tuổi. “Xin lỗi hai người, tôi phải đi nằm đây.”

Jeannie dẫn cô lên lẩu, vừa đi vừa trao đổi dăm câu ba điều. Cô ấy đã khiến Holly thoải mái theo cách mà mình không bao giờ có thể làm được, Ralph nghĩ. Đó là một tài năng và nó có thể sẽ phát huy tác dụng với người phụ nữ cực kỳ đặc biệt này.

Cô ấy CÓ thể kỳ lạ, nhưng cũng dễ mến một cách kỳ lạ, bất chấp những ý tưởng điên rồ của cô ấy về Terry Maitland và Heath Holmes.

Những ý tưởng điên rồ chỉ tình cờ khớp với dữ kiện.

Nhưng điều đó là không thể.

Nhưng chúng vừa như in.

“Vẫn không thể,” anh thì thầm.

Trên lầu, tiếng hai người phụ nữ cười nói vang lên. Điều đó bất giác khiến Ralph mỉm cười. Anh đợi ở đó cho đến khi nghe thấy tiếng bước chân của Jeannie trở về phòng của họ, rồi anh cũng đi lên. Cánh cửa phòng dành cho khách ở cuối hành lang khép lại. Số giấy tờ — thành quả của quá trình nghiên cứu vội vã của Jeannie — đang nằm trên gối của anh. Anh cởi quần áo, nằm xuống và bắt đầu đọc về Holly Gibney, đồng chủ sở hữu của một công ty truy tìm dâu vết có tên là Pinders Keepers.

❊ 17 ❊

Ở bên ngoài, dưới khu nhà, Jack đã quan sát thấy người phụ nữ mặc vest rẽ vào đường lái xe của nhà Anderson. Anderson bước ra và giúp cờ ta chuyển đồ vào nhà. Cô ta không có nhiều đồ. Một trong những chiếc túi của cô ta là từ Walmart. Vì vậy, đó là nơi cô ta đã đến sau buổi gặp của bọn họ. Có lẽ để mua đồ ngủ và bàn chải đánh răng. Nhìn vẻ ngoài của cô ta thì bộ đồ ngủ chắc sẽ xấu xí còn đám lông bàn chải đánh răng chắc sẽ đủ cứng để đầm toác lợi của cô ta.

Ông ta nhấp một ngụm nước từ binh, khi đang vặn nắp binh và nghĩ đến việc về nhà (tại sao không, có đứa trẻ ngoan nào lại về nhà muộn mỗi đêm chứ), ông ta nhận ra trong xe không chỉ có mình ông ta. Ai đó đang ngồi ở phía ghế hành khách. Hắn vừa xuất hiện qua khóe mắt của Hoskins. Tất nhiên điều đó là không thể, nhưng hắn không thể ở đó từ đâu. Phải vậy không?

Hoskins nhìn thẳng về phía trước. Vết cháy nắng trên gáy vốn đã dịu lại bắt đầu nhói lên rát buốt.

Một bàn tay lơ lửng trong tầm nhìn ngoại vi của ông ta. Dường như ông ta còn có thể nhìn thấy chỗ ngồi xuyên qua nó. Trên các ngón tay là chữ MUST được xăm mău xanh nhạt. Hoskins nhắm mắt lại, cầu nguyện rằng vị khách sẽ không chạm vào ông ta.

“Anh phải lái xe,” vị khách nói. “Trừ khi anh muốn chết theo cách mà mẹ anh đã nằm xuống. Anh có nhớ bà ta đã hét lên như thế nào không?”

Có, Jack nhớ. Cho đến khi bà không thể hét lên được nữa.

“Cho đến khi bà ta không thể hét lên được nữa,” vị khách nói. Bàn tay chạm vào đùi anh, rất khẽ, và Jack biết làn da ở đó sẽ sớm bắt đầu bỏng rát, giống như sau gáy anh. Chiếc quần anh đang mặc sẽ không có tác dụng bảo vệ; chất độc sẽ thấm qua ngay, “ừ, anh nhớ đấy. Làm sao anh có thể quên được?”

“Ông muốn tôi đi đâu?”

VỊ khách nói địa chỉ, và rồi cú chạm của bàn tay khủng khiếp đó biến mất. Jack mở mắt và nhìn quanh. Băng ghế bên kia trống không. Đèn trong nhà Anderson đã tắt. Ông ta nhìn đồng hồ và thấy bây giờ đã là 11 giờ 15 phút. Ông ta đã ngủ thiếp đi. Ông ta gần như đã nghĩ mình vừa mơ. Một cơn ác mộng. Ngoại trừ một điều.

Ông ta khởi động chiếc xe tải và vào số. Ông ta sẽ dừng lại để đổ xăng tại trạm Hi trên Đường 17 bên ngoài thị trấn. Đó là nơi thích hợp, bởi anh chàng làm ca đêm - tên anh ta là Cody - luôn thủ sẵn những viên thuốc nhỏ màu trắng. Cody bán chúng cho những người lái xe tải hoặc từ phía bắc đến Chicago, hoặc xuống phía nam tới Texas. Đối với Jack Hoskins của Sở cảnh sát Thành phố Flint thì miễn phí luôn.

Bảng điều khiển của xe tải đẩy bụi. Tại biển báo dừng đầu tiên, ông ta nghiêng người sang bên phải và lau sạch nó, loại bỏ cái từ mà ngón tay của vị khách không mời đã để lại.

MUST.

« Lùi
Tiến »