Kẻ Song Trùng

Lượt đọc: 4276 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NHỮNG CHUYẾN THĂM
ngày 25 tháng 7
1

Thám tử Jack Hoskins của Sở Cảnh sát thành phố Flint thức dậy lúc 2 giờ sáng thứ Tư trong tình trạng khốn khổ gấp ba lần: nôn nao, bỏng rát và buồn vệ sinh. Chắc lá do mấy thứ đồ mình ăn ở Los Tres Molinos , ông ta nghĩ... nhưng ông ta có ăn ở đó à? Ông ta khá chắc là mình đã làm vậy - enchiladas nhồi thịt lợn và phô mai cay - nhưng không chắc chắn hẳn. Đó có thể là Hacienda. Ông ta chẳng nhớ rõ nữa.

Mình phải bớt uống vodka lại thôi. Kỳ nghỉ kết thúc rồi.

Đúng thế, sớm hơn dự định. Bởi vì cái sở nhỏ như mắt muỗi của họ giờ chỉ còn có một thám tử phụ trách. Đôi khi cuộc sống là một mớ hổ lốn. Thậm chí thường xuyên như thế.

Ông ta bước ra khỏi giường, nhăn nhó vì đầu óc đau như búa bổ khi chân ông ta chạm xuống sàn còn tay thì đưa lên chạm vào vết bỏng rát ở sau cổ. Ông ta cởi quần đùi, lấy tờ báo trên tủ đầu giường và lao vào phòng tắm để đi vệ sinh. Yên vị trên bồn cầu, trong lúc chờ đợi thứ chất thải sệt luôn xuất hiện trong khoảng 6 giờ hoặc hơn sau khi ông ta ăn đồ Mexico (ông ta vẫn chưa rút được kinh nghiêm sao?), ông ta đã mở tờ Call ra và tìm mục truyện tranh, phần duy nhất đáng đọc trên tờ báo địa phương này.

Ông ta đang nheo mắt đọc những bong bóng thoại nhỏ xíu trong Get Fuzzy thi nghe thấy tiếng rèm tắm loạt soạt. Ông ta ngước lên và thấy một bóng đen đằng sau những bông hoa cúc li ti. Trái tim ông ta như muốn vọt khỏi cổ họng, đập loạn xạ. Ai đó đang đứng trong bồn tắm nhà ông ta. Một kẻ đột nhập, chứ không chỉ là một tên trộm đổ ngổ ngáo nào đó đã lách qua cửa sổ phòng tắm và ẩn nấp ở nơi duy nhất có thể trốn được khi thấy đèn phòng ngủ bật sáng. Không. Đây chính là người đã đứng sau lưng ông ta tại cái nhà kho bỏ hoang chết tiệt ở thị trấn Canning. Chắc như đinh đóng cột. Cuộc gặp gỡ đó (nếu nó được coi là một cuộc gặp gỡ) cứ lởn vởn trong tâm trí ông ta, như thể ông ta đang mong đợi nó... trở về.

Mày biết chuyện đó thật nhảm nhí. Mày nghĩ rằng mày đã nhìn thấy một gã ở nhà kho, nhưng khi mày chiếu đèn vào gã, hóa ra đó chỉ là một món đồ làm nông bị hỏng. Bây giờ mày lại nghĩ rằng cố một gã ở trong bồn tắm, nhưng đầu hắn hóa ra lại là cái đầu vòi hoa sen, còn cánh tay hắn chính là cái cọ lưng cán dài mắc ngang vòi trên tường. Tiếng ràn rạt mà mày nghe thđy chỉ là tiếng đập ong ong trong đầu thôi.

Ông ta nhắm mắt lại rồi mở mắt ra và nhìn chằm chằm vào tấm rèm phòng tắm với những bông hoa bằng nhựa ngu ngốc, loại rèm tắm chỉ có vợ cũ mới thích nổi. Bây giờ ông ta đã hoàn toàn tỉnh táo, hiện thực đã tự khẳng định chính nó. Chỉ là đầu vòi hoa sen, chỉ là tay cầm của cái cọ lưng mắc ngang vòi. Ông ta là một tên ngốc. Một tên ngốc say xỉn, loại tồi tệ nhất. Ông ta...

Rèm tắm lại ràn rạt kêu lên. Nó ràn rạt vì ông ta muốn tin rằng cái cọ lưng giờ đã mọc những ngón tay mờ và vươn ra để chạm vào tấm rèm nhựa. Đẩu vòi hoa sen quay lại và dường như đang nhìn chằm chằm vào ông ta qua tấm mành mờ. Tờ báo rơi khỏi những ngón tay buông lơi của Hoskins và đáp xuống sàn đánh bộp. Đầu ông ta đập thình thịch còn sau gáy bỏng rát. Bụng dạ nhẹ bẫng, và phòng tắm nhỏ tràn ngập thứ mùi mà Jack đột nhiên chắc chắn đó là từ bữa ăn cuối cùng của ông ta. Ông ta đưa tay chạm tới mép rèm. Trong một giây - cùng lắm là hai — nó sẽ bị kéo sang một bên và ông ta sẽ nhìn thấy một thứ gì đó khủng khiếp đến mức cơn ác mộng tồi tệ nhất của ông ta cũng có thể coi là một giấc mơ ngọt ngào.

“Không,” ông ta thì thầm. “Không.” Ông ta cố đứng dậy khỏi bồn vệ sinh, nhưng chân mềm nhũn còn mông thì ngồi phịch xuống. “Làm ơn, không. Đừng.”

Một bàn tay lần ra mép rèm, nhưng thay vì kéo rèm, các ngón tay chỉ bám hờ ở đó. Hình xăm trên những ngón tay ghép lại thành một từ: CANT.

“Jack.”

Ông ta không thể thốt nên lời. Ông ta đang trần truồng ngồi trên bồn cầu với những giọt phân cuối cùng đang nhỏ tong tỏng, trái tim của ông ta như một cỗ máy đang chạy sùng sục trong lồng ngực. Ông ta cảm thấy rằng sớm muộn gì nó cũng sẽ nhảy ào ra khỏi đó, rơi phịch trên nến gạch, máu bắn tứ tung lên mắt cá chân của ông ta và mục truyện tranh của tờ Flint City Call , thoi thóp những nhịp cuối cùng.

“Đó không phải là vết cháy nắng đâu, Jack.”

Ông ta muốn lịm đi. Chỉ cần lăn ra khỏi bồn cầu, và nếu ông ta đổ rẩm ra sàn gạch, thậm chí bị vỡ sọ, vậy thi sao chứ? ít nhất thì ông ta cũng thoát khỏi chuyện này. Nhưng ý thức vẫn ngoan cố níu giữ. Hình bóng mờ ảo trong bồn tắm vẫn còn đó. Các ngón tay bám vào rèm vẫn là: CANT, màu xanh lam nhạt.

“Hãy chạm vào gáy anh đi, Jack. Nếu anh không muốn ta kéo bức rèm này ra và xuất hiện, hãy làm điều đó ngay bây giờ.”

Hoskins đưa một tay lên và ấn tay lên gáy. Cơ thể ồng ta ngay lập tức phản ứng: cảm giác nhói buốt khủng khiếp chạy dọc lên thái dương và xuống vai. Ông ta nhìn vào tay mình và thấy đẩy máu.

“Anh bị ung thư”, người đứng sau bức rèm thông báo với ông ta. “Nó nằm trong các tuyến bạch huyết, cổ họng và xoang của anh. Nó nằm trong mắt anh , Jack. Nó đang ăn vào mắt anh. Anh sẽ sớm có thể nhìn thấy nó, những nốt nhỏ màu xám của các tế bào ung thư ác tính đang bơi xung quanh trong tầm nhìn của anh. Anh có biết mình bị từ khi nào không?”

Tất nhiên là ông ta biết. Khi sinh vật này chạm vào ông ta ở thị trấn Canning. Khi nó vuốt ve ông ta.

“Tôi đã tặng nó cho anh, nhưng tôi có thể lấy lại nó. Anh có muốn tôi lấy lại nó không?”

“Có,” Jack thì thầm. Ông ta bắt đầu khóc. “Hãy lấy lại. Xin hãy lấy lại nó.”

“Anh sẽ làm việc tôi bảo chứ?”

“Vâng.”

“Anh sẽ không do dự chứ?”

“Không!”

“Tôi tin anh. Và anh sẽ không cho tôi bất kỳ lý do nào để không tin anh, phải không? “

“Không! Không!

“Tốt. Bây giờ hãy tắm rửa sạch sẽ. Anh đổ mồ hôi nhiều quá đấy.”

Bàn tay có chữ CANT rụt lại, nhưng bóng dáng sau bức rèm tắm vẫn đang nhìn chằm chằm. Rốt cuộc đó cũng không phải là con người. Một thứ xấu xí hơn nhiều so với người xấu xí nhất từng sống. Hoskins với lấy giấy vệ sinh, ý thức được rằng mình đang nghiêng người sang một bên, nhấc một phần mông khỏi bệt xí và thế giới cũng đang đồng thời mờ dần và thu nhỏ lại. Như thế này thật tốt. Ông ta bị ngã, nhưng không hề đau đớn. Ông ta đã bất tỉnh trước khi đổ sập xuống sàn.

❊ 2 ❊

Jeannie Anderson thức giấc lúc 4 giờ sáng hôm đó, với bàng quang căng đẩy như mọi khi. Thường thì cô sẽ dùng luôn nhà vệ sinh ở phòng họ, nhưng Ralph đã ngủ không ngon kể từ khi Terry Maitland bị bắn, và tối nay anh cứ trằn trọc mãi. Cô ra khỏi giường và đi về phía phòng tắm ở cuối hành lang, trước cửa phòng của Derek. Cô định xả nước sau khi giải quyết nhưng lại thôi vì sợ anh thức giấc. Để sáng làm cũng được.

Hai giờ nữa, Chúa ơi , cô nghĩ khi rời khỏi phòng tắm. Thêm hai tiếng nữa để ngủ ngon, đó là tất cả những gì mình...

Cô dừng lại giữa hành lang. Cô đã tắt đèn tầng dưới trước khi đi ngủ phải không? Cô đã buồn ngủ díu mắt nhưng chắc chắn vẫn biết đèn có sáng.

Mày có chắc chắn về điều đó?

Không, không phải hoàn toàn, nhưng chắc chắn giờ đèn dưới tầng đang sáng. Ánh sáng trắng. Lặng như tờ. Đèn trên bếp lò.

Cô đi ra đầu cầu thang, đứng từ trên nhìn xuống, lông mày nhăn lại, cân nhắc. Chống trộm đã được bật trước khi họ đi ngủ chưa? RÔI. Làm thế trước khi đi ngủ là một quy tắc của gia đình cô. Cô đã đặt ra nó và Ralph đã kiểm tra lại trước khi họ lên lẩu. Một trong hai người sẽ bật chống trộm, nhưng thói quen kiểm tra lại, giống như việc Ralph ngủ không ngon, chỉ mới bắt đầu kể từ sau cái chết của Terry Maitland.

Cô định gọi chồng nhưng rồi lại thôi. Anh cần ngủ. Cô định vào trong lấy khẩu súng lục ổ quay của anh, trong chiếc hộp trên giá cao ở tủ quần áo, nhưng cánh cửa tủ luôn kêu cót két và nếu thế thì anh dây mất. Như thế này có hơi giống hoang tưởng không? Đèn có lẽ đã được bật khi cô vào phòng tắm mà cô không nhận ra. Hoặc có thể nó đã tự bật, chắc là do chập chờn. Cô rón rén bước xuống các bậc thang, di chuyển sang bên trái ở bậc thang thứ ba và sang bên phải ở bậc thang thứ chín để tránh những tiếng cót két, một cách vô thức.

Cô bước đến cửa bếp và nhìn quanh, cảm thấy vừa ngốc vừa không. Cô thở dài, thổi tung những sợi tóc lòa xòa trên trán. Trong bếp không có ai. Cô dợm bước đi ngang qua phòng để tắt đèn bếp, rồi khựng lại. Đáng lẽ phải có bốn chiếc ghế ở bàn bếp, ba chiếc dành cho gia đình và một chiếc dành cho khách. Nhưng bây giờ chỉ có ba.

“Đừng nhúc nhích,” ai đó nói. “Nếu cô di chuyên, tôi sẽ giết cô. Nếu cô hét lên, tôi cũng sẽ giết cố.”

Cò dừng lại, mạch đập loạn xạ, tóc gáy dựng ngược lên. Nếu chưa đi tiểu thì chắc cô són ra sàn mất. Gã đàn ông, kẻ đột nhập, đang ngồi trên chiếc ghế dành cho khách trong phòng khách nhà họ, cách lối đi có mái vòm đủ xa để cô chỉ có thể nhìn thấy hắn từ đầu gối trở xuống. Hắn mặc một chiếc quần jean bạc màu và đi giày da đanh, không tất. Mắt cá chần của hắn nổi đẩy những vết đỏ có thể là bệnh vẩy nến. Phần thân trên lờ mờ không rõ. Tất cả những gì cô có thể thấy là vai của hắn rộng và hơi chùng xuống - không phải kiểu mệt mỏi, mà như thể đã căng phồng vì luyện tập quá nhiều đến mức hắn không giữ thẳng được chúng. Thật buồn cười, đó là tất cả những gì cô có thể nhìn thấy vào lúc này. Sự căng thẳng đã khiến bộ não nhạy bén tư duy của cô trở nên đông cứng, và mọi thứ cứ trôi vào bất chấp định kiến. Đó là người đã giết Frank Peterson. Hắn đã cắn xé thằng bé như một con thú hoang và hãm hiếp thằng bé bằng một cành cây. Gã đó đang ở trong nhà cô, còn cô đang đứng im như tượng trong bộ đồ ngủ ngắn cũn cỡn, hai đầu vú nhô lên như đèn pha.

“Hãy nghe tôi nói,” hắn cất tiếng. “Cô đang nghe chứ?”

“Vâng,” Jeannie thì thầm, nhưng cô đã bắt đầu choáng váng như sắp ngất xỉu, và cô sợ mình có thể sẽ ngất đi trước khi hắn kịp nói lời muốn nói. Nếu điều đó xảy ra, hắn sẽ giết cô. Rồi sau đó, hắn có thể rời đi, hoặc lên lầu để giết Ralph. Hắn sẽ làm điều đó trước khi đầu óc của Ralph đủ tỉnh táo để biết chuyện gì đang xảy ra.

Rồi Derek sẽ trở về nhầ từ trại hè và trở thành một đứa trẻ mổ côi.

Không. Không.

“Anh muốn gì?”

“Hãy bảo chồng cô rằng mọi chuyện ở thành phố Flint này đã xong rồi. Bảo anh ta dừng lại ngay. Nếu anh ta làm vậy, mọi thứ sẽ trở lại bình thường. Nếu không, tôi sẽ giết anh ta. Tôi sẽ giết tất cả.”

Hắn đưa tay ra khỏi bóng tối của phòng khách và tiến vào vùng ánh sáng mờ mờ của đèn huynh quang một thanh. Đó là một bàn tay to. Hắn co nó lại thành một nắm đấm.

“Các ngón tay của tôi có gì? Hãy đọc nó cho tôi nghe.”

Cô nhìn chằm chằm vào những dòng chữ màu xanh lờ mờ. Cô cố cất tiếng nhưng không thể. Lưỡi cô không khác gì một cục u bám trên vòm miệng.

Hắn nghiêng người về phía trước. Cô nhìn thấy đôi mắt dưới chiếc trán rộng. Tóc đen, ngắn và dựng đứng như lông nhím. Đôi mắt đen, không chỉ nhìn chăm chăm vào cô mà còn soi thấu cô, tìm kiếm trái tim và tâm trí cô.

“MUST*,” hắn nói với cô. “Cô thấy nó, phải không?”

Nghĩa tiếng Việt là “phải”.

“V-Â-N-.”

“Và điều cô phải làm là bảo anh ta dừng lại.” Đôi môi đỏ mấp máy dưới chòm râu dê đen. “Bảo anh ta rằng nếu anh ta hay bất kỳ ai trong số họ cố tìm tôi, tôi sẽ giết họ và phơi ruột bọn họ ở ngoài sa mạc để đãi chim ó. Cô có hiểu ý tôi không?”

Vâng , cô cố nói với hắn nhưng lưỡi cô không nhúc nhích và đầu gối cô mềm nhũn, cô đưa tay chống lại để tránh cú ngã và không biết mình có làm được hay không vì cô ngất xỉu trước khi làm được chuyện đó. Cô ngã vật ra sàn.

❊ 3 ❊

Jack thức giấc lúc 7 giờ khi ánh nắng mùa hè rực rỡ tràn qua cửa ta. Chim hót líu lo bên ngoài.

Số, rải mặt trên giường của ông ta ngồi thẳng lưng, nhìn quanh quất và chỉ lờ mờ nhận ra đầu ông ta đang giật thình thịch vì vodka đêm qua.

Ông ta nhanh chóng rời khỏi giường, mở ngăn kéo tủ đầu giường và lấy ra khẩu Pathhnder .38 mà ông ta luôn đặt ở đó để phòng thân. Ông ta nhón chân băng qua phòng ngủ, tay phải giơ khẩu súng song song với một bên má, nòng súng ngắn chĩa lên trần nhà. Ông ta đá chiếc quần đùi của mình sang một bên, và khi đến được cánh cửa phòng vẫn đang mở, ông ta dừng lại, lưng áp vào tường. Mùi nồng nặc giờ đã phai nhưng quen thuộc quá: hâu quả của những chuyến phiêu lưu enchilada đêm qua. Ông ta đã ngà ngà; nhưng ít nhất thì đó không phải là một giấc mơ.

“Có ai trong đó không? Nếu có, hãy trả lời. Tôi có vũ khí và tôi sẽ bắn.”

Không gian im lìm. Jack hít một hơi thật sâu và xoay người quay mặt vào cửa, hạ người xuống thấp, quét căn phòng từ bên này sang bên kia bằng nòng súng .38. Ông ta thấy nắp bồn cầu được dựng lên còn bệ xí vẫn ở dưới. Ông ta thấy tờ báo nằm trên sàn, đang mở ra ở mục truyện tranh. Ông ta nhìn thấy chiếc bồn tắm, với tấm rèm hoa mờ được kéo ra hết cỡ. Ông ta thấy những hình dạng đằng sau nó, nhưng đó là đầu vòi hoa sen, tay nắm, cái cọ lưng.

Mày có chắc không?

Trước khi hồn xiêu phách lạc, ông ta tiến lên một bước, trượt chân lên tấm thảm tắm, và tóm lấy tấm rèm để không bị mất đà. Tấm rèm tuột khỏi các vòng xích và phủ lên mặt ông ta. Ông ta hét lên, gạt nó sang một bên, và chĩa khẩu .38 vào bồn tắm. Không có ai ở đó. Không có ông kẹ nào. Ông ta chăm chú quan sát đáy bồn tắm. Chính xác thì ông ta chẳng bao giờ quan tầm đến việc giữ gìn cho nó sạch sẽ, và nếu ai đó đã đứng ở đây thi chắc hẳn hắn sẽ để lại dấu chân. Nhưng váng xà phòng và dấu gội đầu đã khô không có vết. Tất cả chỉ là một giấc mơ. Một cơn ác mộng quá đỗi sống động.

Tuy nhiên, ông ta vẫn kiểm tra cửa sổ phòng tắm và cả ba cửa lớn dẫn ra ngoài. Tất cả đều cửa đóng then cài.

Được thôi. Có thể thở phào rồi. Hoặc gần như vây. Ông ta quay trở lại phòng tắm để xem xét thêm một lần nữa, lần này kiểm tra tủ đựng khăn tắm (không có gì) và ghê tởm lấy ngón chân gạt tấm rèm đã bị kéo rơi xuống đất. Đã đến lúc phải thay cái mới rồi. Hôm nay ông ta sẽ đến Home Depot.

Ông ta lơ đãng đưa tay xoa gáy, và rít lên vì đau ngay khi ngón tay chạm vào đó. Ông ta đi đến bồn rửa mặt và xoay người để nhìn, nhưng cố gắng nhìn vào gáy bằng cách ngoái cổ qua vai thật chẳng ích gì. Ông ta mở ngăn kéo trên cùng dưới bồn rửa mặt và không tìm thấy gì ngoài đồ cạo râu, lược, một miếng băng Ace đã bóc và một ống Monistat từ lâu lắm rồi: một món quà lưu niệm nhỏ khác từ Age of Greta. Giống như tấm rèm phòng tắm ngu ngốc.

Trong ngăn kéo dưới cùng, ông ta tìm thấy thứ mình đang tìm, một chiếc gương bị gãy tay cầm. Ông ta xoa lớp bụi khỏi bế mặt gương, lùi lại cho đến khi mông chạm vào thành bồn rửa, và giơ gương lên. Sau gáy ông ta đỏ rực, và ông ta có thể nhìn thấy những mụn nước nhỏ li ti đang mọc lên. Sao có thể thế này được nhỉ, ông ta tắm nâng toàn thân thường xuyên, nhưng chưa từng bị cháy nắng ở bất kỳ đầu?

Đó không phải vết cháy nắng, Jack.

Hoskins rên rỉ. Chắc chắn là không có ai từng đứng trong bồn tắm của ông ta vào sớm nay, không có kẻ lập dị đáng sợ nào với hình xăm chữ CANT trên các ngón tay cả — chắc chắn là không - nhưng có một điều chắc chắn: căn bệnh ung thư da đã di truyền nhiều đời trong gia đinh ông ta. Mẹ ông ta và một người cậu đã chết vì căn bệnh đó. Bố ống ta từng nói người tóc đỏ hay bị bệnh này, sau khi bản thân ông đã tự tay cắt bỏ các mụn thịt khỏi sườn người lái xe của mình, những nốt ruồi tiền ung thư ở bắp chần và một khối ung thư biểu mô tế bào đáy từ sau gáy của ông ta.

Jack nhớ đến một nốt ruồi đen lớn (to dần) trên má của cậu Jim; ông ta nhớ lại những vết lở loét trên xương ức của mẹ, lan sang cánh tay trái của bà. Da là bộ phận lớn nhất cơ thể, nó mà hỏng thì kết cục chẳng tốt đẹp gì.

Anh có muốn tôi lấy lại nó không? Người đàn ông sau tấm rèm hỏi.

“Đó là một giấc mơ,” Hoskins nói. “Minh đã quá sợ hãi khi ở Canning, và đêm qua mình đã nốc cả đống đồ Mexico dở tệ, vì vậy mình đã gặp ác mộng. Thế thôi, hết chuyện.”

Điều đó không ngăn được ông ta cảm thấy có hạch ở nách, dưới góc hàm, bên trong mũi. Không gì cả. Chỉ chút cháy nắng ở gáy thôi mà. Ngoại trừ việc ông ta không bị cháy nắng ở bất kỳ nơi nào khác. Chỉ một dải đau nhói duy nhất. Nó không thực sự chảy máu - điều đó chứng tỏ cuộc gặp gỡ sớm nay của ông ta chỉ ỉà một giấc mơ tồi tệ - nhưng chỗ đó đã mọc lên những nốt phồng rộp. Có lẽ ông ta nên đi khám bác sĩ, ông ta sẽ làm vây... Sau khi chờ vài ngày cho nó dịu lại.

Anh sẽ làm gì đó nếu tôi đề nghị chứ? Anh sẽ không do dự chứ?

Không ai làm vậy, Jack nghĩ, khi nhìn vào gáy mình trong gương. Nếu lựa chọn đó là bị ăn mòn từ ngoài vào trong - ăn tươi nuốt sống - thì không ai làm được cả.

❊ 4 ❊

Jeannie giật mình tỉnh giấc, mắt nhìn chằm chằm lên trần phòng ngủ, lúc đầu không hiểu tại sao miệng cô lại đắng nghét, như thể cô đã tránh được một cú ngã điếng người, hay tại sao tay cô lại giơ lên, lòng bàn tay xòe ra như thể chống đỡ một cái gì đó. Thế rồi cô thấy nửa giường chỗ chồng nằm đang trống không, nghe thấy tiếng Ralph đang xả nước trong phòng tắm, và nghĩ, Đó là một giấc mơ. Chắc chắn đây là cơn ác mộng sống động nhất mà cô từng có, nhưng chỉ có vậy thôi .

Chỉ có điều, cô không cảm thấy nhẹ nhõm, bởi cô không tin đó là một giấc mơ. Nó không nhạt dần như những giấc mơ khác mỗi khi cô tỉnh giấc, ngay cả khi đó là những giấc mơ tồi tệ nhất. Cô nhớ mọi thứ, từ việc nhìn thấy ánh sáng đèn ở tầng dưới đến người đàn ông ngồi trên chiếc ghế dành cho khách ngay phía sau cổng tò vò của phòng khách. Cô nhớ bàn tay đã vươn về phía ánh sáng mờ ảo, và nắm lại thành nắm đâm để cô có thể đọc được những chữ cái lờ mờ được xăm giữa các đốt ngón tay: MUST.

Việc của cô là phải bảo anh ta dừng lại.

Cô tung chăn và rời khỏi phòng, đi như chạy. Trong bếp, đèn tối thui, và cả bốn chiếc ghế đều nằm ở vị trí quen thuộc bên chiếc bàn mà họ vẫn quây quần trong hầu hết các bữa cơm gia đình. Lý ra nó phải xê dịch chứ.

Nhưng không.

❊ 5 ❊

Khi Ralph xuống nhà, một tay nhét áo sơ mi vào quần jean, một tay xách giày thể thao, anh thấy vợ mình đang ngồi ở bàn bếp. Không có tách cà phê buổi sáng nào trước mặt cô, không có nước trái cây, không có ngũ cốc. Anh hỏi cô có ổn không.

“Không. Có một người đàn ông đã ở đây đêm qua.”

Anh dừng khựng lại, một bên tà nằm gọn trong quần, một bên dắt dở, bùng nhùng trước thắt lưng. Anh đánh rơi đôi giày thể thao. “Em nói gì cơ?”

“Một người đàn ông. Kẻ đã giết Frank Peterson.”

Anh nhìn quanh, như sực tỉnh. “Khi nào? Em đang nói cái gì vậy?”

“Tối hôm qua. Hắn đi rồi, nhưng hắn để lại lời nhắn cho anh.

Ngồi xuống đi, Ralph.”

Anh làm theo lời cô, còn cô kể cho anh nghe những gì đã xảy ra. Anh lắng nghe mà không nói lời nào, nhìn vào mắt cô. Anh không thấy gì ở chúng ngoài hiềm tin tuyệt đối. Khi cô nói xong, anh đứng dậy để kiểm tra bảng điều khiển báo trộm gần cửa sau.

“Nó được bật này, Jeannie. Và cửa cũng đã khóa. Ít nhất là cánh cửa này.”

“Em biết nó bật chứ. Tất cả cửa đều đã khóa. Em đã kiểm tra rồi. Cửa sổ cũng vậy.”

“Vậy thi làm thế nào...”

“Em không biết, nhưng hắn đã ở đây.”

“Ngồi ngay đó.” Anh chỉ về phía cổng tò vò.

“Đúng. Như thể hắn không muốn tiến sâu vào vùng ánh sáng vậy.”

“Và hắn to lớn, như em nói?”

“Vâng. Có thể không to cao như anh - em không thể biết hắn cao bao nhiêu vì hắn ngồi - nhưng hắn có bờ vai rộng và cơ bắp cuồn cuộn. Như thể hắn dành ba giờ mỗi ngày ở phòng tập thể dục hoặc nâng tạ trong sân nhà tù vậy.”

Anh rời bàn và khuỵu gối xuống nơi tấm thảm sàn phòng khách tiếp giáp với sàn gỗ của nhà bếp. Cô biết anh đang tìm gì và biết chắc anh sẽ không thể tìm thấy. Cô cũng đã kiểm tra, nhưng nó không thể khiến cô thay đổi suy nghĩ. Nếu cô không điên, cô biết sự khác biệt giữa giấc mơ và thực tế, ngay cả khi thực tế nằm ngoài ranh giới của cuộc sống thường nhật. Cô từng nghi ngờ điều đó (cô biết bây giờ Ralph đang nghi ngờ), nhưng cô không còn nghi ngờ nữa. Bây giờ cô biết rõ hơn rồi.

Anh đứng dậy. “Tấm thảm còn mới coóng, em yêu. Nếu một gã đàn ông đã ngồi đó, dù chỉ trong một thời gian ngắn, chân ghế sẽ để lại dấu vết. Nhưng không có bất kỳ dấu vết nào.”

Cô gật đầu. “Em biết. Nhưng hắn đã ở đó.”

“Em đang nói gì vậy? Hắn là ma à?”

“Em không biết hắn là gì, nhưng em biết hắn nói đúng. Anh phải dừng lại. Nếu anh không làm vậy, điều gì đó tồi tệ sẽ xảy ra.” Cô đi đến chỗ anh, ngẩng đầu lên và nhìn xoáy vào anh. “Một điều gì đó vô cùng tồi tệ.”

Anh nắm lấy tay cô. “Đợt này thật căng thẳng, Jeannie. Đối với em cũng như a...”

Cô rụt tay lại. “Đừng đến đó, Ralph. Đừng. Hắn đã ỗ đây.”

“Thôi được rồi, hắn đã ở đây. Anh cũng từng bị đe dọa trước đây rồi mà. Cảnh sát nào chẳng bị đe dọa.”

“Anh không phải là người duy nhất bị đe dọa!” Cô đã cố kiểm chế để không hét lên. Điều này trớ trêu như trong một trong những bộ phim kinh dị nực cười khi không ai tin nữ chính lúc cô ấy nói rằng Jason hoặc Freddy hoặc Michael Myers đã trở lại một lần nữa. “Hắn đã ở trong nhà của chủng ta!”

Anh định nói lại một lần nữa: cửa đã khóa, cửa sổ cũng khóa, thiết bị báo trộm đã bật nhưng yên lặng. Anh định nhắc cô nhớ rằng sáng nay cô đã thức dậy trên giường của chính mình, an toàn và bình yên.

Anh có thể thấy trên gương mặt cô sự cương quyết mà không lời nào của anh có tác dụng cả. Và một cuộc tranh cãi với vợ trong tình trạng hiện tại của cô là điều cuối cùng anh muốn.

“Hắn có bị bỏng không, Jeannie? Giống như gã đàn ông mà anh đã thấy ở tòa án?”

Cô lắc đầu.

“Em chắc chắn? Vì em bảo hắn ngồi trong bóng tối mà.”

“Có lúc hắn nghiêng người về phía trước, và em đã thấy một chút. Em thấy đủ.” Cô rùng mình. “Vâng trán rộng, phủ bóng lên đôi mắt. Vùng mắt tối lắm, mắt có thể có màu đen, nâu, hoặc xanh thẳm, em cũng không biết nữa. Tóc hắn ngắn và rậm, có điểm xám, nhưng phần lớn vẫn là màu đen. Hắn có một chòm râu dê và môi rất đỏ.”

Lời miêu tả của cô như nhấn kính coong chiếc chuông trong đầu anh, nhưng Ralph không tin vào cảm giác đó; nó có thể là một dạng dương tính giả do sự căng thẳng của cô ấy mà ra. Chúa biết anh muốn tin cô. Nếu chỉ cần chút bằng chứng thực nghiêm...

“Chờ một chút, chân hắn! Hắn đi giày da đanh, không đi tất và có những vết đốm đỏ trên cả hai chân. Em nghĩ đó là bệnh vẩy nến, nhưng em cho rằng đó cũng có thể là vết bỏng.”

Anh khởi động máy pha cà phê. “Anh không biết phải nói gì với em, Jeannie. Em tỉnh dậy trên giường và không có dấu hiệu nào cho thấy có ai...”

“Ngày xưa anh đã bổ một quả dưa vàng và trong nó đẩy giòi,” cô nói. “Điều đó đã xảy ra, anh biết mà. Tại sao anh lại không thể tin điều này?”

“Ngay cả khi anh tin, anh cũng không thể dừng lại. Em không thấy điều đó sao?”

“Em chỉ biết gã đàn ông đã ngồi trong phòng khách nhà chúng ta nói đúng một điều: mọi chuyện đã kết thúc. Frank Peterson đã chết. Terry đã chết. Anh sẽ trở lại với công việc của mình, còn chúng ta... Chúng ta có thể... Có thể...”

Cô cứng họng, bởi gương mặt anh đã nói với cô rõ ràng rằng tiếp tục là vô ích. Đó không phải là sự hoài nghi. Đó là nỗi thất vọng mà cô tin rằng anh chắc chắn sẽ chọn bước tiếp. Bắt giữ Terry Maitland tại sân Estelle Barga là quân cờ domino đầu tiên, khởi phát cho một chuỗi phản ứng bạo lực và đau đớn. Còn bây giờ anh và vợ đang tranh cãi về một người đàn ông không có mặt ở đó. Tất cả là lỗi của anh, anh tin vậy.

“Nếu anh không dừng lại,” cô nói, “anh cần phải mang theo súng bên người. Em sẽ cầm khẩu .22 nhỏ mà anh đã tặng em ba năm trước. Lúc đó em đã nghĩ nó là một món quà rất ngu ngốc, nhưng em nghĩ anh đúng. Này, có lẽ anh đã lường trước được mọi chuyện.”

“Jeannie...”

“Anh ăn trứng không?”

“Anh có.” Anh không đói, nhưng nếu tất cả những gì anh có thể làm cho cô sáng nay là ăn món cô nấu, thì anh sẽ làm.

Cô lấy trứng ra khỏi tủ lạnh và nói với anh mà không quay lại. “Em muốn có cảnh vệ ở quanh đầy mỗi đêm. Không nhất thiết phải từ chập tối đến sáng, nhưng em muốn ai đó có thể qua thường xuyên. Anh có thể sắp xếp không?”

Cảnh vệ đối đầu với hồn ma thì ích gì , anh nghĩ... nhưng họ đã kết hôn quá lâu để có thể nói như vậy. “Anh nghĩ là được.”

“Anh cũng nên nói với Howie Gold và những người khác. Ngay cả khi điều đó nghe có vẻ điên rổ.”

“Em yêu...”

Nhưng cô đã cướp lời anh. “Hắn nói anh hoặc bất kỳ ai trong số họ. Hắn nói sẽ phơi ruột gan của anh trên sa mạc để đãi chim ó.”

Ralph định bảo cô rằng, dù họ thỉnh thoảng có thấy chim ó bay lượn trên bầu trời (đặc biệt là vào ngày thu rác), nhưng không có nhiều sa mạc quanh thành phố Hint lắm đâu. Chỉ điều đó thôi đã đủ cho thấy cuộc chạm trán đó chỉ là một giấc mơ, nhưng anh vẫn giữ im lặng, không bàn luận gì về điều này. Anh không có ý định đổ thêm dấu vào lửa.

“Anh sẽ làm thế,” anh nói, và đây là một lời hứa mà anh muốn giữ. Họ cần chia sẻ mọi điều với nhau. Kể cả từng chút điên rồ. “Em biết bọn anh sẽ gặp nhau tại văn phòng của Howie Gold chứ? Cùng với người phụ nữ mà Alec Pelley đã thuê để điều tra chuyến đi Dayton của Terry.”

“Người đã khẳng định Terry vô tội.”

Lần này Ralph lại nghĩ và không nói (có vẻ như khi đã gắn bó với nhau thật lâu bằng sợi dây hôn nhân, có cả đại dương những cuộc nói chuyện không lời như thế), Uri Geller đã khẳng định chắc nịch rằng anh ta có thể bẻ cong những chiếc thìa bằng cách tập trung vào chúng .

“Ừ. Cô ấy đang bay tới. Có khả năng cô ấy cũng chỉ tào lao thôi, nhưng cô ấy từng làm việc với một cựu cảnh sát rất giỏi ở công ty riêng của mình và quy trinh có vẻ chỉn chu, vì vậy có lẽ cô ấy thực sự đã tìm thấy gì đó ở Dayton. Có Chúa mới biết tại sao cô ấy lại tự tin thế.”

Jeannie bắt đầu đập trứng. “Anh sẽ tiếp tục ngay cả khi em xuống cầu thang và thấy chuông báo trộm bị ngắt, cửa sau đang mở và dấu chần của hấn xuất hiện đẩy trên sàn. Anh sẽ tiếp tục ngay cả khi những thứ đó xảy ra.”

“Ừ.” Cô xứng đáng được biết sự thật.

Sau đó, cô quay sang anh, chiếc xẻng tráng trứng giơ cao, như một vũ khí. “Em có được nói rằng em nghĩ anh là một tên ngốc không?”

“Em có thể nói bất cứ điều gì em muốn, nhưng em cần nhớ hai điều, em yêu. Cho dù Terry vô tội hay có tội, anh cũng có phần trong việc khiến hắn bị giết.”

“Anh...”

“Thôi đi,” anh nói, chỉ tay vào cô. “Anh đang nói, và em cần hiểu.”

Cô im lặng.

“Còn nếu hắn vô tội thì tức là vẫn có một tên chuyên giết hại trẻ em đang chạy rông ngoài kia.”

“Em hiểu điều đó, nhưng anh có thể đang mở ra cánh cửa dẫn đến những điều vượt xa khả năng hiểu biết của anh. Hoặc là của em.”

“Những thứ siêu nhiên ư? Em định nói thế à? Vì anh không thể tin được điều đó. Anh sẽ không bao giờ tin.”

“Hãy tin những gì anh muốn,” cô nói, quay trở lại bếp, “nhưng người đàn ông đó đã ở đây. Em nhìn thấy khuôn mặt hắn, em nhìn thấy chữ trên các ngón tay hắn. MUST. Hắn... thật gớm ghiếc. Đó là từ duy nhất em có thể nghĩ ra. Anh không tin em khiến em muốn khóc toáng lên, ném chảo trứng này vào đầu anh, hoặc... em không biết nữa.”

Anh đến gần cô, vòng tay ôm lấy eo cô. “Anh tin là em tin điều đó chứ. Đó là sự thật. Và anh hứa: nếu cuộc gặp tối nay không có tiến triển gì, anh sẽ cân nhắc đến chuyện từ bỏ. Anh hiểu là có những giới hạn. Được chưa?”

“Em đoán là cuộc gặp đó chắc chắn có tiến triển, ít nhất là ở hiện tại. Em biết anh đã mắc sai lầm ở sân bóng. Em biết anh đang cố chuộc lỗi. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu anh mắc một sai lầm tồi tệ hơn thế?”

“Giả sử Derek là đứa trẻ ở Công viên Figgis thì sao?” Anh phản bác. “Liệu em có muốn anh cho qua chuyện này nữa không?”

Cô cáu kỉnh trước câu hỏi này, coi đó là một đòn đáp trả, nhưng cô không trả lời. Vì nếu đó là Derek, cô sẽ muốn Ralph theo đuổi gã đó - hoặc thứ đó - đến cùng trời cuối đất. Và cô sẽ sát cánh bên anh.

“Được rồi. Anh thắng. Nhưng còn một điều nữa, và chuyện này thì không thương lượng.”

“Gì?”

“Em sẽ đi cùng anh tới buổi hẹn tối nay. Và đừng viện lý do đó là việc của cảnh sát, vì cả hai chúng ta đều biết không phải vậy. Bây giờ anh ăn trứng đi.”

❊ 6 ❊

Jeannie nhờ Ralph đến Kroger cùng với một danh sách hàng tạp hóa, vì dù ai đã đột nhập vào nhà họ đêm qua - người, ma, hay chỉ là một nhân vật trong một giấc mơ kỳ dị cực kỳ sống động - vợ chồng họ vẫn phải ăn uống. Được nửa đường đến siêu thị, Ralph đã kịp xâu chuỗi và hiểu ra mọi chuyện. Chẳng có gì kịch tính trong chuyện này cả, vì những sự thật trần trụi vẫn luôn ở đó, sờ sờ ngay trước mắt anh, trong phòng thẩm vấn của sở cảnh sát. Nếu anh thẩm vấn thủ phạm thực sự trong vụ giết Frank Peterson với tư cách là nhân chứng, cảm ơn sự giúp đỡ của hắn rồi để hắn đường hoàng bước ra ngoài bầu trời tự do thì sao? Chuyện đó có vẻ hoang đường nếu xét đến vô số bằng chứng buộc Terry vào tội giết người, nhưng...

Anh tấp vào lề đường và gọi cho Yune Sablo.

“Tôi sẽ đến đó tối nay, đừng lo lắng,” Yune nói. “Tôi sẽ không bỏ lỡ tất cả tin tức về mớ bòng bong này từ đầu cầu Ohio đâu. Tôi cũng đã có thông tin về Heath Holmes rồi. Chưa có nhiều, nhưng đến tối thì cũng kha khá đấy.”

“Tốt, nhưng tôi không gọi anh vì lý do đó. Anh có thể tim hồ sơ tiền án của Claude Bolton không? Hắn là bảo kê tại Gentlemen, Please . Anh cần tìm ảnh tiền án, chủ yếu là thế, có thể là một hoặc hai ảnh bán thân.”

“Gã thích được gọi là nhân viên an ninh đấy hả?”

“Đúng, chính xác, chính là Claude của chúng ta đấy.”

“Có chuyên gì với hắn thế?”

“Tôi sẽ kể với anh vào tối nay, nếu có gì để kể. Giờ thì tất cả những gì tôi có thể nói là dường như có một chuỗi sự kiện dẫn từ Holmes đến Maitland đến Bolton. Tôi có thể sai, nhưng tôi không nghĩ vậy.”

“Anh đang khiến tôi chết vì tò mò đấy, Ralph. Kể đi!”

“Chưa được. Chừng nào tôi chắc chắn đã. Và tôi cần một thứ khác nữa. Bolton có một loạt hình xăm và tôi khá chắc chắn hắn có xăm thứ gì đó trên các ngón tay của mình. Đáng lẽ tôi phải để ý, nhưng anh biết cảm giác khi đang thẩm vấn là thế nào đẩy, đặc biệt nếu gã đó có tiền án.”

“Anh chỉ để mắt đến khuôn mặt của hắn.”

“Đúng rồi. Luôn để ý đến khuôn mặt. Bởi khi những kẻ như Bolton bắt đầu nói dối, mặt chúng rất có thể sẽ hiển hiện ra một dấu hiệu ngụ ý rằng Tôi là một thâng khốn .”

“Anh nghĩ Bolton đã nói dối về việc Maitland vào để sử dụng điện thoại? Vi nữ tài xế nọ gần như đã chứng thực câu chuyện của hắn.”

“Lúc đó tôi không nghĩ vậy, nhưng giờ tôi tin hơn rồi. Hãy xem liệu anh có thể tìm ra thứ gì trên ngón tay của hắn không. Nếu có.”

“Anh nghĩ trên đó có gì, anh bạn?”

“Tôi không muốn nói, nhưng nếu tôi đúng, thông tin sẽ có trong hồ sơ tiền án của hắn. Còn một việc nữa. Anh có thể gửi email cho tôi một bức ảnh được không?”

“Được thôi. Chờ tôi chút.”

“Cảm ơn anh, Yune.”

“Anh có định liên lạc với Bolton không?”

“Vẫn chưa. Tôi không muốn hắn biết tôi quan tâm đến hắn.”

“Và anh thực sự sẽ giải thích tất cả những điều này vào tối nay?”

“Nhiều nhất có thể.”

“Nó sẽ giúp ích chứ?”

“Muốn tôi nói thật không? Tôi không biết. Anh có thêm thông tin gì về thứ anh tìm thấy trên quần áo và cỏ khô trong nhà kho đó chưa?”

“Vẫn chưa. Chờ tôi tìm xem có thông tin gì vé' Bolton không đã.”

“Cảm ơn anh.”

“Anh đang làm gì thế?”

“Đi siêu thị đây.”

“Hy vọng anh nhớ được phiếu giảm giá của vợ anh.”

Ralph mỉm cười nhìn đống dây chun buộc trên ghế bên cạnh. “Cứ như thể cô ấy sẽ để tôi quên vậy,” anh nói.

❊ 7 ❊

Anh từ Kroger trở ra với ba túi hàng tạp hóa, tống chúng vào cốp xe, rồi liếc nhìn điện thoại. Hai tin nhắn từ Yune Sablo. Anh mở tin nhắn có đính kèm ảnh trước. Trong bức ảnh tội phạm, Claude Bolton trông trẻ hơn nhiều so với gã đàn ông mà Ralph đã phỏng vấn trước khi Maitland bị bắt. Trông hắn như phê thuốc nặng: ánh mắt lờ đờ, cái má xây xát, và có thứ gì đó trên cằm, có thể là trứng cá hoặc các vết rỗ. Ralph nhớ Boíton nói hắn đã biết đến Narcotics Anonymous* trong khoảng thời gian này và rằng hắn đã sống tử tế được năm hoặc sáu năm rồi. Có thể là vậy, nhưng cũng có thể là không.

Narcotics Anonymous (NA) là một chương trình mười hai bước mà những người nghiện ma túy có thể tìm thấy sự hỗ trợ phục hổi. Một nhóm những người nghiện ma túy phục hồi, giúp đỡ lẫn nhau để giữ mình sạch sẽ.

Tệp đính kèm trong email thứ hai của Yune là hồ sơ tiền án. Có rất nhiều ảnh bán thân, hầu hết là ảnh nhỏ, và rất nhiều dấu hiệu nhận dạng: một vết sẹo trên lưng, một vết sẹo ở bên trái dưới khung xương sườn, một vết ở thái dương bên phải, và khoảng hai chục hình xăm. Có hình con đại bàng, hình con dao với đầu dao dính máu, nàng tiên cá, hộp sọ với nến trong hốc mắt và nhiều thứ khác mà Ralph không quan tâm. Những dòng chữ trên ngón tay của hắn: CANT ở bên phải, MUST ở bên trái.

Người đàn ông bị bỏng tại tòa án cũng có hình xăm trên ngón tay, nhưng chúng có phải là CANT và MUST không? Ralph nhắm mắt và cố gắng nhớ lại, nhưng chẳng thấy gì. Từ kinh nghiêm của bản thân, anh biết hình xăm trên ngón tay không phải là hiếm ở những người từng ngồi tù; chúng có thể thấy thế trên phim. LOVE và HATE thì rất phổ biến. GOOD và EVIL cũng vậy. Anh nhớ Jack Hoskins đã kể cho anh nghe về một tên trộm nhỏ thó mặt chuột còn xăm FƯCK và SƯCK lên ngón tay, Jack nói rằng đó có lẽ không phải là kiểu sẽ giúp hắn có bạn gái.

Ralph cũng chắc chắn rằng không có bất kỳ hình xăm nào trên cánh tay của gã đàn ông bị bỏng ở tòa án. Còn trên cánh tay của Claude Bolton thì có rất nhiều, nhưng tất nhiên ngọn lửa nướng chín mặt gã cũng có thể xóa sổ chúng. Chỉ là...

“Kẻ ở tòa án không thể nào là Bolton được,” anh nói, mở mắt và nhìn chằm chằm vào những người ra vào siêu thị. “Không thể nào. Bolton không bị bỏng.”

Chuyện này cồn có thể kỳ quái đến mức nào? Anh đã hỏi người phụ nữ tên là Gibney như thế trên điện thoại đêm qua. Kỳ lạ hơn thế , cô ấy đã trả lời như vậy. Thứ mà cô ấy đang có chuẩn xác đến mức nào?

❊ 8 ❊

Anh và Jeannie đã cùng nhau sắp xếp đống hàng tạp hóa. Khi việc nhà xong xuôi, anh nói với cô rằng anh muốn cô xem một thứ trên điện thoại của anh.

“Tại sao?

“Em hãy nhìn một chút, được không? Và hây nhớ rằng người trong bức ảnh hiện tại đã già hơn chút rồi.”

Anh đưa điện thoại cho cô. Cô nhìn chằm chằm vào bức hình truy nã trong mười giây, sau đó đưa nó lại cho anh. Mặt cô tái nhợt.

“Chính là hắn. Giờ tóc hắn ngắn hơn và hắn để chỏm râu dê thay vì bộ ria mép nhỏ đó, nhưng đó là gã đã ở trong nhà chúng ta đêm qua. Kẻ đã nói rằng hắn sẽ giết anh nếu anh không dừng lại. Hắn tên là gi?”

“Claude Bolton.”

“Anh định bắt hắn chứ?”

“Vẫn chưa. Anh chưa chắc, ngay cả khi anh muốn thì anh cũng đang nghỉ phép mất rồi.”

“Vậy anh sẽ làm gì?”

“Giờ á? Tìm hiểu xem hắn đang ở đâu.”

Anh định gọi tiếp cho Yune, nhưng Yune đang tìm hiểu về kẻ giết người ở Dayton, Holmes. Anh lại định gọi cho Jack Hoskins, nhưng đã gạt phăng ý nghĩ đó đi. Ông ta lúc nào cũng say lướt khướt và bỗ bã. Nhưng anh đã có lựa chọn thứ ba.

Anh gọi điện đến bệnh viện và được biết Betsy Rĩggins đã xuất viện về nhà cùng em bé mới sinh, nên anh quyết định gọi đến nhà cô. Sau khi hỏi xem em bé mới sinh ra sao (nghe cô than thở về mọi thứ từ việc cho con bú sữa mẹ đến giá bỉm tốn kém thế nào suốt 10 phút), anh hỏi liệu cô có thể giúp đỡ một tiền bối như anh gọi một hoặc hai cuộc điện thoại không. Anh cũng nói cho cô nghe những gì mình muốn.

“Có phải có liên quan đến Maitland không?” Cô hỏi.

“Chà, Betsy, xét theo tình hình hiện tại của tôi, đó là chuyện tôi không thể hỏi, chứ đừng nói đến nhờ.”

“Nếu đúng như vậy, anh có thể sẽ gặp rắc rối đấy. Và tôi cũng có thể gặp rắc rối vì đã giúp anh.”

“Nếu cô lo Geller thì tôi sẽ không hé nửa lời đâu.”

Một khoảng lặng dài. Anh kiên nhẫn đợi cô. Cuối cùng, cô nói, “Tôi cảm thấy rất thương vợ của Maitland, anh biết đấy. Thực sự thương. Cô ấy khiến tôi liên tưởng đến những câu chuyện thời sự trên tivi về hậu quả của những vụ đánh bom liều chết, những người sống sót bỏ chạy, máu vương đẩy trên tóc và không biết chuyên gì vừa xảy ra. Chuyện này có thể giúp cô ấy không?”

“Có thể,” anh nói. “Tôi không muốn nói cụ thể hơn thế.”

“Hãy để tôi xem tôi có thể làm gì. John Zellman hoàn toàn không phải là một tên khốn và cái quán thoát y của hắn cần đổi giấy phép hoạt động mới hằng năm. Điều đó có thể khiến hắn trở nên hữu ích. Tôi sẽ gọi lại cho anh nếu tôi tìm hiểu được tin gì. Nếu mọi chuyện diễn ra đúng như tôi nghĩ thì hắn sẽ gọi cho anh.”

“Cảm ơn, Betsy.”

“Giữ bí mật giùm tôi nhé, Ralph. Tôi vẫn muốn đi làm trở lại sau kỳ nghỉ sinh. Hãy hứa với tôi điều đó.”

“To và rõ ràng luôn.”

❊ 9 ❊

John Zellman, chủ sở hữu kiêm người điều hành Gentlemen, Please , đã gọi cho Ralph trong vòng 15 phút sau đó. Anh ta có vẻ tò mò hơn là khó chịu, và sẵn lòng giúp đỡ. Và anh ta chắc chắn Claude Bolton đã ở câu lạc bộ khi đứa trẻ tội nghiệp đó bị bắt cóc và sát hại.

“Tại sao anh lại khẳng định như vậy, Zellman? Tôi tưởng anh ta không có ca làm nào cho đến tận bốn giờ chiều.”

“Đúng rồi, nhưng hôm đó anh ta đến sớm. Khoảng 2 giờ. Anh ta muốn lên phố với một trong những vũ nữ thoát y. Anh ta nói cô ta có vấn đề riêng.” Zellman khịt mũi. “Anh ta mới là người có vấn đề riêng thì có. Ngay dưới khóa quần của anh ta ấy.”

“Tên cô ta là Carla Jeppeson?” Ralph hỏi, lướt qua bản ghi cuộc phỏng vấn của Bolton trên iPad của anh. “Hay còn được gọi là Pixie Dreamboat?”

“Đúng rồi,” Zellman nói và cười. “Loại màn hình phẳng ấy. Nhưng một sd dàn ỏng thích chế, đừng hỏi tối tại sao. Cô ta và Claudc dang cặp với nhau, nhưng sẽ không kéo dài lâu đâu. Chồng cô ta đang ở McAlester và hắn sẽ ra trước Giáng sinh. Cô ta chỉ qua lại chơi bời với Claude thôi. Tôi đã bảo anh ta thế rồi, nhưng anh biết anh ta nói gì không - ông mất chân giò, bà thò chai rượu thôi mà.”

“Anh chắc hôm đó anh ta đến sớm chứ? Ngày 10 tháng Bảy.”

“Chắc chắn. Chắc lắm luôn vì không đời nào Claude được trả lương cho hai ngày ở thành phố Cap khi kỳ nghỉ của anh ta sắp diễn ra - có lương , hãy nhớ điều đó - vào chưa đẩy hai tuân sau.”

“Vô tổ chức quá. Anh có tính đuổi anh ta không?”

“Không. Ít nhất thì anh ta cũng thành thật về điều đó, anh biết mà? Và nghe này. Claude là một trong những người làm được việc, mọi người sợ anh ta một phép. Thường thì mấy tay bảo kê phải trông rắn mặt một chút nhưng không sừng sổ nếu có ẩu đả khi ai đó mất kiểm soát, hoặc vẫn cần một tay to con để một số khách hàng kiêng dè. Claude có thể quầng ai đó ra ngoài khi cần, nhưng thường thì anh ta không làm như vây. Anh ta rất giỏi xoa dịu họ. Anh ta khéo mồm khéo miệng. Tôi nghĩ đó là nhờ tất cả những cuộc gặp mặt mà anh ta tham dự.”

“Narcotics Anonymous. Anh ta nói với tôi như vậy.”

“À, anh ta thẳng thật đấy. Đáng tự hào quá và tôi đoán anh ta có quyền như vậy. Rất nhiều người vập vào rồi thì không thoát ra được. Một bước lún quá sâu. Ngập cả người.”

“Anh ta không dính bùn nữa chứ, phải không?”

“Nếu có thi tôi sẽ cho anh biết. Tôi có kinh nghiệm rồi, Thám tử Anderson, hãy tin tôi. Gentlemen là một nơi sạch sẽ.”

Ralph có những nghi ngờ của mình, nhưng không nói. “Không sa ngã?”

Zellman cười. “Tất cả đều sa ngã, ít nhất là lúc ban đầu, nhưng từ khi làm việc cho tối thì không. Anh ta cũng không uống rượu. Tôi hỏi anh ta tại sao không uống, nêu từng xài ma túy. Anh ta nói cả hai thứ đều giống nhau. Nếu đã uống một ly rồi, thâm chí chỉ là một ly O’Doul, anh ta sẽ uống thêm và chuyển sang một loại nào đó mạnh hơn.” Zellman dừng lại, sau đó nói, “Có thể trước kia anh ta như hũ chìm, nhưng giờ thì không. Anh ta nghiêm túc. Ở cái ngành mà người ta đến uống margarita và ngắm gái thoát y, điều đó hiếm lắm.”

“Tôi tin anh. Bây giờ Bolton đang đi nghỉ à?”

“Chuẩn rồi. Từ Chủ nhật. Mười ngày.”

“Kiểu nghỉ-tại-chỗ à?”

“Ý anh là anh ta ở đây, ở thành phố Flint á? Không. Anh ta về Texas, đâu đó gần Austin. Đó là quê anh ta. Chờ một chút, tôi vừa mở hồ sơ của anh ta ra trước khi tôi gọi cho anh.” Có tiếng giấy tờ loạt soạt, rồi Zellman quay lại. “Thị trấn Marysville. Nơi đó nhỏ lắm, anh ta từng nói thế. Tôi có địa chỉ vì tôi gửi một phần tiền lương của anh ta xuống đó mỗi tuần. Cho mẹ của anh ta. Bà ấy già và khá yếu. Cũng bị khí phế thũng. Claude về để xem liệu anh ta có thể đưa bà ấy vào một trong những điểm hỗ trợ người già khống, nhưng anh ta không quá hy vọng vì bà ấy rất cứng đâu. Tôi cũng không biết anh ta có thể chỉ trả bằng cách nào, với khoản lương ít ỏi ở đây. Nói đến việc chăm sóc người già, đáng lẽ ra chính phủ nên giúp những người bình thường như Claude, nhưng họ có làm đâu? Thật vớ vẩn.”

Gã này có lẽ đã bỏ phiếu cho Donald Trump , Ralph nghĩ. “Chà, cảm ơn anh, Zellman.”

“Tôi có thể hỏi tại sao anh muốn nói chuyện với anh ta không?”

“À, chỉ là mấy câu hỏi tiếp nối thôi,” Ralph nói. “Vài chuyện vặt ấy mà.”

“Kiểu đường kim mũi chỉ hả?”

“Đúng rồi. Anh có địa chỉ không?”

“Chắc chắn rồi, để gửi tiền mà. Anh có bút chỉ không?”

Thứ anh có bây giờ là chiếc iPad đáng tin cậy của mình, anh chỉ cần mở ứng dụng Quick Notes (Ghi chú nhanh) ra mà thôi. “Đọc đi.”

“Hòm thư 397, Đường Rural Star 2, Marysville, Texas.”

“Tên của mẹ anh ta thi sao?”

Zellman cười sảng khoái. “Lovie. Tên hay phải không? Lovie Ann Bolton.”

Ralph cảm ơn anh ta và cúp máy.

“Được chứ?” Jeannie hỏi.

“Chờ anh chút đã,” Ralph nói. “Có thấy mặt anh đang hiện vẻ suy tư không?”

“Ã, thế anh cứ suy nghĩ đi. Anh có muốn dùng trà đá khi đang suy nghĩ không?” Cô cười. Nụ cười đó khiến cô trông thật đẹp. Có vẻ như anh vừa đi đúng hướng.

“Chắc chắn rồi.”

Anh quay trở lại với chiếc iPad của mình (tự hỏi ngày trước không biết anh đã phải xoay xở như thế nào để làm việc mà không có thứ chết tiệt này), và tìm thấy Marysville cách Austin khoảng 112 cây số về phía Tây. Nó nhỏ xíu, chỉ là một chấm trên bản đồ, điểm nổi bật duy nhất mang tên Hố Marysville.

Ralph cần nhắc hành động tiếp theo trong khi uống trà đá, sau đó gọi cho Horace Kinney thuộc Đội tuần tra Xa lộ Texas. Kinney bây giờ đang là đại úy, chủ yếu chỉ ngồi bàn giấy, nhưng Ralph đã làm việc với anh ta vài lần trong các vụ án liên bang khi người đàn ông này vẫn còn là một sĩ quan cảnh sát, rong ruổi 150 nghìn cây số mỗi năm ở phía Bắc và phía Tây Texas.

“Horace,” anh nói sau khi họ chào hỏi xong, “Tôi có việc cần nhờ anh.”

“To hay nhỏ?”

“Vừa vừa, và nó đòi hỏi một chút tinh tế.”

Kinney bật cười. “O, anh cần phải đến New York hoặc Connecticut để tìm chút tinh tế, anh bạn ạ. Đây là Texas. Anh cần gì?”

Ralph cho anh ta biết lý do. Kinney nói rằng anh may đấy, anh ta tình cờ đang ở khu vực này.

❊ 10 ❊

Khoảng 3 giờ chiều hôm đó, điều phôi viên của Sở Cảnh sát thành phố Flint, Sandy McGill, ngước nhìn lên và thấy Jack Hoskins đang đứng trước bàn của cô ở tư thế quay lưng lại.

“Jack? Anh cần gì không?”

“Cô xem giúp gáy tôi với và hãy cho tôi biết cô nhìn thấy gì.”

Bối rối nhưng vẫn sẵn lòng giúp đỡ, cô đứng dậy nhìn. “Anh quay về phía chỗ đèn một chút.” Và khi ông làm vậy: “Ổ, cháy nắng nặng rồi. Anh nên xuống Walgreens và mua một ít kem lô hội.”

“Dùng ổn không?”

“Dùng lâu mới ổn được, nhưng nó sẽ châm chích đấy.”

“Nhưng chỉ có một vết cháy nắng thôi, đúng không?”

Cô cau mày. “Chắc chắn rồi, nhưng tệ đến mức bị phồng rộp vài chỗ. Anh không biết đường bôi kem chống nắng khi đi câu cá à? Anh có muốn bị ung thư da không?”

Chỉ cần nghe cô nói những lời đó thôi cũng khiến gáy ông ta nóng lên. “Tôi đoán là tôi đã quên.”

“Trên tay anh tệ không?”

“Không quá tệ.” Trên thực tế không có vết cháy nắng nào trên tay cả; ông chỉ bị trên gáy thôi. Nơi ai đó đã chạm vào tại nhà kho bỏ hoang đó. Vuốt ve ông ta chỉ bằng những đầu ngón tay. “Cảm ơn, Sandy.”

“Dân tóc vàng và tóc đỏ bị cháy nắng tệ nhất. Nếu không đỡ, anh nên đi khám.”

Ông rời đi mà khống đáp lại, không ngừng nghĩ đến người đã xuất hiện trong giấc mơ. Người ẩn nấp sau tấm rèm phòng tắm.

Tôi đã tặng nó cho anh, nhưng tôi có thể lấy lại nó. Anh có muốn tôi lấy lại nó không?

Ông ta nghĩ, Nó sẽ tự biến mất, giống như bất kỳ vết chấy nắng nào khác thôi.

Có thể là vậy, nhưng cũng có thể là không, và giờ nó bỏng rát vô cùng. Ông ta gần như không thể chịu nổi việc chạm vào nó, và ông ta không ngừng nghĩ đến những vết loét hở lan sâu trên da thịt của mẹ. Lúc đầu, căn bệnh ung thư quái ác tiến triển chậm, sau này khi đã ăn sâu bén rễ, nó sẽ lan nhanh như lửa. ơ những ngày cuối, nó ăn vào cổ họng và dây thanh quản của bà, biến những tiếng la hét của bà thành những tiếng gẩm gừ, nhưng mặc dù ở cách một cánh cửa phòng bệnh đóng chặt, Jack Hoskins mười một tuổi khi ấy vẫn có thể nghe thấy mẹ mình bảo bố: hãy giải thoát bà khỏi tình trạng khốn khổ này. Anh có thể làm thế vì một con chó , bà cự nự. Tại sao anh không giúp em?

“Chỉ là một vết cháy nắng thôi mà,” ông ta nói, khởi động xe của mình. “Chỉ có thế thôi. Một vết cháy nắng chết tiệt.”

Ông ta cần làm một ly.

❊ 11 ❊

5 giờ chiều, xe của Đội tuần tra Xa lộ Texas chạy lên Đường Rural Star 2 và bẻ lái rẽ vào đường lái của ngôi nhà số 397. Lovie Bolton đang ở trước hiên nhà với điếu thuốc trên tay và bình ôxy được đặt trong chiếc xe kéo bánh cao su nằm cạnh chiếc ghế bập bênh của bà.

“Claude!” Bà rống lên. “Chúng ta có khách! Xe tuần tra của bang! Khôn hồn thì ra đây ngay và xem anh ta muốn gì!”

Claude đang ở ngoài khoảng sân sau đẩy cỏ dại của ngôi nhà nhỏ, rút quần áo và xếp chúng vào một cái giỏ đan bằng liễu gai. Máy giặt của mẹ anh ta vẫn ổn, nhưng máy sấy đã hỏng ngay trước khi anh ta đến, và đợt này bà khó thở nên không tự phơi được quần áo. Anh ta định mua cho bà một chiếc máy sấy mới trước khi đi, nhưng cứ trì hoãn mãi. Và bây giờ cảnh sát tuân tra còn tìm đến nữa, trừ khi mẹ anh ta nhẩm, nhưng có lẽ bà ấy không nhẩm đâu. Bà gặp rất nhiều vấn đề, nhưng mắt vẫn còn tinh tường lắm.

Anh ta đi vòng về phía trước nhà và thấy một cảnh sát cao lớn bước ra từ chiếc SUV màu đen trắng. Khi nhìn thấy logo Texas màu vàng trên cửa hông xe, ruột gan Claude thắt lại. Anh ta đã không làm bất cứ điều gì để có khả năng bị bắt trong một thời gian dài, nhưng sự quặn thắt đó vẫn đến như một phản xạ. Claude thò tay vào túi và nắm chặt huy chương Narcotics Anonymous sáu năm của mình, như vẫn thường làm trong những lúc căng thẳng, hẩu như không nhân thức được mình đang làm điều đó.

Viên cảnh sát nhét chiếc kính râm vào túi áo ngực khi người mẹ cố đứng dậy khỏi chiếc ghế bập bênh của bà.

“Không, thưa bà, đừng đứng dậy,” anh ta nói. “Tôi không đáng được nghênh đón như thế.”

Bà nhấp nhổm rồi ngồi trở lại. “Không phải anh là người quan trọng sao? Anh tên gi, sĩ quan?”

“Sipe, thưa bà. Hạ sĩ Owen Sipe. Tôi rất vui được gặp bà.” Anh ta nắm lấy bàn tay không cầm điếu thuốc của bà, để ý đến những khớp sưng tấy.

“Tôi cũng vậy, sĩ quan ạ. Đây là con trai tôi, Claude. Nó mới từ thành phố Flint về, để đỡ dần tôi chút việc.”

Sipe quay sang Claude, người đã buông tay khỏi “bùa hộ mệnh” và chia tay ra. “Rất vui được gặp anh, anh Bolton.” Anh ta nắm lấy tay Claude trong giây lát, ngắm nghía nó. “Tôi thấy có chút mực trên ngón tay anh.”

“Anh phải xem cả hai tay để nắm được toàn bộ thông điệp,” Claude nói. Anh ta đưa tay kia ra. “Tôi đã tự xăm trong tù đấy. Nhưng nếu anh đến đây để gặp tôi, anh hẳn phải biết điều đó rồi.”

“CANT và MUST,” cảnh sát Sipe nói, phớt lờ câu hỏi. “Tôi đã từng thấy những hình xăm trên ngón tay trước đây, nhưng chưa bao giờ nhìn thấy những hình xăm đó.”

“Chà, chúng có liên quan đến một câu chuyện,” Claude nói, “và tôi sẽ kể nó khi tôi có thể. Đó là cách tôi thay đổi. Hiện tại tôi hoàn toàn trong sạch, nhưng đó từng là một cuộc chiến khó khăn. Tôi đã tham dự rất nhiều cuộc gặp gỡ của AA* và NA trong tù. Lúc đầu chỉ là vì họ có bánh rán vòng mua từ Krispy Kreme, nhưng cuối cùng những gì họ nói đã ngâm vào người tôi. Tôi học được rằng mọi người nghiên đều biết rất rõ hai điều: anh ta không thể dùng và anh ta phải dùng. Đó là nút thắt trong đầu anh, anh hiểu chứ? Anh không thể cắt nó và anh cũng không thể tháo nó ra, vì vậy anh phải học cách vượt lên trên nó. Anh có thể làm được nhưng anh phải nhớ tình huống cơ bản. Anh phải nhưng anh không thể.”

Alcoholics Anonymous là một tổ chức quốc tế hỗ trợ, giúp đỡ những người nghiện rượu. Mục đích của họ là giữ cho những người nghiên rượu luôn tỉnh táo.

“À,” Sipe nói. “Đó là một câu chuyện ngụ ngôn, phải không?”

“Đợt này thằng bé không uống rượu cũng không dùng thuốc,” Lovie nói, vẫn ngồi trên chiếc ghế bập bênh của mình. “Thằng bé thậm chí còn không hút thứ này.” Bà ném đầu điếu thuốc xuống đất. “Thằng bé ngoan lắm.”

“Tôi không ở đây vì có ai đó nghĩ rằng anh ấy đã làm điều gì đó tồi tệ,” Sipe nói một cách nhẹ nhàng và Claude thở phào. Một chút thôi. Bạn sẽ không bao giờ thả lỏng được hoàn toàn khi Lực lượng Tuần tra Tiểu bang ghé thăm bất ngờ. “Tôi nhận được một cuộc gọi từ thành phố Flint, tôi đoán là để gói lại vụ án, và họ cần anh xác mình điều gì đó về một người đàn ông tên là Terry Maitland.”

Sipe đưa điện thoại ra, vuốt, trượt và cho Claude xem một bức ảnh.

“Đây có phải là chiếc khóa thắt lưng mà Maitland đã đeo vào đêm mà anh gặp anh ta không? Và đừng hỏi tôi điều đó có nghĩa là gi, vì tôi chắc chắn không biết gì cả. Họ chỉ nhờ tôi đến hỏi thôi.”

Đây không phải là lý do Sipe đến đây, nhưng lời nhắn gửi từ Ralph Anderson, được chuyển đến Sipe qua sếp Horace Kinney, là phải đảm bảo mọi thứ trong chừng mực thân thiện, và đừng rút dây động rừng.

Claude xem xét điện thoại, sau đó trả nó lại. “Không chắc - chuyện xảy ra một thời gian rồi - nhưng có vẻ là vậy.”

“Vâng, cảm ơn anh. Cảm ơn cả hai người.” Sipe bỏ điện thoại vào túi và quay người đi.

“Thế thôi à?” Claude hỏi. “Anh đã lái xe đến tận đầy để hỏi một cầu thôi ư?”

“Thế thôi. Tôi đoán là có ai đó thực sự muốn biết. Cảm ơn anh đã dành thời gian. Tôi sẽ chuyển thông tin này trên đường trở về Austin.”

“Cả một chặng đường dài đấy, anh sĩ quan,” Lovie nói. “Tại sao anh không vào nhà và uống một ly trà ngọt nhỉ? Chúng tôi pha, nhưng nó không tệ đâu.”

“Chà, tôi không thể vào nhà, cảm ơn bà, tôi muốn về nhà trước khi trời tối, nhưng tôi sẽ nếm thử ở đây, nếu bà không phiền.”

“Được chứ. Claude, vào nhà và lấy cho người đàn ông tốt bụng này một ly trà đi.”

“Ly nhỏ thôi,” Sipe nói, giữ ngón cái và ngón trỏ của mình cách xa nhau một chút. “Nhấp ngụm thôi rồi tôi còn về.”

Claude đi vào nhà. Sipe tựa vai vào thành hiên, ngước nhìn Lovie Bolton, người có khuôn mặt phúc hậu với rất nhiều nếp nhăn.

“Con trai bà chăm bà rất tốt đấy?”

“Tôi sẽ chẳng biết phải làm gì nếu không có thằng bé,” Lovie tuyên bô. “Thằng bé gửi cho tôi tiên chu cấp theo tuần và sẽ về nhà khi có thể. Nó muốn đưa tôi đến nhà dưỡng lão ở Austin và tôi có thể đi ngay nếu thằng bé có tiền nhưng giờ thì việc đó nằm ngoài khả năng của nó. Thằng bé hiếu thảo là vậy, sĩ quan Sipe ạ: trước hư giờ ngoan rồi.”

“Tôi cũng nghe nói thế,” Sipe nói. “Anh ấy từng đưa bà đến Big 7 dưới phố chưa? Họ có đồ ăn sáng ngon tuyệt.”

“Tôi không tin mẩy quán ăn ven đường,” bà nói, lấy bao thuốc từ trong túi áo khoác ra và kẹp một điếu vào giữa hai hàm răng giả. “Tôi bị ngộ độc một lần ở Abilene hồi năm 1974, tưởng chết. Con trai tôi lo bếp núc khi nó về đây. Claude không phải là Emeril, nhưng nó nấu cũng không tệ. Biết vài món cơ bản. Không làm cháy thịt xông khói là được rồi.” Bà nháy mắt với anh ta khi chầm lửa điếu thuốc, Sipe mỉm cười và hy vọng bình oxy của bà an toàn, nêu không thi cả hai sẽ bị thổi bay xuống địa ngục.

“Tôi cá là anh ấy đã làm bữa sáng cho bà sáng nay,” Sipe nói.

“Đúng rồi. Cà phê, bánh mì nướng nho khô và trứng bác với nhiều bơ, vi tôi thích thế.”

“Bà có dậy sớm không? Tôi chỉ hỏi bởi vì, với oxy và cả...”

“Cả thằng bé và tôi đều dây sớm,” bà nói. “Từ tờ mờ.”

Claude trở ra với ba ly trà đá trên khay, hai ly cao và một ly thấp. Owen Sipe uống cạn trong hai hớp, bặm môi và nói anh ta phải lên đường rồi. Hai mẹ con nhà Bolton nhìn anh ta đi ra, Lovie trên chiếc ghế bập bênh của bà, Claude ngồi trên bậc thềm, cau mày nhìn đống bụi mù trời theo gót chiếc xe của vị sĩ quan trở lại đường chính.

“Cảnh sát thật tuyệt biết bao khi con không làm gì xấu nhỉ?” Lovie hỏi.

“Đúng vậy,” Claude nói.

“Anh ta đi cả chặng đường dài tới đây chỉ để hỏi về mặt khóa thắt lưng. Nghĩ mà xem!”

“Đó không phải là lý do anh ta đến đây đâu, mẹ à.

“Không phải á? Vậy thì tại sao?”

“Con không chắc, nhưng không phải vậy.” Claude đặt ly nước xuống bậc thềm và nhìn những ngón tay của mình. Nhìn CANT và MUST, nút thắt mà cuối cùng anh ta cũng vượt lên được. Anh ta đứng dậy. “Tốt hơn là con nên đi rút nốt đống quần áo. Sau đó, con muốn qua nhà Jorge và hỏi xem liệu con có thể giúp gì cho ông ấy vào ngày mai không. Ông ấy đang sửa mái nhà.”

“Con là một cậu bé tốt, Claude.” Anh ta nhìn thấy mắt mẹ ầng ậng nước và cảm động trước chúng. “Con đến đây và ôm mẹ một cái ôm thật chặt nào.”

“Vâng, thưa mẹ,” Claude nói và làm vậy.

❊ 12 ❊

Ralph và Jeannie Anderson đang chuẩn bị đến cuộc gặp mặt tại văn phòng của Howie Gold thì điện thoại di động của Ralph đổ chuông. Đó là Horace Kinney. Ralph nói chuyện với anh ta trong khi Jeannie đeo bông tai và xỏ giày.

“Cảm ơn, Horace. Tôi nợ anh một lần.” Anh kết thúc cuộc gọi.

Jeannie nhìn anh đầy mong đợi. “Ổn không anh?”

“Horace đã cử một sĩ quan cảnh sát tuần tra giao thông đến nhà của Bolton ở Marysville. Anh ta có chứng cứ ngoại phạm, nhưng anh ta thực sự ở đó để...”

“Em biết anh ta đến đó để làm gì.”

“Uh-huh. Theo bà Bolton, Claude đã nấu bữa sáng cho họ vào khoảng 6 giờ sáng nay. Nếu em nhìn thấy Bolton ở tầng dưới lúc 4 giờ...”

“Em đã nhìn đồng hồ khi dậy đi tiểu,” Jeannie nói. “Lúc đó là 4 giờ 6 phút.”

“MapQuest cho biết khoảng cách giữa thành phố Flint và Marysville là sáu trăm chín mươi cây số. Anh ta không thể đi từ đây đến đó để kịp làm bữa sáng lúc 6 giờ được, em yêu.”

“Người mẹ có thể đã nói dối.” Cô nói ra điều đó nhưng cũng không chắc lắm.

“Sipe - sĩ quan mà Horace cử đi - đã nói với anh ta rằng anh ấy không nhận ra điều gì bất thường và không nghĩ rằng anh ta đã làm vậy.”

“Vậy là lại quay trở về với Terry,” cô nói. “Một người đàn ông ở hai nơi cùng lúc. Vì anh ta chắc chắn đã ở đây, Ralph. Anh ta đã ở đây .”

Anh chưa kịp trả lời thì chuông cửa đã vang lên. Ralph khoác chiếc áo khoác thể thao để che khẩu Glock trên thắt lưng và đi xuống cầu thang, ủy viên công tố quân Bill Samuels đứng khom lưng phía trước, trông khác lạ so với bộ dạng thường ngày trong chiếc quần jean và áo phông xanh trơn.

“Howard đã gọi cho tôi. Ông ta nói sắp có một cuộc gặp mặt... một cuộc tụ họp thân mật để bàn về chuyện của Maitland , ông ta nói thế - tại văn phòng của ông ta, và đề nghị tôi ghé qua nếu muốn. Tôi nghĩ chúng ta có thể đi cùng nhau, nếu ổn.”

“Tôi nghĩ là được,” Ralph nói, “nhưng nghe đây, Bill - anh có nói với ai khác không? Sếp Geller? Trưởng nha cảnh sát Doolin?”

“Không ai cả. Tôi không phải thiên tài, nhưng cũng không phải gã đần.”

Jeannie cũng đi đến chỗ Ralph đang đứng ở cửa, kiểm tra túi của mình. “Chào Bill. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy anh ở đây đấy.”

Samuels cười nhạt. “Nói thật với cô, tôi cũng rất ngạc nhiên khi có mặt ở đây. Như ma đưa lối, quỷ dẫn đường vậy.”

“Vợ cũ của anh nghĩ gì về tất cả những điều này?” Ralph hỏi, và khi Jeannie cau mày: “Cứ nhắc nếu tôi đang nói hơi quá.”

“Ổ, chúng tôi đã thảo luận về nó,” Samuels nói. “Không hẳn là chúng tôi. Người thảo luận là cô ấy và tôi đã lắng nghe. Cô ấy nghĩ tôi đã góp phần vào việc dẫn đến cái chết của Maitland, và cô ấy hoàn toàn không sai.” Anh ta cố gượng cười mà không nổi. “Nhưng làm sao chúng ta biết được, Ralph? Kể cho tôi nghe đi. Đó chẳng phải một cú úp sọt sao? Khi nhìn lại... tất cả những gì chúng ta đã làm... anh có thể thành thật nói với tôi rằng anh sẽ làm khác đi không?”

“Có,” Ralph nói. “Tôi sẽ không bắt hắn trước mặt cả cái thị trấn chết tiệt này, và tôi sẽ đảm bảo rằng hắn được đưa vào tòa án bằng cửa sau. Nào, đi thôi. Chúng ta sẽ bị trễ mất.”

« Lùi
Tiến »