Kẻ Song Trùng

Lượt đọc: 4281 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
MENVENIDOS A TEJAS*

* Tiếng Tây Ban Nha, có nghĩa là "Chào mừng bạn đến với Texas."

---❊ ❖ ❊---

Ngày 26 tháng 7

❊ 1 ❊

Jack Hoskins đến Texas vào khoảng 2 giờ sáng ngày 26 tháng Bảy và nhận phòng ở một ổ rệp có tên là Nhà nghỉ Thổ dân ngay khi hừng đông rực lên trên nền trời, ông ta trả tiền ở một tuần cho người trông quầy có đôi mắt lờ đờ thiếu ngủ, dùng thẻ MasterCard - chiếc thẻ duy nhất chưa cạn tiền - và yêu cầu một phòng ở cuối tòa nhà xiêu vẹo.

Căn phòng nồng mùi rượu vương lại và khói thuốc lá. Chiếc ga phủ giường sờn bạc, vỏ gối trên chiếc giường đôi ngả vàng vì năm tháng, mồ hôi, hoặc cả hai. Ông ta ngồi xuống chiếc ghế duy nhất của phòng và lướt qua vội vàng những tin nhắn văn bản và thư thoại trên điện thoại của mình (thư thoại đã dừng vào khoảng 4 giờ sáng, khi hộp thư hết dung lượng). Tất cả đều từ sở, chủ yếu là từ Cảnh sát trưởng Geller. Đã có một vụ giết hai người ở West Side. Khi cả Ralph Anderson và Betsy Riggins đều nghỉ làm, ông ta là thám tử duy nhất đang làm nhiệm vụ, ông ta đang ở đâu, ông ta cần đến hiện trường ngay lập tức, blah-blah-blah.

Ông ta nằm xuống giường, đầu tiên là nằm ngửa, nhưng tư thế đó khiến vết cháy nắng quá đau. Ông ta lại xoay người nằm nghiêng, lò xo kêu ken két dưới sức nặng đáng kể. Mình sẽ giảm cân nếu bị ung thư, ông ta nghĩ. Mẹ mình chẳng khác gì da bọc xương. Một bộ xương biết la hét.

“Sẽ không đời nào chuyện đó xảy ra,” ông ta nói với căn phòng trống. “Mình chỉ cần ngủ một giấc thôi. Mọi chuyện sẽ ổn.”

Bốn giờ là đủ. Năm, nếu may mắn. Nhưng bộ não của ông ta sẽ không nghỉ; nó giống như một động cơ đang guồng ở trạng thái trung lập. Cody, tên chuột nhắt bán thứ chất phê pha ở trạm Hi, có những viên thuốc nhỏ màu trắng, được rồi, và hắn cũng có một nguồn cung thuốc phiên, thứ mà hắn khẳng định là gần như nguyên chất. Theo cảm nhận của Jack bây giờ, khi nằm trên cái thứ còn xa mới được gọi là giường này (ông ta thậm chí còn không tính đến việc chui vào chăn, Chúa mới biết có thứ gì đang bò xung quanh trên ga trải giường), thì lời khẳng định của hắn đúng. Ông ta chỉ có vài tiếng ngắn ngủi để chợp mắt, vài giờ sau nửa đêm trước khi đoạn đường lái xe trở nên bất tận, và giờ ông ta cảm thấy như mình có thể sẽ không bao giờ ngủ lại được nữa - trên thực tế, ông ta cảm thấy như mình có thể trượt xuống mái nhà và sau đó chạy tám cây số. Tuy nhiên, cuối cùng giấc ngủ cũng trườn đến, dù nó chập chờn và bị ám ảnh bởi những giấc mơ về mẹ.

Ông ta tỉnh giấc thì trời đã quá trưa, và căn phòng hầm hập nóng dù đã có máy điều hòa. Ông ta lao vào phòng tắm, đi tiểu, cố soi ra sau gáy. Ông ta không thể, và có lẽ như thế là tốt nhất. Ông ta trở ra phòng ngoài và ngồi trên giường để xỏ giày vào, nhưng ông ta chỉ tìm được một chiếc. Ông ta mò mẫm tìm kiếm cái kia, và có người đã đặt nó vào tay ông.

“Jack.”

Ông ta sững người, cánh tay nổi rần da gà và những sợi tóc sau gáy dựng lên. Người đàn ông trong nhà tắm ở thành phố Flint giờ đang ở dưới gẩm giường, giống như những con quái vật mà ông ta sợ hãi khi còn là một cậu bé.

“Hãy nghe tôi này Jack. Tôi sẽ cho anh biết chính xác những gì anh cần làm.”

Khi hắn nói xong, Jack cảm thấy cơn đau sau gáy đã biến mất. Tốt... tốt hết. Và những gì ông ta phải làm cũng không quá rắc rối, nếu không muốn nói là kích thích và táo bạo. Việc đó ổn thôi, bởi ông ta khá chắc mình có thể xử lý được, và việc giết Anderson chắc chắn sẽ rất tuyệt vời. Suy cho cùng, Anderson là người chủ mưu; gã “Không có ý kiến” ấy đã tự chuốc lấy việc này. Thật lấy làm tiếc với những người khác, nhưng họ không liên quan đến Jack. Chính Anderson là người đã kéo họ vào chuyện này.

“Có khó khăn mới có quả ngọt,” ông ta lầm bầm.

Khi đi giày xong, Jack quỳ gối và nhìn xuống gẩm giường. Có rất nhiều bụi dưới đó, và một phần trong số đó trông có vẻ bị xáo trộn, nhưng không có gì khác. Như thế thật tốt. Thật nhẹ nhõm. Jack chắc chắn vị khách của ông ta đã ở đó, và cả thứ đã được xăm trên những ngón tay đã đẩy chiếc giày vào tay ông ta: CANT.

Khi cơn đau của vết cháy nắng dịu lại chỉ còn hơi chầm chích và đầu óc của ông ta tỉnh táo hơn nhiều, ông ta nghĩ mình có thể ăn gì đó. Có thể là bít tết và trứng. Ông ta còn nhiều việc phải làm và cần thêm năng lượng. Con người không thể chỉ hít không khí mà sống được. Nếu không có thức ăn, ông ta có thể ngất xỉu dưới trời nắng nóng, rồi sẽ bị cháy nắng.

Nói đến nắng, mặt trời hẩm hập như phả lửa vào mặt ông ta khi ông ta bước ra ngoài, và gáy ông ta nhói lên cảnh báo. Ông ta thất thần nhận ra mình đã hết kem chống nắng và đã quên bôi kem lô hội.

Họ có thể bán thứ gì đó tương tự trong quán cà phê sát nhà nghỉ, cùng với phần còn lại của giá đồ mà họ luôn để cạnh quẩy thu ngần ở những nơi như thế này: áo phông và mũ bóng chày, các đĩa CD đồng quê và đồ lưu niệm Navajo được sản xuất tại Campuchia. Họ phải bán một ít nhu yêu phẩm cùng với thứ tào lao đó, bởi thị trấn gần nhất là...

Ông ta dừng lại, một tay đưa ra với lấy cửa của quán cà phê, liếc nhìn qua lớp kính mờ bụi. Bọn họ đã ở trong đó. Anderson và lũ khốn vui vẻ của hắn, có cả người phụ nữ gầy guộc với tóc mái xám nữa. Ngoài ra còn có một người phụ nữ lớn tuổi ngồi trên một chiếc xe lăn và một người đàn ông lực lưỡng với mái tóc đen ngắn cùng chòm râu dê. Người phụ nữ lớn tuổi cười vì chuyên gì đó, sau đó ho sặc sụa. Jack có thể nghe thấy tiếng cười ngay cả khi đang ở bên ngoài, giống như một chiếc gàu xúc ngược khùng khục vào số thấp. Người đàn ông có chòm rầu dê vỗ vào lưng bà ta vài lần, và sau đó tất cả họ đều cười.

Mày sẽ chằng thể cười nổi nữa khi tao xử lý mày xong , Jack nghĩ, nhưng thật tuyệt khi họ mải cười. Nếu không thì họ có thể đã phát hiện ra ông ta rồi.

Ông ta quay đi, cố hiểu xem chuyên gì đang diễn ra. Không phải chuyện đám người đó cười hô hố, ông ta chẳng quan tầm đến điều đó, nhưng khi Người đàn ông râu dê tiên tới vỗ lưng cho người phụ nữ ngồi xe lăn, Jack đã nhìn thấy hình xăm trên các ngón tay của anh ta. Tấm kính bám đẩy bụi và vết mực xanh bị mờ đi, nhưng ông ta vẫn biết chúng là gì: CANT. Làm thế nào mà gã đàn ông đó có thể lao từ gẩm giường của ông ta đến quán ăn nhanh nhường vậy vẫn là một bí ẩn mà Jack Hoskins chẳng màng suy ngẫm. Ông ta có việc cần làm, vậy là đủ, và việc loại bỏ căn bệnh ung thư đang phát triển trên da chỉ là một nửa. Nửa còn lại là loại bỏ được Ralph Anderson, và đó sẽ là một niềm vui.

Tên khốn Không có ỷ kiến đó .

❊ 2 ❊

Sân bay Plainville nằm trong vùng đất um tùm cây cỏ ở ngoại ô một thành phố nhỏ mệt mỏi. Chỉ có một đường băng duy nhất mà Ralph nghĩ là ngắn kinh khủng. Phi công đã phanh gấp ngay khi bánh xe chạm xuống và các vật thể không an toàn cất cánh bay đi. Họ dừng lại trên một vạch màu vàng ở cuối dải nhựa đường hẹp, cách một cái rãnh đẩy cỏ dại, nước đọng và các lon Shiner không quá ba mươi thước Anh.

“Chào mừng các bạn đến một nơi cụ thể nào đó,” Alec nhận xét khi chiếc King Air lao về phía một nhà ga lắp ghép mỏng manh trông như thể nó có thể bị thổi bay trong đợt gió lớn tiếp theo. Có một chiếc xe van Dodge bám đầy bụi đang đợi họ. Ralph nhận ra nó giống mẫu Companion hỗ trợ xe lăn ngay cả trước khi anh nhìn thấy biển báo người khuyết tật. Claude Bolton, cao và vạm vỡ trong chiếc quần jean bạc màu, áo sơ mi công sở màu xanh lam, đôi bốt cao bồi rách bươm và chiếc mũ lưỡi trai đội Texas Rangers, đang đứng bên cạnh xe.

Ralph là người đầu tiên xuống máy bay, và anh chia tay ra. Sau một giây do dự, Claude nắm lấy nó. Ralph không thể không nhìn những chữ cái đã mờ trên ngón tay của người đàn ông: CANT.

“Cảm ơn anh đã giúp chúng tôi thấy chuyến đi này dễ dàng hơn,” Ralph nói. “Anh khống cần phải làm vậy, và tôi đánh giá cao điều đó.” Anh giới thiệu những người khác với Claude.

Holly là người bắt tay anh ta cuối cùng, cô nói, “Những hình xăm trên ngón tay của anh... Chúng có liên quan đến uống rượu à?”

Đúng vậy , Ralph nghĩ. Đó là một phần của câu đố mà tôi đã quên lấy ra khỏi hộp.

“Đúng vậy, đúng vây.” Bolton nói như một người đang dạy một bài học hay và lý thú. “Nghịch lý lớn là đó là tinh thần của các cuộc họp AA hồi đó. Lần đầu tiên tôi nghe về nó là ở trong tù. Bạn phải (MUST) uống, nhưng bạn không thể (CANT) uống.”

“Tôi cũng cảm thấy như vậy về thuốc lá,” Holly nói.

Bolton cười toe toét, và Ralph nghĩ thật kỳ lạ khi người kém giao tiếp xã hội nhất trong đoàn người ít ỏi của họ lại là người khiến Bolton cảm thấy thoải mái. Duy chỉ có điều, Bolton có vẻ thực sự lo lắng; liếc nhìn đồng hồ liên tục. “Vâng, thưa cô, thuốc lá khó bỏ. Cô đã làm thế nào vậy?”

“Tôi đã không hút gần một năm nay,” Holly nói, “nhưng tôi cứ cai từ từ thôi, không quan tâm kết quả ra sao. MUST và CANT. Tôi thích điều đó.”

Liệu cô ấy có thực sự biết hết ý nghĩa của những hình xăm trên ngón tay không? Ralph cũng không thể biết được.

“Cách duy nhất để phá bỏ nghịch lý không thể phải là nhờ đến sự trợ giúp của một thế lực cao hơn, vì vậy tôi đã chuẩn bị cho mình một thứ. Và tôi luôn mang theo chiếc huy chương tỉnh táo của mình. Tôi được dạy rằng nêu tôi muốn uống một ly rượu, hãy dán chiếc huy chương đó vào miệng. Nếu nó tan chảy, tôi có thể uống một ly.”

Holly mỉm cười - nụ cười rạng rỡ mà Ralph rất thích.

Cửa hông của chiếc xe van bật mở, một cái thang dốc rỉ sét ầm ĩ trượt ra. Một người phụ nữ to lớn với mái tóc bạc trắng lộng lẫy lòa xòa trên vai đang ngồi trên xe lăn. Trong lòng bà là một chai oxy màu xanh lá cây ngắn kèm một ống nhựa dẫn từ nó đến ống thông trong mũi. “Claude! Sao con cứ đứng đó mãi với họ trong thời tiết nóng nực thế này chứ? Nếu cần đi thì phải đi thôi, trưa trật ra rồi.”

“Đây là mẹ tôi,” Claude nói. “Mẹ, đây là thám tử Anderson, người đã thẩm vấn con về điều mà con đã nói với mẹ. Những người còn lại thì đây là lần đầu con gặp họ.”

Howie, Alec và Yune tự giới thiệu mình với bà cụ. Holly đến sau cùng. “Rất vui được gặp bà, bà Bolton.”

Lovie cười. “Chà, chúng ta sẽ xem cô cảm thấy thế nào khi biết thêm về tôi.”

“Tốt hơn là tôi nên đi xem xe thuê của chúng tôi,” Howie nói. “Tôi nghĩ đó là chiếc đậu bên cửa.” Ông chỉ vào một chiếc suv cỡ trung màu xanh đậm.

“Tôi sẽ lái chiếc van dẫn đường,” Claude nói. “Anh sẽ không gặp phải bất kỳ vấn đề nào đâu, nếu xét đến tình trạng giao thông ở Marysville.”

“Tại sao cô không đi cùng chúng tôi nhỉ?” Lovie Bolton hỏi Holly. “Bầu bạn với người bạn già này.”

Ralph mong Holly từ chối, nhưng cô đồng ý ngay. “Chờ tôi một phút.”

Cô ra hiệu cho Ralph bằng ánh mắt của mình, và anh đi theo cô ra phía King Air khi Claude nhìn mẹ anh xoay ghế và lăn ngược lên thang nối. Một chiếc máy bay nhỏ đang cất cánh, và lúc đầu, Ralph không thể nghe thấy Holly đang hỏi anh điều gì. Anh cúi xuống gần hơn.

“Tôi nên nói gì với họ, Ralph? Họ chắc chắn sẽ hỏi chúng ta đang làm gì ở đây.”

Anh cân nhắc, rồi nói: “Tại sao cô không kể sự tinh luôn?”

“Họ sẽ không tin tôi!”

Câu trả lời đó khiến anh cười toe toét. “Holly, tôi nghĩ cô giỏi xử lý mấy kiểu hoài nghi này mà.”

❊ 3 ❊

Giống như nhiều người có tiền án (ít nhất là những người không muốn mạo hiểm quay vào tù lần nữa), Claude Bolton đã lái chiếc xe van Dodge Companion với tốc độ chính xác tám cây số một giờ trong giới hạn tốc độ. Nửa giờ sau, anh ta rẽ vào quán cà phê của Nhà nghỉ Thổ dân. Anh ta bước ra ngoài và gần như nói lời xin lỗi Howie, người ngồi sau tay lái chiếc xe đi thuê. “Hy vọng anh không phiền nêu chúng tôi kiếm gì bỏ bụng,” anh ta nói. “Mẹ tôi thi thoảng sẽ gặp vấn đề nếu bà ấy không ăn thường xuyên và bà ấy không có thời gian để làm bánh mì kẹp. Tôi sợ chúng tôi có thể mất dấu anh.” Anh ta hạ giọng, như thể đang thổ lộ một bí mật đáng xấu hổ. “Đó là do đường máu. Khi đói, bà ấy sẽ bị ngất xỉu.”

“Tôi chắc chắn rằng tất cả chúng ta đều có thể ăn gì đó,” Howie nói.

“Câu chuyện mà người phụ nữ đó đã kể...”

“Tại sao chúng ta không nói về chuyện đó khi về nhà anh nhỉ, Claude,” Ralph nói.

Claude gật đầu. “Đúng vậy, như thế tốt hơn.”

Quán cà phê có mùi - rất khó chịu - của dấu mỡ, đậu và thịt rán. Neil Diamond đang réo rắt trong máy hát tự động bài “I Am, I Said” bằng tiếng Tây Ban Nha. Các món đặc biệt (không hẳn) được dán ở phía sau quẩy. Phía trên cửa sổ bếp là hình ảnh Donald Trump bị bôi xấu. Mái tóc vàng của ông ta được tô màu đen; ông ta còn được vẽ thêm ria mép và chỏm tóc trước trán. Bên dưới bức ảnh, ai đó đã viết dòng chữ Yanqui vete a casa-. Yankee hãy về nhà đi. Lúc đầu, Ralph ngạc nhiên - Texas là một tiểu bang đỏ, đỏ như khi họ đến - nhưng sau đó anh nhớ ra rằng nếu người da trắng không phải là thiểu số thực sự gần biên giới thế này, thì khoảng cách giữa chiến thắng và thất bại là rất nhỏ.

Họ ngồi ở cuối căn phòng, Alec và Howie ngồi ở bàn hai người, những người còn lại ngồi ở một chiếc bàn lớn hơn gần đó. Ralph gọi một chiếc bánh mì kẹp thịt; Holly gọi một món salad, hóa ra chủ yêu là xà lách cuộn giòn hơi héo; Yune và hai mẹ con nhà Bolton đã thưởng thức một bữa ăn Mexico đầy đủ, bao gồm taco, burrito và empanada. Cô phục vụ đặt bình trà ngọt miễn phí xuống bàn dù không được gọi.

Lovie Bolton đang nhìn Yune, đôi mắt bà sáng như mắt cú. “Sablo, tên cậu hả? Tên nghe hài hước quá.”

“Đúng vậy, không có nhiều người có tên như cháu,” Yune nói.

“Cậu nhập cư hay dân ở đây?”

“Dân gốc, thưa bác,” Yune nói. Một nửa số bánh taco được nhồi kỹ của anh ấy đã biến mất chỉ với một miếng ngoạm. “Thế hệ thứ hai.”

“Chà, tuyệt! Chuẩn hàng Mỹ! Tôi từng quen biết một Augustin Sablo khi tôi sống ở phía nam, trước khi tôi kết hôn. Anh ta lái một chiếc xe tải đa dụng ở Laredo và Nuevo Laredo. Khi anh ta ghé qua nhà chúng tôi, tôi và các chị em tôi thường hò hét đòi churro éclairs. Tôi cho là cậu không có liên quan gì đến anh ta đâu nhỉ?”

Nước da màu ô liu của Yune sẫm lại một chút - không hẳn là tối sẫm - nhưng cái nhìn của anh ta khiến Ralph thích thú. “Vâng, thưa bác, đó là bố cháu.”

“Chà, thế giới nhỏ quá nhỉ?” Lovie nói, và bắt đầu cười. Tiếng cười của bà ấy chuyển sang tiếng ho, và cơn ho chuyển sang sặc sụa. Claude vỗ mạnh vào lưng bà đến nỗi chiếc dây thở tuột khỏi mũi và rơi vào lòng. “Ổ, con trai, nhìn kìa,” bà nói khi lấy lại hơi thở. “Mẹ bắn cả nước mũi vào món burrito của mình rồi.” Bà đưa tay chỉnh lại cái Ống. “Chà, thôi cũng được. Nó ra từ người mẹ rồi quay lại ngay lập tức. Không có hại gì cả.” Bà nhai trệu trạo.

Ralph bắt đầu cười, và những người khác cũng hùa theo anh. Ngay cả Howie và Alec cũng cười dù họ đã bỏ lỡ phần lớn cuộc nói chuyện. Ralph có một lúc để nghĩ làm sao tiếng cười lại có thể kéo mọi người lại với nhau, và rất vui vì Claude đã đưa mẹ mình đi cùng. Bà ấy là tác nhân sôi động.

“Thế giới nhỏ thật,” bà lặp lại. “Vâng, đúng vậy.” Bà nghiêng người về phía trước để bộ ngực đồ sộ của mình làm chiếc đĩa xịch về phía trước. Bà vẫn đang nhìn Yune với đôi mắt cú vọ ấy. “Câu biết câu chuyên mà cô ấy đã kể cho chúng tôi không?” Bà liếc nhìn Holly, người đang vừa ăn salad vừa khẽ nhíu mày.

“Vâng, thưa bác.”

“Cậu tin không?”

“Cháu không biết. Cháu... “Yune hạ giọng. “Cháu nghĩ là có.”

Lovie gật đầu và hạ giọng. “Cậu từng xem cuộc diễu hành ở Nuevo chưa? Processo dos Passos? Từ khi cậu còn là một cậu bé thì phải?”

“Sí, senora*.”

Tiếng Tây Ban Nha, có nghĩa là “Vâng, thưa bà (bác).”

Bà ấy thấp giọng hơn nữa. “Thế hắn thì sao? Farnicoco * ấy? Cậu thấy hắn chưa?”

Farnicoco (còn được gọi là Coco, Coca, Cucuy, v.v) là một quái vật trong thần thoại, gần giống với ông kẹ, xuất phát từ văn hóa của các nước nói tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.

*,” Yune đáp. Mặc dù Lovie Bolton là một người da trắng, Ralph nghĩ Yune đã vô thức sử dụng tiếng Tây Ban Nha mà không hề nghĩ gì nhiều.

Tiếng Tây Ban Nha, có nghĩa là “Vâng.”

Bà ấy vẫn tiếp tục hạ giọng. “Cậu gặp ác mộng không?”

Yune do dự, rồi nói, “ Sí. Muchas pesadillas *.”

Tiếng Tây Ban Nha, có nghĩa là “Có, rất nhiều ác mộng.”

Bà ấy ngả người ra sau, tỏ vẻ hài lòng nhưng nghiêm túc. Bà nhìn Claude. “Con hây nghe những người này, con trai. Mẹ nghĩ là con đã gặp phải một vấn đề lớn.” Bà nháy mắt với Yune, nhưng không phải đùa; khuôn mặt của bà rất nghiêm trọng. “ Muchos *?

Tiếng Tây Ban Nha, có nghĩa là “Rất nhiều”, “Rất lớn”.

❊ 4 ❊

Khi đoàn lữ hành nhỏ trở lại đường cao tốc, Ralph hỏi Yune về processo dos Passos .

“Một cuộc diễu hành trong Tuần Thánh,” Yune nói. “Nhà thờ không chấp thuận, nhưng nhắm mắt cho qua.”

Farnicoco ? Giống El Cuco trong cầu chuyện của Holly à?”

“Tệ hơn,” Yune nói. Anh ta trưng ra vẻ mặt dữ tợn. “Còn tệ hơn cả Gã bao đen. Farnicoco là Người đội mũ trùm đâu. Hắn là Thần chết.”

❊ 5 ❊

Họ đến được nhà Bolton ở Marysville thì cũng đã gần 3 giờ và nắng nóng bỏng rát. Họ chen chúc trong căn phòng khách nhỏ, nơi có máy điều hòa - một con bò già ổn ào mà với Ralph thì đã đủ tuổi nghỉ hưu rồi - đang cố gắng hết sức để đu cho kịp quá nhiều cơ thể nóng bức lúc này. Claude vào bếp và mang ra những lon Coca đặt trong một chiếc thùng giữ lạnh hiệu Styroíbam. “Nếu các vị muốn bia thì không gặp may rồi,” anh ta nói. “Tôi không có.”

“Thế lại tốt,” Howie nói. “Tôi không nghĩ rằng bất kỳ ai trong chúng ta nên uống đồ có cồn cho đến khi chúng ta giải quyết vấn đề này trong khả năng tốt nhất của mình. Hãy kể cho chúng tôi nghe về đêm qua.”

Bolton liếc nhìn mẹ mình. Bà khoanh tay và gật đầu.

“Chà,” anh ta nói, “hóa ra thực sự chẳng có gì xảy ra cả. Tôi đi ngủ sau khi xem tin đêm muộn như mọi khi, và tôi cảm thấy ổn rồi...”

“Dấm dớ,” Lovie xen vào. “Con chẳng còn là mình kể từ lúc về đây. Bồn chồn...” Bà nhìn những người khác. “... không tỉnh táo... nói mớ...”

“Mẹ muốn con nói hay mẹ nói?”

Bà khoát tay bảo anh ta tiếp tục và nhấp một ngụm từ lon Coca của mình.

“Chà, bà ấy không sai,” Bolton thừa nhận, “dù tôi không muốn những người ở nơi làm việc biết điều đó. Nhân viên an ninh ở một nơi như Gentlement, Please thì không được sợ hãi điều gi, các vị biết mà. Nhưng tôi đã như vậy. Chỉ là không có gì giống như đêm qua. Đêm qua rất khác. Tôi thức dậy vào khoảng 2 giờ, thoát khỏi một giấc mơ khó chịu, và dậy để khóa cửa. Tôi không bao giờ khóa cửa khi về đây, dù tôi luôn dặn mẹ tôi làm vậy nếu bà ấy ở nhà một mình, sau khi người giúp việc nhà của bà ấy từ Plainville rời đi lúc 6 giờ.”

“Anh đã mơ thấy gì?” Holly hỏi. “Anh có nhớ không?”

“Ai đó ở dưới gẩm giường, đang nằm đó và nhìn lên. Đó là tất cả những gì tôi có thể nhớ.”

Cô gật đầu để anh tiếp tục.

“Trước khi khóa cửa trước, tôi bước ra ngoài hiên để quan sát xung quanh và thấy tất cả những con sói đồng cỏ đã ngừng hú. Thông thường, chúng hú suốt khi trăng lên.”

“Chúng làm thế trừ phi có người,” Alec nói. “Rồi chúng dừng lại. Như những con dế mèn.”

“Nghĩ lại, tôi cũng không nghe thấy tiếng chúng. Khu vườn sau nhà của mẹ tôi thường có nhiều dế lắm. Tôi quay lại giường, nhưng khống thể ngủ được. Tôi nhớ rằng tôi đã không khóa cửa sổ và phải làm điều đó. Cửa kèn kẹt nên tôi làm mẹ thức giấc. Bà ấy hỏi tôi đang làm gì, và tôi bảo bà ngủ tiếp đi. Tôi leo lên giường và gần như thiếp đi - lúc đó chắc phải tầm 3 giờ - thì nhớ ra mình đã không khóa cửa sổ trong phòng tắm, chiếc bên trên bồn tắm. Tôi nghĩ đến việc có ai đó đang trèo qua, nên tôi ra khỏi giường và chạy ra xem. Tôi biết nghe có vẻ ngu ngốc, nhưng...”

Anh nhìn họ và không thấy ai trong số họ mỉm cười hay tỏ vẻ hoài nghi.

“Được rồi. Được rồi. Tôi đoán nếu các vị đã đến tận đây, các vị có thể sẽ không nghĩ rằng điều đó nghe có vẻ ngu ngốc. Dù sao đi nữa, tôi đã vấp phải chiếc gối quỳ chết tiệt của mẹ, và lần đó bà đã dậy hẳn. Bà ấy hỏi tôi liêu có phải có ai đó đang cố đột nhập vào nhà không, và tôi nói không, nhưng để bà ấy ở trong phòng của mình.

“Tôi thì không,” Lovie nói một cách tự mãn. “Tôi chưa bao giờ bân tâm đến bất kỳ người đàn ông nào ngoại trừ chồng tôi, và ông ấy đã ra đi lâu rồi.”

“Không có ai trong phòng tắm hoặc cố lẻn vào đó qua cửa sổ, nhưng tôi có cảm giác — tôi không thể cho các vị biết nó mạnh đến mức nào -rằng hắn ta vẫn ở ngoài đó, ẩn nấp và chờ đợi cơ hội của mình.”

“Không phải dưới giường của anh?” Ralph hỏi.

“Không, việc đầu tiên tôi làm là kiểm tra dưới đó. Điên rổ, chắc chắn rồi, nhưng...” Anh ta dừng lại. “Tôi đã không ngủ lại cho đến khi trời sáng. Mẹ tôi đã đánh thức tôi và nói rằng chúng tôi phải đến sân bay để có thể gặp các vị.”

“Để nó ngủ càng lâu càng tốt,” Lovie nói. “Đó là lý do tại sao tôi không làm được cái bánh mi kẹp nào. Bánh mì ở trên nóc tủ lạnh, và nếu tôi cố gắng với tay lên đó, tôi sẽ hụt hơi mất.”

“Bây giờ anh cảm thấy thế nào?” Holly hỏi Claude.

Anh ta thở dài, và khi anh ta đưa tay vuốt lên mặt, họ có thể nghe thấy tiếng sột soạt của bộ râu xồm xoàm. “Không ổn lắm. Tôi đã ngừng tin vào ông kẹ cùng lúc với ngừng tin vào ông già Noel, nhưng tôi cảm thấy rất buồn và hoang tưởng, giống như khi tôi phê thuốc. Có phải hắn đang theo đuổi tôi không? Các vị có thực sự tin thế không?”

Anh ta lướt qua từng gương mặt. Holly là người trả lời anh ta. “Tôi tin,” cô nói.

❊ 6 ❊

Họ im lặng một chút, suy nghĩ. Sau đó, Lovie lên tiếng. “ El Cuco , cô có thể gọi hắn bằng cái tên đó,” bà nói với Holly.

“Vâng.”

Bà lão gật đầu, gõ những ngón tay bị viêm khớp vào bình ôxy. “Khi ta còn nhỏ, bọn trẻ Mexico gọi hắn là Cucuy, còn bọn trẻ da trắng thì gọi hắn là Kookie, Chookie, hoặc Chook. Ta thậm chí còn có một cuốn sách tranh viết về kẻ hút máu đó.”

“Tôi cá là tôi cũng có một câu chuyên tương tự,” Sablo nói. “Bà của vợ tôi đã kể chuyện đó. Một người khổng lồ với một bên tai lớn màu đỏ?”

Sí, mi amigo *” Lovie rút điếu thuốc ra và châm một mồi lửa. Bà nhả khói, ho và tiếp tục nói. “Trong câu chuyện, có ba chị em gái. Người em út nấu ăn, dọn dẹp và làm tất cả các công việc khác. Hai cô chị lười biếng và chế giễu em. El Cucuy đã đến. Ngôi nhà khóa trái, nhưng hắn trông giống bố của chúng nên chúng để hắn vào nhà.

Tiếng Tây Ban Nha, có nghĩa là “Đúng thế, bạn của tôi.”

Hắn bắt hai cô chị xấu xí để dạy chúng một bài học. Hắn để cô em tốt bụng lại, người đã làm việc chăm chỉ để giúp đỡ người bố đang một mình nuôi dạy các cô con gái. Cậu nhớ chứ?”

“Chắc chắn rồi,” Yune nói. “Chúng ta sẽ không quên những câu chuyện mình nghe được khi mình còn nhỏ. Trong câu chuyện đó, El Cucuy được cho là một người tốt, nhưng tất cả những gì cháu còn nhớ là cháu đã sợ hãi như thế nào khi hắn kéo hai cô chị lên núi, đến hang động của mình. Las niñas lloraban y le rogaban que las soltara . Các cô gái nhỏ đã khóc và cầu xin hắn để chúng đi.”

“Đúng rồi,” Lovie nói. “Và cuối cùng, hắn đã làm vậy và hai cô chị đã thay đổi tính cách. Đó là phiên bản truyện. Nhưng Cucuy thực sự không để bọn trẻ đi, dù chúng có khóc lóc van xin thế nào đi chăng nữa. Tất cả các vị đều biết điều đó, phải không? Các vị đã thấy tác phẩm của hắn.”

“Vậy là bà cũng tin vào điều đó,” Howie nói.

Lovie nhún vai. “Như họ nói, quien sabe *?” Tôi đã bao giờ tin vào el chupacabra chưa ư? Những người dân tộc thiểu số già gọi kẻ hút máu dê là gì nhỉ?” Bà khịt mũi. “Không khác gì với việc tôi tin vào chân to cả. Nhưng có những điều kỳ lạ, giống hệt nhau. Một lần - đó là vào Thứ Sáu Tuần Thánh, tại nhà thờ Blessed Sacrament trên đường Galveston - tôi đã nhìn thấy một bức tượng Đức Mẹ Đồng Trinh khóc ra máu. Tất cả chúng tôi đã nhìn thấy nó. Sau đó, Cha Joaquim nói rằng đó chỉ là vết rỉ ướt từ dưới mái hiên chảy xuống mặt Đức Mẹ, nhưng tất cả chúng tôi đều biết rõ hơn. Cha cũng vậy.

Tiếng Tây Ban Nha, có nghĩa là “Ai mà biết”.

Các vị có thể nhìn thấy điều đó trong mắt ông ấy.” Bà quay lại nhìn Holly. “Cô nói rằng cô đã tận mắt nhìn thấy những thứ như thế.”

“Vâng,” Holly nói nhỏ. “Tôi tin rằng có thứ gì đó tồn tại. Nó có thể không phải là El Cuco truyền thống, nhưng nó hẳn phải là thứ mà các truyền thuyết dựa trên? Tôi nghĩ vậy.”

“Cậu bé và những cô bé mà cô đã kể, hắn ta uống máu và ăn thịt chúng ư? Kẻ dị biệt ấy?”

“Có thể là vậy,” Alec nói. “Dựa trên hiện trường vụ án.”

“Và giờ hắn là tôi,” Bolton nói. “Đó là những gì các vị nghĩ. Tất cả những gì hắn cần là một ít máu của tôi. Hắn ta uống nó à?”

Không ai trả lời anh ta, nhưng Ralph thực sự có thể thấy rõ thứ y hệt như Terry Maitland đã làm. Anh có thể nhìn thấy nó với sự rõ ràng đến đáng sợ. Chuyện điên rồ này đã ăn sầu vào tâm trí anh lắm rồi.

“Có phải hắn ở đây đêm qua, lướt qua không?”

“Có lẽ ở khía cạnh vật lý thì hẳn đã không có mặt ở đây,” Holly nói, “và hắn ta có thể chưa phải là anh. Hắn có thể vẫn đang trờ thành anh.”

“Có lẽ hắn đang kiểm tra nơi này,” Yune nói.

Có lẽ hắn đang cố tìm hiểu về chúng tôi , Ralph nghĩ. Và nếu thế thật thì hắn chắc chắn đã đến đây rồi. Claude biết chúng tồi sẽ đến.

“Vậy giờ thế nào?” Lovie hỏi. “Hắn sẽ giết một hoặc hai đứa trẻ khác ở Plainville hoặc ở Austin, và cố đổ tội cho con trai tôi?”

“Tôi không nghĩ vậy,” Holly nói. “Tôi không biết liệu hắn đã đủ mạnh chưa. Đã vài tháng trôi qua kể từ vụ Heath Holmes và Terry Maitland. Và hắn đã... ở trạng thái kích hoạt.”

“Còn gì khác nữa,” Yune nói. “Một khía cạnh thực tế. Khu vực này quá nóng với hắn. Nếu hắn thông mình - và chắc chắn phải như vậy thì mới có thể sống sót lâu đến thế - hắn sẽ tiếp tục di chuyển.”

Điều đó có vẻ đúng. Ralph có thể tưởng tượng ra kẻ dị biệt của Holly đang đặt khuôn mặt và thân hình vạm vỡ của Claude Bolton lên xe buýt hoặc xe lửa ở Austin và đi về hướng Tây. Las Vegas, có thể lắm chứ. Hoặc Los Angeles. Nơi có thể có một cuộc gặp gỡ tình cờ khác với một người đàn ông (hoặc thậm chí một người phụ nữ - ai biết được), và một ít máu đổ ra. Một mắt xích khác nữa được thêm vào chuỗi.

Bài hát “Baila Esta Cumbia” của Selena vang lên từ túi ngực của Yune. Anh ta trông rất hoảng hốt.

Claude cười toe toét. “O vầng, dù nơi đây hơi hẻo lánh thì cũng vẫn có sóng mà. Thế kỷ 21 rồi, anh bạn.”

Yune lấy điện thoại ra, nhìn vào màn hình và nói, “Sở cảnh sát Hạt Montgomery. Tôi nghĩ tôi nên trả lời cuộc gọi này. Tôi xin phép.”

Holly trông có vẻ giật mình, thậm chí còn hoảng hốt khi anh ta nhân cuộc gọi và bước ra ngoài hiên với cầu nói “Xin chào, trung úy Sablo xin nghe”. Holly cũng cáo lỗi và đi theo anh ta.

Howie nói, “Có lẽ chuyện đó...”

Ralph lắc đầu mà không biết tại sao.

“Hạt Montgomery ở đâu?” Claude hỏi.

“Arizona,” Ralph nói, trước khi Howie hoặc Alec có thể trả lời. “Một vấn đề khác. Không liên quan gì đến chuyện này.”

“Chính xác thì chúng ta sẽ làm gì với chuyện này?” Lovie hỏi. “Các vị có biết cách bắt được gã này không? Con trai tôi là tất cả những gì tối có, các vị biết đấy.”

Holly quay lại. Cô đến bên Lovie, cúi người, thì thầm vào tai bà. Khi Claude nghiêng người để nghe trộm, Lovie đã làm động tác bắn. “Vào bếp đi con, và mang bánh quy sô-cô-la ra, nếu chúng không bị chảy nước rồi.”

Claude ngoan ngoãn đi ra bếp. Holly tiếp tục thì thầm, và mắt Lovie mở to. Bà ấy gật đầu. Claude quay lại với túi bánh cùng lúc Yune bước vào từ hiên nhà, cất điện thoại vào túi.

“Đó là...” anh ta bắt đầu, rồi dừng lại. Holly đã hơi quay người lại, vậy nên cô đang quay lưng với Claude. Cô đưa một ngón tay lên môi và lắc đầu.

“Không gì cả,” anh ta nói. “Họ bắt được một gã nhưng không phải người mà chúng ta đang tìm kiếm.”

Claude đặt những chiếc bánh quy (gần như chảy hết) lên bàn và nghi ngờ liếc nhìn xung quanh. “Tôi không nghĩ đó là những gì các vị nói lúc đâu. Có gì đang xảy ra ở đây?”

Ralph nghĩ đó là một câu hỏi hay. Bên ngoài con đường nông thôn, một chiếc xe bán tải chạy ngang qua, chiếc tủ đựng đồ trên giường phản chiếu những tia nắng chói chang khiến anh nhăn mặt.

“Con trai,” Lovie nói, “Mẹ muốn con lái xe đến Tippit và mua cho chúng ta chút gà để ăn tối ở Highway Heaven. Chỗ đó khá ngon. Chúng ta sẽ mời họ ăn tối, rồi để họ đến Thổ dân nghỉ lại. Nơi đó không tươm nhưng ít ra còn có chỗ nghỉ.”

“Sáu lăm cây số đến Tippit!” Claude phản đối. “Bữa tối cho bảy người tốn cả đống tiền, và mang về đến nhà thì cũng nguội ngắt rồi!”

“Mẹ sẽ hâm nóng mọi thứ trên bếp,” bà nói một cách bình tĩnh, “và những bữa tối đó sẽ ngon như mới. Đi ngay bây giờ đi.”

Ralph thích cách Claude chống hai tay lên hông và nhìn bà với vẻ hài hước và bực tức. “Mẹ muốn đuổi con đi à!”

“Đúng thế,” bà đồng ý, bỏ điếu thuốc vào chiếc gạt tàn bằng thiếc chất đầy những mẩu tàn cũ. “Bởi nếu cô Holly đây đúng, con biết gì thì hắn biết nẩy. Có lẽ điều đó không thành vẩn đề, có thể mọi sự thật sẽ được phơi bày, nhưng có thể không. Vì vậy, hãy đóng vai một cậu con ngoan và đi mua bữa tối đi.”

Howie lấy ví của mình ra. “Cho phép tôi trả tiền, Claude.”

“Không sao đầu,” Claude nói một cách ủ rũ. “Tôi có thể trả. Tôi không bủn xỉn đâu.”

Howie cười tươi. “Nhưng tôi muốn làm thế!”

Claude nhận tiền và nhét vào chiếc ví được buộc vào thắt lưng. Anh ta nhìn quanh những vị khách của mình, vẫn cố tỏ ra ủ rũ, nhưng rồi anh ta bật cười. “Mẹ tôi thường có được những gì bà ấy muốn,” anh ta nói. “Tôi đoán các vị đã hiểu ra điều đó rồi.”

❊ 7 ❊

Đường phụ nhà Bolton, Đường Rural Star 2, cuối cùng đã dẫn đến một đường cao tốc thực tế: Đường 190 ngoài Austin. Trước khi đến đó, một con đường đất - rộng bốn làn xe nhưng giờ đã hư hỏng - rẽ nhánh về bên phải. Nó được đánh dấu bằng một bảng quảng cáo cũng đang rơi vào tình trạng hư hỏng. Nó mô phỏng một gia đình hạnh phúc đang đi vào vòng xoáy ốc. Họ đang giơ những chiếc đèn lồng bằng khí ga thể hiện vẻ mặt kinh ngạc khi họ chăm chú nhìn vào những khối thạch nhũ lơ lửng trên cao. Dòng thông báo dưới đây là thứ gia đình này đã đọc được THAM QUAN HỐ MARYSVILLE, MỘT TRONG NHỮNG KỲ QUAN vĩ ĐẠI CỦA Tự NHIÊN. Claude biết ngày xưa nó có nội dung gì, từ khi anh còn là một thiếu niên bồn chồn bị mắc kẹt ở Marysville, nhưng thời gian này, tất cả những gì bạn có thể đọc là THAM QUAN HỐ MARYSV và KỲ QUAN Vĩ ĐẠI. Một dải rộng, có dòng chữ ĐÁ ĐÓNG CỬA CHO ĐẾN KHI THÔNG BÁO THÊM (bản thân nó cũng đã bị mờ), đã được dán đè lên phần còn lại.

Một cảm giác lâng lâng ập đến khi anh lái xe qua cái mà những đứa trẻ địa phương gọi là Đường tới Hố, nhưng nó đã trôi qua khi anh đạp thêm một số. Dù đã phản đối, nhưng anh ta thực sự rất vui khi được ra khỏi nhà. Cảm giác bị theo dõi đó đã biến mất. Anh bật radio, chỉnh đến Oudaw Country, tìm Waylon Jennings (hay nhất!), và bắt đầu hát theo.

Bữa tối với gà ở Highway Heaven có lẽ không phải là một ý tưởng tồi. Anh ta có thể gọi cả một đĩa hành tây chiên cho riêng mình, ăn chúng trên đường về nhà khi chúng vẫn còn nóng hổi và béo ngậy.

❊ 8 ❊

Jack đợi trong phòng của mình tại Nhà nghỉ Thổ dân, hé nhìn ra ngoài qua những cái khe của tấm rèm đã được kéo lại, cho đến khi ông ta nhìn thấy một chiếc xe tải với biển số dành cho người khuyết tật đang lao ra đường. Đó có lẽ là xe của bà già. Một chiếc SUV màu xanh theo sau nó, chắc chắn là chở những kẻ từ thành phố Flint xuống.

Khi họ khuất dạng, Jack đi đến quán cà phê, nơi ông ta dùng bữa và sau đó kiểm tra các mặt hàng được bày bán. Không có kem lô hội và cũng không có kem chống nắng, vì vậy ông ta đã mua hai chai nước và hai chiếc khăn trùm đầu bị đội giá quá cao. Chúng sẽ không hiệu quả mấy trước cái nắng gay gắt của Texas, nhưng có còn hơn không. Ông ta lên xe tải và lái về phía tây nam, theo hướng mà những kẻ rách chuyện đã đi, cho đến khi ông ta đến được chỗ có tấm bảng quảng cáo và con đường dẫn đến Hố Marysville. Tại đây, ông ta rẽ vào.

Đi thêm khoảng sáu cây số, ông ta bắt gặp một quầy nhỏ xiêu vẹo nằm trơ trọi giữa đường. Ông ta cho rằng đó chắc hẳn đã từng là quẩy bán vé khi Hố còn là một điểm đến du lịch. Màu sơn từng là màu đỏ tươi, giờ đã phai thành màu hồng nhạt như máu pha loãng. Ở mặt trước là một tầm biển có nội dung ĐIỆN THAM QUAN ĐÓNG CỬA, MỜI QUAY LẠI SAU. Con đường bị chặn lại bởi một sợi dây xích vòng quanh quẩy. Jack đi vòng qua sợi xích, men theo con đường đất lầy lội, lao lên đám cỏ rồi ngoặt quanh bụi ngải đắng. Chiếc xe tải xóc nảy đưa ông ta trở lại con đường... nếu bạn có thể gọi nó là đường, ơ phía bên này của sợi xích là mớ hỗn độn của những ổ gà um tùm cỏ và những hố nước cạn. Chiếc Ram của ông ta - loại gẩm cao với hệ thống dẫn động bốn bánh - có thể vượt qua các hố nước dễ dàng, xới tung bụi và đám đất đá bên dưới lốp xe quá khổ của nó.

Ba cây số đi chậm rãi và mười phút sau, ông ta đến được một bãi đậu xe trống trải rộng cả mẫu hoặc hơn, những đường vạch màu vàng chuyển sang màu lờ nhờ, đường nhựa nứt nẻ và bong tróc thành từng mảng. Phía bên trái, tựa lưng vào một ngọn đồi dốc thoải đầy bụi bặm là một cửa hàng quà tặng bị bỏ hoang với tấm biển đổ sập mà ông ta phải nghiêng người đọc ngược: ĐỔ THỦ CÔNG VÀ ĐỔ LƯU NIỆM THỔ DÂN XỊN. Ngay phía trước nó là đống đổ nát của một lối rải nhựa rộng rãi dẫn lên đồi. Chà, ngày xưa là vậy, còn bây giờ nó đã bị chặn lại và cắm vào những tấm biển có nội dung KHÔNG PHẬN sự MIỄN VÀO, ĐẤT RIÊNG và THUỘC QUYỀN QUẢN LÝ CỦA CẢNH SÁT HẠT.

Đúng vậy , Jack nghĩ. Mỗi bốn năm một lần vào 29 tháng Hai, họ có thể ghé qua đây chớp nhoáng.

Một con đường đổ nát khác dẫn ra khỏi bãi đậu xe, băng qua cửa hàng quà tặng. Nó dẫn lên một con dốc rồi dẫn xuống ở bên kia.

Đầu tiên, nó đưa ông ta tới một loạt các cabin du lịch cũ nát (cũng đã được bít kín) và sau đó là đến một nhà kho dịch vụ nào đó, nơi có lẽ từng chứa các phương tiện và thiết bị của công ty. Có nhiều biển KHÔNG PHẬN SỰ MIỄN VÀO ở đây, cộng với một tâm biển vui vẻ có nội dung CẨN THẬN RẮN ĐUÔI CHUÔNG.

Jack đậu chiếc xe tải của mình trong bóng râm ít ỏi của tòa nhà này. Trước khi ra ngoài, ông ta đeo một trong những chiếc khăn trùm lên đầu (khiến ông ta trông giống gã đàn ông quái dị mà Ralph đã nhìn thấy tại tòa án vào ngày Terry Maitland bị bắn). Cái còn lại ông ta quấn quanh cổ để vết cháy nắng chết tiệt đó không trở nên tồi tệ hơn. Ông ta dùng chìa khóa mở chiếc hộp đựng đồ trong thùng xe tải và nhẹ nhàng nâng chiếc hộp đựng súng chứa đựng hiềm tự hào và vui sướng của mình: khẩu súng bắn tỉa Winchester .300, giống khẩu súng mà Chris Kyle đã dùng để bắn tất cả những tên đầu sỏ đó (Jack đã xem Lính bắn tỉa Mỹ tám lần). Với kính súng trường Leupold VX-1, ông ta có thể bắn trúng mục tiêu ở cự ly 2000 thước Anh. Chà, sáu phát ăn bốn vào một ngày đẹp trời và không có gió, ông ta không mong đợi sẽ phải bắn ở bất kỳ đâu gần khoảng cách đó khi thời cơ đến. Nếu nó đến thật.

Ông ta phát hiện một vài dụng cụ bị bỏ lại trên đám cỏ dại, và nhặt lấy một chiếc chĩa ba han gỉ phòng khi có rắn đuôi chuông. Phía sau tòa nhà, có một con đường dẫn lên phía sau của ngọn đồi, nơi có lối vào Hố. Bên này là núi đá, không hẳn là một ngọn đồi mà là một bãi đá bị xói mòn vô tội vạ. Có vài lon bia trên đường đi và một số tảng đá đã được khắc những dòng như SPANKY 11 và DOODAD ĐÃ Ở ĐÂY.

Chừng nửa đường, có một ngã rẽ, rỗ là sẽ vòng trở lại cửa hàng quà tặng và bãi đậu xe bỏ hoang. Có một tấm biển bằng gỗ lỗ chỗ vết đạn, bạc phếch do thời tiết in hình một tù trưởng người da đỏ đội khăn trùm đầu của phụ nữ. Bên dưới ông ta là một mũi tên, thông điệp kèm theo mờ đến mức khó đọc: NHỮNG HÌNH VẼ TƯỢNG HÌNH ĐẸP NHẤT THEO LỐI NÀY. Gần đây hơn, có vẻ như đã có ai đó nghịch ngợm vẽ một quả bong bóng chữ bằng bút Magic Marker phát ra từ miệng của tù trưởng lớn với nội dung CAROLYN ALLEN LÀM TÌNH VỚI CON ∗∗CƯ DA ĐỎ CỦA TÔI.

Con đường này rộng hơn, nhưng Jack không đến đây để chiêm ngưỡng nghệ thuật của người Mỹ bản địa, vì vậy ông ta tiếp tục đi lên. Con đường núi không quá nguy hiểm, nhưng bài tập thể dục của Jack trong vài năm qua chủ yếu chỉ là uốn cong khuỷu tay của ông ta quanh các thanh xà. Đến khi đi được ba phần tư quãng đường, ông ta đã hụt hơi. Chiếc áo sơ mi cùng hai chiếc khăn trùm đầu đều đã sũng mổ hôi. Ông ta đặt hộp súng và giá súng xuống, sau đó cúi xuống chống hai tay vào đầu gối cho đến khi những đốm đen nhảy múa trước mắt ông ta biến mất và nhịp tim của ông ta trở lại bình thường. Ông ta đến đây để tránh cái chết khủng khiếp vì căn bệnh ung thư quái ác đã cướp đi sinh mạng của mẹ mình. Chết vì nhồi máu cơ tim trong khi cố gắng làm điều đó sẽ là một trò đùa cay đắng.

Ông ta bắt đầu đứng thẳng người, rồi dừng lại, nheo mắt. Trong bóng rầm bên dưới một mỏm đá nhô ra, an toàn trước những yếu tố xấu nhất, có nhiều tác phẩm graffiti hơn. Nhưng nếu đây là sản phẩm của những đứa trẻ, hẳn chúng cũng đã chết từ lâu, cách đây hàng trăm năm rồi. Một hình vẽ những người que cầm giáo đang vây xung quanh thứ có lẽ là một con linh dương - một loài nào đó có sừng. Trong một hình khác, những người que đang đứng trước thứ trông giống như lều vải của người da đỏ. Trong hình thứ ba — mờ đến nỗi chẳng thể xác định rỗ - một người que đang đứng trên cơ thể nằm sấp của một người que khác, ngọn giáo của anh ta giơ lên mừng chiến thắng.

Hình vẽ tượng hình , Jack nghĩ, và thậm chí còn không phải là những bức đẹp nhất, theo lời của vị tù trưởng ở đó. Những đứa trẻ mẫu giáo còn vẽ đẹp hơn nhưng chúng sẽ còn ở lại đây rất lâu sau khi mình ra đi. Đặc biệt là nếu bệnh ung thư đón mình đi sớm.

Suy nghĩ đó khiến ông ta tức giận. Ông ta nhặt một tảng đá sắc nhọn và đập vào những hình ảnh đó cho đến khi chúng mờ tịt hẳn đi.

Này , ông ta nghĩ. Này, ở đó đi, đồ khốn kiếp. Mày biến mất và tao sẽ thắng.

Ông ta chợt nghĩ rằng mình có thể sắp phát điên... hoặc đã điên rồi. Ông ta đẩy suy nghĩ đó ra khỏi đầu và tiếp tục leo lên. Khi lên đến đỉnh của ngọn núi, ông ta thấy mình có thể bao quát toàn bãi đậu xe, cửa hàng quà tặng và lối lên đã bị bịt kín tới Hố Marysville. Vị khách với những hình xăm trên ngón tay không chắc những kẻ rách chuyện sẽ đến đầy, nhưng nếu họ đến, Jack sẽ xử lý họ. Điều mà ông ta có thể làm bằng khẩu Winchester, ông ta chắc chắn là vây. Nếu họ không đến — nếu họ trở lại thành phố Flint sau khi nói chuyện với gã đàn ông mà họ muốn nói chuyện - thì công việc của Jack sẽ coi như xong. Dù thế nào thì vị khách đó cũng cam đoan rằng Jack sẽ trở lại như cũ. Không bị ung thư.

Nếu hắn nói dối thì sao? Điều gì sẽ xảy ra nếu hắn có thể cho nó đi mà không thể lấy nó lại? Hoặc nếu nó không thực sự ở đó thì sao? Nếu hắn không có ở đó thì sao? Điều gỉ sẽ xảy ra nếu mình chỉ là một thằng điên?

Ông ta cũng đẩy những suy nghĩ ấy ra khỏi đâu. Ông ta mở hộp đựng súng, lấy khẩu Winchester ra và gắn ống ngắm. Nó thu hình ảnh bãi đậu xe và lối vào hang động đến ngay trước mặt ông ta. Nếu họ đến, họ sẽ to lớn như quẩy bán vé mà ông ta đã đi vòng qua.

Jack bò vào bóng râm của một tảng đá nhô ra (trước tiên là kiểm tra rắn, bọ cạp hoặc các động vật hoang dã khác) và uống một cốc nước, đồng thời nuốt một vài viên thuốc bằng chỗ nước đó. Ông ta làm thêm một hơi từ cái chai 4 gram mà Cody đã bán cho ông ta (cocaine thi không có quà tặng kèm). Giờ đây, ông ta chỉ việc ngồi chờ, giống như hàng tá lần mà ông ta đã làm trong suốt sự nghiệp của mình với tư cách là một cảnh sát. Ông ta chờ đợi, ngủ gà ngủ gật liên tục với khẩu Winchester đặt trên đùi, nhưng luôn đủ tỉnh táo để phát hiện chuyển động, cho đến khi mặt trời gần khuất núi. Sau đó, ông ta đứng dậy, nhăn mặt vi cơ bắp căng cứng.

“Không đến,” ông nói. “ít nhất không phải hôm nay.”

Không đến , người đàn ông có hình xăm trên ngón tay đồng tình. (Hoặc Jack tưởng tượng rằng hắn đồng tình.) Nhưng mày sẽ quay lại đầy vào ngày mai, phải không?

Quả thực là ông ta sẽ làm vây. Trong một tuần, nếu đó là những gì cần làm. Thậm chí là cả một tháng cũng được.

Ông ta quay đầu đi xuống, di chuyển cẩn thận; điều cuối cùng ông ta muốn sau hàng giờ đồng hồ ngồi dưới nắng nóng là trật mắt cá chân. Ông ta cất khẩu súng trường của mình vào hộp khóa, uống thêm một ít nước từ cái chai mà ông ta đã để lại trong hốc xe (nước nóng rẫy) và lái xe trở lại đường cao tốc, lần này quay về phía Tippit, nơi ông ta có thể mua một số nhu yếu phẩm: chắc chắn phải có kem chống nắng rồi. Và rượu vodka. Không được uống quá nhiều, ông ta có trách nhiệm phải hoàn thành, nhưng uống vừa đủ để ông có thể nằm dài trên chiếc giường lắc lư tồi tàn của mình mà không nghĩ về việc chiếc giày đó đã được đẩy về phía tay ông ta như thế nào. Chúa ơi, tại sao ông ta lại ra ngoài cái kho thóc chết tiệt ở thị trấn Canning đó chứ?

Ông ta phóng vượt qua xe của Claude Bolton đang đi ngược ra. Cả hai đều không nhìn thấy nhau.

❊ 9 ❊

“Được rồi,” Lovie Bolton nói khi Claude đi xuống đường và khuất tầm nhìn của họ. “Tất cả những chuyện này là sao? Có gì mà các vị không muốn con trai tôi nghe thấy?”

Yune phớt lờ bà ấy và quay sang những người khác. “Văn phòng nha Cảnh sát Hạt Montgomery đã cử một vài sĩ quan đến xem xét những nơi mà Holly đã chụp ảnh. Họ đã tìm thấy một đông quần áo đẫm máu trong nhà máy bỏ hoang với hình chữ Vạn được sơn phun ở một bên hông. Một trong những thứ đó là chiếc áo khoác của viên hộ lý với một tấm thẻ được khâu vào áo có nội dung TÀI SẢN CỦA HMU.”

“Viện dưỡng lão Heisman - HMU,” Howie nói. “Khi họ phần tích vết máu trên quần áo, các vị có muốn cá rằng hóa ra đó lại là máu của một trong hai cô con gái nhà Howard không?”

“Thêm nữa là bất kỳ dấu vân tay nào họ tìm thấy đều sẽ thuộc về Heath Holmes,” Alec bổ sung. “Chúng có thể mờ, nêu hắn bắt đầu biến đổi.”

“Hoặc không,” Holly nói. “Chúng ta không biết hắn cần bao nhiêu thời gian để biến đổi, cũng không biết liệu mỗi lần thay đổi có diễn ra trong khoảng thời gian như nhau không.”

“Cảnh sát thuộc cảnh sát trưởng hạt ở đó cũng đặt nhiều câu hỏi,” Yune nói. “Tôi đã gạt anh ta đi. Xét theo những gì chúng ta có thể đang phải đối phó, tôi hy vọng tôi có thể gạt anh ta ra mãi mãi.”

“Các vị đừng có nói riêng với nhau như thế, hãy cho tôi biết nữa,” Lovie nói. “Làm ơn. Tôi rất lo cho con trai của tôi. Nó vô tội như hai người đàn ông kia, và cả hai đều đã chết.”

“Tôi hiểu nỗi lòng của bà,” Ralph nói. “Chờ một phút. Holly, khi ngồi cùng xe với mẹ con nhà Bolton từ sân bay về, cô có nói với họ về các nghĩa địa không? Cô đã không nói hả?”

“Không. Chỉ những điểm chính thôi, anh bảo thế mà. Thế nên tôi đã làm thế.”

“Ồ, chờ đã,” Lovie nói. “Chờ chút đã. Có một bộ phim mà tôi đã xem thời còn con gái ở Laredo, một trong những bộ phim về những nữ đấu vật...”

“Những nữ đấu vật Mexico đụng độ Quái vật,” Howie nói. “Chúng tôi đã xem rồi. Cô Gibney có mang theo một bản sao. Không xịn mịn lắm nhưng thú vị, chắc cũng giống thế cả thôi.”

“Đó là một trong những bộ phim mà Rosita Mufioz đã tham gia,” Lovie nói. “Cholita luchadora . Tất cả chúng tôi đều muốn trở thành cô ấy, tôi và bạn bè của tôi. Tôi thậm chí còn hóa trang thành cô ấy trong lễ Halloween. Mẹ tôi đã may trang phục cho tôi. Bộ phim về cuco đó là một bộ phim đáng sợ. Có một giáo sư... hoặc một nhà khoa học... tôi không nhớ rõ, nhưng El Cuco đã mượn mặt ông ta, và khi các luchadora cuối cùng cũng lần ra dấu vết, hắn sống trong một hẩm mộ hoặc một căn hầm ở nghĩa địa địa phương. Câu chuyện đã diễn ra như thế đúng không?”

“Đúng,” Holly nói, “vì đó là một phần của huyền thoại, ít nhất là ở phiên bản tiêng Tây Ban Nha. Cuco ngủ với người chết. Giống như ma rồng được cho là đã làm vậy.”

“Nếu thứ này thực sự tồn tại,” Alec nói, “thi nó chính là một con ma cà rồng, ít nhất cũng gần giống thế. Nó cần máu để tạo liên kết tiếp theo trong chuỗi. Để duy tri chính nó.”

Một lần nữa Ralph lại nghĩ: Mọi người có thấy chính họ ngỗ ngần thế nào không? Anh rất quý mến Holly Gibney, nhưng anh cũng ước mình chưa bao giờ gặp cô. Nhờ có cô mà trong đầu anh đang nổ ra một cuộc chiến, và anh hết sức mong muốn có một hiệp định đình chiên.

Holly quay sang Lovie. “Nhà máy bỏ hoang nơi cảnh sát Ohio tìm thấy bộ quần áo đẫm máu nằm gần nghĩa địa chôn cất bố mẹ Heath Holmes và anh ta. Nhiều quần áo hơn được tìm thấy trong một nhà kho không xa nghĩa địa cũ, nơi chốn cất một số cụ kỵ nhà Terry Maitland. Vì vậy, câu hỏi đặt ra ở đây là: Có nghĩa địa nào gần đây không?”

Lovie suy nghĩ. Họ đợi. Cuối cùng, bà ấy nói, “Có một nghĩa địa ở Plainville, nhưng không có ở Marysville. Chết tiệt, chúng tôi thậm chí còn không có nhà thờ. Trước đây từng có một cái, Đức Mẹ Thứ Tha, nhưng nó đã bị thiêu rụi cách đầy hai mươi năm.”

“Chết tiệt,” Howie lầm bẩm.

“Thế còn nơi chôn cất gia đinh?” Holly hỏi. “Đôi khi người ta cũng chôn cất ngay trên đất nhà họ, phải không?”

“Chà, tôi không biết về những nhà khác,” bà nói, “nhưng chúng tôi không làm thế. Bố mẹ tôi được chôn cất ở Laredo, bố mẹ họ cũng vậy. Quay trở lại Indiana, nơi mà gia đình tôi đã sống trước khi đến đây sau Nội chiến.”

“Còn chồng của bà thì sao?” Howie hỏi.

“George? Nhà ông ấy từ Austin đến và đó là nơi ông ấy được chôn cất, ngay bên cạnh bố mẹ mình. Tôi từng thi thoảng đi xe buýt đến thăm ông ấy, thường là vào ngày sinh nhật của ông ấy, mang theo hoa và tất cả mọi thứ, nhưng kể từ khi tôi mắc phải căn bệnh COPD (bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính) chết tiệt này, tôi đã không còn đến đó nữa.”

“Chà, tôi đoán là vậy,” Yune nói.

Lovie dường như không nghe thấy. “Tôi có thể hát, các vị biết đấy, hồi mà tôi vẫn còn hơi sức. Và tôi đã chơi guitar. Tôi từ Laredo đến Austin sau khi học trung học, vì âm nhạc. Họ gọi nó là Nashville South. Tôi nhận được một công việc trong nhà máy giấy trên phố Brazos trong khi chờ đợi kỹ nghỉ lớn của mình tại Carousel hoặc Broken Spoke hoặc bất cứ nơi nào. Những chiếc phong bì Makm. Tôi chưa bao giờ nghỉ dài, nhưng tôi đã kết hôn với quản đốc. Đó là George. Chưa bao giờ hối hận cho đến khi ông ấy nghỉ hưu.”

“Tôi nghĩ chúng ta đang lạc để,” Howie nói.

“Hãy để bà ấy kể,” Ralph nói. Anh có cảm giác ngứa ran như kiến bò, cảm giác có điều gì đó sắp xảy đến. Vẫn còn phía trước, nhưng đúng, nó đang đến. “Tiếp tục đi, bà Bolton.”

Bà nhìn Howie đẩy ngờ vực, nhưng khi Holly gật đầu và mỉm cười, Lovie cũng mỉm cười đáp lại, đốt một điếu thuốc khác và tiếp tục.

“Chà, sau ba mươi năm cống hiến, George về hưu và đưa chúng tôi rời nơi đây để tới một nơi xa xôi khuất nẻo. Claude mới mười hai tuổi — chúng tôi mãi mới có con, rất lâu sau khi chúng tôi cho rằng Chúa sẽ không tặng chúng tôi đứa trẻ nào cả. Claude không bao giờ thích Marysville, thằng bé nhớ những ánh đèn rực rỡ và lũ bạn trẻ ranh của nó - bạn thì ít, bè thì nhiều - và tôi cũng không quan tâm đến điều đó lúc đầu, dù tôi đã đến để tận hưởng sự yên bình của nơi đây. Khi bạn về già, bình yên là tất cả những gì bạn muốn. Bây giờ bạn có thể không tin điều đó, nhưng bạn sẽ hiểu thôi. Ý tưởng vê một khu mộ gia đình có vẻ không tồi, giờ thì tôi đang bắt đầu cân nhắc về nó. Tôi sẽ ra đi, nhưng tôi cho rằng rồi claude sẽ đưa tôi đến Austin, để tôi có thể ở bên chồng mình, như tôi đã từng làm trong suốt cuộc đời. Sẽ không lâu nữa đâu.”

Bà ho, nhìn điếu thuốc của mình với vẻ chán ghét, và dúi nó vào chiếc gạt tàn đã quá đẩy, nơi nó cháy khét lẹt.

“Các vị biết tại sao chúng tôi lại tình cờ đến Marysville không? George định nuôi lạc đà alpaca. Sau khi chúng chết, không lâu đâu, thì đến chó goldendoodle. Nếu các vị chưa biết thì loại chó này chính là con lai giữa chó săn lông vàng và chó poodle. Các vị nghĩ mẹ tự nhiên có bao giờ chấp thuận một sự kết hợp như vậy không? Tôi nghi ngờ điều đó. Anh trai của ông ấy đã nhồi cái ý nghĩ đó vào đầu ông ấy. Đời này không có ai ngốc hơn Roger Bolton, nhưng George nghĩ rằng vận may của họ đã tới. Roger chuyển đến đây cùng gia đình và hai người họ đã trở thành đối tác của nhau. Lũ chó con goldendoodle cũng chết, giống như những con lạc đà alpaca. Sau đận đó, George và tôi hơi eo hẹp chuyện tiền bạc, nhưng cũng đủ sống qua ngày. Tuy nhiên, Roger, ông ta đã đổ toàn bộ số tiền tiết kiệm của mình vào cái kế hoạch ngu ngốc chết tiệt đó. Vi vậy, ông ta đã đi tìm việc và...”

Bà dừng lại, vẻ kinh ngạc hiện rõ trên khuôn mặt.

“Roger sao rồi?” Ralph hỏi.

“Chết tiệt,” Lovie Bolton nói. “Tôi già rồi, nhưng đó không phải là lời bào chữa. Chuyện sờ sờ trước mặt tôi.”

Ralph chồm tới và nắm lấy một tay bà. “Bà đang nói gì vây, Lovie?” Anh gọi tên bà, như anh vẫn luôn làm trong phòng thẩm vấn.

“Roger Bolton và hai con trai của ông ta - anh em họ của Claude - được chôn cất cách đây sáu cây sỗ, cùng với bốn người đàn ông khác. Hoặc có thể là năm. Và những đứa trẻ đó, tất nhiên, chúng là anh em sinh đôi.” Bà từ từ lắc đầu qua lại. “Tôi đã rất tức giận khi Claude phải thụ án sáu tháng ở Gatesville vì tội ăn cắp. Và xấu hổ. Đó là khi nó bắt đầu dùng ma túy, các vị biết đấy. Nhưng sau này tôi thấy đó là lòng thương xót của Chúa. Bởi vì nếu nó ở đây, nó hẳn đã xuống mồ với họ rồi. Không phải bố nó, lúc đó George đã hai lần đột quỵ và không thể đi, mà là Claude... vầng, thằng bé sẽ đi cùng họ.”

“Ở đâu?” Alec hỏi. Lúc này anh đang nghiêng người về phía trước, chăm chú nhìn.

“Hố Marysville,” bà nói. “Đó là nơi những người đàn ông đó đã chết và nằm lại.”

❊ 10 ❊

Bà nói với họ rằng chuyện đó giống như một phần trong Tom Sawyer khi Tom và Becky bị lạc trong hang, chỉ khác là Tom và Becky thoát ra được. Cặp song sinh nhà Jamieson, mới mười một tuổi, không bao giờ làm được điều đó. Không ai cố gắng giải cứu chúng. Hố Marysville đã ôm trọn chúng vào lòng.

“Đó là nơi anh chồng của bà có được một công việc sau khi việc kinh doanh chó thất bại?” Ralph hỏi.

Bà gật đầu. “Ông ấy đã thực hiện một số hoạt động khám phá ở đó - không phải ở phần mở cửa với công chúng, mà ở phía Ahiga - vì vậy khi ông ấy nộp đơn, họ đã thuê ông ta làm hướng dẫn viên ngay. Ông ấy và những hướng dẫn viên khác từng đưa khách du lịch theo nhóm khoảng hơn chục người xuống đó. Đây là hang động lớn nhất ở Texas, nhưng phần phổ biến nhất, điều mà mọi người thực sự muốn xem, là động chính. Đó là một vị trí quan trọng, chắc chắn rồi. Giống như một thánh đường. Họ gọi nó là Phòng Ám thanh, vì tiếng bạn sẽ vang, những tiếng acoustic. Một trong những hướng dẫn viên sẽ đứng ở phía dưới cách hơn một trăm mét, thì thầm lời Tuyên thệ trung thành, và đấng tối cao sẽ nghe thấy từng lời của họ. Những tiếng vang dường như kéo dài bất tận. Ngoài ra, các bức tường được bao phủ bởi các bức vẽ của người da đỏ, tôi quên mất từ để miêu tả chúng...”

“Các hình ảnh tượng hình,” Yune nói.

“Đúng rồi. Anh cầm theo một cái đèn khí đốt Coleman khi anh vào trong, anh có thể nhìn thấy chúng, hoặc nhìn lên những thạch nhũ treo xuống từ trần hang. Có một cầu thang xoắn ốc bằng sắt dẫn sâu xuống tận đáy, bốn trăm bậc hoặc hơn, sâu hun hút. Nó vẫn ở đó, chắc chắn rồi, dù giờ tôi không chắc nó còn chắc chắn không. Dưới đó ẩm ướt và sắt sẽ gỉ. Có lần tôi lên đó, tôi chóng mặt chết mất và tôi thâm chí còn không thể nhìn lên những thạch nhũ, giống như hầu hết bọn họ. Anh chắc sẽ muốn tin rằng tôi đã đi thang máy trở lại đỉnh. Đi xuống là một chuyện, nhưng chỉ có kẻ ngu ngốc mới leo lên bốn trăm bước khi không cần phải làm vậy.”

“Đáy rộng chừng hai, có thể là ba trăm thước. Có đèn màu được lắp để soi sáng tất cả nhũ thạch, có một quán ăn nhanh và có sáu hoặc tám lối đi để khám phá. Chúng có tên. Tôi không nhớ hết, nhưng có Phòng trứng bày nghệ thuật Navajo - nơi có nhiều hình ảnh tượng hình — và Đường trượt của quỷ, và Bụng rắn, nơi anh phải cúi xuống và thậm chí bò ở nhiều nơi. Các vị có tưởng tượng được không?”

“Vâng,” Holly nói. “Ôi.”

“Đó là những điểm tham quan chính. Thậm chí còn có nhiều lối thoát ra khỏi chúng, nhưng chúng đã bị đóng cửa, bởi vì Hố không chỉ là một hang động mà là hàng chục hang động, đi xuống và đi xuống, một số còn chưa bao giờ được khám phá.”

“Rất dễ bị lạc,” Alec nói.

“Đúng đấy và chuyên đó đã xảy ra. Có hai hoặc ba lối dẫn ra khỏi Bụng rắn và không được rào đường lên hoặc xuống, vì chúng được coi là quá nhỏ để bận tâm.”

“Chỉ có điều chúng không quá nhỏ đối với cặp song sinh,” Ralph đoán.

“Chính xác đấy, anh nói đúng rồi. Carl và Calvin Jamieson. Hai đứa nhỏ đã tự chuốc lấy rắc rối. Chúng đã ở cùng nhóm khi họ đi vào Bụng rắn, ngay sau bố mẹ chúng ở cuối hàng, nhưng chúng lại không có trong đoàn khi đi ra. Bố mẹ chúng... Chà, tôi không cần phải cho các vị biết họ đã cảm thấy thế nào, phải không? Chổng tôi không phải là người dẫn đầu nhóm mà gia đình Jamieson đi cùng, song ông ấy đã có mặt trong nhóm tìm kiếm hai đứa nhỏ. Tôi đoán là ông ấy đã đảm nhiệm chức vụ trưởng đoàn, mặc dù tôi không có cách nào để biết chính xác.”

“Mấy đứa con trai của ông ấy cũng tham gia phải không?” Howie hỏi. “Anh em họ của Claude ấy?”

“Có chứ. Bọn chúng đã làm việc bán thời gian tại Hố, và chạy ngay đến khi nghe tin. Rất nhiều người đã đến, vì tin tức lan như cháy rừng. Lúc đầu, có vẻ như chuyên đó không quá nghiêm trọng. Họ có thể nghe thấy tiếng gọi của các cậu bé từ tất cả các lối dẫn ra khỏi Bụng rắn, và họ biết chính xác lối mà chúng đi vào, bởi vi khi một trong những hướng dẫn viên soi đèn, anh ta đã nhìn thấy hình tù trưởng Ahiga bằng nhựa nhỏ mà Jamieson đã mua cho một trong hai đứa nhỏ từ cửa hàng quà tặng. Nó đã rơi ra khỏi túi khi đứa nhỏ bò. Như tôi đã nói, họ có thể nghe thấy tiếng chúng gào thét, nhưng không người lớn nào có thể chui lọt vào cái lỗ đó. Thậm chí không thể với tới chỗ món đồ chơi. Họ thét gọi bọn trẻ đi về phía tiếng họ và hỏi chúng liệu có phải không có chỗ để quay đầu hỗ trợ không. Họ chiếu đèn vào và vẫy đèn loang loáng, lúc đầu có vẻ như bọn trẻ đã tiến lại gần hơn, nhưng sau đó giọng của chúng bắt đầu nhỏ dần, và nhỏ dần, cho đến khi im bặt. Chúng không bao giờ trở lại nơi chúng bắt đâu.”

“Thứ tiếng vọng chết tiệt,” Yune nói.

Sí, senor. Vậy nên Roger mới nói rằng họ nên đi vòng qua phía Ahiga, nơi mà anh ấy đã biết khá rõ sau nhiều lần thám hiểm của mình. Khi đến đó, họ lại nghe thấy tiếng hai đứa nhỏ lần nữa, rõ như ban ngày, tiếng khóc và tiếng la hét, vì vầy họ lấy dây và đèn từ nhà thiết bị và đi vào để đưa chúng ra ngoài. Có vẻ như đó là điều đúng đắn, nhưng thay vào đó, nó lại là dấu chấm hết với họ.”

“Chuyện gì đã xảy ra thế?” Yune hỏi. “Bà có biết? Có ai biết không?”

“Chà, như tôi đã nói, nơi đó là một mê cung chết tiệt. Họ để lại một người đàn ông phụ trách thả và buộc dây phòng khi họ cần. Đó là Ev Brinkley. Anh ta đã rời thị trấn ngay sau đó. Đến Austin. Anh ta đã tan nát cõi lòng... nhưng ít nhất là còn sống, và có thể đón ánh nắng mặt trời. Những người khác...” Lovie thở dài. “Không ai còn nhìn thấy ánh sáng mặt trời nữa.”

Ralph nghĩ về điều đó - sự kinh hoàng của nó - và nhìn thấy điều mà mình đang cảm nhận trên gương mặt của những người khác.

“Ev đang thả chừng 30 mét cuối cùng của sợi dây thừng không thắt nút thi nghe thấy tiếng gì đó giống như tiếng một quả bom anh đào mà một đứa trẻ thả nổ trong một cái bồn cầu đóng nắp. Điều chắc hẳn đã xảy ra là một tên ngốc chết tiệt nào đó đã bắn súng lục, hy vọng làm dấu dẫn để các cậu bé có thể tìm đường về phía nhóm giải cứu, và đã tạo ra một vụ sụt lở đá. Roger không phải là người làm điều đó, tôi cá cả ngàn đô-la là ông ấy đã không làm vậy. Rog già là một kẻ ngốc nghếch trong nhiều vấn đề, đặc biệt là với những con chó đó, nhưng không ngu đến mức nã súng vào hang động, nơi mà đạn nảy có thể văng trúng bất cứ đâu.”

“Hoặc nơi tiếng động có thể làm sập một mảng nóc hang,” Alec nói. “Kiểu như một phát súng có thể khơi ra một trận tuyết lở ở vùng cao.”

“Vì vậy, họ đã bị nghiền nát,” Ralph nói.

Lovie thở dài và đặt lại ống thở của mình, thứ đã bị lệch. “Không. Bị nghiên nát đã tốt. Ít nhất thì cái chết sẽ đến nhanh chóng. Nhưng những người trong hang động lớn - Phòng Âm thanh - vẫn có thể nghe thấy tiếng kêu cứu của họ, giống như những cậu bé lạc đó. Lúc đó đã có sáu mươi hay bảy mươi người đàn ông và phụ nữ ở ngoài rồi, háo hức chờ được làm bất cứ điều gì họ có thể. George nhà tôi đã phải ở đó - suy cho cùng anh trai và những đứa chấu của ông ấy cũng nằm trong số những người bị mắc kẹt - và cuối cùng tôi đã từ bỏ việc giữ ông ấy ở nhà. Tôi đã đi cùng ông ấy, để đảm bảo rằng ông ấy không làm gì đó ngu ngốc như cố gắng lao vào đó. Làm thế chắc chắn sẽ khiến ông ấy bỏ mạng.”

“Và khi tai nạn này xảy ra,” Ralph nói, “Claude đang ở trường giáo dưỡng?”

“Tôi nhớ người ta gọi đó là Trường Đào tạo Gatesville, nhưng đúng vậy, nó là một trường giáo dưỡng.”

Holly lấy một cuốn sổ màu vàng ra từ túi xách của mình, và đang cúi xuống để ghi chép.

“Lúc tôi và George đến Hố, trời đã tối. Chỗ đậu xe rất rộng nhưng gần như kín hết. Họ đã lắp những ngọn đèn lớn trên các cột trụ, và rất nhiều xe tải cũng như các nhóm người tụ tập xung quanh, giống như họ đang sản xuất một bộ phim Hollywood vậy. Họ đi vào qua lối Ahiga, mang theo đèn pin công suất lớn, đội mũ lưỡi trai và áo khoác béo. Họ lần theo sợi dây đến chỗ sạt lở. Một chặng đường dài, qua cả những chỗ nước đọng. Đá sập khá tệ. Họ đã phải mất cả đêm đó và nửa buổi sáng hôm sau để dọn chỗ đủ để mọi người có thể đi qua. Đến lúc đó, những người trong hang động lớn không còn nghe thấy tiếng gọi của những người đã mất tích nữa.”

“Nhóm của chồng bác đã không chờ đợi sự giải cứu từ phía bên kia thì phải,” Yune nói.

“Không, họ đã đi. Roger hoặc một trong những người khác có thể đã nghĩ mình biết đường quay trở lại hang động lớn, hoặc họ sợ một phần trần hang sẽ sạt lở tiếp. Tôi không biết chắc là thế nào. Nhưng họ đã để lại dấu vết, ít nhất là lúc đầu; những vạch trên tường, rác trên sàn, tiền xu và ghim giấy. Một người đàn ông thâm chí còn để lại thẻ chơi bowling của mình từ Tippit Lanes. Thêm một cú sập nữa và rồi anh ta trượt dây luôn. Đó là báo chí cho biết như thế.”

“Giống như Hansel và Gretel, bỏ lại những mảnh vụn bánh mì,” Alec trầm ngâm.

“Sau đó mọi thứ cứ thế dừng lại,” Lovie nói. “Ngay giữa một phòng trưng bày. Những dấu vết, những đồng xu thả rơi, những quả bóng bằng giấy. Cứ thế dừng lại.”

Giống như những dấu chần trong câu chuyện cửa Bill Samuels , Ralph nghĩ.

“Đội cứu hộ thứ hai tiếp tục đảm nhiệm việc tìm kiếm sau đó, gọi điện và soi đèn pin của họ, nhưng không ai đáp lại. Người phóng viên phụ trách vụ này cho tờ của Austin đã phỏng vấn một loạt người từ nhóm giải cứu thứ hai và tất cả họ đều nói cùng một điều - có quá nhiều con đường để lựa chọn, tất cả đều đi xuống, một số dẫn đến các ngõ cụt và một số dẫn đến các ống khói tối như hũ nút. Họ được cho là không nên kêu la vì sợ làm sạt lở lần nữa, nhưng rồi một người trong số họ đã hét lên, và không bàn cãi gì nữa, một phần trần hang đã rơi xuống. Đó là lúc họ quyết định tốt hơn hết là nên thoát khỏi địa ngục này.”

“Chắc chắn họ không từ bỏ việc tìm kiếm sau một lần thử,” Howie nói.

“Không, tất nhiên là không.” Bà lấy một lon Coca khác ra khỏi thùng lạnh, mở nắp và uống một hơi hết nửa lon. “Tôi ít khi nói chuyện nhiều thế này, khô hết cả họng.” Bà kiểm tra bình oxy của mình. “Gần hết bình này rồi, nhưng còn bình nữa trong phòng tắm, để cùng đám đồ dùng y tế chết tiệt của tôi, nêu ai đó muốn giúp tôi.”

Alec Pelley đảm nhận nhiệm vụ này, và Ralph cảm thấy nhẹ nhõm khi bà ấy không cố châm một điếu thuốc khi ông ấy đổi bình. Khi oxy được nối trở lại, bà tiếp tục câu chuyện.

“Đã có hàng chục đội tìm kiếm đi vào đó suốt nhiều năm, cho đến khi xảy ra vụ động đất vào năm 2007. Sau này, việc đó được coi là quá nguy hiểm. Nó chỉ ba hoặc bốn độ Richter, nhưng các hang động rất mỏng manh, các vị biết đấy. Phòng Âm thanh vẫn ổn dù thạch nhũ đã rụng đẩy xuống sàn. Tuy nhiên, một số nơi khác đã bị sập. Chỗ Phòng trưng bày nghệ thuật là một trong số đó. Sau vụ động đất, Hố Marysville đã bị đóng cửa. Lối vào chính bị chặn lại, và tôi tin rằng Ahiga cũng vậy.”

Sự im lặng bao trùm lên họ. Ralph không biết những người khác nghĩ gì song anh đang nghĩ về cái chết từ từ dưới lòng đất, trong bóng tối, cảm giác ấy hẳn phải kinh khủng lắm. Anh không muốn nghĩ về điều đó, nhưng không thể không nghĩ.

Lovie nói, “Mọi người biết Roger từng nói gì với tôi không? Chừng sáu tháng trước khi ông ấy chết. Ông ấy nói rằng Hố Marysville có thể dẫn xuống tân địa ngục. Và điều đó khiến nó trở thành nơi mà kẻ dị biệt sẽ cảm thấy như ở nhà, mọi người có nghĩ vậy không?”

“Đừng nói lời nào về chuyện này khi Claude trở lại,” Holly nói.

“Ồ, nó biết đấy,” Lovie nói. “Đó là những người thần của nó. Nó không quan tầm đến anh em họ của mình nhiều - chúng lớn tuổi hơn và thường bắt nạt thằng bé nhiều lắm - nhưng chúng vẫn là máu mủ của nhau.”

Holly mỉm cười, nhưng đôi mắt không ánh lên sự rạng rỡ. “Tôi chắc chắn là anh ấy biết nhưng anh ấy không biết chúng tôi biết. Vì thế chuyện này phải được giữ bí mật.”

❊ 11 ❊

Lovie, giờ trông có vẻ mệt mỏi và kiệt sức, nói rằng nhà bếp quá nhỏ để bảy người có thể ngồi ăn uống thoải mái, vì vậy họ sẽ phải mang đồ ăn ra ngoài, ở nơi mà bà gọi là vọng lầu (gaze-bo). Bà nói với họ (đẩy tự hào) rằng Claude đã tự dựng nơi đó cho bà, với một bộ đồ nghề mà anh ta mua từ Home Depot.

“Lúc đầu có thể hơi nóng, nhưng thời điểm này trong ngày thường có gió, và ở đây có cả lưới chống côn trùng.”

Holly gợi ý rằng bà nên nằm nghỉ và để mọi người sắp xếp bữa tối bên ngoài.

“Nhưng các vị không biết đồ dùng được để ở đâu!”

“Đừng lo lắng về điều đó,” Holly nói. “Tìm kiếm mọi thứ là việc tôi làm để kiếm sống, bà biết mà. Và những quý ông này sẽ giúp đỡ tôi, tôi chắc chắn đấy.”

Lovie nhượng bộ và lăn xe về phòng ngủ của mình, nơi họ nghe thấy tiếng bà rên lên đau đớn, tiếp theo đó là tiếng sột soạt của chiếc ga trải giường.

Ralph bước ra hiên trước nhà để gọi cho Jeannie, và cô trả lời ngay từ hồi chuông đầu tiên. “Nhà E.T. xin nghe,” cô vui vẻ nói.

“Mọi thứ ở nhà ổn thỏa chứ?”

“Ngoại trừ cái tivi. Ramage và Yates đang xem NASCAR. Em đoán là họ cá cược, nhưng có một điều chắc chắn là họ đã ăn tất cả số bánh hạnh nhân.”

“Anh rất tiếc khi nghe điều đó.”

“À, Betsy Riggins cũng mang em bé qua chơi. Em không nói với cô ấy, nhưng thằng bé trông khá giống Winston Churchill.”

“Uh-huh. Nghe này, anh nghĩ Troy hoặc Tom nên ở lại qua đêm.”

“Em nghĩ là cả hai người họ đều nên ở lại. Ở trong nhà với em luôn. Bọn em có thể âu yếm. Thậm chí là làm tình nữa cơ.”

“Thật là một ý kiến hay. Đừng quên chụp lại ảnh nhé.” Một chiếc ô tô đang trở vào nhà; Claude Bolton, từ Tippit trở về, mang theo bữa tối gồm các món gà của họ. “Đừng quên khóa cửa và đặt báo trộm.”

“Khóa với chống trộm có giúp ích gì vào tối hôm trước đâu anh.”

“Hãy làm thế để khiến anh an lòng.” Ngay lúc đó, người đàn ông trông giống hệt vị khách không mời đã xuất hiện ở nhà anh hôm trước đang bước ra khỏi xe ô tô của anh ta, và nhìn anh khiến Ralph có cảm giác kỳ lạ như nhìn thấy hai người.

“Được rồi. Anh đã phát hiện ra điều gì chưa?”

“Khó nói lắm.” Đây là sự thật; Ralph nghĩ họ đã phát hiện ra rất nhiều điều, nhưng không có gì tốt đẹp cả. “Anh sẽ gọi cho em sau, giờ anh phải đi đã.”

“Được rồi, anh cẩn thận nhé.”

“Anh biết rồi. Yêu em.”

“Em cũng yêu anh. Và em thật sự rất nghiêm túc: hãy cẩn thận đấy.”

Anh bước xuống thềm hiên để giúp Claude mang nửa tá túi ni lông từ Highway Heaven vào nhà.

“Đồ ăn nguội hết cả rồi, như tôi đã nói đấy. Nhưng bà ấy có nghe đâu? Trước đây cũng thế mà sau này cũng vậy.”

“Không thành vấn đề mà.”

“Gà hầm lại thường cứng. Tôi đã lấy khoai tầy nghiền, vì khoai tây chiên hâm nóng thì như đồ bỏ.”

Họ bắt đầu đi về phía ngôi nhà. Claude dừng lại dưới chân bậc thềm.

“Các vị nói chuyên với mẹ tôi ổn chứ?”

“Ổn,” Ralph nói, băn khoăn không biết nên giải quyết việc này như thế nào. Nhưng hóa ra Claude lại xử lý nó giúp anh.

“Đừng nói gì với tôi. Tên đó có thể đọc được suy nghĩ của tôi.”

“Vậy anh tin hắn có thật?” Ralph thực sự tò mò.

“Tôi tin vào điều mà cô gái đó tin. Cái cô Holly đó. Và tôi tin rằng có thể đã có ai đó ở quanh đây tối qua. Vì vậy, dù các vị nói gì, tôi cũng không muốn nghe đâu.”

“Có lẽ như thế là tốt nhất. Nhưng Claude này? Tôi nghĩ một người trong chúng tôi nên ở lại đầy với mẹ con anh đêm nay. Tôi nghĩ Trung úy Sablo có thể làm được điều đó.”

“Các anh nghĩ có rắc rối à? Bởi vì tôi không cảm thấy bất cứ điều gì lúc này ngoài cơn đói.”

“Chính xác thì không có gì rắc rối cả,” Ralph nói. “Tôi chỉ nghĩ rằng nếu có điều gì đó tồi tệ xảy ra quanh đây, và nếu tình cờ có một nhân chứng nói rằng người đã làm điều đó trông rất giống Claude Bolton, anh có thể sẽ muốn có một cảnh sát sẵn sàng làm chứng rằng anh không hề rời nhà của mẹ anh.”

Claude cân nhắc một chút. “Đó không phải là một ý tưởng tồi. Chỉ có điều, chúng tôi không có phòng cho khách, hoặc bất cứ chỗ nào tương tự thế. Ghế dài có thể làm giường, nhưng nếu tỉnh giấc lúc nửa đêm và không thể ngủ lại, mẹ tôi sẽ ra phòng khách xem tivi. Bà thích những nhà thuyết giáo vô giá trị luôn tìm cách xin xỏ những món quà nhần danh tình yêu.” Mắt anh ta đột nhiên sáng lên. “Nhưng có một tấm nệm dự phòng ở lối vào phía sau, và đó sẽ là một đêm ấm áp. Tôi đoán anh ấy có thể cắm trại ở bên ngoài.”

“Ở vọng lâu?”

Claude cười toe toét. “Đúng! Tôi đã tự dựng nó đấy.”

❊ 12 ❊

Holly hâm lại món gà bằng lò nướng trong năm phút, và nó giòn tan. Bảy người họ dùng bữa ở vọng lâu - có một lối dẫn xuống dành cho xe lăn của Lovie - và cuộc trò chuyện diễn ra rôm rả và vui vẻ. Claude hóa ra là một người khá lém lỉnh, kể những câu chuyện về sự nghiệp đầy màu sắc của mình với tư cách là một “nhân viên an ninh” tại Gentlemen, Please . Những câu chuyện thật hài hước, nhưng không ác ý hay màu mè, và không ai cười nhiều trước những câu chuyện đó hơn mẹ của Claude. Bà cười đến nỗi ho sặc sụa khi Howie kể câu chuyện về việc một trong những khách hàng của ông ta, trong nỗ lực nhằm chứng minh rằng ông ta không đủ năng lực tinh thần để hầu tòa, đã tụt quần và vẫy quần trước mặt thẩm phán.

Lý do cho chuyến đi của họ đến Marysville không được để cập đến.

Lovie vừa nằm nghỉ được lúc thì bữa tối diễn ra, và khi họ ăn xong, bà nói sẽ về giường. “Nhiều món còn chẳng hết,” bà nói, “để sáng mai tôi xử. Tôi có thể làm việc đó ngay trên xe lăn, các vị biết đấy, dù tôi phải cẩn thận với cái bình dưỡng khí chết tiệt này.” Bà quay sang Yune. “Cháu có chắc là sẽ ổn khi ở đây không, sĩ quan Sablo? Điều gì sẽ xảy ra nếu ai đó đến quấy nhiễu như đêm qua?”

“Cháu được trang bị đầy đủ vũ khí, thưa bác,” Yune nói, “và ngoài kia là chỗ ngủ tuyệt đấy.”

“Được rồi, cháu có thể vào nhà bất cứ lúc nào. Tẩm quá nửa đêm, gió có thể thổi lồng lộng. Cửa sau sẽ được khóa, nhưng chìa khóa để ở dưới olla de barro đó.” Bà chỉ vào chiếc nồi đất cũ, sau đó bắt chéo hai tay lên trên khuôn ngực đáng ngưỡng mộ của mình và cúi đầu một chút. “Các vị thật tốt, tôi cảm ơn các vị vì đã đến đây và giúp con trai tôi.” Nói đoạn, bà xoay xe rời đi. Sáu người họ ngồi lại lâu hơn một chút.

“Đó là một người đàn bà tử tế,” Alec nói.

“Đúng thế,” Holly nói. “Bà ấy là người tốt.”

Claude châm một điếu Tiparillo. “Cảnh sát đứng về phía tôi,” anh ta nói. “Thật là một trải nghiêm mới mẻ. Tôi thích thế.”

Holly nói, “Có Walmart ở Plainville không, anh Bolton? Tôi cần đi mua sắm và tôi rất thích Walmart.”

“Không, và như thế thật tốt, vì mẹ tôi cũng thích mua sắm, nếu có thì sao tôi có thể kéo bà ấy ra khỏi đó được. Nhưng có Home Depot ở Tippit.”

“Nên thế,” cô nói, đoạn đứng dậy. “Chúng tôi sẽ xử sạch đám đồ ăn này để Lovie không phải dọn đồ ăn thừa vào buổi sáng rồi sẽ lên đường ngay. Ngày mai chúng tối sẽ quay lại để đón trung úy Sablo, sau đó lên đường trở về nhà. Tôi nghĩ rằng chúng tôi đã làm tất cả những gì có thể làm ở đây. Anh có đồng ý thế không, Ralph?”

Đôi mắt cô cho anh biết phải nói gì, và anh đã nói điều đó.

“Đúng thế.”

“Anh Gold? Anh Pelley?”

“Chúng tôi cũng nghĩ vậy,” Howie nói.

Alec cũng tỏ ý đồng thuận. “Chắc chắn rồi.”

❊ 13 ❊

Dù họ trở vào nhà chỉ mười lăm phút sau khi bà Lovie cáo lui, nhưng họ đã có thể nghe thấy tiếng ngáy như sấm rền phát ra từ phòng ngủ của bà. Yune xả đẩy nước vào bồn rửa, xắn tay áo và bắt đầu rửa đổ. Ralph sấy khô; Holly cất vào tủ. Trời vẫn sáng và Claude trở ra ngoài cùng Howie và Alec, đi lòng vòng quanh nhà để tìm kiếm bất kỳ dấu hiệu nào của kẻ đột nhập đêm trước... nếu có.

“Tôi vẫn ổn ngay cả khi để súng ở nhà,” Yune nói. “Tôi phải đi qua phòng ngủ của bà Bolton để vào phòng tắm, nơi đặt bình oxy của bà ấy, và bà ấy là người bắn súng rất giỏi. Có một chiếc Ruger American mười cộng một viên trên tủ đựng quần áo, thêm một băng đạn bên cạnh và một khẩu Remington cỡ 12 dựng trong góc, ngay bên cạnh chiếc Electrolux. Không biết Claudie già có cái gì, nhưng tôi chắc chắn rằng anh ta cũng có gì đó.”

“Chẳng phải anh ta có tiền án sao?” Holly hỏi.

“Đúng vậy,” Ralph đồng ý, “nhưng đây là Texas. Và anh ta đã cải tà quy chính rồi mà.”

“Đúng thế,” cô nói. “Chắc vậy nhỉ?”

“Tôi cũng nghĩ vậy,” Yune nói. “Có vẻ như anh ta đã thay đổi hoàn toàn. Tôi đã từng thấy điều đó trước đây khi mọi người gia nhập AA hoặc NA. Nếu đúng thế thì thật là một phép màu. Tuy nhiên, kẻ dị biệt có lẽ đã không thể chọn một khuôn mặt đẹp hơn để che giấu thân phận, ý anh là vậy à? Với tiền án mua bán các chất ma túy, chưa kể đến quá khứ băng đảng liên quan đến Satans Seven, ai sẽ tin anh ta nếu anh ta nói rằng anh ta đang bị vu oan?”

“Không ai tin Terry Maitland,” Ralph nói một cách nặng nề, “và Terry vô tội.”

❊ 14 ❊

Khi họ đến Home Depot, trời đã chạng vạng, và họ trở về Nhà nghỉ Thổ dân lúc 9 giờ tối (Jack Hoskins đã quan sát thấy hết, một lần nữa liếc nhìn qua những tấm rèm phòng và đưa tay lên sờ gáy một cách ám ảnh).

Họ mang đồ mua được vào phòng của Ralph và rải chúng ra giường: năm chiếc đèn pin uv ngắn (có pin dự phòng) và năm chiếc mũ lưỡi trai màu vàng.

Howie cầm một trong những chiếc đèn pin lên và nhăn mặt trước ánh sáng tím chói mắt. “Thứ này thực sự sẽ phát hiện ra dấu vết của hắn? Dấu chân hắn để lại?”

“Chắc chắn, nếu có,” Holly nói.

“Hừ.” Howie thả chiếc đèn pin xuống giường, cầm một trong những chiếc mũ bảo hộ và đội lên đầu rồi đi đến chiếc gương trên tủ trang điểm để ngắm nghía. “Tôi trông thật nực cười,” ông nói.

Ai cũng đồng tình.

“Chúng ta thực sự sẽ làm điều này à? Cố gắng , ít nhất là thế? Nhân tiện, đó không phải là một câu hỏi tu từ. Tôi đang cố hiểu điều đó như một sự thật hiển nhiên.”

“Tôi nghĩ chúng ta sẽ gặp khó khăn nếu muốn thuyết phục Đội tuần tra Xa lộ Texas tham gia,” Alec nói nhẹ nhàng. “Chính xác thi chúng ta sẽ nói với họ điều gì? Rằng chúng ta nghĩ có một con quái vật đang ẩn náu ở Hố Marysville?”

“Nếu chúng ta không làm thế,” Holly nói, “hắn sẽ giết thêm nhiều trẻ em hơn. Hắn sống nhờ vào điều đó.”

Howie quay sang cô, gần như buộc tội. “Làm sao chúng ta vào được đó? Bà già nói nó được rào chặt hơn đồ lót của một nữ tu. Và ngay cả khi chúng ta làm được vậy, thì làm gì có dây? Home Depot không bán dây thừng sao? Họ phải bán chứ.”

“Chúng ta không cần bất kỳ thứ gi,” cô nói khẽ. “Nếu hắn ở đó - và tôi gần như chắc chắn rằng hắn ở đó — hắn sẽ không vào sâu. Thứ nhất, hắn sợ lạc hoặc bị kẹt trong một hang động. Nữa là, tôi nghĩ rằng hắn yếu. Hắn đang ở giai đoạn ngủ đông trong chu kỳ của mình, và hắn đang phải gắng sức.”

“Bằng cách phản chiếu?” Ralph hỏi. “Cô tin vây à?”

“Đúng thế. Những gì Grace Maitland đã thấy, những gì vợ anh thấy... Tôi tin rằng đó là những phản chiếu. Tôi nghĩ rằng một phần nhỏ cơ thể thể lý của hắn ở đó, đó là lý do tại sao có dấu vết trong phòng khách nhà anh, tại sao hắn có thể di chuyển ghế và bật đèn bếp, nhưng không đủ để có thể để lại dấu vết rõ rệt trên thảm mới. Làm điều đó khiến hắn mệt. Tôi nghĩ hắn có thể đã xuất hiện hoàn toàn bằng xương bằng thịt chỉ một lần duy nhất, tại tòa án vào ngày Terry Maitland bị bắn. Bởi hắn đói, và biết rằng sẽ có nhiều thứ để ăn ở đó.”

“Hắn đã ở đó bằng xương bằng thịt nhưng không xuất hiện trên bất kỳ băng ghi hình nào?” Howie hỏi. “Giống như một ma cà rồng không phản chiếu trong gương?”

Ông nói như thể mong cô phản bác, nhưng cô đã không làm vậy. “Chính xác.”

“Vậy cô nghĩ hắn là siêu nhiên. Một sinh vật siêu nhiên.”

“Tôi không biết hắn là gì.”

Howie tháo mũ bảo hộ ra và ném nó lên giường. “Phỏng đoán. Cô chỉ làm được vậy.”

Holly trông có vẻ bị tổn thương trước câu nói đó, và không biết trả lời như thế nào. Dường như cô không nhận ra những gì Ralph đã nhìn thấy, và chắc chắn là cả những gì Alec đã nhìn thấy nữa: Howard Gold đang hoảng sợ. Nếu điều này đúng là thế, sẽ không có thẩm phán nào mà ông ta có thể phản đối cả. Ông ta không thể yêu cầu một vụ án sai.

Ralph nói, “Tôi vẫn khó có thể chấp nhận chuyện El Cuco hoặc kẻ biến đổi hình dạng, nhưng chắc chắn có một kẻ dị biệt, và giờ tôi chấp nhân điều đó. Vì những dây mơ rễ má ở Ohio, và vì Terry Maitland không thể ở hai nơi cùng một lúc.”

“Kẻ dị biệt đã mắc kẹt ở đó,” Alec nói. “Hắn không biết Terry sẽ tham dự hội nghị đó ở thành phố Cap. Hầu hết những vật tế thần mà hẳn lựa chọn sẽ giống như Heath Holmes, với chứng cứ ngoại phạm mỏng như tờ giấy.”

“Điều đó không hợp lý,” Ralph nói.

Alec nhướng mày.

“Nếu hắn có... Của Terry. Tôi không biết phải nói thế nào. Kỷ niệm, chắc chắn, nhưng không chỉ là kỷ niệm. Một loại...”

“Một loại bản đồ địa hình về ý thức của anh ta,” Holly nói khẽ.

“Được rồi, hãy gọi như vậy đi,” Ralph nói. “Tôi có thể chấp nhận rằng có những thứ mà hắn có thể đã bỏ lỡ, như kiểu người đọc nhanh bỏ lỡ nội dung khi họ đang đọc, nhưng hội nghị đó quá quan trọng đối với Terry.”

“Vậy thì tại sao cuco vẫn...” Alec lên tiếng.

“Có lẽ hắn phải làm vậy.” Holly nhặt một trong những chiếc đèn pin UV lên và chiếu nó lên tường, nơi nó phát hiện ra ngay một dấu tay ma quái từ người ở đây trước. Đó là điều mà Ralph có thể làm mà không cần nhìn. “Có lẽ hắn đã quá đói để chờ một thời điểm tốt đẹp hơn.”

“Hoặc có thể hắn chẳng màng quan tâm,” Ralph nói. “Những kẻ giết người hàng loạt thường đi đến điểm đó, thường là ngay trước khi chúng bị bắt. Bundy, Speck, Gacy... Cuối cùng tất cả bắt đầu tin rằng chúng có thể bất tuân luật lệ. Giống như Chúa trời. Chúng trở nên kiêu ngạo và quá khích. Và kẻ dị biệt này đã không quá khích đến mức đó phải không? Hãy suy nghĩ về điều đó. Chúng ta định luận tội Terry và chứng kiến anh ta bị đưa ra xét xử vì tội giết Frank Peterson bất chấp tất cả những gì chúng ta đã biết. Chúng ta tin chắc rằng bằng chứng ngoại phạm của anh ta phải là không có thật, cho dù nó có mạnh đến đâu.”

Và một phần trong tôi vẫn muốn tin vào điều đó. Phương án thay thế đã khiến mọi thứ tôi nghĩ mình hiểu vê thế giới mà tồi đang sống bị đảo lộn hoàn toàn.

Anh cảm thấy người chộn rộn và bụng dạ nôn nao. Làm sao một người đàn ông bình thường ở thế kỷ XXI lại có thể chấp nhận một con quái vật biến hình? Nếu bạn tin vào kẻ dị biệt theo ý Holly Gibney, El Cuco của cô ấy, thì mọi thứ đều đã được đặt sẵn trên bàn rồi. Vũ trụ vô cùng.

“Hắn không còn kiêu ngạo nữa,” Holly nói nhỏ. “Hắn đã quen với việc ở một nơi trong nhiều tháng sau khi giết người và trong khi chờ thay đổi. Hắn chỉ ra ngoài khi thay đổi đó hoàn tất, hoặc gần hoàn tất. Tôi tin là thế, dựa trên những gì tôi đã đọc và những gì tôi đã nắm được ở Ohio. Nhưng khuôn mẫu thông thường của hắn đã bị phá vỡ. Hắn phải bỏ chạy khỏi thành phố Flint khi cậu bé đó phát hiện ra hắn đang ở trong nhà kho đó. Hắn biết cảnh sát sẽ đến. Vì vậy, hắn đã xuống đây sớm, để ở gần Claude Bolton, và hắn đã tìm thấy một ngôi nhà hoàn hảo.”

“Hố Marysville,” Alec nói.

Holly gật đầu. “Nhưng hắn không biết chúng ta biết. Đó là lợi thế của chúng ta. Claude biết chú và các anh em họ của anh ta được chôn cất ở đó. Điều mà Claude không biết là kẻ dị biệt ngủ đông trong hoặc gần những nơi có người chết, tốt nhất là những nơi có liên quan đến huyết thống của người mà hẳn đang thay đổi thành hoặc thoát xác khỏi. Tôi chắc chắn rằng sự việc diễn ra như thế. Nó phải diễn ra như thế.”

Bởi vì cô muốn nó như thế , Ralph nghĩ. Tuy nhiên, anh không thể tìm thấy bất kỳ lỗ hổng nào trong lập luân của cô. Nếu thế nghĩa là bản thân anh đã chấp nhân định để cơ bản về một sinh vật siêu nhiên phải tuân theo những quy tắc nhất định, có thể phi truyền thống, có thể là do mệnh lệnh nào đó mà không ai trong số họ có thể hiểu được.

“Chúng ta có thể chắc chắn rằng Lovie sẽ khống nói với anh ta chứ?” Alec hỏi.

“Tôi nghĩ vậy,” Ralph nói. “Bà ấy sẽ giữ im lặng vi lợi ích của con mình.”

Howie nhặt lấy một trong những chiếc đèn pin và chiếu vào chiếc máy điều hòa không khí đang kêu vo vo, lần này nhìn thấy một loạt dấu vân tay phát sáng màu quang phổ. Ông tắt nó đi rồi nói, “Nếu hắn có đồng phạm thì sao? Hãy nói cho tôi nghe điều đó. Bá tước Dracula có gã Renheld. Tiến sĩ Frankenstein có thằng gù, Igor...”

Holly nói, “Đó là một quan niệm sai lầm phổ biến. Trong bộ phim Frankenstein gốc, trợ lý của bác sĩ thực sự tên là Fritz, do Dwight Frye thủ vai. Sau đó, Bela Lugosi..

“Tôi đồng ý,” Howie nói,” nhưng câu hỏi vẫn là: Điều gì sẽ xảy ra nêu kẻ dị biệt đó có đồng phạm? Ai đó ra lệnh cho hắn theo dõi chúng ta? Điều đó chẳng phải hợp lý sao? Ngay cả khi kẻ dị biệt không biết chúng ta đã tìm hiểu được về Hố Marysville, hắn vẫn biết chúng ta đang ở quá gần đến mức khiến hắn không thoải mái.”

“Tôi hiểu ý anh, Howie,” Alec nói, “nhưng đám giết người hàng loạt thường hành động đơn thương độc mã, và những kẻ trốn tránh được lâu nhất là những kẻ nay đây mai đó. Có những trường hợp ngoại lệ, nhưng tôi không nghĩ hắn là một trong số đó. Hắn lao từ Dayton xuống thành phố Flint. Nếu anh lật ngược lại tìm hắn từ Ohio, anh có thể tim thấy những đứa trẻ bị sát hại ở Tampa, Florida hoặc Portland, Maine. Người châu Phi từng nói: Nếu muốn đi nhanh nhất, hãy đi một mình. Và thực tế mà nói, hắn có thể thuê ai làm một công việc như vậy?”

“Tào lao,” Howie nói.

“Được rồi,” Ralph nói, “nhưng từ đâu? Có phải hắn cứ bốc bừa một người không?”

“Thôi được,” Howie nói. “Hắn có một mình, chỉ thu mình lại ở Hố Marysville, chờ chúng ta đến và bắt hắn. Kéo hắn ra dưới ánh mặt trời hoặc găm đạn vào tim hắn hoặc cả hai.”

“Trong cuốn tiểu thuyết của Stoker,” Holly nói, “họ đã chặt đầu Dracula khi bắt được hắn và nhét đẩy tỏi vào miệng hắn”.

Howie ném đèn pin xuống giường và giơ hai tay lên. “Cũng ổn. Chúng ta sẽ ghé qua Shopwell và mua một ít tỏi. Thêm một máy xay thịt, vì chúng ta đã không mua cưa sắt khi đến Home Depot.”

Ralph nói, “Găm một viên vào đầu hắn là đẹp.”

Họ im lặng xem xét điều này một lúc, sau đó Howie nói rằng ông ta sẽ đi ngủ. “Nhưng trước khi làm vậy, tôi muốn biết kế hoạch cho ngày mai là gì.”

Ralph chờ Holly giải thích cho Howie về điểm này, nhưng thay vào đó, cô lại nhìn Ralph. Anh giật mình và cảm động trước những quầng mắt và các đường nhăn khóe miệng cô. Bản thân Ralph cũng mệt mỏi, anh cho rằng tất cả đều vậy, nhưng Holly Gibney đã kiệt sức, thứ duy nhất chống đỡ được cô lúc này là nghị lực kiên cường. Và với bản chất khép kín, anh đoán rằng đối với cô chuyện này giống như chạy trên gai nhọn. Hoặc vụn kính.

“Trước 9 giờ thì không,” Ralph nói. “Tất cả chúng ta cần ngủ ít nhất 8 tiếng, nhiều hơn nếu có thể. Sau đó, chúng ta sẽ dọn đổ, trả phòng và đến nhà Bolton để đón Yune. Từ đó chúng ta sẽ đến Hố Marysville.”

“Anh nhẩm rồi, nếu chúng ta muốn Claude nghĩ rằng chúng ta đang bay về nhà,” Alec nói. “Anh ta sẽ thắc mắc tại sao chúng ta không quay trở lại Plainville.”

“Được rồi, chúng ta sẽ bảo với Claude và Lovie rằng chúng ta phải đến Tippit trước vì... mmm, tôi không biết, chúng ta có thêm một số đồ cần mua tại Home Depot?”

“Không thuyết phục mấy,” Howie nói.

Alec hỏi, “Tên cảnh sát bang đã đến nói chuyện với Claude là ai nhỉ? Anh còn nhớ không?”

Ralph không nhớ nhưng anh lưu các ghi chú án trên iPad của mình. Thói quen là thói quen ngay cả khi đang đuổi theo ông kẹ. “Tên anh ta là Owen Sipe. Hạ sĩ Owen Sipe.”

“Được rồi. Anh hãy nói với Claude và mẹ của anh ta - như đang nói với kẻ dị biệt, nếu hắn thực sự có thể tiếp cận tâm trí Claude -rằng anh nhận được cuộc gọi từ hạ sĩ Sipe nói rằng một người đàn ông gần giống với mô tả về Claude đang bị truy nã ở Tippit để thẩm vấn trong một vụ cướp hoặc trộm xe hoặc có thể là một cuộc đột nhập nhà. Yune có thể xác mình rằng Claude đã ở nhà cả đêm...”

“Không thể nếu anh ấy ngủ ngoài vọng lâu,” Ralph nói.

“Anh đang nói với tôi rằng anh ấy sẽ không nghe thấy Claude khởi động xe của mình? Một thứ cần một bộ giảm thanh mới từ cách đây hai năm ư?”

Ralph mỉm cười. “Chính xác.”

“Được rồi, anh nói chúng ta sẽ đến Tippit để kiểm tra và nếu không tim được tin gì, chúng ta sẽ bay trở lại thành phố Flint. Nghe ổn chứ?”

“Ổn,” Ralph nói. “Hãy chắc chắn rằng Claude không nhìn thấy đèn pin và mũ bảo hộ.”

❊ 15 ❊

Chừng 11 giờ, khi đang nằm trên chiếc giường ọp ẹp trong phòng, Ralph biết rằng anh nên tắt đền và không làm gì cả. Anh gọi cho Jeannie và nói chuyện phiếm với cô chừng nửa giờ, chủ yếu là về vụ án, thứ nữa là về Derek, hầu hết đều là chuyên tầm phào. Sau đó, anh thử xem tivi, nghĩ rằng một trong những nhà thuyết giáo đêm muộn của Lovie Bolton có thể ru anh ngủ - hoặc ít nhất là xoa dịu những suy nghĩ đang chạy rần rần trong đầu anh - nhưng tất cả những gì anh nhận được khi bật tivi lên chỉ là dòng thông báo VỆ TINH CỦA CHÚNG TÔI HIỆN ĐANG TRỤC TRẶC, CẢM ƠN sự KIÊN NHẪN CỦA QUÝ KHÁCH.

Anh đang với tay tắt đèn thì có tiếng gõ cửa nhẹ. Anh đi ra phía cửa, đưa tay nắm núm cửa, suy nghĩ tích cực hơn về điều đó và nhòm qua lỗ mắt mèo. Hóa ra anh chẳng thể nhìn thấy gì, cái lỗ bị bụi bít kín.

“Ai thế?”

“Tôi,” Holly nói. Giọng cô ấy nhỏ như tiếng gõ cửa.

Anh mở cửa. Chiếc áo phông không được đóng thùng, chiếc áo vest khoác hờ cho bớt lạnh lúc khuya, xộc xệch một bên trông đến buồn cười. Mái tóc ngắn màu xám của cô bay trong gió. Cô đang cầm chiếc iPad của mình. Ralph chợt nhận ra mình chỉ đang mặc độc chiếc quần đùi, với chiếc khóa không cúc chắc chắn đang hơi há ra. Anh nhớ khi còn nhỏ, người ta thường nói rằng: Ai cho phép anh bán xúc xích?

“Tôi đánh thức anh à,” cô nói.

“Không đâu, cô vào đi.”

Cô ngập ngừng rồi bước vào phòng, ngồi lên chiếc ghế đơn trong khi anh mặc quần dài vào.

“Cô cần ngủ một giấc, Holly. Trông cô rất mệt mỏi đấy.”

“Tôi mệt. Nhưng đôi khi dường như càng mệt, tôi càng khó ngủ. Đặc biệt nếu tôi lo lắng và bồn chốn.”

“Cô thử dùng Ambien không?”

“Chống chỉ định cho người đang dùng thuốc chống trầm cảm.”

“Tôi hiểu rồi.”

“Tôi đã tìm hiểu một chút. Đôi khi như thế giúp tôi dễ ngủ. Tôi bắt đầu tìm kiếm những câu chuyện trên báo liên quan đến thảm kịch mà mẹ của Claude đã kể cho chúng ta. Có rất nhiều tin, và rất nhiều suy luận. Tôi nghĩ anh có thể thích nghe.”

“Nó giúp ích cho chúng ta chứ?”

“Tôi nghĩ là có.”

“Vậy thì tôi muốn nghe đấy.”

Anh di chuyển về phía giường, còn Holly ngồi trên mép ghế, hai đầu gối chụm vào nhau.

“Được rồi. Lovie cứ nói về phía Ahiga, và bà ấy nói rằng một trong hai đứa trẻ nhà Jamieson đã đánh rơi một tù trưởng Ahiga bằng nhựa ở đó.” Cô mở iPad của mình. “Cái này được chụp vào năm 1888.”

Bức ảnh có tông màu nâu đỏ chụp một người đàn ông Mỹ bản địa có vẻ ngoài quý tộc. Ông ta đang đội một chiếc khăn trùm đầu buông dài đến nửa lưng.

“Trong một thời gian, vị tù trưởng này đã sống với một nhóm nhỏ người Navajo tại khu bảo tồn Tigua gần E1 Paso, sau đó kết hôn với một phụ nữ da trắng và chuyển đến Austin, nơi ông ta bị đối xử tệ bạc, sau đó đến Marysville, nơi ông ta được chấp nhận là thành viên của cộng đồng sau khi cắt tóc và tuyên xưng đức tin Cơ đốc của mình. Vợ ông ta có một chút tiền, và họ đã mở Bưu điện Thương mại Marysville. Mà sau này trở thành Nhà nghỉ kiêm quán cà phê Thổ dân.”

“Ngôi nhà thân yêu,” Ralph nói, nhìn quanh căn phòng tồi tàn.

“Đủng thế. Đây là tù trưởng Ahiga vào năm 1926, hai năm trước khi ông ta qua đời. Sau này ông ta đã đổi tên thành Thomas Higgins.” Cô chỉ cho anh xem bức ảnh thứ hai.

“Chết tiệt!” Ralph thốt lên. “Tôi muốn nói rằng ông ta là người bản địa, nhưng cái này trông như thể ngược lại.”

Vẫn là khuôn mặt quý tộc ấy, nhưng giờ đây gò má đối diện với máy ảnh hằn sầu những nếp nhăn và chiếc khăn trùm đầu đã không còn nữa. Cựu thủ lĩnh Navajo đeo kính không gọng, mặc áo sơ mi trắng và thắt cà vạt.

Holly cho biết, “Ngoài việc điều hành cơ sở kinh doanh thành công duy nhất ở Marysville, chính Giám đốc Ahiga, hay còn gọi là Thomas Higgins, là người đã phát hiện ra Hố và điều hành các chuyến tham quan đầu tiên. Chúng khá nổi tiếng.”

“Nhưng cái hang được đặt theo tên thị trấn thay vì tên ông ta,” Ralph nói. “Sao vậy? Ông ta có thể là một người theo đạo Cơ đốc và là một doanh nhân thành đạt, nhưng ông ta vẫn là một người da đỏ đối với cộng đồng ở đây. Tuy nhiên, tôi đoán người dân địa phương đối xử với ông ta tốt hơn những người theo đạo Thiên chúa ở Austin. Phải vinh danh họ vì điều đó. Tiếp tục nào.”

Cô cho anh xem một bức ảnh khác chụp một tâm biển bằng gỗ với phiên bản vẽ tù trưởng Ahiga trong chiếc khăn trùm đầu của ông ta, và bên dưới là dòng chữ NHỮNG HÌNH VẼ TƯỢNG HÌNH ĐẸP NHẤT THEO LỐI NÀY. Cô dùng các ngón tay để phóng to hình, và Ralph có thể nhìn thấy một con đường dẫn qua những tảng đá.

“Hang động được đặt theo tên thị trấn,” cô nói, “nhưng ít nhất vị tù trưởng cũng có thứ gì đó - lối vào Ahiga, kém hào nhoáng hơn nhiều so với Phòng Âm thanh, nhưng có liên hệ trực tiếp với nó. Ahiga là nơi các nhân viên mang đồ đến và đó là lối thoát trong trường hợp khẩn cấp.”

“Đó là nơi mà các đội cứu hộ đã đi vào, hy vọng tim thấy một con đường thay thế đưa họ đến chỗ những đứa trẻ?”

“Chính xác.” Cô nghiêng người về phía trước, mắt sáng rực. “Lối vào chính không chỉ bị bịt lại, Ralph, nó đã được xây bít lại. Họ không muốn mất thêm đứa trẻ nào nữa. Lối vào Ahiga - cửa sau - cũng đã được rào lại, nhưng không có bài báo nào tôi đọc nói gì về việc nó được bịt bằng xi măng.”

“Điều đó không có nghĩa là nó không bị bịt.”

Cô gật đầu một cách thiếu kiên nhẫn. “Tôi biết, nhưng nếu nó không...”

“Thì đó là lối hắn đi vào. Kẻ dị biệt. Đó là ý của cô.”

“Chúng ta nên đến đó trước, và nếu có dâu hiệu đột nhập...”

“Tôi hiểu rồi,” anh nói, “và nó nghe có vẻ giống một kế hoạch. Tốt. Cô đúng là một thám tử tuyệt vời đấy, Holly.”

Cô cảm ơn anh với đôi mắt cụp xuống, và bằng giọng ngập ngừng của một người phụ nữ không biết phải làm gì với những lời khen ngợi. “Anh thật tử tế khi nói điều đó.”

“Đó không phải sự tử tế. Cô giỏi hơn cả Betsy Riggins và hơn nhiều so với một gã vô dụng có tên là Jack Hoskins. Ông ta sẽ sớm nghỉ hưu và nếu tôi là người được quyết định, cô sẽ là lựa chọn thay thế.”

Holly lắc đầu, nhưng cô mỉm cười. “Đối với tôi, những kẻ lần trốn, những con chó bị lạc là quá đủ rồi. Tôi không bao giờ muốn trở thành một phần của một cuộc điều tra giết người nào khác.”

Anh đứng dậy. “Cô nên về phòng và chợp mắt đi. Nếu cô nói đúng, ngày mai sẽ bận đấy.”

“Chờ chút. Tôi đến đây còn vì một lý do khác nữa. Anh ngồi xuống đã.”

❊ 16 ❊

Dù cô đã mạnh mẽ hơn nhiều so với cái ngày cô có may mắn lớn được gặp Bill Hodges, nhưng Holly không quen bảo mọi người rằng họ phải thay đổi hành vi của mình, hoặc rằng họ đã sai toét rồi. Cô của ngày xưa ấy từng là một con chuột sợ hãi, hoảng sợ, đôi khi còn nghĩ rằng tự tử có thể là giải pháp tốt nhất cho những cảm giác kinh hoàng, hụt hẫng và nỗi xấu hổ liên tu bất tận của cô. Cảm giác của cô vào cái ngày mà Bill ngồi xuống cạnh cô sau phòng tang lễ mà cô không thể tự mình bước vào, là cảm giác rằng cô đã mất đĩ một thứ gì đó quan trọng; không phải là một chiếc ví hay một chiếc thẻ tín dụng, mà là cuộc sống mà cô có thể làm chủ nếu mọi thứ chỉ khác đi một chút, hoặc nếu Chúa thấy Người nên thêm một chút hóa chất quan trọng nào đó vào hệ thống của cô.

Tôi nghĩ cô đã đánh mất điều này , Bill từng nói, mà không hẳn đã nói huỵch toẹt ra như thế. Đây, tốt hơn hết hãy cất nó vào túi của cô.

Bây giờ Bill đã chết, nhưng đổi lại là người đàn ông này, người giống Bill về nhiều mặt: trí thông minh, sự hài hước thường trực và trên tất cả là sự ngoan cố. Cô chắc chắn Bill sẽ thích anh ta, bởi thám tử Ralph Anderson cũng tin tưởng vào việc theo đuổi vụ án.

Nhưng họ cũng có những điểm khác biệt, không chỉ ở việc anh ta trẻ hơn Bill ngày qua đời chừng ba mươi tuổi. Việc Ralph đã phạm một sai lầm khủng khiếp khi bắt Terry Maitland trước công chúng, trước khi anh ta hiểu được các khía cạnh thực sự của vụ án, là một trong những điểm khác biệt đó, nhưng có lẽ không phải là quan trọng nhất, cho dù nó có ám ảnh anh ta đến nhường nào.

Chúa ơi, hãy giúp con nói vời anh ta những gì con cần nói, bởi đây là cơ hội duy nhất mà con có. Và hãy để anh ta nghe con. Xin Chúa cho anh ta nghe con.

Cô nói, “Mỗi khi anh và những người khác nói về kẻ dị biệt, nó chỉ là giả định.”

“Tôi không chắc mình hiểu ý cô, cô Holly.”

“Tôi nghĩ anh hiểu. Nếu hắn tồn tại. Giả sử hắn tồn tại.

Ralph im lặng.

“Tôi không quan tầm đến những người khác, nhưng tôi cần anh tin, Ralph. Tôi cần anh tin tôi. Tôi tin, nhưng tôi là không đủ.”

“Holly...”

“Không,” cô nói một cách quyết liệt. “ Không. Hãy lắng nghe tôi. Tôi biết điều này thật điên rồ. Nhưng liệu ý tưởng về El Cuco có khó lý giải hơn một số điều khủng khiếp đã xảy ra trên thế giới không? Không phải thiên tai hay tai nạn, tôi đang nói về những điều mà một số người gây ra cho người khác. Chẳng phải Ted Bundy cũng là một phiên bản El Cuco , một kẻ thay đổi hình dạng với một khuôn mặt trước những người hắn biết và một khuôn mặt khác trước những người phụ nữ mà hắn giết? Điều cuối cùng những người phụ nữ đó nhìn thấy là khuôn mặt khác của hắn, khuôn mặt bên trong của hắn, khuôn mặt của El Cuco . Còn những người khác nữa. Họ sống giữa chúng ta. Anh biết họ làm thế. Họ là người ngoài hành tinh. Quái vật nằm ngoài tầm hiểu biết của chúng ta. Tuy nhiên, anh tin họ. Anh đã bắt một số người, có thể thấy họ bị hành quyết.”

Anh im lặng, suy nghĩ về điều này.

“Hãy để tôi hỏi anh một câu,” cô nói. “Giả sử Terry Maitland đã giết đứa trẻ đó, xé xác nó và cắm một cành cầy vào hậu môn nó thi sao? Liệu anh ta có khó giải thích hơn thứ có thể đang ẩn náu trong hang động đó không? Anh có thể nói Tôi hiểu góc tối và cái ác đang ấn sau lốp mặt nạ của vị huấn luyện viên thể thao đội trẻ và công dân gương mẫu ấy. Tôi biết chính xác điều gì đã khiến anh ta làm thế không?

“Không. Tôi đã bắt những gã làm những điều khủng khiếp — cả một phụ nữ đã dìm chết đứa con gái nhỏ của mình trong bồn tắm - và tôi chưa bao giờ hiểu được hành động của họ. Chính họ cũng chẳng thể hiểu nổi.”

“Tôi không hiểu tại sao Brady Hartsheld lại tự sát tại một buổi hòa nhạc và định đưa hàng nghìn đứa trẻ vô tội theo hắn. Điều tôi yêu cầu anh làm rất đơn giản. Hãy tin vào điều này. Chỉ cần trong hai mươi bốn giờ tới thôi. Anh có thể làm được điều đó không?”

“Cô sẽ chợp mắt nếu tôi đồng ý chứ?”

Cô gật đầu, mắt không rời anh.

“Vậy thì tôi tin. Ít nhất trong hai mươi bốn giờ tới, tôi tin El Cuco có tổn tại. Cho dù hắn có đang ở trong Hố Marysville hay không, hắn vẫn tồn tại.”

Holly thở phào và đứng dậy, vuốt ngược tóc ra sau, áo khoác vest buông thõng một bên, áo sơ mi không sơ vin. Ralph nghĩ cô trông vừa đáng yêu vừa mong manh khủng khiếp. “Tốt rồi. Tôi đi ngủ đây.”

Anh tiễn cô ra cửa và mở cửa. Khi cô bước ra, anh nói, “Vũ trụ vô cùng.”

Cô nghiêm nghị nhìn anh. “Đúng thế. Những thứ điên rồ cũng vô cùng. Chúc ngủ ngon, Ralph.”

« Lùi
Tiến »