Kẻ Song Trùng

Lượt đọc: 4269 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NHỮNG DẤU CHÂN VÀ QUẢ DƯA VÀNG
ngày 16 tháng 7
1

Vì Ralph đã không kể với Jeannie về nỗi ngờ vực chất chồng trong lòng anh liên quan đốn công tố viên Hạt Flint - rằng rất có thể anh ta đã muốn chứng kiến một đám đông đẩy giận dữ xuất hiện tại tòa án - nên cô để Bill Samuels vào khi anh ta xuất hiện trước ngưỡng nhà Anderson vào tối thứ Tư, nhưng cô cũng nói rõ rằng cô sẽ không giúp ích được nhiều cho anh ta.

“Anh ấy ở sau nhà,” cô nói, quay người trở lại phòng khách, nơi Alex Trebek đang dẫn dắt những người chơi Jeopardy qua từng cầu đố. “Anh biết lối mà.”

Samuels, tối nay mặc quần jean, đi giày thể thao và áo phông trơn màu xám, đứng ở sảnh một lúc rồi dợm bước theo cô. Trước tivi đặt hai chiếc ghế bành, một chiếc lớn, một chiếc nhỏ hơn chỉ ngồi vừa một người. Anh ta nhấc điều khiển từ chiếc bàn đặt giữa hai ghế lên và tắt tiếng. Jeannie tiếp tục nhìn vào tivi, những người chơi hiện đang dò dẫm để vượt qua một phần có tên là Nhân vật phản diện trong văn học. Câu trả lời trên màn hình là Bà ta cần cái đầu củaAlice.

“Đó là một câu dễ,” Samuels nói. “Nữ hoàng Đỏ. Anh ấy thế nào, Jeannie?”

“Anh nghĩ anh ấy thế nào?”

“Tôi rất tiếc vì chuyện đã xảy ra.”

“Con trai chúng tôi phát hiện ra bố mình đã bị đình chỉ công tác,” cô nói, vẫn nhìn vào tivi. “Tin tức trên Internet. Tất nhiên, thằng bé

rất buồn vì điều đó, nhưng cũng buồn vì huấn luyện viên yêu thích của mình bị bắn hạ trước tòa án. Thằng bé muốn về nhà. Tôi đã bảo thằng bé cứ suy nghĩ thêm vài ngày xem có đổi ý không. Tôi không muốn cho thằng bé biết sự thật rằng chính bố nó vẫn chưa sẵn sàng gặp nó.”

“Anh ấy vẫn chưa bị đình chỉ. Anh ấy chỉ đang nghỉ phép thôi. Có lương. Và đó là quy định mỗi khi xảy ra một sự cố nổ súng.”

“Đâu chẳng giống nhau.” Bây giờ câu trả lời trên màn hình là Cô y tá này rất đáng ghét . “Anh ấy bảo anh ấy có thể sẽ nghỉ việc tới sáu tháng và đó là nếu anh ấy đồng ý đánh giá tâm lý bắt buộc.”

“Tại sao lại không chứ?”

“Anh ấy đang định nghỉ hẳn.”

Samuels đưa tay lên đỉnh đầu, nhưng tối nay nhúm tóc bò liếm vẫn vểnh lên — ít nhất là cho đến giờ — và anh ta lại vuốt nó xuống một lần nữa. “Nếu thế thi có lẽ chúng ta có thể kinh doanh cùng nhau. Thị trấn này cần một tiệm rửa xe xịn xò.”

Bây giờ đến lượt cô nhìn anh ta. “Anh đang nói gì thế?”

“Tôi đã quyết định không tái tranh cử.”

Cô ưu ái tặng anh ta một nụ cười nhẹ như gió thoảng mà có lẽ đến mẹ cô cũng chẳng nhận ra. “Rút lui trước khi bị loại à?”

“Cô nghĩ sao thì tùy,” anh ta nói.

“Tôi biết,” Jeannie nói. “Quay lại việc chính thôi, ngài ủy viên công tố, và cứ thoải mái để xuất hợp tác nhé. Nhưng anh nên sẵn sàng cho trường hợp bị từ chối.”

2

Ralph đang ngồi trên ghế làm vườn với cốc bia trên tay và thùng làm mát Styroíòam bên cạnh. Anh liếc quanh khi cửa nhà bếp đóng sẩm, nhìn thấy Samuels, rồi lại đưa mắt nhìn một cây tầm ma ngay bên kia hàng rào sau nhà.

“Trèo cây đầu nâu*,” anh nói và chỉ tay. “Lầu lắm rồi tôi chưa thấy con nào.”

Tên một loài chim.

Không có chiếc ghế làm vườn nào nữa, vì vậy Samuels ngồi xuống băng ghế dài của chiếc bàn ăn ngoài trời. Anh ta đã ngồi đầy vài lần trước đây, trong những hoàn cảnh vui vẻ hơn. Anh ta nhìn về phía cái cầy. “Tôi không thấy nó.”

“Nó bay rồi,” Ralph nói, khi một chú chim nhỏ tung cánh bay vù đi.

“Tôi nghĩ đó là một con sẻ.”

“Đã đến lúc anh nên đi kiểm tra mắt rồi đấy.” Ralph thò tay vào thùng làm mát và lấy một lon Shiner đưa cho Samuels.

“Jeannie bảo anh đang định nghỉ hưu.”

Ralph nhún vai.

“Nếu anh lo vụ đánh giá tâm lý, anh sẽ qua thôi. Anh đã làm những gì cần làm mà.”

“Không đúng. Không đúng chút nào, kể cả với người quay phim đó. Anh biết anh ta chứ? Khi viên đạn bắn trúng máy ảnh của anh ta - viên đầu tiên tôi bắn - các mảnh vỡ đã văng khắp nơi. Găm cả vào mắt anh ta.”

Samuels biết, nhưng vẫn im lặng và nhấp một ngụm bia, dù chẳng ưa gì loại Shiner này.

“Anh ta có thể sẽ hỏng mắt)” Ralph nói. “Các bác sĩ tại Dean McGee ở thành phố Okie đang cố gắng cứu vãn, nhưng quả thực anh ta có thể sẽ bị chột mắt. Anh nghĩ quay phim mà bị chột mắt thì có làm được không? Có thể có hoặc có thể là không bao giờ nữa?”

“Ralph, ai đó đã đâm sẩm vào anh khi anh nổ súng mà. Và nghe đây, nếu anh ta không giơ máy quay sát mặt thì anh ta có thể đã đi tong rồi. Còn may chán.”

“Ừ, và một đống may mắn chết tiệt. Tôi đã gọi điện cho vợ anh ta để xin lỗi, và cô ta đã nói Chúng tôi sẽ kiện Sở Cảnh sát Thành phố Flint để đòi mười triệu đô-la, và nếu thắng thì sẽ đến lượt anh đấy. Sau đó cô ta cúp máy luôn.”

“Còn khướt. Peterson có súng, và anh đang thi hành nhiệm vụ của mình mà thôi.”

“Gã quay phim đó cũng đang thực hiện nhiệm vụ của anh ta.”

“Không giống nhau. Anh ta có lựa chọn.”

“Không, Bill à.” Ralph xoay người trên ghế. “Anh ta làm việc . Và đó là một con trèo cây đầu nâu, chết tiệt thật.”

“Ralph, giờ anh phải nghe tôi. Maitland đã giết Frank Peterson. Anh trai của Peterson đã giết Maitland. Hầu hết mọi người coi đó là nợ máu trả máu, là luật rừng, và tại sao không chứ? Bang này đâu có xa rừng lắm.”

“Terry nói hắn không làm điều đó. Đó là lời khai lúc hấp hối của hắn.”

Samuels đứng dậy và bắt đầu đi đi lại lại. “Hắn còn có thể nói gì nữa khi vợ hắn quỳ ngay bên cạnh và khóc đến khô mắt? Hắn sẽ nói, Ồ vâng, đúng rồi, tôi đã hiếp đứa trẻ và xé xác nó — việc nào tnỉỗc không quan trọng — và xuất tinh ra ngoài để đảm bảo an toàn ư?”

“Có rất nhiều bằng chứng chứng minh cho điều Terry đã nói lúc hấp hối.”

Samuels tiến về phía Ralph và đứng nhìn xuống anh. “ADN chết tiệt của hắn có trong mẫu tinh dịch, và ADN nói lên tất cả. Terry đã giết thằng bé. Tôi không biết hắn đã dàn xếp những chỉ tiết còn lại như thế nào, nhưng hắn đã làm thế.”

“Anh đến đây để thuyết phục tôi hay chính anh?”

“Tôi không phải thuyết phục ai cả. Tôi chỉ đến để nói với anh rằng bây giờ chúng ta đã biết ai là người đầu tiên đánh cắp chiếc xe van Econoline màu trắng đó.”

“Lúc này điều đó có quan trọng không?” Ralph hỏi, nhưng Samuels cuối cùng cũng nhìn thấy được tia quan tâm le lói trong mắt của anh.

“Nếu anh đang hỏi liệu nó có làm sáng tỏ mớ hỗn độn này hay không, thì không. Nhưng nó hấp dẫn. Anh có muốn nghe hay không?”

“Chắc chắn rồi.”

“Nó đã bị đánh cắp bởi một cậu bé mười hai tuổi.”

Mười hai? Đùa tôi à?”

“Không, và thằng bé đã rong ruổi nhiều tháng trên đường. Đến tân E1 Paso trước khi bị một cảnh sát bắt được ở bãi đậu xe Walmart, ngủ trong một chiếc Buick cũng là xe đánh cắp. Thằng nhóc đã đánh cắp tổng cộng bốn chiếc xe, nhưng chiếc xe van là chiếc đầu tiên. Nó đã lái xe đến tân Ohio trước khi bỏ chiếc xe lại đó và chuyển sang một chiếc khác. Để lại chìa khóa trong ổ, đúng như chúng ta nghĩ.” Anh ta nói ra điều này với một chút tự hào, và Ralph cho rằng anh ta có quyền làm thế; thật tuyệt khi ít nhất một trong những giả thuyết họ đặt ra đã được chứng minh là đúng.

“Nhưng chúng ta vẫn không biết bằng cách nào mà chiếc xe lại tới được tận đây, phải không?” Ralph hỏi. Tuy nhiên, có điều gì đó đang khiến anh phân vân. Một chỉ tiết nhỏ nào đó.

“Không hề,” Samuels nói. “Chỉ hơi mất mạch một chút nhưng giờ thi rõ rồi. Tôi nghĩ anh muốn biết.”

“Đúng thế.”

Samuels uống một ngụm bia, sau đó đặt lon lên bàn. “Tôi sẽ không tái tranh cử.”

“Không á?”

“Không. Hãy để tên khốn lười biếng Richmond làm việc đó, và xem mọi người thích hắn thế nào khi hắn từ chối truy tố 80% các vụ án được trình lên bàn làm việc của hắn. Tôi đã nói chuyện này với vợ anh, và cô ấy không hề tỏ vẻ cảm thông.”

“Nếu anh nghĩ tôi đã nói với cô ấy rằng mọi chuyên tất cả là lỗi của anh, Bill ạ, anh nhầm rồi. Tôi đã không nói một lời nào chống lại anh. Tại sao tôi phải làm thế? Bắt giữ Terry giữa trận bóng chết tiệt ấy là ý tưởng của tôi, và khi nói chuyên với đội đánh giá tâm lý vào thứ Sáu, tôi sẽ nói rõ điều đó.”

“Tôi không mong đợi gì hơn.”

“Nhưng như tôi có thể đã nói, chính xác thì anh đâu có cố can tồi làm thế đâu.”

“Chúng ta đều tin hắn có tội. Tôi vẫn tin hắn có tội, dù có lời khai lúc hấp hối hay không. Chúng ta đã không kiểm tra chứng cứ ngoại phạm vì hắn quen biết tất cả mọi người trong thị trấn chết tiệt này và chúng ta sợ rằng sẽ rút dây động rừng...”

“Hơn nữa, chúng ta cũng không để ý đến điểm đó, và mắc lỗi về.”

“Được rồi, bỏ quách điểm nọ kia của anh đi. Chúng ta cũng tin rằng hắn ta cực kỳ nguy hiểm, đặc biệt là đối với những cậu bé, và vào tối thứ Bảy tuần trước, bọn trẻ đã bu quanh hắn.”

“Chúng ta nên đưa hắn đi vào qua lối cửa sau ở tòa án,” Ralph nói. “Tôi nên cương quyết mới phải.”

Samuels lắc đầu nguầy nguậy, đủ để khiến nhúm tóc bung ra và vểnh lên gây chú ý. “Đừng nhận lỗi về mình. Di chuyên từ nhà tù hạt sang tòa án là phạm vi quản lý của cảnh sát trưởng hạt. Không phải của thành phố.”

“Doolin sẽ nghe tôi.” Ralph thả chiếc lon rỗng trở lại thùng lạnh và nhìn thẳng vào Samuels. “Và ông ấy cũng sẽ nghe anh. Tôi nghĩ anh biết điều đó.”

“Nước tràn qua đập. Hoặc dưới gẩm cầu. Hay người ta ví von chuyện này thế quái nào cũng được. Chúng ta xong việc rồi. Tôi đoán vụ này có thể sẽ được lưu trong hồ sơ mở, nhưng...”

“Thuật ngữ chuyên môn là OBI (mở nhưng không hoạt động). Nó vẫn Sẽ như vậy ngay cả khi Marcy Maitland khởi kiện dân sự chống lại sở cảnh sát) tuyên bố chổng cô ấy bị giết do sơ suất của sở. Và đó là vụ kiện cô ấy có thể thắng.”

“Cô ấy nói sẽ làm thế?”

“Tôi không biết. Tôi vẫn chưa đủ can đảm để nói chuyện với cô ấy. Howie có thể sẽ biết cô ấy đang nghĩ gì.”

“Tôi sẽ nói chuyện với ông ta. Sẽ cố thật khéo.”

“Tối nay anh toàn nói câu hay đấy, anh cố vấn.”

Samuels nhặt lon bia của mình lên, sau đó đặt nó lại chỗ cũ với vẻ mặt nhăn nhó. Anh ta thấy Jeannie Anderson ở cửa sổ nhà bếp, đang nhìn họ. Cô chỉ đứng đó, khuôn mặt có biểu cảm rất khó hiểu. “Mẹ tôi từng đăng ký dài hạn tờ Fate (Định mệnh) .”

“Tôi cũng vậy,” Ralph nói đẩy tâm trạng, “nhưng sau những gì đã xảy ra với Terry, tôi không chắc lắm. Thằng nhóc Peterson đó không biết từ đâu mà ra. Từ hư không chăng?”

Samuels cười mỉm. “Tôi không nói về định mệnh, chỉ là một tạp chí nhỏ chuyên đăng các câu chuyện về ma, luân hồi, ƯFO và có Chúa mới biết là còn những gì khác nữa. Mẹ đã từng đọc cho tôi nghe một số câu chuyện trong đó khi tôi còn nhỏ. Có một câu chuyện đặc biệt cuốn hút tôi. Nó có tên là Dấu chân trên cát , kể về một cặp vợ chồng mới cưới đi hưởng tuần trăng mật ở sa mạc Mojave. Cắm trại, anh biết đấy. Chà, một đêm nọ, họ dựng căn lều nhỏ của mình dưới tán cây dương, và khi cô dâu mới thức dây vào sáng hôm sau, chồng cồ đã biến mất. Cô bủa ra ngoài, lao về nơi bãi cát bắt đầu, và nhìn thấy dấu chân của anh. Cố gọi anh nhưng không nhận được câu trả lời.”

Ralph tạo ra thứ âm thanh giống trong phim kinh dị: Ooooo-oooo .

“Cô ấy đã đi theo những dấu chân qua đụn cát đầu tiên, rồi đụn thứ hai. Các dấu chân cứ càng ngày càng mới hơn. Cô đã đi theo chúng qua đụn cát thứ ba...”

“Thứ tư, và thứ năm!” Ralph nói với giọng kính nể. “ Và cô ta vẫn đi tìm như thế cho đến ngầy nay! Bill, tôi không muốn ngắt lời anh, song tôi nghĩ tôi sẽ đi ăn một miếng bánh, đi tắm và đi ngủ.”

“Không, hãy nghe tôi kể nốt. Đụn cát thứ ba khá xa nơi cô ấy bắt đầu đi. Các dấu chân của chồng cô ấy được chừng nửa thi biến mất. Cô ấy không thấy gì nữa ngoài cát trắng phẳng lì xung quanh. Cô ấy không bao giờ gặp lại chồng mình nữa.”

“Và anh tin điều đó?”

“Không, tôi chắc đó là chuyện bịa, nhưng tin hay không không phải là vấn đề. Đó là một phép ẩn dụ.” Samuels cố vuốt phẳng nhúm tóc. Nhưng lần này nó không chịu nghe lời. “Chúng ta đã lần theo dấu vết của Terry , vì đó là công việc của chúng ta. Nhiệm vụ của chúng ta, nếu anh thích dùng từ đó hơn. Chúng ta đã lần theo chúng cho đến khi chúng dừng lại vào sáng thứ Hai. Có bí ẩn gì ở đây không? Có đó. Liệu có phải sẽ luôn có những câu hỏi không được trả lời không? Trừ khi có một mẩu thông tin mới và tuyệt vời nào đó lọt vào lòng chúng ta, nếu không thì chuyện sẽ như thế. Đôi khi điều đó vẫn xảy ra mà. Đó là lý do tại sao mọi người cứ hỏi mãi về những gì đã xảy ra với Jimmy Hoffa. Đó là lý do tại sao mọi người cứ tiếp tục cố gắng tìm hiểu những điều đã xảy ra với đoàn thủy thủ của tàu Mary Celeste . Đó là lý do tại sao mọi người cứ không ngừng tranh cãi về việc Oswald có hành động một mình khi bắn JFK không. Đôi khi những dấu vết sẽ cứ thế mà dừng lại, và chúng ta phải sống chung với điều đó.”

“Chẳng liên quan,” Ralph nói. “Người phụ nữ trong câu chuyện về những bước chân của anh có thể tin chồng mình vẫn còn sống ở đâu đó. Cô ta có thể giữ mãi niềm tin ấy cho đến khi già đi. Nhưng khi Marcy lần đến dấu chân cuối cùng của chồng mình, Terry đã ở ngay đó, chết trên vỉa hè. Cô ấy sẽ chôn cất hắn vào ngày mai, theo cáo phó trên tờ báo ngày hôm nay cho biết. Tôi tưởng tượng sẽ chỉ có cô ấy và hai đứa trẻ đơn độc. Cùng năm chục con kền kền đưa tin bên ngoài hàng rào, hét những câu hỏi về phía họ còn tay bấm máy liên tục.”

Samuels thở dài. “Đủ rồi. Tôi về nhà đây. Tôi đã nói với anh về đứa trẻ - nhân tiện, tên của nó là Merlin Cassidy - và tôi có thể thấy anh không muốn nghe bất cứ điều gì khác nữa.”

“Không, đợi đã, ngồi thêm chút nữa đi,” Ralph nói. “Anh đã nói với tôi một điều, bây giờ tôi sẽ cho anh biết một điều. Tuy nhiên, chuyện này không phải lấy từ một tạp chí tâm linh nào đó. Đây là kinh nghiệm cá nhân của tôi. Thật như đếm luôn.”

Samuels ngồi trở lại ghế.

“Hồi tôi còn bé,” Ralph nói, “mười hoặc mười một tuổi - chừng tuổi Frank Peterson bây giờ - mẹ tôi thi thoảng có mua dưa lưới vàng từ chợ nông sản nếu đang vào mùa dưa. Hồi đó tôi thích dưa lưới lắm. Chúng có vị thơm ngọt mà các loại dưa khác không thể có. Vì vậy, một ngày nọ, bà đã mang về nhà ba hoặc bốn quả đựng trong một chiếc túi lưới, và tôi hỏi bà liệu tôi có thể ăn một miếng không. Chắc chắn rồi , bà đã nói vậy. Chỉ cần con nhớ cạo hạt vào bồn rửa. Bà không thực sự cần phải nói với tôi điều đó, vì lúc đó tôi đã bổ đôi quả dưa ra rồi. Anh vẫn nghe chứ?”

“Uh-huh. Anh cắt vào tay à?”

“Không, nhưng mẹ tôi nghĩ vậy, vì tôi đã hét lên thất thanh đến nỗi hàng xóm cũng có thể nghe thấy. Bà ấy chạy đến, và tôi chỉ tay vào quả dưa, hai nửa nằm lăn lóc trên quẩy bếp. Nó đầy giòi và bọ. Y tôi là những con bọ đó đang quân, lấy nhau. Mẹ tôi lấy chai Raid và xịt vào đó. Sau đó, bà ấy lấy một chiếc khăn lau bát đĩa, gói hai nửa quả dưa và ném chúng vào thùng nước gạo sau nhà. Kể từ ngày đó, tôi không thể chịu nổi khi phải nhìn vào dù chỉ là một lát dưa vàng, chứ đừng nói tới việc ăn một miếng. Đó là phép ẩn dụ Terry Maitland của tôi , BilL Quả dưa trông vẫn ổn. Nó không nhũn. Vỏ còn nguyên vẹn. Những con bọ đó không thể nào chui vào bên trong, nhưng bằng cách nào đó chúng đã làm được.”

“Dẹp xừ quả dưa chết tiệt của anh đi,” Samuels nói, “và bỏ quách phép ẩn dụ của anh đi nữa. Tôi sẽ về nhà. Hãy nghĩ kỹ trước khi bỏ việc, Ralph, được không? Vợ của anh nói rằng tôi sẽ rút lui trước khi bị loại, và cô ấy có thể đã đúng, nhưng anh không cần phải đối mặt với những người bỏ phiếu, ơ thành phố này, chỉ cần ba cảnh sát nghỉ hưu là đã đủ trở thành cái cớ cho bộ phần Nội vụ rồi và bớt được ai thì thành phố sẽ lại có thêm tiền để chỉ cho những hoạt động tư nhân liên quan đến hỗ trợ cuộc sống. Và còn một điều khác nữa. Nếu anh từ bỏ, mọi người sẽ càng chắc chắn rằng chúng ta đã làm hỏng chuyện này.”

Ralph nhìn anh ta chằm chằm, rồi bắt đầu cười. Một tràng cười ha hả khiến bụng anh quặn lên. “Nhưng chúng ta đã làm hỏng chuyện thật mà! Anh không biết điều đó sao, Bill? Chúng ta đã làm hỏng chuyện đấy. Chính xác là thế. Chúng ta mua một quả dưa vàng có vẻ thơm ngon, nhưng khi chúng ta bổ nó ra trước mặt cả thị trấn, nó đẩy giòi. Không biết chúng vào đó bằng cách nào, nhưng chúng sờ sờ ra đó.”

Samuels lê bước về phía cửa bếp. Anh ta mở điện thoại, sau đó gập lại, nhúm tóc bò liếm lắc qua lại đến buồn cười. Anh ta chỉ vào cây tầm gai. “Đó là một con chim sẻ , chết tiệt!”

3

Quá nửa đêm (khoảng thời gian mà thành viên duy nhất còn sống của gia đình Peterson đang học cách làm thòng lọng treo cổ, theo hướng dẫn trên Wikipedia), Marcy Maitland bừng tỉnh vì tiếng la hét từ phòng ngủ của cô con gái lớn. Ban đầu đó là Grace - một người mẹ luôn nhận ra giọng của con họ — nhưng sau đó có thêm cả Sarah hét cùng, tạo ra một thứ âm thanh khủng khiếp. Đó là đêm đầu tiên mà các con cô không ngủ ở phòng bố mẹ, nhưng tất nhiên bọn trẻ vẫn quấn lấy nhau, và cô nghĩ chúng có thể làm vây trong thời gian tới. Việc đó ổn thôi.

Nhưng những tiếng la hét đó không ổn chút nào.

Marcy không nhớ mình đã lao xuống hành lang để tới phòng ngủ của Sarah như thế nào. Tất cả những gì cô nhớ được là mình đã bước ra khỏi giường, sau đó đứng bên trong cánh cửa đang mở ở phòng Sarah và nhìn các con cô, ngồi thẳng lưng trên giường và ôm ghì lấy nhau khi ánh trăng vằng vặc của đêm trăng tròn tháng Bảy tràn qua cửa sổ và phủ ánh sáng bàng bạc lên giường của chúng.

“Gì thế các con?” Marcy hỏi, nhìn xung quanh để tim kẻ đột nhập. Lúc đầu cô nghĩ hắn (chắc chắn là đàn ông) đang thu mình trong góc, nhưng đó chỉ là một đống quần áo cũ, áo phông và giày thể thao.

“Em ấy hét!” Sarah khóc. “G đã hét lên ạ! Em ấy nói rằng có một người đàn ông! Chúa ơi, mẹ ơi, em dọa con chết khiếp!”

Marcy ngồi lên giường, kéo cô con gái nhỏ ra khỏi vòng tay của Sarah và ôm Grace vào lòng. Cô bé vẫn đang dáo dác nhìn quanh. Hắn ở trong tủ quần áo? Có thể lắm, cánh cửa tủ đang khép. Hắn có thể làm thế khi nghe thấy tiếng bước chân cô. Hay trong gầm giường? Mọi nỗi sợ hãi thời thơ ấu tràn về trong khi cô chờ đợi một bàn tay thòng ra chộp lấy mắt cá chân của mình. Tay kia lăm lăm con dao.

“Grace? Gracie? Con đã nhìn thấy ai? Hắn ở đâu?”

Grace khóc nấc lên đến nỗi không thể trả lời, nhưng cô bé chỉ tay về phía cửa sổ.

Marcy đi đến đó, đầu gối của cô như muốn khuỵu xuống sau từng bước đi. Có phải cảnh sát vẫn còn đang theo dõi nhà họ không?

Howie nói họ sẽ ghé qua thường xuyên trong một thời gian nữa, nhưng điều đó không có nghĩa là họ ở đây mọi lúc, và hơn nữa, cửa sổ phòng ngủ của Sarah - tất cả các cửa sổ phòng ngủ của họ - đều nhìn ra sân sau hoặc sấn phụ, giữa nhà họ và nhà Gunderson. Nhưng người nhà Gunderson đã đi nghỉ mát rồi.

Cửa sổ khóa. Sân - từng ngọn cỏ dường như đều phủ một lớp ánh sáng bàng bạc dưới ánh trăng - không có người.

Cô trở lại giường, ngồi và vuốt mái tóc bết lại vì ướt đẫm mồ hôi của Grace. “Sarah? Con có nhìn thấy gì không?”

“Con...” Sarah ngẫm nghĩ. Cô bé vẫn ôm Grace, người đang thổn thức dựa vào vai chị của mình. “Không. Con đã nghĩ là mình có nhìn thấy, chỉ trong một giây thôi, nhưng đó là vì em cứ hét lên Người đàn ông, người đàn ông. Sự thật là không có ai ở đó cả.” Và rồi cô bé quay sang nói với Gracie, “Không có ai cả, G. Thật đấy.”

“Con đã gặp ác mộng, con yêu,” Marcy nói. Cô nghĩ, có lẽ là ác mộng đầu tiên trong nhiều ác mộng.

“Hắn đã ồ đó” Gracie thì thầm.

“Vậy thì chắc hẳn hắn đã lơ lửng,” Sarah nói, giọng tỉnh táo bất ngờ khi chính cô bé cũng vừa sợ mất mật chỉ vài phút trước đó. “Vì chúng ta đang ở trên tầng hai, em biết đấy.”

“Em không quan tâm. Em thấy hắn. Tóc hắn ngắn, đen và dựng đứng. Mặt hắn có nhiều bướu, giống như Play-Doh. Mắt hắn hình ống hút.”

“Chỉ là một cơn ác mộng thôi,” Sarah nói một cách hiển nhiên, như thể để kết lại cầu chuyện.

“Thôi nào, hai con,” Marcy nói, cố tỏ ra cứng rắn. “Các con sang ngủ với mẹ nhé.”

Chúng đi mà không phản đối, và năm phút sau khi cô đã ổn định chỗ nằm cho chúng, mỗi đứa một bên, cô bé Gracie mười tuổi đã chìm vào giấc ngủ trở lại.

“Mẹ?” Sarah thì thầm.

“Gì vây con yêu?”

“Con sợ đám tang của bố.”

“Mẹ cũng vậy.”

“Con không muốn đi và G cũng vây.”

“Cả ba chúng ta đều thế, con yêu. Nhưng chúng ta sẽ làm điều đó. Chúng ta sẽ dũng cảm. Đó là những gì bố con muốn.”

“Con nhớ bố lắm, con không thể nghĩ về bất cứ điều gì khác.”

Marcy hôn nhẹ nhàng vào hõm thái dương của Sarah. “Ngủ đi con.”

Sarah cuối cùng cũng chìm vào giấc ngủ. Marcy nằm thao thức giữa hai con gái, mắt trân trần nhìn lên trần nhà và nghĩ đến cảnh Grace quay ra cửa sổ trong một giấc mơ thực đến nỗi cô bé nghĩ mình đang thức.

Mắt hắn hình ống hút.

4

Hơn 3 giờ sáng (khoảng thời gian Fred Peterson đang lê bước ra sân sau với chiếc ghế đôn từ phòng khách trong tay trái và chiếc thòng lọng trên vai phải), Jeanette Anderson tỉnh giấc và cần đi tiểu. Bên kia giường trống trơn. Sau khi vệ sinh xong, cô xuống cầu thang và thấy Ralph đang ngồi trên chiếc ghế bành lớn, nhìn chằm chằm vào màn hình đen sì của chiếc tivi. Cô chăm chú nhìn anh và thấy anh đã gầy rộc đi kể từ khi phát hiện ra thi thể của Frank Peterson.

Cô nhẹ nhàng đặt tay lên vai anh.

Anh không ngoảnh lại. “Bill Samuels đã nói điều gì đó khiến anh khó chịu.”

“Gì cơ?”

“Chỉ có vậy thôi, anh không biết. Anh không nhớ nổi.”

“Có phải chuyện về cậu bé đã đánh cắp chiếc xe van không?”

Ralph đã kể cho cô nghe cuộc trò chuyện của anh với Samuels khi hai người họ yên vị trên giường trước khi tắt đèn, không phải bởi vì có bất kỳ chỉ tiết nào trong đó quan trọng, mà là vì việc một cậu bé mười hai tuổi đi cả một quãng đường dài từ New York đến E1 Paso bằng cách lái những chiếc xe ăn cắp thật sự quá đỗi kinh ngạc. Có thể tạp chí Fate không hay, nhưng vẫn khá ly kỹ. Thằng bé hắn phải hận bố dượng của nó lắm , Jeannie đã nói như vậy trước khi tắt đèn.

“Anh nghĩ ở đứa trẻ này có điều gì đó,” Ralph nói. “Và còn cả mảnh giấy trong chiếc xe van đó nữa. Anh định kiểm tra lại, nhưng lắm việc quá nên quên mất. Anh không nghĩ mình đã kể chuyện đó với em.”

Cô mỉm cười và vò rối mái tóc của anh - giống như cơ thể bên dưới bộ đồ ngủ - có vẻ đã mỏng hơn so với hồi mùa xuân. “Anh kể rồi. Anh đã nói nó có thể là một phần của thực đơn mang đi.”

“Anh khá chắc chắn rằng nó nằm trong đống bằng chứng.”

“Anh cũng nói với em điều đó rồi, anh yêu.”

“Ngày mai anh sẽ về sở và xem thử. Có lẽ chuyến đi này sẽ giúp anh hiểu hơn về những gì Bill đã nói.”

“Em nghĩ đó là một ý kiến hay. Đã đến lúc phải làm gì đó thay vì ngồi chờ rồi. Anh biết đấy, em đã đọc lại cuốn sách đó của Poe. Người kể chuyện kể rằng khi còn ở trường, anh ta là bá chủ. Nhưng sau đó có một cậu bé khác trùng tên xuất hiện.”

Ralph nắm lấy tay cô và hôn nhẹ lên đó. “Từ trước đến giờ anh vẫn thấy câu chuyện đó đáng tin. William Wilson có thể không phải là một cái tên phổ biến như Joe Smith, nhưng Zbigniew Brzezinski thì chắc chắn không rồi.”

“Đúng, nhưng sau đó người kể chuyên còn phát hiện ra họ trùng ngày sinh và mặc quần áo giống nhau nữa. Tệ nhất là họ trông cũng giống hệt nhau. Mọi người còn nhẩm cơ. Anh thấy quen không?”

“Có.”

“Chà, William Wilson Số Một tiếp tục gặp William Wilson Số Hai sau này ở nửa sau cuộc đời, và những cuộc gặp gỡ của họ luôn có kết cục tồi tệ đối với Số Một, người sa đà vào tội lỗi và đổ lỗi cho Số Hai. Anh có đang nghe không?”

“Nếu xét đến chuyên bây giờ là 3 giờ rưỡi sáng thì anh nghĩ mình đang làm rất tốt rồi.”

“Chà, cuối cùng, Willìam Wilson Số Một dùng kiếm đâm William Wilson Số Hai, chỉ khi nhìn vào gương, anh ta mới thấy mình bị đâm.”

“Bởi vì William Wilson Số Hai chưa bao giờ tồn tại, anh hiểu rồi.”

“Nhưng có thật mà. Rất nhiều người khác đã thấy Số Hai. Tuy nhiên, cuối cùng, William Wilson Số Một đã bị ảo giác và tự sát. Em đoán là vì anh ta không thể chịu đựng được việc mình có một kẻ song trùng.”

Cô nghĩ anh sẽ cười cô, nhưng thay vào đó anh lại gật đầu. “Được rồi, cầu chuyện thực sự rất có ý nghĩa. Tâm lý học xịn xò đấy. Đặc biệt là vào... gì nhỉ? Giữa thế kỷ XIX à?”

“Gần như thế. Hồi đại học, em đã tham gia một lớp American Gothic và chúng em đã đọc rất nhiều câu chuyện của Poe, bao gồm cả câu chuyên đó. Giáo sư của em cho hay mọi người từng tưởng nhẩm rằng Poe đã viết ra những câu chuyện kỳ ảo về thế giới siêu nhiên, trong khi thực sự thì ông ấy đã viết những câu chuyện thực tế về tâm lý bất thường.”

“Nhưng đó là trước khi có công nghệ tìm dấu vân tay và ADN,” Ralph mỉm cười nói. “Chúng ta đi ngủ thôi. Anh nghĩ bây giờ anh có thể ngủ được rồi.”

Nhưng cô ngăn anh lại. “Em sẽ hỏi anh một câu nữa, chồng yêu của em. Có lẽ vì đã muộn và chỉ có hai chúng ta thôi. Sẽ không có ai nghe thấy anh cười em, nhưng xin đừng cười vì như thế em sẽ buồn đấy.”

“Anh sẽ không cười.”

“Anh có thể sẽ cười đấy.”

“Anh hứa sẽ không.”

“Anh đã kể cho em nghe câu chuyện của Bill về những dấu chân dừng lại và cả câu chuyện của anh về những con giòi bằng cách nào đó đã chui vào quả dưa, nhưng cả hai đều là những câu chuyện ẩn dụ. Cũng như câu chuyện của Poe là một phép ẩn dụ cho cái tôi bị chia rẽ... hoặc như giáo sư của em nói vậy. Nhưng nếu anh bỏ đi những ẩn dụ, anh sẽ có gì?”

“Anh không biết.”

“Những điều không thể lý giải nổi,” cô nói. “Vì vậy, câu hỏi của em khá đơn giản. Điều gì sẽ xảy ra nếu câu trả lời duy nhất cho câu đố có hai Terry là siêu nhiên?”

Anh không cười. Anh không muôn cười. Đã quá khuya để cười rồi. Hoặc còn quá sớm để cười. Nghĩ kiểu gì cũng quá cả. “Anh không tin vào siêu nhiên. Không tin những bóng ma, thiên thần, cũng không tin vào thần tính của Chúa Jesus. Anh đến nhà thờ, chắc chắn rồi, nhưng chỉ vì đó là một nơi yên tĩnh để anh lắng lại thôi. Cũng vì đó là một thứ để kỹ vọng nữa. Anh biết đó cũng là lý do em đến đó. Hoặc vi Derek.”

“Em muốn tin vào Chúa,” cô nói, “vì em không muốn tin rằng chúng ta cứ thế kết thúc ở đây, mặc dù thỏa đáng - vì chúng ta đến từ bóng tối, nên trở về với bóng tối cũng dễ hiểu thôi. Nhưng em tin vào các vì sao, và sự vô tận của vũ trụ. Đó là bao la tuyệt diệu ngoài kia. ở đây, em tin có nhiều vũ trụ hơn trong mỗi nắm cát, bởi vô cực là mọt con đường hai chiều. Em tin có hàng tá suy nghĩ khác trong đầu em xếp sau mỗi suy nghĩ mà em biết. Em tin vào ý thức và vô thức của mình, dẫu cho em không biết những thứ đó là gì. Và em tin A. Conan Doyle, người đã để Sherlock Holmes nói rằng, Một khi anh loại bỏ điều không thể, thì bất cứ điều gì còn lại, dù khó có thể xảy ra đến đâu, cũng là sự thật?

“Không phải ông ta là gã tin vào những câu chuyện cổ tích ư?” Ralph hỏi.

Cô thở dài. “Hãy lên lầu và nhún nhảy chút. Có lẽ cả hai chúng ta sẽ ngủ được.”

Ralph đã sẵn lòng làm vậy, nhưng ngay cả khi họ làm tình (trừ lúc đạt cực khoái, khi mọi suy nghĩ tiêu biến), câu nói của Doyle vẫn cứ luẩn quần trong đầu anh. Nó thật thông suốt. Hợp lý. Nhưng ta có thể sửa nó thành Một khi anh loại bỏ tự nhiên, bất cử thứ gì còn lại chắc chắn phải là siêu nhiên không?” Không. Anh không thể tin vào bất kỳ lời giải thích nào phạm đến những quy tắc của thế giới tự nhiên, không chỉ với tư cách là một thám tử cảnh sát mà còn với tư cách một người đàn ông. Một người có thật đã giết Frank Peterson, không phải ma quỷ gì sất. Vậy, điều phi lý đến tột độ còn sót lại là gi? Chỉ có một điều duy nhất. Kẻ giết Frank Peterson, Terry Maitland, đã qua đời.

5

Vào đêm thứ Tư ấy, trăng tháng Bảy tròn vành vạnh và rực rỡ như một loai trái cây nhiệt đới khổng lồ. Đốn tờ mờ sáng ngày thứ Năm, khi Fred Peterson đứng ở sân sau nhà mình, đứng trên chiếc ghế đầu mà anh đã dùng để gác chần trong nhiều trận đấu bóng đá chiều Chủ nhật, con trăng ấy đã co lại thành một đồng bạc lạnh lẽo lơ lửng trên đâu.

Anh luồn chiếc thòng lọng quanh cổ và giật mạnh cho đến khi nút thắt nằm ở góc hàm của mình, như thông tin trên Wikipedia hướng dẫn (kèm hình mình họa sinh động). Đẩu dây kia được ngoắc vào cành của một cây tầm ma giống cái cây nằm ngoài hàng rào nhà Ralph, dù cây này già cỗi hơn nhiều, có lẽ đã bén rễ nảy mẩm vào khoảng thời gian máy bay ném bom của Mỹ thả bom xuống Hiroshima (chắc chắn đây là một sự kiện siêu nhiên đối với những người dân Nhật Bản đã chứng kiến nó ở một khoảng cách đủ lớn để cứu họ khỏi bốc hơi không dấu vết).

Chiếc ghế lắc lư dưới sức nặng của anh. Anh lắng nghe tiếng dế kêu và cảm nhận làn gió đêm mơn trớn trên đôi má đẫm mồ hôi của anh - mát mẻ và êm dịu sau một ngày nắng nóng và trước một ngày nắng nóng khác mà anh không mong mình được thấy. Một phần khiến anh dẫn đến quyết định xóa sổ gia đình Peterson ra khỏi danh sách cư dân của thành phố Flint và kết liễu cuộc đời mình là hy vọng Frank, Arlene và Ollie không, ít nhất là chưa, đi quá xa. Anh vẫn có thể bắt kịp họ. Hơn thế nữa, anh cũng không thể chịu nổi cảnh phải tham dự hai đám tang vào cùng một buổi sáng tại cùng một nhà xác - Anh em nhà Donelli - nơi sẽ lo liệu chốn cất kẻ đã gây ra cái chết cho họ vào buổi chiều. Anh không thể làm được.

Anh nhìn quanh lần cuối, tự hỏi bản thân có thực sự muốn làm điều này không. Câu trả lời là có, và thế là anh đá đổ chiếc ghế đầu, mong đợi sẽ nghe thấy tiếng cổ gãy rắc trước khi đường hẩm ánh sáng mở ra trước mắt - vợ và các con anh đang đứng ở phía xa xa, vẫy gọi và chờ anh để cùng bắt đầu một cuộc sống thứ hai tốt đẹp hơn, nơi những cậu bé đáng yêu không bị hãm hiếp và sát hại.

Không có tiếng gãy nào cả. Anh đã bỏ qua hoặc phớt lờ đoạn thông tin nào đó trên Wikipedia về cú rơi cần thiết để làm gãy cổ một người đàn ông nặng hơn 90 cần. Thay vì lịm dần đi, anh bắt đầu ngắc ngoải. Sợi dây dần siết lại, bóp nghẹt khí quản của anh, mắt anh lồi ra trong hốc, bản năng sinh tổn trước đó đang ngủ gật giờ choàng tỉnh trước hồi chuông hụ lên kèm đèn báo động chớp tắt bên trong tâm trí anh. Trong chừng ba giây, cơ thể anh gạt phắt tâm trí và ý định kết liễu cuộc đời mình sang một bên để nhường chỗ cho mong muốn sống sót đến cháy bỏng.

Fred đưa tay lên, mò mẫm và lần tìm sợi dây. Anh tìm cách kéo sợi dây bằng hết sức bình sinh. Sợi dây chùng xuống, và anh có thể hớp một hơi - chỉ một hơi ngắn thôi vi thòng lọng vẫn còn siết chặt, nút thắt ăn vào thành họng anh như một cục bướu. Giữ dây bằng một tay, tay còn lại anh mò mẫm tìm cành cây mà anh đã buộc dây vào. Những ngón tay anh lờ rờ dưới cành, làm rơi một vài mảnh vỏ cây xuống tóc, nhưng tất cả chỉ có vậy.

Ở tuổi trung niên, anh không còn giữ được sự trai tráng khỏe mạnh nữa, vận động duy nhất của anh chỉ là đi đến tủ lạnh để lấy thêm một cốc bia sau khi đã ngồi lì trước màn hình tivi xem trận đâu bóng đá của đội Dallas Cowboys yêu quý của mình, nhưng ngay cả khi còn là một cậu học sinh trung học, năm lân nâng tạ cũng đã là giới hạn của anh rồi. Anh thấy tay nắm sợi dây của mình đang tuột xuống, vì thế đã đổi tay, giữ nó chùng đủ lầu để hớp thêm hơi nữa, nhưng không thể đu người cao hơn. Chân anh vung tới vung lui cách bãi cỏ chừng mười lăm phân. Một chiếc dép của anh bị tuột ra, kế đến là chiếc còn lại. Anh cố kêu cứu nhưng tất cả những gì anh có thể phát ra là những tiêng ú ớ khòng khọc trong họng... và ai còn thức để có thể nghe thấy tiếng anh vào giờ này của buổi sáng chứ? Bà Gibson già yếu ở kế bên ư? Hẳn bà ấy đang nằm ngủ trên giường, tay nắm tràng hạt và mơ về Cha Brixton rồi.

Cả hai tay anh thõng ra. Cành cây kêu cót két. Hơi thở của anh ngừng bặt. Anh có thể cảm thấy máu bị nghẽn lại trong đầu giần giật, não chỉ chực chờ nổ tung. Anh nghe thấy tiếng kèn kẹt rồi nghĩ, Không phải thế này .

Anh với tay lên sợi dây như một người đuối nước chấp chới giơ tay lên phía trên mặt hồ. Những bào tử màu đen cỡ lớn dập dờn trước mắt anh rồi bung thành những chiếc dù hình nấm đen sì lộng lẫy. Nhưng trước khi chúng choán lấy tầm mắt anh, anh nhìn thấy một người đàn ông đang đứng trên hiên nhà dưới ánh trăng, một tay đặt lên chiếc bếp nướng ngoài trời, nơi Fred sẽ không bao giờ nướng thêm một miếng bít tết nào nữa. Hoặc có thể đó hoàn toàn không phải là một người đàn ông. Những đường nét méo mó như thể được tạo ra bởi một nhà điều khắc mù. Và đôi mắt hắn hình ống hút.

❊ 6 ❊

June Gibson tình cờ lại là người phụ nữ đã làm món mì lasagna mà Arlene Peterson chụp ngược lên đầu mình trước khi cô lên cơn đau tim, và hôm nay bà mất ngủ. Bà cũng không nghĩ về Cha Brixton. Người ngợm bà đau như búa giáng, đau nhiều lắm. Đã ba năm kể từ lần cuối cùng bị đau thần kinh tọa, bà đã hy vọng nó sẽ biến mất, thế nhưng cơn đau lại mò về, như một vị khách không mời khó chịu đạp cửa xông vào và không chịu rời đi. Ban đầu chỉ là một cơn tê cứng sau đầu gối trái sau cuộc gặp mặt chia buồn ở nhà Peterson kế bên, nhưng bà biết các dấu hiệu và đã xin bác sĩ Richland một đơn thuốc oxycodone, mà ông đã miễn cưỡng kê cho bà. Thuốc chỉ giúp giảm đau một chút. Cơn đau chạy dọc phần thân bên trái từ lưng xuống đến mắt cá chân, nơi nó dừng lại và ghim những cái chân gai bén ngọt vào đó. Một trong những đặc điểm tàn nhẫn nhất của chứng đau thần kinh tọa - của bà - là càng nằm càng đau. Vi vậy, bà ra phòng khách ngồi, mặc bộ đồ ngủ lụa và khoác chiếc áo choàng, xem hết chương trình quảng cáo cơ bụng gợi cảm trên tivi rồi lại chơi solitaire trên chiếc iPhone mà con trai bà đã tặng nhân Ngày của Mẹ.

Lưng bà tê buốt còn mắt thì rũ xuống, nhưng bà đã tắt tiếng tivi và tai bà cũng còn khá thính. Bà nghe rõ tiếng súng ở nhà bên, và nhổm dậy mà không nghĩ gì đến cơn đau buốt đang dồn xuống toàn bộ phần thân bên trái.

Lạy Chúa, Fred Peterson vừa tự sát bâng súng.

Bà chộp lấy cầy gậy của mình, cong người đứng lên và tập tễnh tiến ra phía cửa sau. Trên hiên nhà, dưới ánh trăng vằng vặc vô tâm ấy, bà thấy Peterson đang đổ gục trên bãi cỏ nhà họ. Không phải tiếng súng. Có một sợi dây quấn quanh cổ anh ta, đầu còn lại mắc vào một đoạn cành gây gãy đang nằm chỏng chơ ở đó.

Buông đổ cây gậy - dẫu việc đó chỉ khiến bà đi chậm lại - bà Gibson lê bước xuống bậc thềm sau hiên nhà và đi chừng ba chục mét băng qua hai khoảng sân sau nhà họ, nói đúng ra là bà đã lết thật nhanh, không để ý đến tiếng rên cục cằn của chính mình khi dây thần kinh tọa bị tổn thương, chực xé toạc bà từ bờ mông gầy guộc xuống bàn chân trái.

Bà quỳ xuống bên cạnh Peterson, quan sát khuôn mặt sưng phồng thoi thóp, chiếc lưỡi thè lè cùng sợi dây kẹt cứng trong phần thịt đẩy đặn ở cổ anh. Bà luồn các ngón tay vào phía trong sợi dây và dùng hết sức để lắc, tạo ra thêm một tiếng rít đau đớn khác nữa. Tiếng rít này thi thoảng bà có thấy: rít ré kéo dài. Đèn bên kia đường hắt sang, nhưng bà Gibson không nhìn thấy chúng. Cuối cùng sợi dây cũng được nới lỏng, tạ ơn Chúa, Đức mẹ Maria và tất cả thánh thần. Bà đợi Peterson thở hổn hển trở lại.

Nhưng không.

Hồi mới đi làm, bà Gibson từng là giao dịch viên tại First National ở thành phố Flint. Khi nghỉ hưu ở độ tuổi bắt buộc là sáu mươi hai

tuổi, bà đã tham gia các lớp học cần thiết để trở thành một Người giúp việc nhà có chứng chỉ, một công việc mà bà đã làm để kiếm thêm bên cạnh khoản lương hưu ít ỏi của mình cho đến tận khi bảy mươi tư tuổi. Một trong những lớp học đó có liên quan đến hoạt động hồi sức cấp cứu. Bà quỳ xuống bên cạnh thân hình to lớn của Peterson, ngửa đầu nạn nhân lên, bịt chặt lỗ mũi anh, bóp bạnh miệng anh ra và áp môi mình vào môi anh.

Bà đang ở hơi thở thứ mười và cảm thấy chóng mặt, thì ông Jagger nhà ở bên kia đường sang đến nơi và vỗ vào bờ vai xương xẩu của bà. “Anh ta chết rồi à?”

“Chưa nếu tôi cố,” bà Gibson nói. Bà nắn túi áo khoác và sờ thấy điện thoại di động của mình. Bà rút nó ra và ném nó ra sau. “Gọi 911 đi. Và nếu tôi bất tỉnh, ông sẽ phải lo nốt.”

Nhưng bà không ngất. Đến hơi thứ mười lăm - đúng lúc bà suýt ngất - Fred Peterson đã tự hớp hớp một hơi dài. Rồi một hơi nữa. Bà đợi anh mở mắt, và khi không thấy động tĩnh gi, bà vén một bên mí mắt của anh lên. Bên dưới không có gì ngoài củng mạc, không phải màu trắng thường thấy mà là màu đỏ vằn những mạch máu vỡ.

Fred Peterson hớp thêm hơi thứ ba rồi ngừng bặt. Bà Gibson bắt đầu ép ngực, dùng hết sức có thể, không chắc có hiệu quả nhưng chúng không thể làm đau anh. Bà chợt nhận ra cơn đau ở lưng và chân đã giảm bớt. Cỏ phải cơn đau thần kinh tọa đã sốc đến nỗi rời khỏi cơ thể bà không? Dĩ nhiên là không. Y tưởng đó thật nực cười. Đó là adrenalin, và chừng nào nó giảm đi, bà sẽ cảm thấy tồi tệ hơn bao giờ hết.

Một tiếng còi báo động hụ lên giữa nền trời tang tảng sáng.

Bà Gibson lại tiếp tục ép hơi thở của mình xuống cổ họng của Fred Peterson (lần tiếp xúc thân mật nhất của bà với một người đàn ông kể từ khi chồng bà qua đời năm 2004), dừng lại mỗi khi bà cảm thay sáp hụt hơi. Ông Jagger da khống dể nghị hỗ trợ và bà cũng không nhờ ông làm vậy. Cho đến khi xe cấp cứu đến, đây là chuyện giữa bà và Peterson.

Thỉnh thoảng khi bà dừng lại, Peterson sẽ hớp một hơi dài. Có lúc không. Bà gần như không nhận ra ánh đèn xe cứu thương chập chờn nhấp nháy khi họ lao qua hai khoảng sân liến kể, lướt qua những thân cành lởm chởm của cầy tầm ma đang rủ xuống nơi Peterson đã cố treo cổ tự tử. Một trong những nhân viên cấp cứu đã giúp bà đứng dậy và bà có thể đứng vững trong khi cơn đau như tiêu biến. Thật tuyệt. Dù phép màu chỉ tạm thời xuất hiện, song cũng thẩm cảm tạ Chúa.

“Chúng tôi sẽ lo nốt, thưa bà,” nhân viên cấp cứu cho biết. “Bà làm tốt lắm.”

“Chắc chắn thế rồi,” ông Jagger nói. “Bà đã cứu anh ta, June! Bà đã cứu mạng kẻ đáng thương đó!”

Đưa tay quệt chút nước bọt ấm vương trên cằm - thứ dịch hỗn hợp pha lẫn nước bọt của bà và của Peterson - bà Gibson nói, “Có lẽ vậy. Và có lẽ sẽ tốt hơn nếu tôi không làm vậy.”

7

Lúc tám giờ sáng thứ Năm, Ralph đang cắt cỏ ở sân sau nhà. Với một ngày không có cả mớ nhiệm vụ rối bù trước mắt, anh chỉ có thể nghĩ đến việc cắt cỏ để giết thời gian... dù tâm trí anh lại trôi dạt, xoay mòng mòng như vòng quay bánh xe chuột nhảy vô tận: cơ thể bị cắn xé của Frank Peterson, các nhân chứng, đoạn băng ghi âm, ADN, đám đông tại tòa án. Chủ yếu là vậy. Đó là chiếc dây áo rủ xuống một bên cánh tay của cô gái, thứ đó vẫn ghim chặt trong tâm trí anh vì một lý do nào đó - dải dây màu vàng tươi trượt lên xuống khi cô ngồi trên vai bạn trai và giơ nắm đấm tay lên.

Anh gần như không nghe thấy tiếng xylophone réo rắt vạng lên từ điện thoại di động của mình. Anh tắt máy cắt cỏ và nhận cuộc gọi, đứng đó với đôi giày thể thao và mắt cá chân trần dính đầy cỏ. “Anderson nghe.”

“Troy Ramage đây, sếp.”

Một trong hai sĩ quan đã bắt giữ Terry. Chuyện đó dường như đã xảy ra lâu lắm rồi. Trong một cuộc đời khác, như họ đã nói.

“Có chuyện gì vậy, Troy?”

“Tôi đang ở bệnh viện với Betsy Riggins.”

Ralph mỉm cười, một biểu cảm gần đầy đã lâu không xuất hiện khiến nó trở nên gượng gạo kỳ lạ trên khuôn mặt anh. “Cô ấy sinh rồi à?

“Chưa, vẫn chưa. Cảnh sát trưởng yêu cầu cô ấy hỗ trợ thêm vì anh nghỉ và vi Jack Hoskins vẫn đang đi câu cá ở hồ Ocoma. Tôi đi cùng để hỗ trợ cô ấy.”

“Chuyện gì thế?”

“Đội cấp cứu đã đưa Fred Peterson đến đây vài giờ trước. Anh ta đã cố treo cổ tự tử ở sân sau nhà, nhưng cành cây vít dây bị gây. Người phụ nữ nhà kế bên, bà Gibson gì đó, đã hô hấp nhân tạo và cứu được anh ta. Bà ấy cũng đã đến bệnh viện để xem tình hình và cảnh sát trưởng muốn lấy lời khai từ người hàng xóm đó, tôi đoán là chỉ lấy lệ thôi, nhưng cá nhân tôi thì thấy việc này ắt phải thế. Người đàn ông tội nghiệp này có quá nhiều lý do để nghĩ quần.”

“Tình hình anh ta thế nào rồi?”

“Bác sĩ nói anh ta bị suy giảm chức năng não. Cơ hội tỉnh lại là 1%. Betsy bảo chắc hẳn anh sẽ muốn biết.”

Trong giây lát, Ralph nghĩ bát ngũ cốc anh ăn lúc sáng sắp sửa trào ra khỏi họng, vì thế anh quay ngoắt mặt ra khỏi chiếc Lawnboy để tránh vương lên nó.

“Sếp? Anh còn đó chứ?”

Ralph nuốt vội thứ hỗn hợp chua chua của sữa và Rice Chex xuống họng. “Tôi đây. Bây giờ Betsy ở đâu?”

“Trong phòng của Peterson với người phụ nữ tên Gibson. Riggins bảo tôi gọi vì ICU là khu vực cấm điện thoại. Các bác sĩ cung cấp cho họ một phòng để nói chuyện riêng, nhưng Gibson nói bà ấy muốn trả lời các câu hỏi bên cạnh Peterson. Chắc bà ấy nghĩ anh ta có thể nghe thấy lời mình. Một bà già đẹp lão, nhưng cái lưng của bà ấy đau chối chết, anh có thể thấy điều đó qua cách bà ấy bước đi. Vậy tại sao bà ấy lại ở đây? Đấy đâu phải The Good Doctor đầu, và làm gì có sự hồi phục thần kỳ nào.”

Ralph có thể đoán được lý do. Bà Gibson này hẳn chính là người đã từng trao đổi các công thức nấu ăn với Arlene Peterson, và chứng kiến Ollie, Frankie lớn lên. Có lẽ Fred Peterson cũng từng dọn đường lái xe giúp bà ấy sau một trong những trận bão tuyết không thường xuyên của thành phố Flint. Bà ấy ở đó vì nỗi buồn và sự tôn trọng, thậm chí có lẽ vì cảm giác tội lỗi rằng bà đã không thể để Peterson cứ thế ra đi thay vì góp tay cột anh ta vô thời hạn vào phòng bệnh đó, nơi mấy móc sẽ thở thay anh ta.

Toàn bộ nỗi kinh hoàng trong tám ngày qua đã ập đến với Ralph như một cơn sóng dữ. Kẻ giết người không hài lòng với việc chỉ tước đi mạng sống của đứa con út mà còn cuốn theo cả gia đinh Peterson. Một cuộc càn quét, như họ từng nói.

Không cần phải gọi hắn là “kẻ giết người”, không cần phải ẩn danh hắn như vây. Terry. Kẻ đó là Terry. Không thể là ai khác được.

“Tôi nghĩ anh muốn biết,” Ramage lặp lại. “Và này, hãy nhìn vào mặt tích cực. Có lẽ Betsy sẽ chuyên dạ khi ở đây luôn. Nhờ thế chồng cô ấy đỡ phải đưa đến.”

“Bảo cô ấy về nhà đi,” Ralph nói.

“Rõ thưa sếp. Và... Ralph này? Tôi rất tiếc về chuyên đã xảy ra ở tòa án. Đó là một buổi biểu diễn huênh hoang chết tiệt.”

“Nói thế cũng đúng,” Ralph nói. “Cảm ơn vì đã gọi tôi nhé.”

Anh quay trở lại bãi cỏ, đi chậm rãi sau chiếc Lawnboy già (anh thực sự nên xuống Home Depot và mua một cái mới; đó là một việc vặt mà anh không còn cớ gì để trì hoãn, khi giờ đây thời gian của anh là biển rộng), và kịp cắt nốt bãi cỏ khi chiếc điện thoại của anh bắt đầu vang lên bài nhạc xylophone. Anh nghĩ đó là Betsy. Nhưng không phải, dù cuộc gọi này cũng từ Sở Cảnh sát Thành phố Flint.

“Vẫn chừa có tất cả kết quả ADN,” Tiến sĩ Edward Bogan cho biết, “nhưng chúng tôi đã nhận được kết quả từ mẫu cành cây. Máu, cộng với những mảnh da tay của con quỷ đội lốt người ấy để lại khi hắn... anh biết đấy, nắm cành cây và...”

“Tôi biết,” Ralph nói. “Đừng làm tôi hồi hộp.”

“Có gì phải hồi hộp, Thám tử. Các mẫu từ cành cây khớp với mẫu gạc má của Maitland.”

“Được rồi, Tiến sĩ Bogan, cảm ơn anh vì điều đó. Anh cần chuyển nó cho Cảnh sát trưởng Geller và Trung úy Sablo tại Cảnh sát Tiểu bang. Tôi đang nghỉ phép và có lẽ sẽ nghỉ hết mùa hè.”

“Thật lố bịch.”

“Quy định đấy. Tôi không biết Geller sẽ chỉ định ai làm việc cùng Yune - Jack Hoskins đang đi nghỉ và Betsy Riggins sắp sinh - nhưng ông ấy sẽ tìm được người. Maitland chết rồi, vụ án sẽ được đóng sớm thôi. Chúng ta chỉ đang vá nốt chỗ trống.”

“Những chỗ trống rất quan trọng,” Bogan nói. “Vợ của Maitland có thể sẽ quyết định đệ đơn kiện dân sự. Bằng chứng AND này có thể khiến luật sư của cô ta thay đổi suy nghĩ đó. Theo tôi, một vụ kiện như thế thật tởm lợm. Chồng cô ta đã sát hại cậu bé đó theo cách tàn ác nhất có thể tưởng tượng được, và nếu cô ta không biết về các xu hướng tính dục của anh ta... hẳn cô ta đã không chú ý. Luôn có những dấu hiệu cảnh báo về những kẻ bạo dâm tình dục. Luôn là vậy. Theo tôi, lẽ ra anh nên được nhân huy chương thay vì bị cho nghỉ phép.”

“Cảm ơn anh vì đã nói thế.”

“Tôi chỉ nói ra suy nghĩ của tôi thôi. Có rất nhiều mẫu đang chờ xử lý. Nhiều lắm. Anh có muốn tôi cập nhật không?”

“Có chứ.” Cảnh sát trưởng Geller có thể gọi Hoskins về sớm, nhưng gã này chỉ tổ tốn chỗ kể cả khi tỉnh táo, trong khi chuyện này không thường xuyên xảy ra lắm.

Ralph kết thúc cuộc gọi và cắt bỏ dải cỏ cuối cùng. Sau đó, anh rê chiếc Lawnboy vào ga-ra. Anh đang nghĩ về một câu chuyện khác của Poe khi dọn dẹp, câu chuyện về một người đàn ông bị nhốt trong hẩm rượu. Anh chưa đọc nó, nhưng anh đã xem phim rồi.

Vỉ tình yêu của Chúa, MontresorỉNgứời đàn ông bị nhốt đã la hét, và kẻ đang tạm giữ hắn đồng tình: Vì tình yêu của Chúa.

Trong trường hợp này, Terry Maitland mới là người bị nhốt, chỉ có điều những viên gạch là ADN, còn hắn thì đã chết. Các bằng chứng có thể mâu thuẫn nhau, đúng thế, và điều đó thật đáng lo ngại, nhưng giờ họ đã có được kết quả ADN từ thành phố Flint trong khi không có ADN nào từ thành phố Cap. Có dấu vân tay trên cuốn sách từ quẩy báo, đúng thế, nhưng dấu vân tay có thể bị ngụy tạo. Việc đó không dễ như trên mấy chương trình trinh thám, song hoàn toàn có thể xảy ra.

Còn các nhân chứng thì sao, Ralph? Ba giáo viên quen biết hắn suốt nhiều năm.

Đừng bận tâm đến họ. Hãy nghĩ về ADN. Thứ bằng chứng vững chắc. Vững chắc nhất họ có.

Trong phim, Montresor đã bị chặn lại bởi một con mèo đen mà hắn đã vô tình cuốn vào cùng với nạn nhân của mình. Tiếng kêu của con mèo đã bay đến tai của các du khách ghé thăm hẩm rượu. Theo Ralph, con mèo chỉ là một phép ẩn dụ khác: tiếng nói lương tâm của chính kẻ giết người. Đôi khi điếu xì gà chỉ là một làn khói, còn một con mèo chỉ là một con mèo thôi. Không có lý gì để anh phải vấn vương về đôi mắt hay lời khai lúc hấp hối của Terry. Như Samuels đã nói, vợ hắn đã quỳ ở đó, nắm tay hắn và cân kể bên cạnh hắn khi hắn ra đi.

Ralph ngồi bên bàn thợ, cảm thấy rất mệt mỏi vì chẳng có gì làm ngoài cắt một trảng cỏ ở sân sau nhà. Hình ảnh trong những phút cuối trước vụ nổ súng cứ bám riết lấy anh. Tiếng còi xe. Cái nhìn đầy giễu cợt vô cớ của cô nàng phóng viên tóc vàng khi nhìn thấy máu đầu chảy - có lẽ chỉ là một vết cắt nhỏ, nhưng sầu. Người đàn ông bị bỏng với những hình xăm trên cánh tay. Cậu bé sứt môi. Ánh mặt trời phản chiếu lên những mẩu đá trên vỉa hè tạo thành những chòm sao lấp lánh. Dây áo ngực màu vàng của cô gái, co lên rồi lại rơi xuống. Hầu như tất cả. Dường như những thứ này đang muốn dẫn anh đến một nơi nào đó khác, nhưng đôi khi dây áo ngực chỉ là dây áo ngực mà thôi.

“Và một người không thể ở hai nơi cùng lúc,” anh lầm bẩm.

“Ralph? Anh đang độc thoại à?”

Anh giật mình ngẩng lên. Jeannie đang đứng bên ngưỡng cửa.

“Đúng rồi vì có ai khác ở đây đâu.”

“Có em nữa mà,” cô ấy nói. “Anh có ổn không?”

“Không hẳn,” anh nói, và sau đó kể cho cô ấy nghe về Fred Peterson. Tâm trạng cô ấy chùng xuống trông thấy.

“Lạy Chúa tôi. Thế là tan nát một gia đình. Trừ khi anh ta hồi phục.”

“Tan nát rồi dù anh ta có hồi phục hay không.” Ralph đứng dậy. “Chút nữa anh đến sở, xem qua mẩu giấy vụn đó. Thực đơn hay gì cũng được.”

“Anh tắm trước đi. Người anh sặc mùi dầu và cỏ.”

Anh cười và đưa tay chào. “Vâng, thưa sếp.”

Cô kiễng chân hôn lên má anh. “Ralph? Anh sẽ vượt qua được điều này. Sẽ như thế. Hãy tin em.”

❊ 8 ❊

Có rất nhiều điều Ralph không biết về kỳ nghỉ phép, chuyện chưa từng xảy ra trước đây. Một là liệu anh có được phép đến sở không. Vì sự không chắc chắn đó, anh chờ đến tận cuối giờ chiều mới đến, vì lúc đó sở đã thưa thớt người. Khi anh đến nơi, không có ai ở phòng chính ngoại trừ Stephanie Gould, vẫn mặc dân phục, đang cần mẫn nhập báo cáo trên một trong những chiếc máy tính để bàn cũ mà hội đồng thành phố hứa sẽ thay sớm, và Sandy McGill đang ngồi ở quẩy trực, đọc tờ People . Văn phòng của Geller trống không.

“Chào thám tử,” Stephanie nói, nhìn lên. “Anh đang làm gì ở đây? Tôi nghe nói anh nghỉ phép có lương.”

“Rảnh rỗi sinh nông nổi thôi.”

“Tôi có thể giúp anh bớt rảnh,” cô nói và vỗ nhẹ vào chồng hồ sơ bên cạnh máy tính của mình.

“Lúc khác nhé.”

“Tôi rất tiếc vì mọi chuyên không như ý. Tất cả chúng tôi đều như vậy.”

“Cảm ơn cô.”

Anh đến quầy trực và bảo Sandy đưa cho mình chìa khóa phòng bằng chứng. Cô đưa nó cho anh mà không do dự, thậm chí còn chẳng buồn ngẩng mặt khỏi tờ tạp chí. ơ móc cạnh cửa phòng bằng chứng treo một bìa kẹp hồ sơ và một cây bút bi. Ralph định bỏ qua bước nhập thông tin, nhưng cuối cùng vẫn quyết định làm vậy, viết tên, ngày và giờ lên: 15 giờ 30 phút. Thực ra anh không có lựa chọn nào khác khi cả Gould và McGill đều biết anh đến đây và tại sao anh lại đến. Nếu ai đó hỏi anh muốn xem gì, anh sẽ trả lời thẳng thắn với họ. Rốt cuộc, anh đang nghỉ phép chứ chưa bị đình chỉ.

Căn phòng không lớn hơn một cái tủ là mấy, nóng nực và ngột ngạt. Những thanh đèn huỳnh quang trên đầu nhấp nháy. Giống như những chiếc máy tính để bàn già cỗi, chúng cần được thay thế. Thành phố Flint, được viện trợ từ tiền thuế liên bang, đã đảm bảo sở cảnh sát này có tất cả các loại vũ khí cần thiết, và hơn thế nữa. Vậy cơ sở hạ tầng sập sệ thì sao nhỉ?

Nếu vụ giết Frank Peterson diễn ra hồi Ralph mới gia nhập lực lượng, có thể phải có đến bốn hộp bằng chứng về Maitland, hoặc thậm chí là nửa tá, nhưng thời đại máy tính lên ngôi đã tạo ra điều kỳ diệu, và giờ thì chỉ có hai, cộng với hộp công cụ ở sau chiếc xe van. Nó đựng một loạt cờ lê, búa và tua vít tiêu chuẩn. Dấu vân tay của Terry không có trên bất kỳ dụng cụ nào, cũng như trên chính chiếc hộp. Đối với Ralph, điều đó cho thấy hộp công cụ đã ở sẵn trên xe khi nó bị đánh cắp, và Terry chưa bao giờ kiểm tra xem bên trong nó có gì lúc đánh cắp chiếc xe để dùng cho mục đích riêng của mình.

Một trong những hộp bằng chứng gắn tên Đổ Ở NHÀ MAITLAND. Hộp thứ hai có nhãn VAN/SUBARƯ. Đây là thứ mà Ralph muốn. Anh cắt băng niêm phong. Không có lý do gì để không làm vậy, khi Terry đã chết.

Sau một hồi, anh lục được một túi nhựa đựng mẩu giấy vật chứng mà anh nhớ. Nó có màu xanh lam, và gần như có hình tam giác, ơ trên cùng là các chữ TOMMY &VÀ TUP màu đen in đầm. Sau TUP là gì thì anh không rõ vì bị xé. Ở góc trên là hình vẽ một chiếc bánh nhỏ, với hơi bốc lên từ lớp vỏ. Dù Ralph không nhớ cụ thể, nhưng đó hẳn là lý do khiến anh nghĩ mẩu giấy này là một phần của thực đơn mang đi. Jeannie đã nói gì khi họ trò chuyện sớm nay? Em tin rằng có hàng tá suy nghĩ khác xếp sau mỗi suy nghĩ mà em có. Nếu đó là sự thật, Ralph sẽ phải bỏ ra một số tiền kha khá để tìm được ẩn ý đằng sau dây áo ngực màu vàng đó. Bởi anh gần như chắc chắn ẩn ý đó tồn tại.

Một điều khác mà anh gần như chắc chắn là làm thế nào mảnh giấy vụn này lại nằm trên sàn xe van. Ai đó đã cài tờ thực đơn vào cần gạt nước trên kính chắn gió của tất cả các phương tiện trong khu vực xe van đậu. Người lái xe — có thể là đứa trẻ đã đánh cắp nó ở New York, hoặc có thể là kẻ đã lấy trộm nó sau khi đứa trẻ bỏ lại chiếc xe - đã kéo và làm rách nó thay vì nhấc cần gạt nước lên để lấy, và góc

hình tam giác đó xuất hiện. Người lái xe không để ý đến nó, nhưng một khi anh ta lăn bánh, anh ta sẽ thấy. Có thể anh ta đã vòng tay ra và với lấy nó rồi thả xuống sàn thay vì vứt ra ngoài đường. Có thể vi bản chất anh ta không phải là một người xả rác bừa bãi, ngay cả khi là một tên trộm. Có thể vì có một chiếc xe cảnh sát ở phía sau anh ta và anh ta không muốn làm bất cứ điều gì, dù chỉ là một việc nhỏ, có thể gầy chú ý. Thậm chí anh ta cũng có thể đã cổ'ném nó ra ngoài cửa sổ, nhưng một cơn gió thoảng qua đã thổi ngược nó vào trong xe. Ralph đã điều tra những vụ tai nạn trên đường, một trong số chúng khá khủng khiếp, do tàn thuốc mà ra.

Anh rút cuốn sổ từ túi hậu ra - mang theo nó là bản năng thứ hai của anh, dù có đang nghỉ phép hay không - ghi TOMMY &VÀ TUP lên một tờ giấy trắng trong sổ. Anh đặt lại hộp VAN/SUBARU lên kệ mà nó vừa được lấy ra, rời khỏi phòng chứng cứ (không quên ghi lại thời gian rời đi của mình), rồi khóa cửa lại. Khi đưa lại chìa khóa cho Sandy, anh chìa cuốn sổ của mình ra trước mặt cô. Cô ngước lên từ những cuộc phiêu lưu mới nhất của Jennifer Aniston để xem xét nó.

“Có ý nghĩa gì với anh không?”

“Không.”

Cô trở lại với tờ tạp chí của mình. Ralph đến gặp sĩ quan Gould, người vẫn đang nhập thông tin từ bản cứng vào cơ sở dữ liệu nào đó và chửi thể khi nhấn nhẩm phím, việc xảy ra thường xuyên. Cô liếc nhìn cuốn sổ ghi chép của anh.

“Tup là một từ lóng cổ của Anh dùng để chỉ việc nện nhau, tôi nghĩ vậy - như trong câu Tối qua tối vừa nện bạn gái một chặp đấy, anh bạn - nhưng tôi không thể nghĩ ra điều gì khác nữa. Nó quan trọng không?”

“Tôi không biết. Chắc là không.”

“Google đi, sao anh không làm thế?”

Trong khi chờ đợi con bò già máy tính khởi động, anh quyết định thử cơ sở dữ liệu mà anh đã cưới được. Jeannie đã trả lời ngay ở hồi ckuống đầu tiền, và thậm ckí khổng cần suy nghĩ khi anh hỏi cô. “Đó có thể là Tommy&Tuppence. Họ là những thám tử đáng yêu mà Agatha Christie đã sáng tạo ra khi bà ấy không viết về Hercule Poirot hay Miss Marple. Nếu đúng như vậy, anh có thể sẽ tìm thấy một nhà hàng do một cặp đôi người Anh quản lý, chuyên mấy món như thịt nguội ăn kèm rau thái nhỏ.”

“Thịt nguội và gì cơ?”

“Đừng bận tâm.”

“Nó có thể chẳng có nghĩa gì cả,” anh lặp lại. Nhưng biết đâu. Mày đã đuổi theo cái thứ chết tiệt này để chắc chắn, bằng cách này hay cách khác; xin lỗi Sherlock Holmes, nhưng đuổi theo mấy thứ chết tiệt là điển hình công việc của thám tử mà.

“Tuy nhiên, em vẫn tò mò. Hãy kể cho em chừng nào anh về nhà nhé. Ổ, và chúng ta đã hết nước cam rồi.”

“Anh sẽ ghé qua Geralds,” anh nói và cúp máy.

Anh truy cập Google, nhập TOMMY&TUPPENCE, sau đó thêm RESTAURANT (nhà hàng) vào sau. Máy tính của sở đã cũ, nhưng Wi-Fi thì căng đét. Anh đã có được kết quả cần tìm kiếm chỉ trong vài giây. Tommy&Tuppence Pub&Café nằm trên Đại lộ Northwoods ở Dayton, Ohio.

Dayton. Liên quan gì đến Dayton nhỉ? Cái tên này chẳng phải đã từng xuất hiện một lần trước đây trong vụ này sao? Nếu vậy thì ở đâu? Anh ngả người trên ghế vả nhắm mắt. Dù mối liên hệ mà anh đang cố móc nối với chiếc dây áo màu vàng vẫn đang chơi cút bắt với anh, nhưng chỉ tiết mới này thì không. Daytôn đã xuất hiện trong cuộc trò chuyện cuối cùng của anh với Terry Maitland. Họ nói về chiếc xe van, và Terry đã nói rằng hắn đã không đến New York kể từ khi đi hưởng tuần trăng mật ở đó với vợ. Chuyện đi duy nhất mà Terry thực hiện gần đây là đến Ohio. Cụ thể là Dayton.

Kỳ nghỉ xuân của các con tôi. Tôi muốn gặp bố tôi. Và khi Ralph hỏi bố hắn sống ở đó à, Terry đã nói, nếu anh có thể gọi những gì ông ấy đang làm lúc này là sống.

Anh gọi cho Sablo. “Này, Yune, là tôi đây.”

“Chào Ralph, kỳ nghỉ thế nào?”

“Ổn. Anh nên đến ngắm bãi cỏ nhà tôi. Nghe nói anh được tuyên dương vì đã lấy thân mình che chắn cho nữ phóng viên ngớ ngần đó.”

“Họ nói vậy thôi. Anh thấy sao, cuộc sống của đứa con trai gia đình nông dần nghèo người Mexico này tốt đẹp quá à?”

“Tôi nghĩ anh từng kể với tôi rằng bố anh quản lý đại lý ô tô lớn nhất ở Amarillo chứ.”

“Tôi có thể đã nói thế, tôi cho là vậy. Nhưng khi anh phải lựa chọn giữa sự thật và huyền thoại, chọn huyền thoại thôi. Sự khôn ngoan của John Ford trong The Man Who Shot Liberty Valance (Người giết Liberty Valance). Tôi có thể làm gì cho anh?”

“Samuels có kể cho anh nghe về đứa trẻ ban đầu đã đánh cắp chiếc xe van không?”

“Có. Đó là một câu chuyện không tưởng. Tên của đứa trẻ là Merlin, anh có biết không? Và tài thật, sao thằng bé có thể lái xe một mạch đến tận miền Nam Texas được nhỉ?”

“Anh có thể liên hệ với phía E1 Paso không? Cuộc chạy trốn của thằng bé kết thúc ở đó, nhưng Samuels bảo thằng bé quẳng chiếc xe ở Ohio. Điều tôi muốn biết là liệu có phải nó đã được để ở đâu đó gần một quán pub&café tên Tommy&Tuppence nằm trên Đại lộ Northwoods ở Dayton hay không.”

“Tôi đoán là mình có thể ghé qua đó và làm vài ly.”

“Samuels bảo thằng nhóc Merlin kỳ khôi này đã rong ruổi trên đường suốt nhiều tháng. Anh có thể cố gắng giúp tôi tim hiểu thời điểm thằng nhóc bỏ lại chiếc xe van nữa được không? Có thể là vào tháng Tư?”

“Tôi có thể cố giúp anh. Nhưng anh có thể cho tội biết lý do được không?”

“Terry Maitland đã ở Dayton vào tháng Tư. Đến thăm bố hắn.”

“Có thật không?” Yune có vẻ rất hứng thú. “Một mình?”

“Với gia đình của hắn,” Ralph thừa nhận, “và họ đã bay cả hai chiều.”

Vậy rồi xong.

“Có lẽ thế, nhưng tôi vẫn tò mò.”

“Anh sẽ phải giải thích điều đó đấy, Thám tử, vì tôi chỉ là con trai của một nông dân Mexico nghèo.”

Ralph thở dài.

“Hãy chờ xem tôi có thể tìm hiểu được gì.”

“Cảm ơn, Yune.”

Ngay khi anh cúp máy, Cảnh sát trưởng Geller bước vào, xách theo túi đựng đồ tập và trông như mới tắm xong. Ralph tặng ông ta một cái vẫy, và nhận lại một cái nhìn cau có. “Đáng lẽ anh không nên ở đây, thám tử.”

A, vậy hóa ra đây chính là cầu trả lời cho câu hỏi đó.

“Vế nhà. Làm cỏ, hoặc việc gì đó đi.”

“Tôi làm rồi,” Ralph đứng dậy nói. “Tiếp theo là dọn dẹp hẩm rượu.”

“Tốt thôi, tốt hơn hết là anh nên làm thế.” Geller dừng lại trước cửa phòng ông ta. “Và Ralph... Tôi xin lỗi về tất cả những điều này. Xin lỗi anh.”

Mọi người cứ nói vậy mãi , Ralph nghĩ khi bước ra cái nóng hầm hập cuối chiều.

9

Buổi tối hôm đó, Yune gọi vào lúc 9 giờ 15 phút, trong khi Jeannie đang tắm. Ralph đã ghi chú lại mọi thông tin. Không nhiều, nhưng đủ thú vị. Anh đi ngủ sau đó một giờ và chìm vào giấc ngủ thực sự lần đầu tiên kể từ khi Terry bị bắn ở chân bậc thềm tòa án. Anh thức dặy lúc 4 giờ sáng thứ Sáu, quáng quàng thoát khỏi giấc mơ về cô gái đang ngồi trên vai bạn trai và giơ nắm đấm lên trời. Anh ngồi thẳng trên giường, vẫn còn sảng ngủ, và không hề hay biết anh đã hét lên cho đến khi người vợ sợ hãi của mình ngồi dậy bên cạnh và nắm lấy vai anh.

“Gì thế? Ralph, sao thế anh?

“Không phải cái dây áo! Màu của nó cơ!”

“Anh đang nói cái gì vậy?” Cô lay anh. “Anh mơ à? Ác mộng ư?”

Em tin rằng có hàng tá suy nghĩ khác xếp sau mỗi suy nghĩ mà em có. Cô đã nói thế. Và đó chính là nội dung của giấc mơ - thứ đã tiêu biến như những giấc mơ khác. Một trong những suy nghĩ đó.

“Anh hiểu rồi,” anh nói. “Trong giấc mơ, anh hiểu rồi.”

“Hiểu gì cơ, anh yêu? Điều gì đó về Terry à?”

“Về cô gái. Dây áo ngực của cô ta có màu vàng tươi. Chỉ là có một thứ gì đó khác nữa. Trong giấc mơ, anh đã biết nó là gì, nhưng bây giờ...” Anh vùng chân ra khỏi giường và ngồi với hai tay nắm lấy đầu gối bên dưới chiếc quần đùi rộng thùng thình. “Nó biến mất rồi.”

“Nó sẽ trở lại. Nằm xuống đi. Anh làm em sợ chết khiếp.”

“Anh xin lỗi.” Ralph lại nằm xuống.

“Anh có thể ngủ tiếp được không?”

“Anh không biết.”

“Trung úy Sablo đã nói gì?”

“Anh không kể à?” Mặc dù biết rõ rằng mình đã không làm thế.

“Không, và em không muốn ép anh. Anh đã hơi tư lự lúc đó.”

“Sáng mai anh kể.”

“Vì anh đã làm em thức giấc rồi nên anh có thể làm điều đó ngay bây giờ.”

“Không có gì nhiều nhặn cả. Yune đã truy ra danh tính của viên cảnh sát đã bắt cậu bé - anh ta có vẻ thích nó, kiểu quan tâm, vẫn đang theo sát. Hiện tại, Quý ngài Cassidy nhí đang ở trong trung tâm chăm sóc nuôi dưỡng thuộc E1 Paso. Nó sẽ phải đối mặt với phiên điều trần tại tòa án dành cho trẻ vị thành niên vi tội trộm xe, nhưng không ai biết chính xác ở đâu sẽ phụ trách. Hạt Dutchess ở New York có vẻ khả dĩ nhất, nhưng họ không vội bắt nó, còn bản thân nó cũng lần lữa quay về. Vì vậy, hiện tại, nó đang ở trong tình trạng lấp lửng về mặt pháp lý và theo Yune, nó thích thế. Nó kể bố dượng của nó thường xuyên bạo hành. Trong khi mẹ giả vờ như không có gì xảy ra. Vòng lạm dụng điển hình.”

“Thằng nhóc tội nghiệp, chả trách nó bỏ chạy. Điều gì sẽ xảy ra với nó?”

“Ổ, chắc sẽ được đưa về nhà. Bánh xe công lý hoạt động chậm, nhưng cực kỳ tốt. Nó sẽ được hưởng án treo, hoặc phải lao động công ích trong thời gian được chăm sóc nuôi dưỡng. Các cảnh sát ở thị trấn quê nhà sẽ được báo trước về tình hình nhà nó, nhưng rồi chuyện đâu lại vào đó thôi. Những kẻ lạm dụng trẻ em có thể ngơi tay một thời gian nhưng làm gì có chuyện dừng hẳn.”

Anh đặt tay ra sau đầu và nghĩ về Terry, người trước đó không có dấu hiệu bạo lực, ngoại trừ va chạm với trọng tài.

“Tóm lại là thằng bé đã đến Dayton,” Ralph nói, “và lúc đó nó bắt đầu lo lắng về chiếc xe van. Nó đậu xe ở điểm đậu xe công cộng vì miễn phí, vì không có cảnh sát, và vì nó đã nhìn thấy biển hiệu Cổng vòm Vàng cách đó vài dãy nhà. Nó không nhớ mình đã đi ngang qua quán cà phê Tommy&Tuppence hay chưa, nhưng nó nhớ đã từng gặp một thanh niên mặc áo sơ mi in chữ Tommy gì đó ở lưng. Anh ta cầm một xấp giấy màu xanh rồi cài lên cần gạt nước kính chắn gió của những chiếc ô tô đang đậu ở lề đường. Anh ta thấy nó - Merlin — và đã đề nghị trả cho nó 2 đô-la để nhét những tờ thực đơn xuống dưới cần gạt nước của những chiếc xe đang đậu trong bãi. Nó đã nói không, cảm ơn và đến Mickey D’s để mua bữa trưa. Khi nó quay lại, anh chàng phát tờ rơi đã rời đi, nhưng những tờ thực đơn đã được nhét vào mọi chiếc ô tô và xe tải trong bãi. Nó cảm thấy bất an, coi đó là điềm xấu vì một lý do nào đó, có Chúa mới biết tại sao. Dù sao đi nữa, nó cũng đã quyết định đến lúc phải chuyển xe rồi.”

“Nếu thằng nhóc không nhát cáy thi có lẽ nó đã bị bắt sớm hơn rồi.”

“Em nói đúng. Nó đã dạo quanh bãi xe, ngó nghiêng những chiếc không khóa. Thằng nhóc nói với Yune rằng nó rất ngạc nhiên khi có rất nhiều xe như thế.”

“Em cá là anh không như vậy.”

Ralph mỉm cười. “Mọi người bất cần mà. Đến chiếc thứ năm hoặc thứ sáu thì nó tìm được một chiếc không khóa, còn có cả một chìa khóa dự phòng giấu sau tấm che nắng nữa. Nó thật hoàn hảo đối với thằng bé - một chiếc Toyota màu đen trơn, giống như hàng nghìn chiếc xe khác xuất hiện trên đường mỗi ngày. Tuy nhiên, trước khi đổi xe, Merlin của chúng ta đã cắm chìa vào ổ chiếc xe van. Thằng bé nói với Yune rằng nó hy vọng ai đó sẽ đánh cắp chiếc xe vì Nó có thể xóa dấu vết của cháu (trích nguyên văn). Em biết mà, kiểu như thằng bé sẽ bị truy nã vì tội giết người ở sáu bang thay vì chỉ là một đứa trẻ bỏ trốn không bao giờ quên sử dụng xi-nhan.”

“Nó đã nói thế á?” Cô có vẻ thích thú.

“Ừ. Và nhân tiện, thằng bé đã phải quay lại chỗ chiếc xe van để lấy một thứ. Đống thùng các-tông được làm xẹp mà nó đã ngồi lên để trống có vẻ cao hơn sau tay lái.”

“Em thích đứa trẻ này. Derek sẽ không bao giờ nghĩ ra được điều đó.”

Chúng ta chưa bao giờ cho thằng bé lý do để làm vậy , Ralph nghĩ.

“Anh có xác định được chuyện thằng bé có để lại tờ thực đơn dưới cần gạt nước kính chắn gió của xe van hay không không?”

“Yune đã hỏi, và thằng bé nói chắc chắn là nó đã làm thế rồi, tại sao lại phải lấy thứ đó đi chứ?”

“Vậy người xé tờ thực đơn ra - và để rơi mảnh vụn bên trong xe - là người đã lấy trộm nó từ bãi đậu xe ở Dayton.”

“Gần như chắc chắn là vậy. Giờ mới đến điều đã khiến anh mang bộ mặt tư lự đầy này. Đứa trẻ đó đã nói rằng nó nghĩ chuyện này xảy ra vào khoảng tháng Tư. Anh vẫn đang phần vân vì không biết liệu việc theo dõi ngày tháng có quan trọng với thằng bé không, nhưng nó đã nói với Yune rằng thời điểm đó là vào mùa xuân, cây cối còn nhiều lá và trời chưa nóng lắm. Vậy nên, rất có thể là đúng. Và tháng Tư là thời điểm Terry ở Dayton, hắn đến đó thăm bố mình.”

“Chỉ có điều, hắn đi cùng gia đình, và họ bay khứ hồi.”

“Anh biết điều đó. Em có thể gọi đó là một sự trùng hợp. Chỉ là chiếc xe van đó đã đến thành phố Flint này, và anh khó có thể tin vào hai sự trùng hợp liên quan đến cùng một chiếc xe van Ford Econoline. Yune nghĩ có thể Terry có đồng phạm.”

“Một người trông giống hệt hắn?” Jeannie nhướng mày. “Có thể là một người anh em sinh đôi tên là William Wilson?”

“Anh biết, ý tưởng đó thật nực cười. Nhưng em có thấy kỳ lạ không? Terry ở Dayton, chiếc xe van ở Dayton. Terry về nhà ở thành phố Flint, chiếc xe xuất hiện ở thành phố Flint. Có một từ dùng để miêu tả điều đó, nhưng anh không thể nhớ nổi.”

Sự hợp lưu có thể là từ anh đang tìm kiếm.”

“Anh muốn nói chuyện với Marcy,” anh nói. “Anh muốn hỏi cô ấy về chuyến đi đến Dayton của nhà Maitland. Mọi điều cô ấy còn nhớ. Chỉ có điều, cô ấy không muốn nói chuyện với anh và anh hoàn toàn không biết làm sao thuyết phục được cô ấy.”

“Anh sẽ thử chứ?”

“À ừ, anh sẽ thử.”

“Bây giờ anh có thể ngủ chưa?”

“Anh nghĩ vậy. Yêu em.”

“Em cũng yêu anh.”

Anh bắt đầu gà gật thì cô thi thẩm vào tai anh, cứng rắn và có phần hà khắc, cố gắng khiến anh sốc mà bật ra được vấn đề. “Nếu đó không phải là dây áo ngực thì đó là gì?”

Rõ ràng, trong giây lát, Ralph đã nhìn thấy chữ CANT*. Chỉ là các chữ cái đó có màu xanh lá ngả lam, không phải màu vàng. Có gì đó ở đó. Anh nắm lấy nó, nhưng nó trượt đi.

Nghĩa tiếng Việt là “không thể”.

“Không thể,” anh nói.

“Vẫn chưa,” Jeannie trả lời, “nhưng anh sẽ làm được. Em hiểu anh mà.”

Họ đi ngủ. Khi Ralph thức giấc đã là tám giờ, mặt trời lên cao và chim đang hót véo von ngoài cửa sổ.

❊ 10 ❊

Đến 10 giờ sáng thứ Sáu hôm đó, Sarah và Grace đã nghe đến album Hard Day’s Night , và Marcy nghĩ mình có thể thực sự phát điên.

Hai đứa nhỏ đã tìm thấy máy nghe nhạc của Terry - một món hời trên eBay, anh ấy đã đảm bảo với Marcy như vậy - trong ga-ra, cùng với bộ sưu tập các album của Beatles được sắp xếp cẩn thận của anh. Chúng đã lôi máy nghe nhạc cùng đống album lên phòng của Grace và bắt đầu với Meet the Beatles ! “Chúng con sẽ bật tất cả,” Sarah nói với mẹ cô bé. “Để nhớ về bố. Ổn mà mẹ.”

Marcy nói với chúng rằng được thôi. Cô có thể nói gì khi nhìn vào khuôn mặt nhợt nhạt, căng thẳng và đôi mắt đỏ hoe của chúng đây? Chỉ có điều, cô đã không nhận ra được rằng những bài hát đó khiến đầu cô sắp nổ tung. Tất nhiên, hai đứa trẻ đều biết những bài đó; khi Terry ở trong ga-ra, máy nghe nhạc luôn mở, lấp đầy xưởng làm việc của anh bằng những ầm thanh chát chúa từ những nhóm nhạc Anh mà có lẽ anh sinh ra hơi muộn để được nghe họ hát trực tiếp, nhưng tình yêu của anh dành cho họ thì vẫn vẹn nguyên: Searchers, Zombies, Dave Clark Five, Kinks, T. Rex và - tất nhiên -The Beatles. Chủ yếu là các bài hát của họ.

Hai đứa nhỏ cũng yêu thích những nhóm nhạc này và những ca khúc của họ vì bố chúng thích, nhưng có rất nhiều những cung bậc cảm xúc gắn liền với những bài hát ấy chúng chưa đủ nhận thức để hiểu. Chúng không nghe “I Call Your Name” khi đang làm tình ở ghế sau chiếc xe của bố Terry, môi Terry lướt trên cổ cô, tay anh luồn dưới áo len của cô. Chúng không nghe “Can’t Buy Me Love”, bản nhạc đang bập bùng dội xuống từ trên lẩu, khi ngồi trên chiếc ghế dài trong căn hộ đầu tiên nơi họ sống cùng nhau, nắm tay nhau, xem A Hard Day's Night bằng chiếc đầu chạy băng nát bét mà họ đã kiếm được trong một buổi mua bán đồ cũ với giá 20 đô-la, bốn thành viên của The Beatles trẻ trung, diện cả cầy đen trắng và cuồng nhiệt trên nền nhạc, Marcy biết cô sẽ kết hôn với chàng trai ngồi bên cạnh cô ngay cả khi anh ấy còn chưa biết điều đó. Có phải John Lennon đã chết khi họ xem đoạn băng cũ đó không? Bị bắn trên đường phố giống như chồng cô?

Cô không biết, và cũng không nhớ nữa. Tất cả những gì cô biết là cô, Sarah và Grace đã trải qua đám tang với chân giá trị nguyên vẹn, nhưng giờ đây khi đám tang đã kết thúc, cuộc sống làm mẹ đơn thân của cô (ôi, cụm từ kinh khủng đó) trải dài trước mắt, và âm nhạc vui vẻ khiến cô phát điên lên vì đau buồn. Mỗi giọng hất được hòa ầm, mỗi đoạn riff khéo léo của George Harrison, đều như cứa một nhát vào lòng cô. Đã hai lần cô rời chỗ ở bàn bếp, rời xa tách cà phé nguội ngắt đang đặt trước mặt. Hai lần cô ra đến chân cầu thang, hít một hơi thật sâu và định hét lên, Đủ rồi! Tắt ngay đi! Và hai lần cô lủi thủi trở lại bếp. Chúng cũng đang rất đau buồn.

Lần này khi đứng dậy, Marcy đi đến chỗ ngăn kéo đựng đồ dùng và kéo nó ra. Cô nghĩ sẽ chẳng có gì ở đó, nhưng tay cô lần thấy một gói thuốc lá Winston. Còn ba điếu bên trong. Khống, bốn - một điếu kẹt ở phía trong cùng. Cô đã không hút thuốc kể từ sinh nhật lần thứ năm của cô con gái út, khi cô lên cơn ho lúc đang trộn bột bánh cho Gracie và đã thể ở đó rằng sau này cô sẽ bỏ thuốc mãi mãi. Thế nhưng, thay vi ném những chiên binh ung thư cuối cùng này ra ngoài, cô đã nhét chúng vào tận sâu trong ngăn kéo đựng đồ dùng, như thể một phần nào đó tối tăm và dựa vào linh cảm trong cô biết rằng cuối cùng cô sẽ cần đến chúng một lần nữa.

Chúng đã năm năm tuổi, chúng cũ rích rồi. Mày có thể sẽ ho cho đến khi ngất đi.

Tốt. Như thế còn tốt hơn nhiều.

Cô lấy một điếu ra khỏi gói thuốc lá, nhìn nó thèm thuồng. Dân nghiện thuốc không bao giờ dừng hân, họ chỉ dừng lại một chút thôi , cô nghĩ. Cô đi đến chần cầu thang và nghiêng đâu. “And I Love Her” đã nhường chỗ cho “Tell Me Why” (câu hỏi muôn thuở đó). Cô có thể tưởng tượng ra các con cô đang ngồi trên giường của Grace, không nói chuyện, chỉ lắng nghe. Có thể chúng đang nắm tay nhau nữa. Nhận thánh lễ của bố. Những album của bố chúng, một số mua ở Turn Back the Hands of Time, cửa hàng băng đĩa ở thành phố Cap, một số mua trực tuyến, tất cả đều được cầm trên đôi tay đã từng ôm các cô con gái của anh.

Cô băng qua phòng khách đến bên chiếc lò sưởi nhỏ mà họ chỉ đốt lên vào những đêm mùa đông thực sự lạnh giá, rồi lần mò tìm hộp diêm Diamond trên giá gần đó, sờ soạng vì trên giá đồ còn có một dãy ảnh mà cô hiện không thể chịu nổi khi nhìn vào. Có lẽ trong một tháng nữa thì có thể. Hay một năm. Mất bao lâu để họ có thể hồi phục sau giai đoạn đau buồn đầu tiên, khủng khiếp nhất? Cô có thể tìm thấy một câu trả lời khá chắc chắn trên WebMD, nhưng lại sợ phải nhìn.

ít nhất thì đám phóng viên đã rời đi sau đám tang, vội vã quay trở lại thành phố Cap để đưa tin về một số vụ bê bối chính trị mới mẻ, và cô sẽ không phải mạo hiểm ở hiên sau, nơi mà một trong hai con có thể nhìn ra cửa sổ và thấy mẹ hút thuốc. Hoặc trong ga-ra, nơi chúng có thể ngửi thấy mùi khói nếu chúng xuống để lấy đĩa hát mới.

Cô mở cửa trước, Ralph Anderson đứng đó, đang giơ nắm đấm lên để gõ cửa.

❊ 11 ❊

Cô bàng hoàng nhìn anh — như thể anh là một con quái vật, kiểu thấy ma mà người ta vẫn thấy trên tivi - ánh mắt cô như găm một nhát dao vào ngực anh. Anh vừa kịp nhìn thấy mái tóc rối bù của cô, một vết bẩn trên ve áo choàng của cô (quá rộng với cô; chiếc áo đó có thể là của Terry), điếu thuốc hơi cong giữa các ngón tay cô. Và một điều gì đó khác. Cô luôn là một người phụ nữ xinh đẹp, chỉn chu nhưng giờ vẻ đẹp ấy dần không còn nữa. Anh gọi đó là điều không thể.

“Marcy...”

“Không. Anh không thuộc về nơi này. Biến đi.” Giọng cô trầm, nghèn nghẹt như thể bị ai đó siết cổ.

“Tôi cần nói chuyện với cô. Hãy để tôi nói chuyên với cô.”

“Anh đã giết chồng tôi. Chúng ta có gì để nói nữa chứ.”

Cô định đóng cửa lại. Ralph lấy tay ghì vào thành cửa. “Tôi không giết anh ấy, nhưng đúng là tôi có lỗi một phần. Hãy gọi tôi là đồng phạm, nếu đó là điều cô muốn. Lẽ ra tôi không nên bắt anh ấy theo cách tôi đã làm. Thể với Chúa, việc đó là sai trái xét theo nhiều cấp độ khác nhau. Tôi có lý do của mình, nhưng đó không phải là lý do chính đáng. Tôi...”

“Bỏ tay khỏi cửa đi. Làm ngay đi. Nếu không tôi sẽ khiến anh phải ngồi tù đấy.”

“Marcy...”

Đừng gọi tôi như vậy. Anh không có quyền làm thế, không phải sau tất cả những gì anh đã làm. Lý do duy nhất khiến tôi không hét lên là vì bọn trẻ nhà tôi đang ở trên lẩu, đang nghe nhạc của bố chúng.”

“Làm ơn.” Anh nghĩ mình sẽ nói: Đừng bắt tôi phải cầu xin, nhưng như vậy là chưa đủ. “Tôi xin cô đẩy. Làm ơn hãy nói chuyện với tôi.”

Cô giơ điếu thuốc lên và bật cười chua chát. “Tôi nghĩ giờ đám chấy đã đi rồi thì tôi có thể hút thuốc trước cửa nhà. Nhưng hãy nhìn xem, lại có một con rận lớn tìm đến, loài rận chúa. Lời cảnh báo cuối cùng, tên Rận, anh đã giết chồng tôi. Cút... khỏi cửa nhà tôi... ngay.

“Chuyện gì sẽ xảy ra nếu anh ấy không làm vây?”

Cô trợn trừng mắt và tay buông lỏng hơn một chút, ít nhất là ngay lúc này.

“Nếu anh ấy... thì sao? Chúa ơi, anh ấy đã nói với anh là anh ấy không làm điều đó! Anh ấy đã nói với anh như vậy khi anh ấy hấp hối! Anh còn muốn gì nữa, một bức điện chuyên tận tay từ Thiên thần Gabriel?”

“Nếu anh ấy không làm vậy thì thủ phạm thực sự vẫn nhởn nhơ ngoài kia, và hắn ta phải chịu trách nhiệm vì đã phá tan nát gia đình Peterson, cũng như gia đình cô.”

Cô nghĩ một chút, rồi nói: “Oliver Peterson đã chết vì anh và tên khốn Samuels đã dựng lên buổi diễn xiếc đó. Và anh đã giết cậu ta, phải không, thám tử Anderson? Bắn vào đầu cậu ta. Giết được người anh muốn. Xin lỗi, cậu bé của anh.”

Cô đóng sầm cửa trước mặt anh. Ralph lại giơ tay định gõ, cân nhắc một chút rồi quay đi.

❊ 12 ❊

Marcy run rẩy đứng cạnh cửa. Hai đầu gối cô mềm nhũn, và cô cố lết đến băng ghế gần cửa, nơi mọi người vẫn ngồi để cởi ủng hoặc giày dính bùn. Ở tầng trên, The Beatle*, người đã bị sát hại, đang hát về tất cả những việc anh sẽ làm khi về nhà. Marcy nhìn điều thuốc kẹp giữa các ngón tay như thể không chắc bằng cách nào mà nó lại ở đó, sau đó bẻ đôi và nhét vào túi áo choàng cô đang mặc (nó đúng là của Terry). Ít nhất thì anh ta đã cứu mình thoát khỏi cú sa ngã trở lại cái thứ chết tiệt đó , cô nghĩ. Có lẽ mình nên viết thư cảm ơn anh ta.

Ý chỉ thành viên John Lennon của ban nhạc The Beatles

Sao anh ta dám mon men đến cửa nhà cô, sau khi đã giáng một đòn vào gia đinh cô và rồi loanh quanh ở đó đến khi nó sập hẳn. Đúng là loại mặt trơ trán bóng. Chỉ có điều...

Nếu anh ấy không làm vậy thì thủ phạm thực sự vẫn nhởn nhơ ngoài kia.

Và cô phải xử lý chuyện đó thế nào, khi cô thậm chí không có đủ dũng khí truy cập WebMD và tìm hiểu xem cô phải mất bao lâu mới qua nổi giai đoạn đầu đau buồn này? Và tại sao cô phải làm bất cứ điều gì chứ? Sao việc đó lại là trách nhiệm của cô? Cảnh sát đã bắt nhẩm người và ngoan cố ngay cả sau khi đã kiểm tra chứng cứ ngoại phạm của Terry và phát hiện ra nó vững chắc như bàn thạch. Hãy để họ tìm ra thủ phạm thực sự, nếu họ có đủ can đảm làm vậy. Việc của cô là vượt qua ngày hôm nay mà không phát điên, sau đó - chẳng biết khi nào - tìm hiểu xem đời cô sẽ trôi về đâu. Cô có nên sống tiếp ở đây không, khi một nửa thị trấn tin rằng kẻ giết chồng cô đã làm việc đó nhân danh Chúa? Các con cô sẽ phải chôn chân ở những ngôi trường nơi đầy, những xã hội thấy ma, nơi mà ngay cả việc đi giày thể thao sai cách cũng có thể khiến bạn bị chế giễu và tẩy chay?

Đuổi cổ Anderson về là một việc đúng đắn rồi. Mình không thế đê anh ta vào nhà mình. Nghe giọng anh ta có vẻ chân thành — ít nhất mình đã nghĩ vậy — nhưng làm sao mình có thể, sau những gì anh ta đã làm?

Nếu anh ấy không làm thế thì thủ phạm thực sự...

“Im đi,” cô thì thầm với chính mình. “Hãy im đi, làm ơn im đi nào.”

... vẫn nhởn nhơ ngoài kia.

Và chuyện gì sẽ xảy ra nếu hắn tái phạm?

❊ 13 ❊

Hầu hết người thuộc tầng lớp thượng lưu ở thành phố Flint này đều nghĩ Howard Gold sinh ra đã giàu có, hoặc ít nhất có gia đình khá giả. Dù ông không có gì phải xâu hổ về tuổi thơ gian khó của mình, không một chút nào, nhưng ông cũng không cố gắng vặc lại hay cự nự lời của họ. Ông là con trai của một người cày thuê lưu động, đôi khi là một cao bồi, và thỉnh thoảng là người đánh ngựa đi khắp vùng Tây Nam trên một chiếc xe kéo Airstream cùng vợ và hai con trai, Howard và Edward. Howard đã cố gắng học xong đại học, sau đó giúp Eddie làm điều tương tự. Ông đã chăm sóc bố mẹ mình khi họ nghỉ hưu (Andrew Gold chẳng tiết kiệm được một xu nào cả), và lo liệu vô vàn việc khác.

Ông từng là thành viên của Câu lạc bộ Đồng quê Rotary&Rolling Hills. Ông đã đưa những khách hàng quan trọng đến ăn tối tại các nhà hàng ngon nhất của thành phố Flint (có hai nhà hàng), và hỗ trợ hàng chục tổ chức từ thiện khác nhau, bao gồm cả các sân thể thao tại Công viên Estelle Barga. Ông có thể đặt rượu vang hảo hạng nhất và gửi tặng các khách hàng lớn nhất của mình những hộp quà Harry&David được trang trí tỉ mỉ vào mỗi dịp Giáng sinh. Tuy nhiên, khi ở văn phòng một mình, như trưa thứ Sáu tuần này, ông lại thích ăn như hồi còn bé rong ruổi trên hành trình đi từ Hoot, Oklahoma đến Holler, Nevada, và sau đó quay lại, nghe Clint Black trên radio và học bài bên cạnh mẹ khi ông không đến trường. Ông cho rằng túi mật của mình cuối cùng sẽ buộc ông phải chia tay những bữa đồ ăn nhanh đầy dầu mỡ, nhưng ông đã bước qua những năm tháng đầu của tuổi sáu mươi mà không thấy khục khặc gì, tạ ơn Chúa. Khi điện thoại rung, ông đang ngấu nghiến một chiếc bánh mì kẹp trứng, đậm sốt mayo, và khoai tây chiên kiểu Pháp được làm theo cách ông thích, nướng cháy giòn trộn với tương cà. Đang chờ ở mép bàn là một lát bánh táo với kem tan chảy bên trên.

“Howard Gold nghe.”

“Marcy đầy, Howie. Ralph Anderson đã đến đây sáng nay.”

Howie cau mày. “Anh ta đến nhà cô? Anh ta có việc gì làm ở đó đâu. Anh ta đang nghỉ phép. Sẽ không trở lại làm cảnh sát trong một thời gian nữa, đấy là giả sử anh ta quyết định sẽ trở lại với nghề. Cô có muốn tôi gọi cho Cảnh sát trưởng Geller, và nhét một con bọ vào tai ông ta không?”

“Thôi. Tôi đã đóng sầm cửa vào mặt anh ta rồi.”

“Cô làm tốt lắm!”

“Tôi thấy không ổn lắm. Anh ta đã nói một điều mà tôi không thể gạt ra khỏi tầm trí của mình. Howard, hãy cho tôi biết sự thật. Anh có nghĩ Terry đã giết cậu bé đó không?”

“Chúa ơi, không. Tôi đã nói với cô rồi. Có bằng chứng hẳn hoi, cả hai chúng ta đều biết điều đó, nhưng có quá nhiều bằng chứng ngược lại. Anh ấy có thể đã từng bước qua. Nhưng đừng bận tâm đến điều đó, anh ấy không làm chuyện như vậy đâu. Lời khai lúc anh ấy hấp hối cũng cho thấy điều đó.”

“Mọi người sẽ nói đó là bởi vì anh ấy không muốn thừa nhận tội danh trước mặt tôi. Người ta cũng có thể đã nói như vậy rồi.”

Mercy à, ông nghĩ, tôi không chắc lúc đó anh ấy có biết đến sự hiện diện của cô không.

“Tôi nghĩ anh ấy đã nói sự thật.”

“Tôi cũng vầy, và nếu thế thì thủ phạm thực sự đang nhởn nhơ ngoài kia, và nếu hắn ta đã giết một đứa trẻ thì sớm muộn gì hắn cũng ngựa quen đường cũ thôi.”

“Vậy đó là những gì Anderson đã nói với cô hả?” Howie nói. Ông đặt phần còn lại của chiếc bánh mì kẹp sang một bên. Ông không thể nuốt nổi nữa. “Tôi không ngạc nhiên, chuyến đi chuộc lỗi là một mánh cũ của đám cảnh sát, nhưng anh ta đã sai khi thử nó với cô. Ralph cần phải chịu đựng sự chỉ trích cho hành động sai lầm ấy của mình. Cô vừa chôn cất chồng mình xong mà, vì Chúa.”

“Nhưng những gì anh ta nói là thật.”

Có thể đúng là vậy , Howie nghĩ, nhưng điều đó đặt ra một câu hỏi — tại sao anh ta lại nói điều đó với cô?

“Và còn một điều khác nữa,” cô nói. “Nếu không tìm thấy thủ phạm thực sự, mẹ con tôi sẽ phải rời thị trấn. Tôi có thể chịu đựng được những lời xì xào và bàn tán, nhưng thật không công bằng khi ép các con tôi cũng phải chịu đựng như tôi. Nơi duy nhất tôi có thể nghĩ đến là nhà chị gái tôi ở Michigan, và như thế thì lại thật không công bằng với Debra và Sam. Họ cũng có hai con và ngôi nhà khá nhỏ. Điều đó có nghĩa là tôi phải bắt đầu lại từ đầu, và tôi cảm thấy quá mệt mỏi để có thể làm điều đó. Tôi cảm thấy... Howie, tôi cảm thấy suy sụp.”

“Tôi hiểu điều đó. Cô muốn tôi làm gì?”

“Gọi cho Anderson. Bảo anh ta giúp tôi rằng tôi sẽ gặp anh ta tại nhà tối nay và anh ta có thể đặt câu hỏi. Nhưng tôi cũng muốn ông ghé qua nữa. Ông và điều tra viên của ông, nếu ông ấy rảnh và sẵn sàng đến. Ông sẽ giúp tôi chứ?”

“Tất nhiên, nếu cô muốn thế. Và tôi chắc rằng Alec sẽ đến. Nhưng tôi muốn... không cảnh báo mà chỉ là dặn dò thôi, cô hãy cảnh giác. Tôi chắc rằng Ralph cảm thấy có lỗi vô cùng về những gì đã xảy ra và tôi đoán anh ta đã xin lỗi...”

“Anh ta nói anh ta cầu xin tôi.”

Điều đó đáng kinh ngạc đấy nhưng chưa chắc đã thật lòng.

“Anh ta không phải là người xấu,” Howie nói. “Anh ta là một người tốt đã mắc một sai lầm tồi tệ. Nhưng Marcy à, anh ta vẫn muốn chứng minh chính Terry đã giết cậu bé Peterson. Nếu có thể làm được điều đó, sự nghiệp của anh ta sẽ được cứu vãn. Nếu điều đó không bao giờ được chứng minh một cách chắc chắn bằng cách này hay cách khác thì sự nghiệp của anh ta vẫn sẽ trở lại đúng hướng. Nhưng nếu kẻ giết người thực sự xuất hiện, Ralph sẽ bị tước bỏ tư cách thành viên thuộc lực lượng cảnh sát thành phố Flint. Công việc tiếp theo đó mà anh ta tìm được chỉ có thể là gia nhập lực lượng bảo vệ của thành phố Cap với mức lương chỉ bằng một nửa. Còn chưa kể những vụ kiện mà anh ta có thể sẽ phải đối mặt.”

“Tôi hiểu điều đó, nhưng...”

“Tôi chưa nói xong. Bất kỳ câu hỏi nào anh ta dành cho cô chắc chắn đều sẽ liên quan đến Terry. Có thể anh ta sẽ chỉ loanh quanh dò tìm, nhưng cũng có thể anh ta đang nghĩ mình sẽ kiếm được chút thông tin nào đó có khả năng trói Terry lại với kẻ giết người theo một cách khác. Giờ thì cô vẫn muốn tôi sắp xếp một cuộc gặp mặt chứ?”

Marcy im lặng trong giây lát, sau đó lên tiếng, “Jamie Mattingly là bạn thân nhất của tôi ở Barnum Court. Cô ấy đã đưa các con tôi về sau khi Terry bị bắt tại sân bóng, nhưng giờ cô ấy không trả lời điện thoại của tôi và cũng hủy kết bạn với tôi trên Facebook rồi. Bạn thần của tôi đã chính thức không còn muốn chơi với tôi nữa.”

“Cô ấy sẽ quay lại.”

“Cô ấy sẽ làm thế nếu kẻ giết người thực sự bị bắt. Rồi cô ấy sẽ quay lại cầu xin tôi. Có lẽ tôi sẽ tha thứ cho cô ấy vì có thể cô ấy làm vậy là do chồng cô ấy ép - đó chắc chắn là những gì đã xảy ra, tôi tin chắc là thế — nhưng cũng có thể tôi sẽ không làm vậy. Nhưng đó là quyết định mà tôi không thể đưa ra cho đến khi mọi thứ thay đổi theo chiều hướng tốt hơn. Nếu có chuyện đó. Tôi quyết định rồi, ông hãy cứ sắp xếp cuộc gặp mặt giúp tôi nhé. Ông sẽ ở đó để bảo vệ tôi. Pelley cũng vậy. Tôi muốn biết tại sao Anderson lại có đủ dũng khí để xuất hiện trước cửa nhà tôi.”

❊ 14 ❊

Lúc 4 giờ chiều hôm đó, một chiếc xe bán tải hiệu Dodge cũ kỹ chạy trên con đường nông trại cách thành phố Flint chừng 24 cây số về phía Nam, kéo theo một đám bụi mù cao vót như đuôi gà trống. Nó đi qua một cối xay gió bị bỏ hoang với những cánh quạt bị hỏng, một ngôi nhà trang trại vắng ngắt với những hốc mắt từng là cửa sổ đang nhìn chòng chọc, một nghĩa trang hoang vu từng được người dần gọi là Nghĩa địa Cao bồi, một tảng đá với dòng chữ TRUMP MAKE AMERICA GREAT AGAIN TRUMP (TRUMP SẼ KHIẾN NƯỚC MỸ TRỞ NÊN VĨ ĐẠI LẦN NỮA TRUMP) được sơn ở bên sườn nhưng các chữ cái đã phai bớt màu. Những thùng sữa mạ kẽm nằm lăn lóc trong thùng xe tải và đập bang bang vào hai bên sườn thùng. Sau tay lái là một cậu bé mười bảy tuổi tên là Dougie Elồnan. Cậu liên tục kiểm tra điện thoại di động của mình khi lái xe. Khi đến Quốc lộ 79, điện thoại của cậu còn hai vạch, và câu nghĩ thế là đủ.

Cậu dừng lại ở chỗ băng qua đường, bước ra khỏi xe và ngoái nhìn lại phía sau. Không. Tất nhiên là không có gì cả. Và cậu thấy nhẹ nhõm. Cậu gọi cho bố mình. Clark Elíman trả lời ở hồi chuông thứ hai.

“Đám thùng còn ở nhà kho đó chứ?”

“Còn ạ,” Dougie nói. “Con lấy được hơn hai chục thùng, nhưng chúng ta sẽ phải rửa sạch lại. Vẫn sặc mùi sữa vón cục.”

“Thế còn yên ngựa thì sao?”

“Hết rồi bố ạ.”

“Chà, đó không phải là tin tốt nhất trong tuần, nhưng không hơn những gì bố mong đợi. Con gọi bảo gì thế, con trai? Và con đang ở đâu? Nghe như thể con đang ở đâu đó yên tĩnh lắm.”

“Con đang ở đường 79. Nghe này, bố ơi, ai đó đã ở đó rồi.”

“Gì? Ý con là đám du thủ du thực á?”

“Không phải vậy. Không có gì lộn xộn - vỏ bia hoặc giấy gói hay chai rượu vương vãi - không thấy có dấu hiệu đi bậy ở bất cứ đâu, trừ khi họ đi bộ nửa cây số đến bụi cầy gần nhất. Không có dấu hiệu đốt lửa nữa cơ.”

“Cảm ơn Chúa vì điều đó,” Elíman nói, “sạch sẽ như mọi khi. Thế con đã tìm thấy gì? Bố đoán cũng không có gì quan trọng cả, ở đó có gì để ăn trộm đâu và mấy tòa nhà cũ cũng sập rồi, chẳng đáng giá bằng một mớ bùi nhùi.”

Dougie tiếp tục ngoái nhìn lại. Con đường trông vắng vẻ, ổn thôi, nhưng câu ước gì bụi sẽ lắng xuống nhanh hơn.

“Con đã tìm thấy một chiếc quần jean trông có vẻ mới, quần lót Jockey cũng mới, một đôi giày thể thao đắt tiền, chúng dính thứ gì đó sệt sệt bên trong, và trông cũng mới. Chỉ có điều tất cả đều dính thứ gì đó, dây ra cả đống cỏ khô mà họ có lẽ đã nằm lên.”

“Máu?”

“Không, không phải máu. Không biết là gì nhưng khiến cỏ khô biến thành màu đen.”

“Dầu? Dầu động cơ? Có giống thế không?”

“Không, thứ đó không phải là màu đen, chỉ cỏ mà chúng vấy lên mới màu đen mà thôi. Con không biết nó là gì.”

Nhưng cậu biết những mảng cứng trên quần jean và quần lót là gì; cậu đã thủ dâm đôi ba lần một ngày kể từ hồi cậu mười bốn tuổi, sử dụng một mảnh khăn cũ để bắn tinh dịch vào đó, rồi dùng vòi nước ở sân sau để xối sạch nó khi bố mẹ vắng nhà. Tuy nhiên, có những lúc cậu quên, thứ tinh dịch ấy khô két và vỡ mủn ra khi cậu bóp cái khăn.

Chỉ có điều thứ đó xuất hiện quá nhiều ở đây, rất rất nhiều, và thực sự thì ai lại thủ dầm vào một đôi Adipowers mới cứng, đẳng cấp với giá thành lên tới 140 đô-la ngay cả tại Wally World* cơ chứ? Trong những hoàn cảnh khác, Dougie có thể đã nghĩ đến việc nhặt chúng mang về, nhưng không phải với thứ dịch sền sệt kia vấy đầy trên đó, và không cả với những thứ khác mà cậu thấy.

Tên gọi khác của Walmart.

“Thôi, bỏ đi và về nhà thôi con,” Elíman nói. “ít nhất thì con cũng đã thu được đống thùng đó rồi.”

“Không, bố ơi, bố cần gọi cảnh sát. Có một chiếc thắt lưng vẫn móc ở chiếc quần jean và nó có mặt khóa bạc sáng bóng hình đầu ngựa.”

“Điều đó chẳng có nghĩa lý gì đối với bố, con trai, nhưng bố đoán con biết gì đó.”

“Trên bản tin, họ nói rằng Terry Maitland đã đeo một chiếc thắt lưng như thế khi người ta bắt gặp hắn ở ga xe lửa Dubrow. Sau khi hắn giết cậu nhóc đó.”

“Họ nói thế à?”

“Vâng, thưa bố.”

“Chà, chết tiệt thật. Con đợi ở ngã tư đó cho đến khi bố gọi lại nhé, nhưng bố đoán là cảnh sát sẽ muốn đến đẩy. Bố cũng sẽ đến.”

“Hãy nói với họ rằng con sẽ gặp họ tại cửa hàng Biddles.”

“Biddles... Dougie, chỗ đó phải cách Flint chừng gần chục cây số đấy!”

“Con biết. Nhưng con không muốn ở lại đây.” Bây giờ lớp bụi đã lắng xuống và cậu cũng không nhìn thấy gì nữa, nhưng Dougie vẫn cảm thấy không ổn. Không một chiếc ô tô nào chạy qua con đường chính kể từ khi cậu bắt đầu nói chuyện với bố mình, và cậu muốn tìm chỗ nào đó có người.

“Có chuyện gì vậy, con trai?”

“Khi con ở trong nhà kho, chỗ con thấy đống quần áo - lúc đó con đã lấy được mẻ thùng sữa rồi và đang tim kiếm cái yên ngựa mà bố nói là có thể ở đâu đó ngoài này - con bắt đầu cảm thấy không ổn. Giống như có ai đó đang nhìn lén con vậy.”

“Thần hồn nát thần tính thôi con. Kẻ giết cậu bé đó đã chết rồi.”

“Con biết, nhưng bố cứ bảo con hẹn gặp cảnh sát ở Biddles nhé và con sẽ dẫn họ ra đó sau, chứ con không ở đây một mình đâu.” Câu kết thúc cuộc gọi trước khi bố có thể tranh luận thêm.

❊ 15 ❊

Cuộc gặp với Marcy được sắp xếp lúc 8 giờ tối hôm đó tại nhà Maitland. Ralph nhận được cuộc gọi bật đèn xanh từ Howie Gold, và ông ấy bảo với anh rằng Alec Pelley cũng sẽ ở đó. Ralph hỏi liệu anh có thể dẫn theo Yune Sablo không, nếu Yune rảnh.

“Không,” Howie trả lời. “Nếu anh dẫn theo Trung úy Sablo hoặc bất kỳ ai khác, kể cả người vợ đáng yêu của anh thì cuộc gặp mặt sẽ hoãn lại.”

Ralph đồng ý. Anh không thể làm gì khác. Anh loanh quanh trong hẩm rượu một lúc, hẩu như chỉ dịch chuyển được các hộp từ bên nọ sang bên kia rồi trả chúng về chỗ cũ. Sau đó, anh ăn bữa tối. Với hai tiếng dư giả trước giờ hẹn, anh quyết định đứng dậy để ra ngoài. “Anh sẽ đến bệnh viện để thăm Fred Peterson.”

“Tại sao?”

“Anh cảm thấy mình nên làm thế.”

“Em sẽ đi với anh, nếu anh muốn.”

Ralph lắc đầu. “Anh sẽ từ đó đến thẳng Barnum Court.”

“Anh đang tự làm mình kiệt sức đấy. Bà em sẽ bảo như thế là dốc gan dốc ruột.”

“Anh không sao đâu.”

Cô nở một nụ cười ý muốn nói rằng cô hiểu anh, rồi kiễng chân lên hôn anh. “Gọi cho em. Dù có chuyện gì xảy ra, hãy gọi cho em nhé.”

Anh mỉm cười. “Không đâu. Anh sẽ về và kể trực tiếp cho em nghe.”

❊ 16 ❊

Khi đang bước vào sảnh của bệnh viện, Ralph bắt gặp viên thám tử đi trốn đang trên đường đi ra. Jack Hoskins là một người gầy gò, tóc bạc sớm, bọng mắt to và chiếc mũi có đường gân đỏ. Ông ta vẫn mặc bộ đồ câu cá của mình - áo sơ mi kaki và quần kaki, cả hai đều có nhiều túi - nhưng huy hiệu của ông ta được kẹp vào thắt lưng.

“Anh đang làm gì ở đây thế, Jack? Tôi tưởng anh đang đi nghỉ.”

“Bị gọi về sớm ba ngày,” ông ta nói. “Tôi vừa về một giờ trước. Lưới, ủng, cọc tiêu và hộp chứa đồ vẫn chất trong xe tải của tôi. Cảnh sát trưởng nghĩ rằng ít nhất cũng phải có một thám tử trực. Betsy Riggins đang ở trên lẩu năm, chờ sinh. Chiều nay cô ấy vừa chuyển dạ xong. Tôi vừa nói chuyện với chổng cô ấy, anh ấy bảo cô ấy còn lâu mới sinh. Cứ như thể anh ấy biết rõ vây. Còn anh...” Ông ta tạm dừng lấy hơi. “Anh đang rơi vào một mớ hỗn độn đấy, Ralph.”

Jack Hoskins không cố che giấu vẻ hài lòng của mình. Một năm trước, Ralph và Betsy Riggins đã được yêu cầu điển vào các biểu mẫu đánh giá thông thường về Jack, khi ông ta đủ điều kiện để được tăng lương. Betsy, thám tử có ít thâm niên, đã nhận xét mọi điểm tích cực. Ralph đã nộp đánh giá của mình lên Cảnh sát trưởng Geller với chỉ vỏn vẹn bốn chữ: Không có ý kiên. Việc đó không khiến Hoskins bị hoãn tăng lương, nhưng đó cũng vẫn là một ý kiến. Hoskins lẽ ra không được xem các tờ đánh giá, và có thể là đã không xem thật, nhưng những gì Ralph viết đã đến tai ông ta.

“Anh có ngó qua chỗ Fred Peterson không?”

“Dĩ nhiên là có.” Jack bặm môi và thổi ngược những sợi tóc lòa xòa trên trán tung lên. “Toàn máy móc cả, và sinh hiệu kém. Tôi không nghĩ anh ta sẽ tỉnh lại.”

“Chà, chào mừng anh về nhà.”

“Chết tiệt, Ralph, tôi còn ba ngày nữa, đang vui và tôi thậm chí không có cơ hội để thay chiếc áo sơ mi, rặt mùi ruột cá. Tôi nhân được cuộc gọi từ cả Geller và Trưởng nha cảnh sát trưởng hạt Doolin. Tôi phải mò về tận cái xứ khi ho cò gáy Thị trấn Canning đấy. Tôi biết anh bạn Sablo của anh đã ở đó. Có lẽ tôi sẽ không thể về nhà cho đến 10 hoặc 11 giờ.”

Ralph lẽ ra đã nói rằng, Đừng trách tôi , nhưng còn ai để trách cứ nữa đầy? Betsy, vì có thai vào tháng Mười một năm ngoái ư? “Có gì ở Canning thế?”

“Quần jean, quần lót và giày thể thao. Một đứa trẻ đã tim thấy chúng ở một nhà kho khi nó đang đi thu lượm vỏ thùng sữa cho bố mình. Cũng có cả một chiếc thắt lưng có mặt khóa đầu ngựa nữa. Tất nhiên Phòng Tội phạm Di động đã cử người đến đó, tôi làm được gì đâu nhưng sếp cứ...”

“Sẽ có dấu vân tay trên khóa,” Ralph ngắt lời. “Và có thể có cả vệt lốp của chiếc xe van, hoặc chiếc Subaru, hoặc cả hai.”

“Lại trứng khôn hơn vịt rồi, anh bạn,” Jack nói. “Tôi đã đeo huy hiệu thám tử từ lúc cậu vẫn còn mài đũng quần trên ghế nhà trường đấy.” Ý ẩn sau nó mà Ralph hiểu là Và tôi vẫn sẽ mang nó khi cậu trờ thành bảo vệ trung tâm mua sắm tại Southgate.

Ông ta rời đi. Ralph vui mừng khi thấy điều đó. Anh chỉ ước mình có thể tự ra ngoài đó. Thời điểm này mà có bằng chứng mới thi quý lắm. Mừng là Sablo đã đến đó, và sẽ giám sát Đơn vị Pháp y. Họ sẽ gần xong xuôi đâu vào đó trước khi Jack tới nơi và có thể xới tung thứ gì đó lên, như ông ta đã từng làm trong ít nhất hai lần trước đó mà Ralph biết.

Anh đến phòng chờ sinh trước, nhưng tất cả các ghế đều trống, vầy là có lẽ việc sinh nở diễn ra nhanh hơn Billy Riggins, người mới lần đầu làm bố, nghĩ. Ralph bấm nút gọi một y tá và nhờ cô ấy chuyên lời với Betsy rằng anh chúc cô mẹ tròn con vuông.

“Tôi sẽ làm thế khi có cơ hội,” y tá nói, “nhưng hiện tại cô ấy rất bận. Cậu chàng có vẻ vội ra ngoài.”

Đầu anh thoáng hiện lên hình ảnh cơ thể đẫm máu, bị xâm phạm của Frank Peterson và nghĩ, Nếu câu chàng nhỏ bé ấy biết thế giới này là như thế nào, chắc cậu sẽ nán lại thêm chút nữa.

Anh đi thang máy xuống hai tâng để đến ICU. Thành viên duy nhất còn lại của gia đình Peterson đang nằm ở phòng 304. Cổ của anh ta được cuốn rất nhiều băng và có đỡ cổ. Mặt nạ khí đang thổi phì phò, lẫy nhỏ bên trong cứ phồng lên rồi lại xẹp xuống. Các đường chỉ báo sinh hiệu trên màn hình xung quanh giường của người đàn ông, như Jack Hoskins đã nói, rất thấp. Không có hoa (Ralph nghĩ chắc họ cấm hoa ở ICU), nhưng có hai quả bóng bay Mylar được buộc vào chân giường và lơ lửng gần trân nhà. Chúng được in đầm những chữ cổ động mà Ralph không muốn nhìn vào. Anh lắng nghe tiếng khò khè của chiếc máy đang thở thay Pred. Anh nhìn chằm chằm vào những đường sinh hiệu thấp và nghĩ đến lời của Jack, Tôi không nghĩ anh ta sẽ tỉnh lại .

Khi anh ngồi xuống bên giường, một ký ức từ thời trung học chợt trườn về, khi cái mà bây giờ được gọi là nghiên cứu môi trường vẫn còn được biết đến với cái tên khoa học Trái đất cổ xưa đơn thuần. Họ đã nghiên cứu về ô nhiễm. Thầy Greer đã tạo ra một chai nước suối Poland Spring và rót nó vào ly. Thầy mời một trong số các học trò - Misty Trenton, chính là cô ấy, cô gái của những chiếc váy ngắn rất đẹp - lên trước lớp và bảo cô ấy uống một ngụm. Cô ấy đã làm như vậy. Thầy Greer sau đó đã lấy ra một dụng cụ lấy giọt và nhúng nó vào một lọ Carters Ink. Thầy bóp hút và nhỏ một giọt vào ly. Đám học sinh quan sát, tò mò, khi giọt mực đó chìm xuống đã kéo theo một cái xúc tu màu chàm phía sau. Thầy Greer lắc nhẹ chiếc ly từ bên này sang bên kia, và chẳng mấy chốc, tất cả nước trong ly đều ngả sang màu lam nhạt. Giờ em có uống nó nữa không? Thầy Greer hỏi Misty. Cô ấy lắc đầu dứt khoát đến nỗi một trong những chiếc kẹp tóc của cô ấy bị bung ra, và tất cả mọi người, kể cả Ralph, đều bật cười. Bây giờ anh không cười nữa.

Chưa đầy hai tuần trước, gia đình Peterson vẫn còn rất ổn. Sau đó, giọt mực gây ô nhiễm xuất hiện. Bạn có thể nói đó là sợi xích trên chiếc xe đạp của Frankie Peterson, rằng cậu bé có thể đã an toàn về nhà nếu xe không hỏng, nhưng cậu củng có thể làm thế - chỉ bằng cách dắt thay vì muốn cưỡi chiếc xe về nhà — nếu Terry Maitland không chờ sẵn ở bãi đậu xe của tiệm tạp hóa đó. Terry là giọt mực, không phải chiếc xích xe đạp. Chính Terry là người đã gây ô nhiễm đầu tiên và sau đó phá hủy toàn bộ gia đình Peterson. Terry, hoặc bất kỳ ai mang khuôn mặt của Terry.

Hãy loại bỏ những ẩn dụ , Jeannie từng nói, và anh sẽ chỉ còn những điều không thể giải thích được. Những hiện tượng siêu nhiên.

Chỉ có điều không thể có chuyên đó. Siêu nhiên là hiện tượng có thể tổn tại trong sách và phim, nhưng không phải trong thế giới thực.

Không, không phải trong thế giới thực, nơi những kẻ say xỉn như Jack Hoskins được tăng lương. Tất cả những gì Ralph đã trải qua trong gần 50 năm cuộc đời đều phủ nhận ý tưởng đó. Phủ nhân khả năng có một thứ như vậy. Tuy nhiên, khi ngồi đây nhìn Fred (hoặc những gì còn lại của anh ta), Ralph phải thừa nhân rằng có điều gì đó thật quỷ dị trong cách cái chết của cậu bé lầy lan, không chỉ cướp đi một hoặc hai thành viên trong gia đình hạt nhân của anh ta, mà là toàn bộ. Nỗi đau không chỉ neo lại ở gia đình Peterson. Không ai có thể ngờ rằng Marcy và các con cô sẽ phải mang những vết sẹo trong suốt quãng đời còn lại, thậm chí có thể sẽ là những khiếm khuyết vĩnh viễn.

Ralph có thể tự nhủ rằng với mỗi hành động tàn độc như thế, ảnh hưởng tiêu cực phải ở mức tương đương — chẳng phải anh đã thấy điều đó nhiều lần sao? Đúng. Anh đã thấy. Tuy nhiên, lần này lại dù ít dù nhiều cũng mang tính cá nhân. Như thể những người này đã được nhắm làm mục tiêu vậy. Còn bản thân Ralph thì sao? Anh không phải là một phần của thiệt hại ấy ư? Còn Jeannie? Ngay cả Derek, người sắp trở về nhà từ trại hè để khám phá ra rằng nhiều điều tốt đẹp mà cậu coi là đương nhiên - ví dụ như công việc của bố cậu - giờ chẳng khác nào ngọn đèn trước gió.

Chiếc máy thở kêu xì xì. Ngực của Fred Peterson nâng lên rồi xẹp xuống. Thỉnh thoảng anh ta phát ra một thứ âm thanh nghèn nghẹt kỳ lạ giống như tiếng cười khúc khích. Như thể tất cả chỉ là một trò đùa của vũ trụ, và chừng nào bạn hôn mê bạn mới được trải nghiệm nó.

Ralph không thể chịu đựng thêm nữa. Anh rời khỏi phòng, lao về phía thang máy, vừa đi vừa chạy.

❊ 17 ❊

Anh ra ngoài, chọn ngồi trên một chiếc ghế dài dưới bóng râm và gọi điện về sở. Sandy McGill bắt máy, và khi Ralph hỏi liệu cô ấy có nhận được tin tức gì từ Thị trấn Canning không, đã có một khoảng ngừng. Cuối cùng khi cất lời, giọng cô ấy nghe có vẻ hơi xấu hổ. “Tôi không được phép nói điều đó với anh, Ralph. Sếp Geller đã chỉ thị rồi. Tôi xin lỗi.”

“Không sao đâu,” Ralph nói, sau đó đứng dậy. Bóng của anh đổ dài, hệt như bóng của một người đàn ông bị treo cổ, và tất nhiên điều đó khiến anh lại nghĩ đến Fred Peterson. “Lệnh là lệnh.”

“Cảm ơn anh vì đã hiểu cho tôi. Jack Hoskins về rồi, ông ấy sẽ đến đó.”

“Không có gì.” Anh cúp máy và di chuyển đến bãi đậu xe ngắn hạn, tự nhủ rằng điều đó không thành vấn đề; Yune sẽ để mắt đến ông ta.

Có lẽ vây.

Anh mở khóa, vào trong xe và bật điều hòa không khí. 7 giờ 15 phút. Quá muộn để về nhà, quá sớm để đến nhà Maitland. Anh chỉ còn cách đi loanh quanh thành phố như một cậu thiếu niên choai choai. Và suy nghĩ. Về việc Terry đã gọi Willow Raimvater là quý bà. Vế việc Terry đã hỏi đường đến phòng khám gần nhất, dù hắn đã sống ở thành phố Flint cả đời. Vế việc Terry đã ở chung phòng với Billy Quade, dẫu cho việc đó chẳng hề tiện. Vế việc Terry đã đứng dậy để đặt ra câu hỏi cho Coben, việc này thì tiện hơn. Vế giọt mực loang trong ly nước, thứ đã biến nó thành màu lam nhạt, về nơi những dấu chân dừng lại, về những con giòi đang ngoe nguẩy bên trong quả dưa vàng đẹp mã. Nghĩ rằng nếu một người bắt đầu để mắt đến các khả năng siêu nhiên, người đó sẽ không thể nghĩ mình là một người hoàn toàn tỉnh táo, và nghĩ về việc biết đâu sự tỉnh táo của một người hóa ra lại chẳng tốt đẹp gì. Giống như nghĩ về nhịp tim của mình vậy: nếu phải đến đó, chúng ta có thể sẽ gặp rắc rối.

Anh bật radio trên ô tô lên và tìm kiếm chút nhạc sôi động. Cuối cùng, anh cũng tìm thấy một kênh đang phát bài “Boom Boom” của Animals. Anh thong dong, đợi đến lúc có thể đến nhà Maitland trên đường Barnum Court. Cuối cùng cũng đến lúc đó.

❊ 18 ❊

Alec Pelley là người mở cửa cho anh và dẫn anh đi qua phòng khách để vào nhà bếp. Từ trên lẩu, bài hát của Animals lại mốt lần nữa vang lên. Lần này là bản hit hay nhất của họ. Nơi từng hủy hoại cuộc đời bao chàng trai nghèo , Eric Burdon rên rỉ, và Chúa ơi, con biết một người.

Hợp lưu , anh nghĩ. Từ của Jeannie.

Marcy và Howie Gold đang ngồi bên bàn bếp. Họ đang uống cà phê. Ở chỗ Alec đang ngồi cũng có một cốc, nhưng không ai đề nghị rót cà phê cho Ralph cả. Mình đã bước vào lán của kẻ thù rồi , Ralph nghĩ và ngồi xuống.

“Cảm ơn cô vì đã đồng ý gặp tôi.”

Marcy không trả lời, chỉ cầm cốc của mình lên, tay run run.

“Việc này khiến khách hàng của tôi kiệt sức,” Howie nói, “vì vậy chúng ta hãy trình bày ngắn gọn thôi. Anh đã nói với Marcy rằng anh muốn nói chuyện với cô ấy...”

“Cần” Marcy ngắt lời. “Tôi cần phải nói chuyện với cô, đó là những gì anh ta đã nói.”

“Được rồi. Anh cần phải nói chuyện với cô ấy về điều gì, Thám tử Anderson? Nếu đó là một lời xin lỗi, hãy thoải mái, nhưng hãy hiểu rằng chúng tôi vẫn giữ nguyên các lựa chọn pháp lý của mình.”

Dẫu gì thì Ralph cũng vẫn chưa sẵn sàng nói lời xin lỗi. Không ai trong số ba người này từng nhìn thấy cành cây đẫm máu thò lò ở mông của Frank Peterson, nhưng Ralph thi có.

“Có tin mới. Thực chất thì không hẳn, nhưng nó cho thấy điều gì đó, dù lôi không biết chính xác là điều gì. Vợ tôi gọi đó là hợp lưu.”

“Anh có thể cụ thể hơn một chút được không?” Howie hỏi.

“Hóa ra chiếc xe van được dùng để bắt cóc cậu bé Peterson là đồ đánh cắp của một đứa trẻ chỉ lớn hơn Frank Peterson một chút. Tên nó Merlin Cassidy. Cậu nhóc bỏ trốn vì bị bố dượng bạo hành. Trong hành trình trốn chạy từ New York đến Nam Texas, nơi cuối cùng cậu nhóc bị bắt, nó đã đánh cắp một số phương tiên. Nó bỏ lại chiếc xe van ở Dayton, Ohio, vào tháng Tư. Marcy — bà Maitland - cô và gia đình cô đã ở Dayton vào tháng Tư.”

Marcy đã nâng cốc của mình lên để nhấp thêm một ngụm nữa, nhưng bây giờ cô ấy đặt nó đánh cạch xuống bàn. “Ôi không. Anh không thể gắn chuyện đó với Terry. Chúng tôi bay khứ hồi, và ngoại trừ lúc Terry đến thăm bố chồng tôi, chúng tôi đã ở bên nhau suốt thời gian đó. Xong chuyện và tôi nghĩ đã đến lúc anh phải rời đi.”

“Chà,” Ralph nói. “Chúng tôi biết đó là một chuyến du lịch gia đình, và các vị đã đi máy bay, song gần như từ lúc đó Terry đã trở thành một người đáng lưu tâm rồi. Chỉ là... Cô không thấy chuyện này lạ sao? Xe van ở đó khi gia đình cô ở đó, sau đó nó quay về đây. Terry nói với tôi rằng anh ấy chưa bao giờ nhìn thấy nó, chứ đừng nói đến việc lấy trộm. Tôi muốn tin điều đó. Chúng tôi có dấu vân tay của anh ấy trên cái thứ chết tiệt đó, nhưng tôi vẫn muốn tin. Và gần như có thể.”

“Tôi nghi ngờ điều đó,” Howie nói. “Đừng cố dụ chúng tôi.”

“Liệu điều tôi sắp nói ra có giúp anh tin tôi, thậm chí chỉ là tin tôi hơn một chút, rằng chúng tôi có bằng chứng xác thực cho thấy Terry đã ở thành phố Cap? Dấu tay của anh ấy xuất hiện trên một cuốn sách lấy từ quẩy báo của khách sạn? Anh ấy có thể đã để lại những dấu tay đó vào gần đúng thời điểm cậu bé Peterson bị bắt cóc?”

“Anh đang giỡn hả?” Alec Pelley hỏi. Ông ta có vẻ bàng hoàng.

“Không.” Ngay cả trong trường hợp bản thân Terry đã chết, Bill Samuels cũng vẫn sẽ nổi điên nếu biết Ralph đã nói với Marcy và luật sư của cô về cuốn sách, nhưng anh kiên quyết không để cuộc gặp mặt này kết thúc mà không nhận được một số câu trả lời.

Alec huýt sáo. “Chết tiệt.”

“Vậy là anh biết anh ấy đã ở đó!” Marcy nghẹn ngào. Mặt cô đỏ ửng lên. “Anh phải biết điều đó!”

Nhưng Ralph không muốn nói đến chuyện này; anh đã dành quá nhiều thời gian cho nó rồi. “Terry đã để cập đến chuyến đi Dayton trong lần cuối tôi nói chuyện với anh ấy. Anh ấy nói mình muốn đến thăm bố, nhưng đã nói từ muốn với vẻ nhăn mặt trẻ con rất buồn cười. Và khi tôi hỏi bố anh ấy sống ở đó à, anh ấy đã nói, Nếu anh có thể gọi những việc ông ấy đang làm vào những ngày này là sống . Vậy vấn đề ở đây là gì?”

“Vấn đề là Peter Maitland đang mắc bệnh Ahheimer giai đoạn cuối,” Marcy nói. “Ông đang ở Viện dưỡng lão Heisman. Nơi này thuộc tổ hợp Bệnh viện Kindred.”

“Cho nên. Tôi đoán là rất khó để Terry đến gặp ông ấy.”

“Rất khó,” Marcy đồng ý. Bây giờ cô đã phấn chấn hơn một chút. Ralph mừng khi phát hiện ra mình không mất hết các kỹ năng, nhưng cuộc gặp này không giống như ở trong phòng thẩm vấn với một kẻ tình nghi. Cả Howie và Alec Pelley đều cảnh giác cao độ, sẵn sàng ngán cô lại nếu họ phát hiện cô chuẩn bị đạp chân lên một bẫy mìn. “Nhưng không chỉ vì Peter không còn nhớ Terry nữa đâu. Mối quan hệ giữa họ đã không mấy tốt đẹp một thời gian dài rồi.”

“Tại sao không chứ?”

“Điều này thi có liên quan gì, Tbám tử?” Howie hỏi.

“Tôi không biết. Có thể chẳng liên quan gì. Nhưng vì chúng ta đang không ở tòa, ngài cố vấn ạ, anh có thể để cô ấy trả lời câu hỏi đó được không?”

Howie nhìn Marcy và nhún vai. Tùy cô.

“Terry là con một của Peter và Melinda,” Marcy nói. “Anh ấy đã lớn lên ở đây, ở thành phố Flint này, như anh biết đấy, và sống ở đây cả đời, ngoại trừ bốn năm ở OSU.”

“Cô đã gặp chồng ở đó?” Ralph hỏi.

“Đúng vậy. A, Peter Maitland từng làm việc cho Công ty Dầu khí Cheery, vào cái thời mà khu vực này vẫn còn đang sản xuất một lượng lớn dầu. Ông ấy tằng tịu với thư ký rồi bỏ vợ. Có rất nhiều hiểm thù và Terry đã đứng về phía mẹ mình. Terry... anh ấy là một người trung thành, ngay cả khi còn là một cậu bé. Tất nhiên, anh ấy coi bố mình là một kẻ lừa bịp, và tất nhiên những lời biện mình của Peter chỉ khiến mọi việc trở nên tồi tệ hơn. Tóm lại là, Peter đã kết hôn với cô thư ký - Dolores là tên bà ta - và xin chuyển công tác đến trụ sở chính.”

“Ở Dayton?”

“Chính xác. Peter không cố gắng giành quyền giám hộ hay gì cả. Ông ấy hiểu Terry sẽ chọn ai. Nhưng Melinda cương quyết Terry thi thoảng vẫn phải đến gặp ông ấy vì bà cho rằng một cậu bé cần phải biết bố mình là ai. Terry đã nghe lời, nhưng chỉ để mẹ vui lòng. Anh ấy luôn nghĩ bố mình là một kẻ hèn nhát.”

Howie nói, “Đó chính là Terry mà tôi biết.”

“Melinda qua đời năm 2006. Đau tim. Người vợ hai của Peter qua đời hai năm sau đó vì bệnh ung thư phổi. Terry vẫn duy trì thói quen đến Dayton một hoặc hai lần mỗi năm, để tỏ lòng tôn trọng với mẹ và thực hiện các nghĩa vụ với bố. Tôi cho là cũng vì lý do tương tự. Năm 2011 - tôi nhớ là thế - Peter bắt đầu đãng trí. Giày để trong nhà tắm thay vì dưới gẩm giường, chìa khóa xe trong tủ lạnh, những việc đại loại như vậy. Bởi Terry là người thần duy nhất còn sống của ông ấy, chính Terry là người đã sắp xếp để đưa ông ấy đến Heisman. Đó là vào năm 2014.”

“Những nơi như thế rất đắt,” Alec nói. “Ai trả tiền?”

“Bảo hiểm. Peter Maitland có mức bảo hiểm rất tốt. Dolores cương quyết lắm. Peter nghiện thuốc lá nặng cả đời, và bà ta nghĩ mình sẽ được thừa hưởng cả mớ tiền nếu ông ấy chết. Nhưng bà ta đã đi trước. Có lẽ là do hít phải khói thuốc của ông ấy.”

“Cô nói như thể Peter Maitland đã chết vậy,” Ralph nói. “Đúng không?”

“Không, ông ấy vẫn còn sống.” Sau đó, cô nhắc lại lời chồng: “Nếu anh muốn gọi đó là cuộc sống. Ông ấy thâm chí đã bỏ thuốc. Ở Heisman, đó là điều cấm kỵ.”

“Cô đã ở Dayton bao lâu trong chuyến thăm gần đấy nhất?”

“Năm ngày. Terry đã đến thăm bố ba lần khi chúng tôi ở đó.”

“Cô và các con không đến gặp ông ấy?”

“Không. Terry không muốn thế và tôi cũng vậy. Peter không thể làm tròn bổn phận người ông với Sarah và Grace, và Grace sẽ không hiểu được.”

“Mọi người làm gì khi anh ấy đi thăm bố mình?”

Marcy mỉm cười. “Anh nói như thể Terry dành nhiều thời gian cho bố mình lắm vậy, nhưng sự thật thì không như thế đâu. Anh ấy chỉ đến một lúc rồi về, không quá một hoặc hai giờ. Bốn chúng tôi ở cùng nhau suốt. Khi Terry đến Heisman, chúng tôi loanh quanh ở khách sạn, bọn trẻ bơi trong bể bơi trong nhà. Trong ba ngày ở đó, chúng tôi dành một ngày đến Viện Nghệ thuật; tôi cũng đưa hai đứa đến buổi biểu diễn Disney trong một buổi chiều. Có một khu tổ hợp rạp chiếu phim gần khách sạn. Chúng tôi đã xem, hai hoặc có thể là ba phim khác nhau, nhưng đó là lúc cả gia đình cùng đi. Cả nhà đã đến bảo tàng không quân và đến Boonshoít, một bảo tàng khoa học. Hai đứa nhỏ thích lắm. Đó là kỳ nghỉ gia đình điển hình đấy, thám tử Anderson, và Terry chỉ vắng mặt có vài giờ để làm đứa con hiếu thảo thôi.”

Và có thể để đảnh câp một chiếc xe van , Ralph nghĩ.

Merlin Cassidy và gia đình Maitland chắc chắn đã đến Dayton cùng lúc, nhưng giả thuyết đó có vẻ xa vời quá. Ngay cả khi họ gặp nhau thật đi nữa thi câu hỏi đặt ra vẫn là làm thế nào mà Terry đưa được chiếc xe trở về thành phố Flint. Hay tại sao anh ta lại làm thế. Có rất nhiều phương tiện bị đánh cắp trong khu vực tàu điện ngầm của thành phố Flint; chiếc Subaru của Barbara Near là một ví dụ.

“Có lẽ các vị đã ăn ngoài một vài lần, phải không?” Ralph hỏi.

Howie nghiêng người về phía trước, nhưng không nói gì.

“Chúng tôi chủ yếu gọi dịch vụ phòng, Sarah và Grace thích thế, nhưng chúng tôi cũng có ra ngoài ăn khi khách sạn hết chỗ.”

“Cô có tình cờ đi ăn ở đâu có tên là Tommy&Tuppence không?”

“Không. Nếu có thì tôi sẽ nhớ ra ngay. Chúng tôi đã ăn ở IHOP một tối, và hai lần ở Cracker Barrel, tôi nghĩ vậy. Sao thế?”

“Không có gì,” Ralph nói.

Howie cười với anh ý muốn nói rằng anh biết nhiều hơn thế nhưng đã kiềm chế lại. Alec ngồi khoanh tay trước ngực, mặt vô cảm.

“Thế thôi à?” Marcy hỏi. “Vì tôi mệt rồi. Mệt vì chuyện này. Và cả vi anh.”

“Có điều gì bất thường xảy ra khi nhà cô ở Dayton không? Gì cũng được? Con cô bị lạc một lúc, Terry nói anh ấy đã gặp một người bạn cũ, cô cũng gặp một người bạn cũ, có thể để giao một gói hàng...”

“Một cái đĩa bay?” Howie hỏi. “Thế còn một người đàn ông mặc áo choàng dài với một tin nhắn được viết bằng mật mã thì sao? Hay những anh chàng Rockette nhảy múa trong bãi đậu xe?”

“Không nên thế đâu, ngài cố vấn. Tin hay không thì tùy, tôi đang

CỐ giúp giải quyết vấn đề ở đây.”

“Chẳng có gì cả.” Marcy đứng dậy và bắt đầu dọn các cốc cà phê. “Terry đã đến thăm ông nội bọn trẻ, chúng tôi đã có một kỳ nghỉ vui vẻ, chúng tôi bay về nhà. Chúng tôi không ăn ở Tommy hay gì đó, và chúng tôi không trộm xe van. Bây giờ tôi muốn anh...”

“Bố có một vết cứa.”

Tất cả đêu quay ra cửa. Sarah Maitland đang đứng đó, trông xanh xao, mệt mỏi và quá gầy trong chiếc quần jean và áo phông Rangers.

“Sarah, con đang làm gì ở đây?” Marcy đặt những chiếc cốc lên quẩy và đi đến chỗ con gái. “Mẹ đã bảo hai chị em phải ở trên lầu cho đến khi mọi người nói chuyện xong mà.”

“Grace đã ngủ rồi,” Sarah nói. “Đêm qua con bé thức trắng vì gặp ác mộng về gã đàn ông có đôi mắt hình ống hút. Con mong đêm nay em không thế nữa. Nếu em tỉnh dậy, mẹ nên tiêm cho em một mũi Benadryl.”

“Mẹ chắc chắn em sẽ ngủ ngon. Lên nhà đi con.”

Nhưng Sarah vẫn đứng im. Cô bé đang nhìn Ralph, không phải với sự hận thù và ngờ vực của người mẹ mà với sự tò mò xoáy sầu khiến Ralph khó chịu. Anh cố nhìn lại con bé nhưng điều đó thật khó.

“Mẹ cháu bảo bác đã giết bố cháu,” Sarah nói. “Điều đó có đúng không?”

“Không.” Cuối cùng thì lời xin lỗi cũng xuất hiện, và trước sự ngạc nhiên của anh, anh có thể thốt nó ra mà không quá tốn nhiều công sức. “Nhưng bác có lỗi một phần, và vì điều đó, bác vô cùng xin lỗi. Bác đã phạm một sai lầm mà bác sẽ mang theo suốt phần đời còn lại.”

“Như thế cũng tốt,” Sarah nói. “Có lẽ bác đáng bị thế.” Và quay sang mẹ, cô bé nói: “Con sẽ lên lầu ngay bây giờ, nhưng nếu nửa đêm mà Grace còn la hét nữa, con sẽ ngủ trong phòng của em ấy.”

“Trước khi đi, Sarah, cháu có thể cho bác biết về vết cứa không?” Ralph hỏi.

“Lúc bố cháu đến thăm ông,” Sarah nói. “Một y tá đã băng vết thương ngay sau khi chuyên xảy ra. Cô ấy dùng Betadine và một chiếc băng gạc. Nó ổn. Bố nói nó không đau.”

“Lên lầu đi con,” Marcy nói.

“Được rồi.” Họ nhìn cô bé đi lên cầu thang với đôi chân trần. Khi đến nơi, cô bé ngoái lại. “Nhà hàng Tommy&Tuppence đó nằm ngay phía trên khách sạn nhà cháu ở. Trên đường đến bảo tàng nghệ thuật, cháu đã nhìn thấy tấm biển đó.”

❊ 19 ❊

“Hãy cho tôi biết về vết cứa,” Ralph nói.

Marcy chống tay lên hông. “Tại sao? Để anh chuyện bé xé ra to à? Chuyện đó đầu có gì to tát.”

“Anh ta hỏi vì đó là thứ duy nhất anh ta có,” Alec nói. “Nhưng tôi cũng quan tâm.”

“Nếu cô quá mệt...” Howie lên tiếng.

“Không, không sao cả. Đó không phải chuyện lớn gì, chỉ là một vết xước thôi. Có phải là chuyến thứ hai anh ấy đến thăm bố không nhỉ?” Cô cúi đầu, cau mày. “Không, đó là chuyến cuối cùng, vì chúng tôi đã bay về nhà vào sáng hôm sau. Khi Terry rời khỏi phòng của bố mình, anh ấy đã va phải một hộ lý. Anh ấy bảo cả hai đều không nhìn đường. Có lẽ cú va chạm ấy chỉ dừng lại ở mức va chạm nhẹ rồi xin lỗi là xong, nhưng lao công vừa lau sàn, nên sàn vẫn ướt. Người hộ lý trượt ngã và có nắm lấy cánh tay của Terry, nhưng cuối cùng anh ta vẫn đo sàn. Terry đỡ anh ta dậy, hỏi anh ta có ổn không, và anh ta nói mình ổn. Ter đi một đoạn thì thấy cổ tay mình chảy máu. Móng tay của người hộ lý chắc đã cứa vào tay anh ấy khi anh ta tóm lấy Terry, cố đứng vững. Một y tá đã khử trùng nó và dán băng gạc, đúng như Sarah nói. Đó là toàn bộ câu chuyện. Nó có giải quyết được vụ án giúp anh không?”

“Không,” Ralph nói. Nhưng nó không giống như dây áo ngực màu vàng. Đây là một sự kết nối - một sự hợp lưu, mượn từ của Jeannie - anh nghĩ mình có thể tìm hiểu, song anh sẽ cần Yune Sablo giúp. Anh đứng dậy. “Cảm ơn vi đã dành thời gian cho tôi, Marcy.”

Cô ưu ái nở nụ cười lạnh lùng với anh. “Anh hãy gọi tôi là bà Maitland.”

“Tôi hiểu rồi. Và Howard, cảm ơn vi đã sắp xếp cuộc gặp này.” Anh đưa tay về phía luật sư. Trong một khoảnh khắc, nó chỉ lơ lửng ở đó, nhưng cuối cùng, Howie đã nắm lấy nó.

“Tôi sẽ tiễn anh,” Alec nói.

“Tôi biết lối mà.”

“Tôi biết chứ, nhưng tôi đã đưa anh vào thì cũng nên tiễn anh ra cho cân bằng.”

Họ băng qua phòng khách và bước ra một sảnh ngắn. Alec mở cửa. Ralph bước ra, và ngạc nhiên khi Alec bước ra theo anh.

“Vết cắt thi sao?”

Ralph nhìn ông ta. “Tôi không biết anh đang nói về cái gì.”

“Tôi nghĩ là anh biết đấy. Khuôn mặt anh đã biến sắc.”

“Khó tiêu thôi. Tôi hay bị lắm, và cuộc gặp mặt này cũng chẳng dễ dàng gì mà. Dù không thể khó nhằn bằng cái cách cô bé nhà họ nhìn tôi. Tôi cảm thấy mình giống như một con rệp trên cầu trượt.”

Alec đóng cửa lại sau lưng họ. Ralph đã bước xuống hai bậc thang, nhưng vi chiều cao của anh, hai người đàn ông vẫn gần ngang nhau. “Tôi định nói với anh điều này,” Alec nói.

“Được thôi.” Ralph chuẩn bị tinh thần.

“Vụ bắt giữ đó thật vớ vẩn. Chết tiệt thì đúng hơn. Tôi chắc rằng giờ anh đã nhận ra điều đó.”

“Tôi không nghĩ mình cần thêm một lời mắng mỏ nữa tối nay đâu.” Ralph bắt đầu quay đi.

“Tôi chưa nói xong.”

Ralph quay lại, đầu cúi xuống, chân hơi dang rộng. Đó là tư thế của một người sẵn sàng chiến đấu.

“Tôi không có con. Marie không thể sinh con. Nhưng nếu tôi có một đứa con trai bằng tuổi con trai của anh và nếu tôi có bằng chứng chắc chắn rằng kẻ bạo dầm giết người chính là người rất quan trọng đối với nó, là người mà nó ngưỡng mộ, tôi cũng sẽ làm như thế, hoặc tệ hơn. Ý tôi là tôi hiểu vì sao anh lại bị mất lý trí như thế.”

“Được rồi,” Ralph nói. “Điều đó cũng chẳng khiến mọi việc tốt hơn đâu, nhưng cảm ơn anh.”

“Nếu anh thay đổi quyết định và muốn cho tôi biết thông tin thêm về vết cứa, hãy gọi cho tôi. Có lẽ giờ chúng ta cùng hội cùng thuyền rồi.”

“Ngủ ngon nhé, Alec.”

“Chúc anh ngủ ngon, Thám tử. Giữ an toàn nhé.”

❊ 20 ❊

Anh đang kể cho Jeannie tình hình cuộc gặp thì điện thoại của anh đổ chuông. Đó là Yune. “Ngày mai chúng ta có thể gặp nhau nói chuyên được không, Ralph? Có điều gì đó khá kỳ lạ ở nhà kho nơi đứa trẻ tìm thấy bộ quần áo mà Maitland mặc ở ga xe lửa. Thực sự là có nhiều hơn một điều phải nói.”

“Nói ngay đi.”

“Không. Tôi đang về nhà. Tôi mệt quá. Và tôi cần phải suy nghĩ thêm về chuyện này.”

“Được, mai nhé. Ở đầu?”

“Một nơi nào đó yên tĩnh và vắng vẻ. Tôi không thể để mọi người biết chuyện tôi gặp anh. Anh thì nghỉ phép còn tôi đã rút khỏi vụ án. Trên thực tế, không có vụ án nào cả. Không còn nữa khi Maitland đã chết.”

“Chuyện gì sẽ xảy ra với đống quần áo đó?”

“Chúng sẽ được chuyển đến Cap để kiểm tra pháp y. Sau đó sẽ được chuyên lại cho Sở Cảnh sát trưởng Hạt Flint.”

“Anh đang giỡn hả? Chúng nến được gộp vào đống bằng chứng liên quan đến Maitland. Ngoài ra, Dick Doolin thì biết quái gì đâụ.”

“Đúng thế, nhưng Canning thuộc hạt, không phải thành phố, nên nó thuộc quyền quản lý của bên cảnh sát trưởng. Tôi nghe nói sếp Geller đã cử một thám tử đến nhưng chỉ để lấy lệ.”

“Hoskins.”

“Đúng, đúng cái tên đó. Ông ta vẫn chưa đến, và nếu ông ta đến thì có khi mọi người giải tán hết rồi. Có lẽ ông ta bị lạc.”

Khả năng cao là ông ta dừng ở đâu đó làm vài ngụm rồi , Ralph nghĩ.

Yune nói, “Số quần áo đó sẽ nằm gọn trong một hộp đựng bằng chứng ở sở cảnh sát, và chúng sẽ vẫn ở đó cho đến cuối thế kỉ XXI. Chẳng ai quan tâm đâu. Kiểu như Maitland đã làm việc đó, Maitland chết rồi, chúng ta phải sống tiếp thôi.”

“Tôi chưa sẵn sàng làm thế,” Ralph nói và mỉm cười khi Jeannie, đang ngồi trên ghế sô-pha, nắm hai tay thành nắm đấm và chìa hai ngón cái lên. “Anh thì sao?”

“Nếu sẵn sàng từ bỏ rồi thì tôi còn nói chuyện với anh làm gi? Ngày mai chúng ta nên gặp nhau ở đâu?”

“Có một quán cà phê nhỏ gần ga xe lửa ở Dubrow. Quán O’Malley’s Irish Spoon. Anh có thể tìm thấy nó không?”

“Chắc rồi.”

“Mười giờ à?”

“Được đấy. Nếu vướng việc, tôi sẽ gọi điện và hẹn lại sau.”

“Anh có tất cả lời khai của nhân chứng, phải không?”

“Trong máy tính xách tay của tôi.”

“Hãy mang theo nó. Đồ đạc của tôi để ở sở hết rồi mà tôi không được phép đến. Có nhiều điều để nói với anh lắm đấy.”

“Tôi cũng thế,” Yune nói. “Chúng ta có thể giải quyết vụ này, Ralph, nhưng tôi không biết liệu chúng ta có thích những gì chúng ta tìm thấy không. Đây là một khu rừng sâu thăm thẳm.”

Thực ra , khi kết thúc cuộc gọi Ralph nghĩ, nó là một quả dưa vàng. Và thứ chết tiệt đó đầy giòi.

❊ 21 ❊

Jack Hoskins ghé qua Gentlemen, Please trên đường đến khu đất nhà Elíman. Ông ta gọi một ly vodka-tonic, thứ mà ông ta cảm thấy xứng đáng được thưởng thức sau khi đang đi nghỉ thì bị gọi về. Ông ta ực một hơi hết cả ly, rồi gọi một ly nữa để nhấm nháp. Có hai vũ công thoát y trên sân khấu, cả hai đều vẫn đang mặc đủ quần áo (ở Gentlemen thì như thế có nghĩa là chỉ mặc mỗi đồ lót), nhưng lại quấn vào nhau một cách lười biếng khiến Jack không mấy hứng thú.

Khi ông rút ví để thanh toán, nhân viên pha chế đã xua tay. “Trên kia.”

“Cảm ơn.” Jack thả tiên boa trên quẩy bar và rời đi, tâm trạng khá hơn một chút. Trên đường đi, ông ta lấy một vỉ kẹo bạc hà từ hộp đựng găng tay và bẻ hai viên. Mọi người cứ bảo vodka không mùi, nhưng họ toàn điều thôi.

Con đường dẫn vào trang trại đã được chăng dây vàng - của hạt, không phải của thành phố. Hoskins ra khỏi xe, kéo một trong những chiếc cọc mà đoạn dây được buộc vào, nhấc nó qua bên rồi lái xe qua. Tê hết cả mông , ông ta nghĩ và triệu chứng trầm trọng hơn khi ông ta đến chỗ một cụm nhà xiêu vẹo - một nhà kho và ba cái lán - và phát hiện ra không có ai ở đó. Ông ta cố nói vào bộ đàm, muốn chia sẻ nỗi thất vọng của mình với ai đó, ngay cả khi đó chỉ là Sandy McGill, người mà ông ta vẫn coi là một ả đàn bà cau có trong đám sĩ quan cấp một. Bộ đàm im lìm, và tất nhiên không có dịch vụ di động nào ở Nam Jerkoff cả.

Ông ta tóm lấy chiếc đèn pin dài và ra ngoài, chủ yếu là để duỗi chân; ở đây có gì để làm đâu. Đó là việc vặt của một tên ngốc, và ông ta là tên ngốc đó. Một cơn gió mạnh thốc lên thứ hơi nóng hầm hập, người bạn thân thiết nhất của mấy đám cháy rừng nếu ai đó chực châm lên một mồi. Có một lùm cây dương mọc xung quanh một cái máy bơm nước cũ. Tán lá rung rinh xào xạc, bóng lá như đang đùa bắt nhau trên mặt đất dưới ánh trăng.

Người ta cũng chăng cả băng vàng trước lối vào nhà kho nơi đống quần áo được tìm thấy. Tất nhiên là chúng đã được nhét vô túi và đang trên đường đến thành phố Cap, nhưng nghĩ đến việc Maitland đã đến đây vào một thời điểm nào đó sau khi giết đứa trẻ khiến ông ta rợn da gà.

Theo một cách nào đó , Jack nghĩ, mình đang đi trên con đường hắn từng đi. Qua hển thuyền nơi hắn thay bộ quần áo đâm mảu, rồi đến Gentlemen, Please . Hắn đã đến Dubrow từ quán bar thoáty, nhưng sau đó chắc chân hắn đã vòng về... đây.

Cửa nhà kho toang hoác như một chiếc miệng há hốc vi kinh ngạc. Hoskins không muốn đến gần đó, không phải ở đây, giữa đồng không mông quạnh này một mình. Maitland đã chết và làm gì có ma quỷ, nhưng ông ta vẫn không muốn đến gần đó. Vì vậy, ông ta đã ép mình làm thế, từng bước chậm rãi, cho đến khi ông ta có thể chiếu ánh đèn của mình vào bên trong.

Có ai đó đang đứng ở phía cuối nhà kho.

Jack rên khẽ, đưa tay định rút súng rồi nhận ra ông ta không đeo nó. Khẩu Glock đang được nhét trong cái két sắt Gardall nhỏ mà ông ta để trong xe tải của mình. Ông ta đánh rơi chiếc đèn pin, cúi xuống nhặt sau đó và cảm nhận được thứ mùi vodka sộc lên óc, không đủ làm ông ta say, chỉ đủ khiến ông ta cảm thấy sởn gai ốc, đứng không vững.

Ông ta rọi đèn lại vào nhà kho, và cười. Không có người nào ở đó cả, chỉ là thanh cong của một bộ yên ngựa cũ, gần như đã vỡ thành hai mảnh.

Đã đến lúc phải ra khỏi đây rồi. Mình có thể dừng lại ở Gentlemen để uống thêm một ly, sau đó về nhà và đi thẳng đến...

Có ai đó ở đằng sau ông ta, và đầy không phải là ảo ảnh. Ông ta có thể nhìn thấy cái bóng, dài và mảnh. Và... Có phải nó đang thở không?

Trong một giây nữa, hắn sẽ tóm được mình. Mình phải nằm xuống và lăn.

Chỉ là ông ta không thể làm vậy. Ông ta đã đông cứng rồi. Tại sao ông ta không quay lại ngay khi thấy khung cảnh vắng vẻ này chứ? Tại sao ông ta lại không lây súng ra khỏi két? Tại sao ông ta lại bước ra khỏi xe tải ngay từ đầu? Jack chợt hiểu mình có thể sắp chết ở cuối con đường đất của thị trấn Canning.

Đó là lúc hắn chạm vào ông ta, một bàn tay đặt vào sau gáy, nóng rẫy như dội nước nóng lên. Ông ta cố hét lên nhưng không thể. Ngực của ông ta bị khóa chặt hệt như khẩu Glock nằm im trong két sắt. Giờ sẽ là một bàn tay khác phụ giúp bàn tay kia và cổ họng ông ta sẽ bị bóp nghẹt.

Chỉ có điều bàn tay ấy đã rụt lại. Dẫu vậy, những ngón tay vẫn còn đặt trên gáy ông ta. Những đầu ngón tay di chuyển tới lui - nhẹ nhàng - lướt qua da ông ta và để lại những vệt nóng rẫy.

Jack không biết mình đã đứng đó bao lầu, không thể cử động nổi. Có thể phải đến hai mươi giây, hoặc hai phút. Gió vi vút thổi, hất tung mái tóc và vuốt ve cổ ông ta như những ngón tay kia. Bóng của những lá cây dương chờn vờn trên mặt đất và cỏ dại hệt như những con cá lách lạch chạy trốn. Người - hoặc thứ - đứng sau ông ta, bóng của nó dài và mảnh. Mơn trớn và vuốt ve.

Sau đó, cả các đầu ngón tay và cái bóng đều biến mất.

Jack xoay người lại, và lần này ông ta hét lên, to và rõ khi tà chiếc áo khoác thể thao của ông ta phật ra sau và tạo ra âm thanh trong gió. Ông ta nhìn chằm chằm vào...

Không gì cả.

Chỉ là một vài tòa nhà bỏ hoang và chừng một mẫu đất bụi mù.

Không ai ở đó. Không ai từng ở đó. Không ai ở trong nhà kho; chỉ là một chiếc thanh cong yên ngựa hỏng. Không có ngón tay nào rờ lên chiếc gáy đẫm mồ hôi; chỉ có gió. Ông ta lao vê phía chiếc xe tải của mình, vừa đi như chạy vừa ngoái lại nhìn hai ba lần. Ông ta phi lên xe, co rúm người khi một bóng gió sượt qua chiếc gương chiếu hậu, và nổ máy. Ông ta lái xe ngược lại con đường nông trại với tốc độ 80 ki-lô-mét một giờ, băng qua nghĩa địa cũ và ngôi nhà trang trại bỏ hoang, lần này không dừng lại ở dải băng màu vàng mà lao thẳng qua nó. Ông ta rẽ vào Quốc lộ 79, lốp xe rít lên và hướng về phía thành phố Flint. Đến khi vượt qua địa phận thành phố, ông ta trân an mình rằng không có chuyện gì xảy ra ngoài đó, tại nhà kho bỏ hoang đó cả. Cơn đau nhói ở gáy cũng chẳng có nghĩa lý gì.

Không có gì sất.

« Lùi
Tiến »