10 giờ sáng thứ Bảy, O’Malley’s Irish Spoon vắng tanh vắng ngắt. Hai ổng bạn già ngồi đỗi diện nhau bên một bàn cờ vua cùng hai cốc cà phê bốc khói. Cô phục vụ duy nhất đang chăm chú xem một quảng cáo trên chiếc tivi nhỏ treo trước quẩy. Mặt hàng được quảng cáo có vẻ là một loại gậy golf nào đó.
Yunel Sablo đang ngồi ở một chiếc bàn sát tường, mặc một chiếc quần jean bạc màu kết hợp với chiếc áo phông bó sát để khoe cơ bắp đáng ngưỡng mộ của mình (Ralph đã không còn cơ bắp đáng ngưỡng mộ từ năm 2007). Sablo cũng đang xem tivi, nhưng khi nhìn thấy Ralph, anh ta đã giơ tay ra hiệu.
Khi anh ngồi xuống, Yune nói: “Tôi không biết tại sao cô nàng phục vụ lại quan tâm đến loại gậy đó đến thế.”
“Phụ nữ không được chơi golf à? Anh đang sống ở thời nào thế anh bạn?”
“Tôi biết phụ nữ chơi golf chứ, nhưng loại gậy đó dâm dớ lắm. Kiểu như nếu bị mắc kẹt ở lỗ thứ mười bốn, anh có thể tiểu vào đó vậy. Thậm chí nó còn phát kèm tạp dể để anh có thể bỏ mấy đồ linh tinh của mình vào đó. Thứ đó không giúp ích gì cho phụ nữ cả.”
Nhân viên phục vụ đến nhận gọi món từ họ. Ralph gọi trứng bác và bánh mì lúa mạch đen nướng, chăm chú nhìn vào thực đơn thay vi nhìn cô ta, vì sợ mình sẽ bật cười. Anh không muốn cưỡng lại thôi thúc đó vào sáng nay, nên anh đã tủm tỉm cười nhẹ. Chính ý nghĩ về chiếc tạp dế đã khiến anh như vậy.
Nhân viên phục vụ không cần phải là người biết đọc suy nghĩ mới nhận ra điều đó. “Đúng thế, chuyện đó có thể nực cười,” cô nói. “Trừ khi chồng anh là một tay chơi golf với tuyến tiên liệt to bằng quả bưởi và anh không biết tặng gì cho anh ấy vào ngày sinh nhật”.
Ralph bắt gặp ánh mắt của Yune, và cả hai lăn ra cười nghiêng ngả. Tiếng cười phát ra đột ngột và ồn ào, khiến những người chơi cờ ngó sang tỏ vẻ không tán thành.
“Anh định gọi món gì không, anh yêu,” cô phục vụ hỏi Yune, “hay chỉ uống cà phê và cười về Comfort Nine Iron?”
Yune gọi trứng chiên sốt cà chua. Khi cô ta rời đi, anh ta đã nói, “Thật là một thế giới kỳ lạ, có thể nói là đầy rẫy những điều kỹ lạ. Anh có nghĩ vậy không?”
“Nếu xét đến những gì chúng ta đang ngồi đây để bàn thì tôi phải đồng ý với anh. Thị trấn Canning có gì lạ?”
“Nhiều lắm.”
Yune có một chiếc túi đeo vai bằng da, loại mà Ralph đã nghe Jack Hoskins gọi là một chiếc ví nam. Anh ta mở túi, lấy chiếc iPad Mini có phần ốp nát bươm vì phải di chuyển rất nhiều ra. Ralph nhận thấy ngày càng có nhiều cảnh sát mang theo những loại tiện ích như thế này, và đoán rằng sớm nhất là trước năm 2020, 2025, chúng có thể sẽ thay thế hoàn toàn sổ ghi chép truyền thống của cảnh sát. Chà, thế giới vẫn xoay vần. Anh hoặc là di chuyển cùng với nó, hoặc bị bỏ lại phía sau. Nói chung, anh muốn có một trong những tiện ích đó thay vì một cây gậy Comíort Nine Iron làm quà cho sinh nhật của mình.
Yune nhấp vào một vài nút và mở ghi chú của mình ra. “Đứa trẻ tên là Douglas Elfman đã tìm thấy bộ quần áo bị vứt bỏ vào chiều qua. Thằng bé đã nhận ra chiếc thắt lưng có mặt khóa đầu ngựa do có xem tin tức. Nó đã gọi cho bố và ông này đã liên lạc với Cảnh sát Tiểu bang ngay lập tức. Tôi đã lái xe vân chuyển tội phạm đến đó vào khoảng 6 giờ kém 15 sáng. Chiếc quần jean loại phổ thông thôi nhưng anh biết đấy, tôi nhận ra mặt thắt lưng ngay lập tức. Tin tôi đi.”
Anh ta nhấp vào màn hình một lần nữa, và hình ảnh cận cảnh chiếc khóa lập tức lấp đầy màn hình. Ralph chắc chắn đó là chiếc thắt lưng mà Terry đã đeo trong đoạn băng ghi hình an ninh từ Trung tầm Vận tải Vogel ở Dubrow.
Nói với Yune nhưng cũng như nói với chính mình, Ralph cho hay, “Được rồi, một mắt xích nữa trong chuỗi mắt xích. Hắn đã bỏ chiếc xe van ở phía sau Shorty's. Đánh cắp chiếc Subaru. Bỏ nó lại ở gần Cầu Sắt, thay quần áo mới...”
“Quần jean 501, quần lót Jockey, tất thể thao màu ttắng và một đôi giày thể thao khá đắt tiền. Thêm vào đó là chiếc thắt lưng với mặt khóa lạ mắt.”
“Uh-huh. Sau khi mặc bộ quần áo không dính máu, hắn bắt taxi từ Gentlemen, Please đến Dubrow. Chỉ có điều khi đến ga, hắn đã không lên tàu. Tại sao không nhỉ?”
“Có thể hắn đang cố đánh lạc hướng, đưa vụ án về vạch xuất phát. Hoặc... Tôi có một ý tưởng điên rồ. Muốn nghe không?”
“Có chứ,” Ralph nói.
“Tôi nghĩ Maitland có ỷ định chạy trốn. Bắt chuyến tàu đó đến Dallas - Fort Worth, sau đó tiếp tục di chuyển. Có thể đến Mexico, có thể đến California. Tại sao hắn lại muốn ở lại thành phố Flint sau khi giết cậu bé nhà Peterson, trong khi hắn biết mọi người đã nhìn thấy hắn? Chỉ...”
“Chỉ cái gì?”
“Chỉ có điều, hắn không thể chịu đựng được việc rời đi trong khi sắp có trận đấu quan trọng diễn ra. Hắn muốn huấn luyện những đứa trẻ của mình giành thêm một chiến thắng nữa. Đưa chúng vào chung kết.”
“Điều đó thực sự điên rổ.”
“Điên rồ hơn cả việc giết cậu bé kia ư?”
Yune dừng ở đó, nhưng Ralph không muốn trả lời khi thức ăn của họ được mang ra. Ngay khi nhân viên phục vụ rời đi, Ralph nói: “Dấu vân tay trên khóa?”
Yune vuốt chiếc iPad Mini của mình và cho Ralph xem một bức ảnh cận cảnh khác của đầu con ngựa. Trong ảnh này, ánh bạc của chiếc khóa đã bị làm mờ bởi bột lấy dấu vân tay màu trắng. Ralph có thể nhìn thấy hình các dấu vân tay, giống như dấu chân ở một trong những sơ đồ học nhảy kiểu cũ.
“Đơn vị Pháp y đã có dấu vân tay của Maitland trong máy tính của họ,” Yune nói, “và chương trình đã khớp chúng ngay lập tức. Nhưng đây là điều kỳ lạ đầu tiên, Ralph ạ. Các đường vân và xoáy trên mặt khóa khá mờ, và hoàn toàn bị đứt quãng ở một vài chỗ. Đủ khớp trước tòa, nhưng kỹ thuật viên thực hiện việc này - anh ta đã làm hàng nghìn lần rồi - nói chúng giống như dấu vân tay của một người già. Chừng tám mươi hoặc thậm chí chín mươi tuổi. Tôi hỏi liệu có thể là do Maitland đang vội vàng thay một bộ quần áo khác và rời khỏi đó không. Kỹ thuật viên đó nói rằng cũng có thể, nhưng từ khuôn mặt của anh ta, tôi thấy được sự không chắc chắn.”
“Hả,” Ralph nói, xúc những miếng trứng bác cho vào miệng. Sự thèm ăn của anh, giống như tiếng cười bất ngờ bật ra lúc nghĩ về -chiếc gậy golf đa năng, là một bất ngờ đáng hoan nghênh. “Điều đó lạ thật, song có thể khống quan trọng.”
Và anh băn khoăn tự hỏi không biết bao lâu nữa anh sẽ tiếp tục loại bỏ những điểm dị thường vẫn xuất hiện trong vụ này bằng cách gọi chúng là không quan trọng?
“Có một bộ vân tay khác nữa,” Yune nói. “Chúng cũng quá mờ đến nỗi kỹ thuật viên đó thậm chí định gửi chúng đến cơ sở dữ liệu quốc gia của FBI - nhưng anh ta cũng thu được những dấu vân tay lạc quẻ trên chiếc xe van và cả trên thắt lưng... anh nghĩ sao.”
Anh ta đưa iPad cho Ralph. Đây là hai bộ vân tay, một bộ có nhãn VÂN KHÔNG RÕ DANH TÍNH TRÊN CHIẾC XE VAN và bộ kia có nhãn VÂN KHÔNG RÕ DANH TÍNH TRÊN KHÓA THẮT LƯNG. Trông chúng giống nhau, nhưng chỉ thế thôi. Không đủ để làm bằng chứng trước tòa cho bất cứ điều gì, đặc biệt nếu họ bị chất vấn bởi một luật sư bào chữa hiếu chiến như Howie Gold. Tuy nhiên, Ralph đang không ở tòa, và anh nghĩ rằng cả hai dấu vân tay không xác định đó đều là của một người, bởi nó khá khớp với những gì anh thu thập được từ cuộc nói chuyện với Marcy Maitland vào tối hôm trước. Không khớp một cách hoàn hảo, nhưng đủ cho một thám tử đang nghỉ phép, người không phải chạy theo chỉ đạo từ cấp trên... hay một công tố quận chỉ lo chuyên phiêu bầu.
Trong khi Yune ăn món trứng sốt cà chua của mình, Ralph kể cho anh ta nghe về cuộc gặp của anh với Marcy, chỉ giữ lại duy nhất một điều để nói sau.
“Chủ yếu xoay quanh chiếc xe van,” anh nói. “Bên pháp y có thể sẽ tìm thấy một vài dấu vân tay của đứa trẻ đã đánh cắp nó đầu tiên...”
“Có rồi đấy. Chúng ta đã lấy được dấu vân tay của Merlin Cassidy từ cảnh sát E1 Paso. Kỹ thuật viên đã khớp chúng với một số dấu vân lạc quẻ trong xe - chủ yếu là trên hộp công cụ, Cassidy hẳn đã mở nó ra để xem có gì giá trị bên trong không. Chúng rõ lắm, và không phải những mẫu này.” Anh ta trượt màn hình iPad quay trở lại hình ảnh của các mẫu dấu vân tay KHÔNG RÕ DANH TÍNH, có nhãn XE VAN và KHÓA THẮT LƯNG.
Ralph nghiêng người về phía trước, đẩy đĩa sang một bên. “Anh thấy nó khớp với nhau hoàn hảo như một mối nối mộng đuôi én phải không? Chúng ta đều biết Terry không phải là người đã lấy trộm chiếc xe van ở Dayton, vì nhà Maitland đã bay về nhà. Nhưng nếu các dấu vân tay mờ từ chiếc xe van và các dấu vân tay từ mặt khóa thắt lưng là một...”
“Anh nghĩ hắn có đồng phạm. Người đã lái chiếc xe van từ Dayton về thành phố Flint.”
“Phải rồi,” Ralph nói. “Làm gì còn cách giải thích nào khác đâu.”
“Một người trông giống hắn hả?”
“Quay lại chuyện đó đi,” Ralph nói và thở dài.
“Cả hai bộ dấu vân tay đều có trên mặt khóa,” Yune tiếp tục. “Có nghĩa là Maitland và kẻ song trùng của hắn đã đeo cùng một chiếc thắt lưng, có thể còn mặc cùng cả một bộ quần áo nữa. Chà, chúng vừa vặn, phải không? Anh em sinh đôi, chia cắt từ lúc chào đời. Ngoại trừ việc thông tin lưu lại cho thấy Terry Maitland là con một.”
“Anh còn nắm được thông tin gì nữa không? Bất cứ điều gì?”
“Còn. Chúng ta đã chạm đến được một chỉ tiết thực sự kỳ lạ.” Anh ta đẩy ghế đến ngồi bên cạnh Ralph. Hình ảnh trên iPad của anh ta cho thấy cân cảnh chiếc quần jean, đôi tất, quần lót và giày thể thao, được vứt lẫn lộn thành đống bên cạnh một miếng đánh dấu bằng chứng nhựa in số 1. “Nhìn thấy vết đen này không?”
“Có. Cái gì khiếp vậy?”
“Tôi không biết,” Yune nói. “Và các nhân viên pháp y cũng không, nhưng một trong số họ nói chúng trồng giống tinh dịch, và tôi phần nào đồng ý với kết luận đó. Anh không thể nhìn rõ chúng trong hình, nhưng...”
“Tinh dịch á? Anh đang giỡn hả?”
Cô phục vụ quay trở lại. Ralph úp mặt màn hình iPad xuống.
“Có ai trong số hai anh muốn uống thêm cà phê không?”
Mỗi người họ gọi một cốc. Khi cô ấy rời đi, Ralph quay lại với bức ảnh chụp bộ quần áo, mở rộng hai ngón tay để phóng to hình ảnh.
“Yune này, thứ đó có ở đũng quần jean, chảy xuống cả hai chân, trên gấu quần...”
“Cũng có trên cả quần lót và tất,” Yune nói. “Chưa kể trên đôi giày thể thao, cả trên và trong chúng, khô thành một lớp men nứt đẹp đẽ, giống như trên đồ gốm. Nhiều đến nỗi có thể đổ đầy một chiếc gậy golf rỗng.”
Ralph không cười. “Không thể là tinh dịch được. Ngay cả John Holmes trong thời kỳ đỉnh cao...”
“Tôi biết. Và tinh dịch không làm được điều này.”
Anh ta vuốt màn hình. Bức ảnh mới là một bức ảnh chụp toàn cảnh nền nhà kho. Một thẻ bằng chứng khác, cái này được đánh số 2, đặt bên cạnh một đống cỏ khô. Ít nhất thì Ralph cũng nghĩ đó là cỏ khô. Ớ phía ngoài cùng bên trái của bức ảnh, thẻ bằng chứng số 3 được đặt trên nóc một kiện hàng hơi nghiêng như thể đã được đặt ở đó lâu lắm rồi. Hầu hết mọi ngóc ngách trên kiện hàng đều phủ một màu đen. Mặt bên của nó cũng đen kịt, như thể một loại dịch nhầy ăn mòn nào đó đã làm nó đổ xuống sàn.
“Có phải cùng một thứ đó không?” Ralph hỏi. “Anh chắc chắn chứ?”
“Chín mươi phần trăm. Trên gác xép cũng đẩy ra. Nếu nó là tinh dịch thì đây chắc hẳn là màn xuất tinh xứng đáng được đưa vào Sách Kỷ lục Guinness.”
“Không thể nào,” Ralph trầm giọng. “Nó là một thứ gì đó khác. Vì tinh dịch không biến thành màu đen. Không đời nào.”
“Tôi cũng nghĩ là không, nhưng tất nhiên tôi chỉ là con trai của một gia đình nông dân nghèo Mexico.”
“Dù thế nào thì pháp Ỵ cũng vẫn đang phân tích.”
Yune gật đầu. “Khi chúng ta đang nói chuyện này.”
“Và anh sẽ cho tôi biết.”
“Ừ. Anh hiểu ý tôi khi tôi nói vụ này cứ ngày càng trở nên kỳ lạ hơn chứ.”
“Jeannie gọi nó là không thể lý giải nổi.” Ralph hắng giọng. “Cô ấy thực sự đã sử dụng từ siêu nhiên.”
“Gabriela nhà tôi cũng nói thế,” Yune nói. “Như thể truyện cổ tích hay mấy giai thoại Mexico vậy.”
Ralph nhướng mày.
“ Sí, senor *,” Yune nói và cười. “Mẹ vợ tôi mất sớm nên cô ấy lớn lên dưới vòng tay bảo bọc của abuela *. Bà là kho truyện cổ sống. Khi tôi kể cho cô ấy nghe về mớ hỗn độn này, Gaby đã kể cho tôi nghe câu chuyện về gã ma cà rồng Mexico. Hắn là một công tử sắp chết vì bệnh lao; một nhà thông thái già sống trên sa mạc, một ermitaño *, đã khuyên hắn rằng bệnh của hắn có thể được chữa khỏi nhờ uống máu trẻ em và xoa mỡ của chúng lên ngực và vùng kín. Vi vậy, hắn đã làm thế và sống mãi mãi. Người ta kể hắn chỉ ăn thịt những đứa trẻ hư. Hắn nhét chúng vào một chiếc túi lớn màu đen luôn mang theo bên mình. Gaby kể với tôi rằng hồi cô ấy còn nhỏ, chừng lên bảy, cô ấy đã hét lên hoảng loạn một lần khi bác sĩ đến nhà khám cho em trai cô ấy lúc cậu bé bị bệnh sốt ban đỏ.”
Tiếng Tây Ban Nha, có nghĩa là Vâng, thưa sếp.
Tiếng Tây Ban Nha, có nghĩa là ẩn sĩ.
Tiếng Tây Ban Nha, có nghĩa là bà ngoại.
“Bởi vì bác sĩ có một cái túi đen.”
Yune gật đầu. “Tên của gã ma cà rồng là gì nhỉ? Tôi gần như nhớ ra được rồi nhưng không tài nào nói ra được chính xác. Anh không khó chịu chứ?”
“Anh thực sự nghĩ là chúng ta đang rơi vào một trường hợp như thế à? Ma cà rồng?”
“Không. Tôi có thể là con trai của một gia đình nông dân Mexico nghèo, hoặc có thể là con trai của một đại lý bán xe hơi Amarillo, nhưng dù thế nào đi nữa, tôi không ngớ ngần. Một người thật đã giết Frank Peterson, người đó vẫn phải đi qua cửa sinh tử như tôi và anh, và người đó gần như chắc chắn là Terry Maitland. Nếu chúng ta có thể tim hiểu ra được chuyện gì đã xảy ra, mọi thứ sẽ ổn thỏa và tôi có thể ngủ ngon mỗi đêm. Vụ này khiến tôi khốn khổ vô cùng.” Anh ta nhìn đồng hồ của mình. “Đi thôi. Tôi đã hứa với vợ tôi là sẽ đưa cô ấy đến một hội chợ thủ công ở thành phố Cap. Anh hỏi gì nữa không? Anh nên có ít nhất một câu hỏi, bởi vì vẫn còn một điều kỳ lạ nữa đang nhìn chằm chằm vào mặt anh.”
“Có dấu xe trong nhà kho không?”
“Đó không phải là điều tôi đang nghĩ đến, nhưng trên thực tế là có. Tuy nhiên, không giúp được gì nhiều - anh có thể thấy dấu xe và còn vương một chút dầu nữa, nhưng không có dấu xe nào đủ rõ để so sánh cả. Tôi đoán đó là vết lốp của chiếc xe van mà Maitland dùng để bắt cóc đứa trẻ. Các bánh không quá sát nên không thể là chiếc Subaru được.”
“Uh-huh. Nghe này, anh đã lưu mọi thông tin thẩm vấn nhân chứng trên chiếc máy ma thuật của mình phải không? Trước khi chia tay, hãy tìm giúp tôi cuộc thẩm vấn mà tôi đã thực hiện với Claude Bolton. Anh ta là bảo kê tại Gentlemen, Please . Mặc dù anh ta không thích từ đó, theo như tôi nhớ là vậy.”
Yune mở một tập tài liệu, lắc đầu, mở một tập tài liệu khác và đưa iPad cho Ralph. “Cuộn xuống đi.”
Ralph làm theo, lướt tay trên mặt chiếc iPad, và cuối cùng cũng tìm thấy nó. “Nó đầy rồi. Bolton đã nói, Tôi còn nhở một chuyện khác nữa, không có gì to tát nhưng thật kỳ dị nếu anh ta thực sự là người đã giết đứa trẻ đó. Bolton nói Terry đã cứa vào tay anh ta. Khi tôi hỏi ý của anh ta là gì thì Bolton trả lời rằng anh ta đã cảm ơn Maitland vì từng huấn luyện cháu của bạn anh ta, rồi bắt tay với hắn. Khi họ làm vậy, móng tay út của Maitland đã sượt qua mu bàn tay của Bolton và làm xước tay anh ta. Bolton nói chuyện đó khiến anh ta nhớ lại cái hồi xài thuốc, bởi vì có một vài người trong số đám bạn nghiện của anh ta nuôi móng tay út dài để xúc thuốc. Rõ ràng đây là một chỉ tiết về thói quen rất đáng lưu tầm.”
“Và chỉ tiết này quan trọng vì?” Yune nhìn đồng hồ một lần nữa, khá phô trương.
“Có lẽ là không. Có lẽ là...”
Nhưng anh sẽ không nói ra từ không thực nữa. Anh càng ngày càng ít thích dùng từ này hơn mỗi khi nó được thốt ra từ miệng anh.
“Không quan trọng mấy nhưng vợ tôi gọi đó là sự hợp lưu. Terry cũng bị một vết cắt tương tự khi hắn đến thăm bố mình ở một viện dưỡng lão tại Dayton.” Ralph kể qua câu chuyện về người hộ lý trượt chân, vồ tay tóm lấy Terry, và đã cào vào tay hắn.
Yune ngẫm nghĩ về chuyện đó, rồi nhún vai. “Tôi nghĩ đó là một sự trùng hợp thuần túy thôi. Và tôi thực sự phải đi đầy, nếu không Gabrida sẽ giận mất, nhưng anh vẫn còn bỏ sót một điều và ý tôi không phải là vết lốp xe. Anh bạn Bolton của anh thậm chí cũng đã để cập đến điều đó rồi. Cuộn lại đi và anh sẽ thấy.”
Nhưng Ralph không cần làm thế. Nó đã ở ngay trước mắt anh rồi. “Quần dài, quần lót, tất và giày thể thao... nhưng không có áo.”
“Đúng rồi,” Yune nói. “Hoặc đó là cái áo yêu thích của hắn, hoặc là hắn không có áo khác để thay khi rời nhà kho.”
2
Đi được chừng nửa đường về thành phố Flint, Ralph cuối cùng cũng nhận ra điểm đặc biệt ở chiếc dây áo ngực khiến anh suy nghĩ mãi.
Anh tấp vào bãi đậu rộng chừng hai mẫu Anh của Byrons Liquor Warehouse, và nhấn quay số nhanh. Cuộc gọi của anh được chuyển đến hòm thư thoại của Yune. Ralph ngắt kết nối mà không để lại lời nhắn. Yune đã phát hiện ra rất nhiều điều rồi; hãy để anh ta được tận hưởng ngày cuối tuần của mình. Giờ đầy khi đã có thời gian để suy nghĩ lại, Ralph quyết định rằng đây là sự hợp lưu mà anh không muốn chia sẻ với bất kỳ ai, ngoại trừ vợ anh.
Dây áo ngực không phải là thứ màu vàng sáng duy nhất mà anh thấy trong những khoảnh khắc cảnh giác cao độ trước khi Terry bị bắn; đó chỉ là thứ thế thần trong đầu anh cho thứ gì đó từng là một phần của phòng trưng bày đồ tạp nham lớn hơn, và bị lu mờ trước Ollie Peterson, người đã rút khẩu súng lục cũ từ túi đựng báo của cậu ta chỉ vài giây sau đó. Không có gì ngạc nhiên khi anh không thể nhìn ra nó.
Người đàn ông từng bị bỏng nặng trên mặt ấy cùng những hình xăm trên tay đang đội một chiếc khăn màu vàng trên đầu, có lẽ là để che bớt những vết sẹo. Nhưng đó có phải là một chiếc khăn không? Nó không thể là một cái gì đó khác ư? Ví dụ như chiếc áo sơ mi mất tích? Cái mà Terry đã mặc ở ga xe lửa?
Mình đang chạm tới, anh nghĩ, và có thể anh đã chạm tới rồi... ngoại trừ việc tiềm thức của anh (những suy nghĩ đằng sau những suy nghĩ của anh) đã hét lên với anh điều đó một thời gian rồi.
Anh nhắm mắt và cố tổng hợp lại chính xác những gì anh đã thấy trong vài giây cuối cùng của cuộc đời Terry. Cô nàng phóng viên tóc vàng khinh khinh khi nhìn thấy vết máu trên ngón tay mình. Tấm biển có nội dung MAITLAND NHẬN THUỐC ĐI NÀY. Cậu bé có đôi môi xâu xí. Người phụ nữ rướn người để đưa ngón tay thối về phía Marcy. Và người đàn ồng bị bỏng trông như thể Chúa đã dùng một cục tẩy khổng lồ để xóa gần hết các đặc điểm trên khuôn mặt anh ta, chỉ để lại những cục u, lớp da phớt hồng và những cái lỗ nơi chiếc mũi trước khi ngọn lửa họa những hình xăm trên khuôn mặt anh ta khủng khiếp hơn nhiều so với những hình xăm nơi cánh tay. Và thứ mà Ralph nhìn thấy trong khoảnh khắc nhớ lại ấy không phải là chiếc khăn trùm đầu trên đầu người đàn ông đó, mà là một thứ gì đó lớn hơn rất nhiều, một thứ buông thõng xuống tận vai như một chiếc khăn trùm đầu của phụ nữ.
Vâng, thứ gì đó giống một chiếc áo sơ mi... nhưng ngay cả thế thì nó có chắc chắn là chiếc áo sơ mi đó không? Cái áo mà Terry đã mặc trong đoạn băng ghi hình an ninh? Có cách nào để tìm ra không nhỉ?
Anh nghĩ là có, nhưng anh cần hỏi thêm Jeannie, người am hiểu về máy tính hơn anh rất nhiều. Ngoài ra, có lẽ đã đến lúc ngừng coi Howard Gold và Alec Pelley là kẻ thù rồi. Có lẽ giờ chúng ta cùng hội cùng thuyền rồi, Pelley đã nói thế đêm qua khi họ đứng trên bậc thềm nhà Maitland, và có lẽ điều đó là đúng. Hoặc có thể đúng.
Ralph nổ máy và lái xe về nhà, nhấn ga hết tốc độ cho phép.
3
Vợ chồng Ralph ngồi bên bàn bếp, chiếc máy tính xách tay của Jeannie được đặt ngay trước mặt. Có bốn đài truyền hình lớn ở thành phố Cap, mỗi đài có một mạng lưới riêng, cộng với Kênh 81, kênh truy cập công cộng chuyên đăng các tin tức địa phương, các cuộc họp hội đồng thành phố và các vấn đề cộng đồng khác nhau (chẳng hạn như bài phát biểu của Harlan Coben với tư cách là ngôi sao khách mời ở nơi Terry đã xuất hiện). Cả năm đài đều đã có mặt tại tòa án trong buổi luân tội của Terry, cả năm đều đã quay phim vụ nổ súng và tất cả đều có ít nhất một vài cảnh quay đám đông.
Khi tiếng súng nổ, tất cả các máy quay đều hướng về phía Terry, tất nhiên - Terry bị chảy máu một bên mặt và đẩy vợ tránh xa khỏi loạt đạn, rồi gục xuống đường khi phát súng thứ ba hạ gục hắn. Băng ghi hình của CBS hoàn toàn trống trước khi điều đó xảy ra, vì viên đạn của Ralph đã bắn trúng, làm vỡ máy quay và khiến người quay phim bị mù một mắt.
Sau khi xem hai lượt từng đoạn video ngắn, Jeannie quay sang anh, môi cô mím chặt. Cô không nói gì cả. Cô không cần phải làm vậy.
“Em cho chạy lại nội dung của Kênh 81 đi,” Ralph nói. “Máy quay của họ xoay mọi góc lúc nổ súng, nhưng trước đó họ đã bắt được cảnh đám đông rõ nhất.”
“Ralph.” Cồ chạm vào cánh tay anh. “Anh ổn...”
“Ổn, anh ổn mà.” Thực sự thì không phải thế. Anh cảm thấy như thể thế giới đang nghiêng, và anh có thể sẽ sớm trượt ra mép vực. “Em làm ơn mở lại đi. Và tắt tiếng đi nhé. Phẩn bình luận của phóng viên làm mất tập trung quá.”
Cô đã làm theo yêu cầu của anh, và họ cùng xem. Những tấm biển vẫy. Đám người la hét không thành tiếng, miệng của họ mở ra rồi khép lại như cá mắc cạn. Có lúc máy quay lia nhanh qua lại, không kịp bắt được cảnh gã đàn ông đã nhổ nước bọt vào mặt Terry, nhưng lại ghi trọn cảnh Ralph ngáng chân kẻ gầy rối, khiến nó trông như thể một cuộc tấn công vô cớ. Anh quan sát cách Terry giúp người phun nước bọt đứng dậy (thánh thiện đến chết tiệt, Ralph nhớ mình đã nghĩ như thế), sau đó máy quay hướng về phía đám đông. Anh thấy hai nhân viên chấp hành của tòa án - một béo một gầy - đang cố hết sức để giữ thông thoáng cho các bậc thềm. Anh nhìn thấy cô nàng phóng viên tóc vàng từ Kênh 7 đứng đó, vẫn đang nhìn những ngón tay đầy máu của cô với vẻ hoài nghi. Anh thấy Ollie Peterson với túi báo cùng vài lọn tóc đỏ lấp ló bên dưới chiếc mũ len, chỉ còn vài giây nữa sẽ vụt sáng trở thành ngôi sao của buổi diễn. Anh nhìn thấy cậu bé bị sứt môi, người quay phim của Kênh 81 đã giữ máy quay hướng vào thằng bé đủ lâu để ghi lại khuôn mặt của Frank Peterson trên chiếc áo phông cậu bé mặc trước khi quay tiếp...
“Dừng lại,” anh ấy nói. “Dừng lại đó, ngay đó.”
Jeannie làm theo và họ cùng nhìn vào bức ảnh - hơi mờ do chuyên động nhanh của người quay phim khi anh ta cố thu lại mọi thứ.
Ralph nhấp vào màn hình. “Em có thấy gã đang vẫy chiếc mũ cao bồi không?”
“Có.”
“Người đàn ông bị bỏng đứng ngay cạnh ông ta lúc đó.”
“Được rồi,” cô ấy nói... nhưng với tông giọng kỳ lạ, lo lắng, Ralph không nhớ mình đã từng nghe thấy bao giờ chưa.
“Anh thể với em là hắn đứng đó. Anh có nhìn thấy hắn, như thể anh đang bị ảo giác hay gì đó, và anh thấy mọi thử. Chạy lại những video khác lần nữa xem nào. Đây là cảnh quay đám đông rõ nhất, nhưng bên FOX cũng không quá tệ, và...”
“Không.” Cô nhấn nút nguồn và gập máy lại. “Gã bị bỏng đó không xuất hiện trong bất kỳ video nào trong sô này đầu, Ralph. Anh cũng biết điều đó như em vậy.”
“Em nghĩ anh đang điên? Phải vậy không? Em nghĩ anh đang... Em biết...”
“Vỡ vụn?” Tay cô lại lần tìm cánh tay anh và siết nhẹ. “Dĩ nhiên là không. Nếu anh nói rằng anh đã nhìn thấy hắn, thì rõ là anh đã thấy hắn. Nếu anh nghĩ hắn đội cái áo đó để chống nắng, khăn thời trang hay gì đó, thì cũng đúng là vậy. Anh đã có một tháng tồi tệ, có thể là tháng tồi tệ nhất trong cuộc đời anh, nhưng em tin tưởng khả năng quan sát của anh. Chỉ có vậy thôi... anh phải xem ngay bây giờ...”
Giọng cô nhỏ dần. Anh đợi. Cuối cùng thì cô cũng nói tiếp.
“Có gì đó rất không ổn với chuyện này, và càng lần tìm, anh càng thấy nó sai. Việc đó làm em sợ. Câu chuyện mà Yune kể với anh khiến em rùng mình. Về cơ bản nó là một câu chuyện về ma cà rồng, phải không? Em đã đọc Dracula hồi trung học và em nhớ rất rõ một chỉ tiết là ma cà rồng không phản chiêu trong gương. Và thứ không thể phản chiếu có lẽ sẽ không xuất hiện trong các đoạn băng ghi hình tin tức trên truyền hình.”
“Tào lao. Làm gì có ma, phù thủy, hay ma cà....”
Cô đập bàn tay đang mở của mình xuống mặt bàn, một tiếng bép vang lên khiến anh giật bắn mình. Đôi mắt đẩy giận dữ của cô trừng trừng nhìn anh. “Tỉnh đi nào, Ralph! Hãy tỉnh táo trước những gì đang sờ sờ trước mắt anh đi! Terry Maitland đã ơ hai nơi cùng một lúc! Nếu anh ngừng cố tìm cách giải thích chuyện đó và chấp nhận nó...”
“Anh không thể chấp nhận được, em yêu. Nó đi ngược lại tất cả những gì anh tin tưởng cả đời. Nếu anh để điều đó lén bước vào tâm trí mình, anh thực sự sẽ phát điên mất.”
“Sao không? Anh mạnh mẽ hơn thế nhiều. Nhưng anh thậm chí còn không cần phải suy nghĩ đến chuyện đó, ý em là thế, em muốn nói với anh như vậy. Terry chết rồi. Anh có thể để nó qua đi.”
“Nếu anh làm thế, và nếu Terry không giết Frankie Peterson thi sao? Marcy sẽ thế nào? Còn hai đứa nhỏ nữa?”
Jeannie đứng dậy, đi về phía chiếc cửa sổ trên bồn rửa, và nhìn ra sân sau. Hai tay cô nắm chặt. “Derek đã gọi lại. Thằng bé vẫn muốn về nhà.”
“Em đã nói gì với con?”
“Ở đó cho đến khi mùa giải kết thúc vào giữa tháng tới. Dù em rất muốn con về. Cuối cùng em vẫn phải thuyết phục thằng bé, và anh có biết tại sao không?” Cô quay lại. “Bởi vì em không muốn thằng bé về trong khi anh vẫn đang vẫy vùng trong mớ hỗn độn này. Bởi khi trời tối, em sợ lắm. Giả sử nó thực sự là một loại sinh vật siêu nhiên nào đó thì sao, Ralph? Và điều gì sẽ xảy ra nếu nó phát hiện ra anh đang tim kiếm nó?”
Ralph ôm cô vào lòng. Anh có thể cảm nhận được cơn run rẩy nơi cô. Anh nghĩ, một phần trong cô thực sự tin điều này.
“Yune đã kể cho anh nghe câu chuyên đó, nhưng Yune tin kẻ giết người là một con người bình thường. Anh cũng thế.”
Cô úp mặt vào ngực anh, “Vậy tại sao gã đàn ông có khuôn mặt bị bỏng lại không xuất hiện trong bất kỳ cảnh quay nào?”
“Anh không biết.”
“Tất nhiên, em quan tâm đến Marcy.” Cô ngước nhìn lên, và anh thấy cô đang khóc. "Và em quan tâm đến hai đưa trẻ. Em cũng quan tâm đến Terry , đến vấn đề đó... và nhà Peterson... nhưng em quan tầm đến anh và Derek nhiều hơn. Bố con anh là tất cả những gì em có. Anh không thể cho qua sao? Nghỉ phép xong, gói việc lại rồi sống tiếp thôi?”
“Anh không biết,” anh nói, trong khi thực tế là anh biết. Anh chỉ không muốn nói như vậy với Jeannie trong khi cô đang rơi vào trạng thái kỳ lạ hiện tại. Anh không thể cứ thế này mà sống tiếp được.
Chưa thể.
4
Đêm đó, anh ngồi bên bàn ăn ngoài trời ở sân sau, hút một điếu Tiparillo và ngước nhìn bầu trời. Bầu trời không một ánh sao, nhưng anh vẫn có thể nhận ra mặt trăng đang di chuyển đằng sau những đám mây. Sự thật cũng thường như vậy, anh nghĩ — một vòng ánh sáng mờ ảo phía sau những đám mây. Đôi khi ánh sáng sẽ lọt qua được; nhưng nếu đám mây dày thì nó sẽ biến mất hoàn toàn.
Có một điều chắc chắn rằng: khi màn đêm buông, gã đàn ông mắc bệnh lao, gầy gò, ốm yếu trong câu chuyện cổ tích của Yune Sablo trở nên có lý hơn. Không thể tin được, Ralph không thể tin vào một sinh vật như vậy nữa, cũng như không thể tin vào sự tồn tại của ông già Noel, nhưng anh có thể hình dung ra hắn: một phiên bản Slender Man, ông ba bị ám ảnh những cô bé người Mỹ đang tuổi dây thì, có làn da tối màu hơn. Hắn cao và trông quỷ dị trong bộ vest đen, khuôn mặt sáng xanh như ngọn đèn và mang một chiếc túi đủ lớn để nhét vừa một đứa trẻ nằm co quắp. Theo Yune, ông kẹ Mexico ấy đã kéo dài sự sống của mình bằng cách uống máu trẻ em và bôi mỡ của chúng lên cơ thể... và dù đó không phải chính xác là những gì đã xảy ra với cậu bé Peterson, nhưng cũng gần như vậy. Kẻ giết người - có thể là Maitland, có thể là kẻ có dấu vân tay mờ — thực sự nghĩ hắn là một con ma cà rồng, hoặc một sinh vật siêu nhiên nào đó? Chẳng phải Jeffrey Dahmer đã tin chính hắn đang tạo ra thấy ma khi giết tất cả những người đàn ông vô gia cư đó sao?
Không gì có thể giải đáp cho câu hỏi tại sao người đàn ông bị bỏng không có mặt trong băng ghi hình tin tức kia.
Jeannie gọi anh. “Vào trong đi, Ralph. Trời sắp mưa. Anh có thể hút thứ nặng mùi đó trong bếp, nếu buộc phải làm thế.”
Đó không phải là lỷ do em muốn anh vào nhà, Ralph nghĩ. Em muốn anh vào nhà một phần vì em không thể không nghĩ đến gã đàn ông khoác chiếc túi đen trong câu chuyện của Yune. Em nghĩ hắn ta cổ thể đang nấp ở đâu đó ngoài này, ngay phía ngoài tầm ánh sáng của ngọn đèn sân.
Tất nhiên là thật nực cười, nhưng anh có thể thông cảm cho sự bất an của cô. Chính anh cũng đã cảm nhận được điều đó. Jeannie đã nói gì nhỉ? Anh càng tìm, mọi chuyện càng sai trái.
Ralph vào trong, dập điếu Tiparillo dưới vòi bồn rửa, rồi lấy điện thoại ra khỏi để sạc. Khi Howie trả lời, Ralph nói, “Ngày mai anh và Pelley có thể qua đây được không? Tôi có rất nhiều điều muốn nói với anh, và một số điều khá khó tin. Đến ăn trưa. Tôi sẽ đến Rudys và mua một ít bánh mì kẹp.”
Howie đồng ý ngay lập tức. Ralph ngắt kết nối và thấy Jeannie đang ở ngưỡng cửa, khoanh tay trước ngực và nhìn anh. “Anh không thể cho qua à?”
“Không, em yêu. Anh không thể. Anh xin lỗi.”
Cô ấy thở dài. “Anh sẽ cẩn thận chứ?”
“Anh sẽ hết sức thận trọng.”
“Tốt hơn là anh nên thế, nếu không em sẽ xé xác anh. Và không cần phải đến Rudỷs mua bánh mì kẹp đâu. Em sẽ làm món gì đó.”
5
Chủ nhật hôm ấy trời mưa, vì vậy họ đã quây quần tại bàn ăn hiếm khi được sử dụng của nhà Anderson: Ralph, Jeannie, Howie và Alec. Yune Sablo, ở nhà ở thành phố Cap, đã tham gia cùng họ qua Skype trên máy tính xách tay của Howie Gold.
Ralph bắt đầu kể lại những điều mà tất cả bọn họ đều biết, sau đó Yune tiếp lời, anh ta kể với Howie và Alec về những gì họ đã tìm thấy trong nhà kho của gia đình Elíman. Khi anh ta ngừng lời, Howie đã nói, “Không thể nào. Trên thực tế, chuyện này quá hoang đường.”
“Hắn đã ngủ ngoài đó trên gác xép của một nhà kho bỏ hoang?” Alec hỏi Yune. “Trốn? Anh đang nghĩ vậy hả?”
“Đó là giả định hợp lý,” Yune nói.
“Nếu vậy, đó không thể là Terry,” Howie nói. “Anh ấy đã ở thị trấn cả ngày thứ Bảy. Anh ấy đưa các con gái đến hồ bơi thành phố vào sáng hôm đó, và anh ấy có mặt tại Công viên Estelle Barga cả buổi chiều, chuẩn bị sân trước trận đấu - với tư cách là huấn luyện viên đội chủ nhà, làm việc đó là trách nhiệm của anh ấy. Có rất nhiều nhân chứng ở cả hai nơi.”
“Và từ thứ Bảy đến thứ Hai,” Alec thêm vào, “anh ấy bị giam ở nhà tù hạt. Như anh đã biết, Ralph à.”
“Có đủ nhân chứng chứng minh nơi Terry đã ở trên mọi bước đường,” Ralph đồng tình. “Đó luôn là gốc rễ của vẩn đề, nhưng hãy bỏ qua nó trong một phút. Tôi muốn cho các anh xem cái này. Yune đã xem rồi; anh ấy còn xem lại đoạn băng ghi hình vào sáng nay. Nhưng tôi đã hỏi anh ấy một điều trước cả khi anh ấy xem, và bây giờ tối muốn hỏi các anh. Có ai trong số các anh để ý đến một người đàn ông mặt bị biến dạng rất nặng tại tòa án không? Lúc đó hắn đang đội một thứ gì đó trên đầu, nhưng tôi sẽ không nói nó là cái gì lúc này. Một trong hai người?”
Howie nói ông không thấy. Ông đã đổ dồn mọi sự chú ý vào khách hàng của mình và vợ của anh ấy. Tuy nhiên, Alec Pelley thì ngược lại.
“Có, tôi có thấy. Trông hắn như thể bị bỏng. Và thứ hắn đội trên đâu...” Ông dừng lại, mắt mở to.
“Tiếp tục đi,” Yune nói từ phòng khách nhà mình ở thành phố Cap. “Hãy nói ra đi, anh bạn. Anh sẽ cảm thấy khá hơn.”
Alec xoa xoa hai thái dương, như thể đang bị đau đâu. “Lúc đó tôi nghĩ đó là một chiếc khăn trùm đầu hoặc khăn quàng cổ. Các anh biết đấy, vì tóc của hắn bị cháy trụi, có thể không thể mọc lại do sẹo và hắn muốn che chắn đầu khỏi nắng. Chỉ là thứ đó có thể là một chiếc áo sơ mi. Thứ mất tích ở nhà kho, có phải anh đang nghĩ vậy không? Chiếc áo mà Terry đã mặc trong băng ghi hình an ninh từ ga xe lửa?”
“10 điểm,” Yune nói.
Howie cau mày với Ralph. “Anh vẫn đang cố đeo bám Terry?”
Jeannie lần đầu tiên lên tiếng. “Anh ấy chỉ đang cố nói ra sự thật... nhưng tôi thực sự không chắc đó có phải là ý tưởng hay nhất trên đời không.”
“Xem cái này đi, Akc,” Ralph nói. “Và hãy chỉ vào chỗ của người đàn ông bị bỏng.”
Ralph đã cho chạy băng ghi hình của Kênh 81, sau đó là của FOX, và sau đó, theo yêu cầu của Alec (giờ ông ấy đang cúi sát về phía máy tính xách tay của Jeannie đến mức mũi gần như chạm vào màn hình), xem lại băng ghi hình của Kênh 81 lần nữa. Cuối cùng ông cũng chịu ngồi lại chỗ của mình. “Hẳn không có ở đó. Thật không thể tin nổi.”
Yune nói, “Lúc đó hắn đang đứng cạnh gã đang vẫy chiếc mũ cao bồi, phải không?”
“Tôi nghĩ vậy,” Alec nói. “Đứng cạnh gã cao bổi và cao hơn hẳn nữ phóng viên tóc vàng, người bị một cái biển vẫy đập vào đâu. Tôi nhìn thấy cả phóng viên và người vẫy biển... nhưng tôi không thấy hắn. Sao có thể thế được?”
Không ai trong số họ trả lời.
Howie nói, “Hãy quay lại với những dấu vân tay một chút. Có bao nhiêu bộ khác nhau trong xe van hả Yune?”
“Pháp y cho rằng có tới sáu bộ.”
Howie rên rỉ.
“Bình tĩnh đi. Chúng tôi đã loại bỏ ít nhất bốn trong số đó: người nông dân ở New York sở hữu chiếc xe van, con trai cả của ông ta, người thi thoảng cũng lái nó, đứa trẻ đã lấy trộm xe, và Terry Maitland. Còn một bộ dấu vân tay rõ nét nhưng chúng tôi không thể xác định được - có thể của một trong những người bạn của người nông dân, hoặc một trong những đứa con nhỏ hơn của ông ta đến đùa nghịch trong xe - và một bộ dấu vân tay mờ.”
“Những dấu vân tay mờ đó cũng xuất hiện trên khóa thắt lưng.”
“Có thể, nhưng chúng tôi không chắc. Có một vài đường thẳng và cả gấp khúc rõ nét trong đó, nhưng không có cái nào đủ rõ ràng danh tính để có thể làm bằng chứng khi vụ này được đưa ra tòa.”
“Uh-huh, được rồi, tôi hiểu rồi. Vậy thì hãy để tôi hỏi cả ba quý ông đây một điều. Không lẽ một người đàn ông bị bỏng nặng - cả tay lẫn mặt - không thể để lại những dấu vân tay như vây sao? Những dâu vân tay bị mờ đến mức không thể nhận ra?”
“Đúng thế.” Yune và Alec đồng thanh, giọng nói của họ chỉ cách nhau có vài giây vì độ trễ đường truyền ngắn của máy tính.
“Vấn đề là,” Ralph nói, “người đàn ông bị bỏng ở tòa án có hình xăm trên tay. Nếu các đầu ngón tay của hắn đã bị bỏng thì chẳng lẽ những hình xăm đó lại không bị cháy xém hay sao?”
Howie lắc đầu. “Không chắc. Nếu tôi rơi vào biển lửa, có thể tôi sẽ dùng tay để cố gắng thoát ra ngoài, nhưng tôi sẽ không làm điều đó bằng phần mu tay của mình, phải không?” Ông bắt đầu vỗ vào bộ ngực lực lưỡng của mình để chứng minh. “Tôi sẽ làm điều đó bằng lòng bàn tay.”
Một khoảnh khắc im lặng. Sau đó, với giọng trầm gần như không rõ, Alec Pelley nói, “Gã bị bỏng đó đã ở đó. Tôi thể có Chúa.”
Ralph nói, “Có lẽ Đơn vị Pháp y thuộc Cảnh sát Tiểu bang sẽ phân tích thứ đã biến cỏ khô thành màu đen ở nhà kho, nhưng chúng ta có thể làm gì trong lúc này không? Các anh gợi ý đi.”
“Trở lại Dayton,” Alec nói. “Chúng ta biết Maitland đã ở đó, và chúng ta biết chiếc xe van cũng đã ở đó. Ít nhất ở đó sẽ có thể cho chúng ta vài câu trả lời. Tôi không thể trực tiếp bay đến đó, có quá nhiều tai mắt, nhưng tôi biết ai có thể làm việc này. Hãy để tôi gọi điện và xem ông ấy có rảnh không.”
Họ đã dừng lại ở đó.
6
Grace Maitland 10 tuổi ngủ không ngon giấc và luôn chập chờn trong những cơn ác mộng kể từ sau khi bố cô bé bị sát hại. Chiều Chủ nhật đó, mọi mệt mỏi dồn lên cô bé như một chiếc tạ mềm. Trong khi mẹ và chị gái đang làm bánh trong bếp, Grace rón rén lên lầu và nằm trên giường. Dù hôm nay trời mưa, nhưng trời vẫn quang, như thế thật tốt. Cô bé sợ bóng tối. Cô bé có thể nghe thấy mẹ và Sarah đang nói chuyện ở tầng dưới. Điều đó cũng tốt. Grace nhắm mắt lại; mặc dù cảm tưởng như mình mới chỉ chợp mắt được chừng một, hai phút trước khi mở mắt trở lại, có vẻ cô bé đã ngủ rất nhiều giờ rồi, bởi lúc này trời đang mưa như trút và ánh sáng cũng chuyển sang màu xám xịt. Căn phòng của cô bé giờ chỉ còn những cái bóng.
Một người đàn ông đang ngồi trên giường và nhìn cô bé. Hắn mặc quần jean và áo phông màu xanh lá. Những hình xăm uốn lượn trên bàn tay hẳn, rồi bò ngược lên cánh tay. Những con rắn, một cây thánh giá, một con dao găm và một cái đầu lầu. Khuôn mặt hắn không còn giông như đã được tạo ra từ Play-Doh bởi một đứa trẻ vụng về nữa, nhưng cô bé nhận ra hắn. Đó là gã đàn ông đã ở bên ngoài cửa sổ phòng Sarah. Ít nhất thì bây giờ mắt hắn không còn là hai chiếc ống hút nữa. Chúng giống mắt của bố cô bé. Grace có thể nhận ra đôi mắt đó ở bất cứ đâu. Cô bé tự hỏi liệu mình đang mơ hay tỉnh. Nếu là mơ, ít ra cũng còn hơn những cơn ác mộng. Một chút.
“Bố à?”
“Ừ,” người đàn ông nói. Chiếc áo phông xanh lá của hắn biến thành chiếc áo đấu đội Rồng Vàng của bố cô bé, và nhờ vậy mà cô bé biết đây chỉ là một giấc mơ. Tiếp theo, chiếc áo đó biến thành một chiếc áo khoác trơn màu trắng, rồi trở lại là chiếc áo phông màu xanh lá cây. “Bố yêu con, Gracie.”
“Ông không phải bố tôi,” Grace nói. “Ông đóng giả bố thôi.”
Gã đàn ông ghé sát vào người cô bé. Grace thu mình lại, mắt dán chặt vào đôi mắt của bố. Chúng thật hơn cầu nói bố yêu con, nhưng người này vẫn không phải bố.
“Ông đi đi,” cô bé nói.
“Ta chắc là cháu muốn vậy rồi, nhưng nào có dễ thế. Cháu có buồn không, Grace? Cháu có nhớ bố không?”
“Có!” Grace bắt đầu khóc. “Ông đi đi! Đó không phải là đôi mắt thật của bố, ông chỉ đang giả vờ thôi!”
“Đừng mong đợi bất kỳ sự thông cảm nào từ ta,” gã nói. “Theo ta, cháu buồn cũng tốt. Ta hy vọng cháu sẽ buồn, khóc lóc thật lâu. Oa-oa-oa , giống như một em bé vậy.”
“Làm ơn đi đi!”
“Em bé muốn bú bình? Em bé tè dẩm, ườt hết cả? Em bé khóc oa-oa-oa?”
“Dừng lại đi!”
Hắn ta ngồi lại chỗ cũ. “Ta sẽ dừng lại nếu cháu giúp ta một việc. Cháu sẽ làm chứ, Grace?”
“Đó là gì thế?”
Hắn nói với cô bé, và sau đó thì Sarah lay cô bé dậy, bảo cô bé xuống ăn bánh, vậy thi rốt cuộc đó chỉ là một giấc mơ, một giấc mơ tồi tệ và cô bé không phải làm gì cả, nhưng nếu cô bé giúp hắn, giấc mơ đó có thể sẽ không bao giờ trở lại nữa.
Cô bé cố nhắm mắt nhắm mũi ăn một ít bánh ngọt, dù thực sự không muốn ăn bất kỳ thứ gì; khi mẹ cùng Sarah ngồi trên ghế dài và xem một bộ phim ngớ ngần nào đó, Grace đã nói cô bé không thích phim tình cảm và lên lẩu để chơi Angry Birds. Chỉ có điều, cô bé đã không thực sự làm vây. Cô bé vào phòng ngủ của bố mẹ (bây giờ chỉ là phòng của mẹ thôi, điều đó thật buồn làm sao), lấy điện thoại di động của mẹ từ tủ trang điểm ra. Số của viên cảnh sát không có trong danh sách liên lạc của điện thoại, nhưng số của bác Gold thì có. Cô bé gọi cho ông, cầm điện thoại bằng cả hai tay để không bị rung. Cô bé thẩm mong ông sẽ trả lời, và ông đã trả lời thật.
“Marcy? Có chuyện gì vậy?”
“Không, cháu Grace ạ. Cháu dùng điện thoại của mẹ.”
“Tại sao thế, chào cháu, Grace. Rất vui khi cháu gọi cho bác. Có chuyện gì vậy?”
“Vì cháu không biết làm thế nào mới gọi được cho bác thám tử. Người đã bắt bố cháu.”
“Sao cháu...”
“Cháu muốn gửi lời nhắn cho bác ấy. Một người đàn ông đã nhờ cháu chuyển lời. Cháu biết đó có thể chỉ là một giấc mơ, nhưng cháu vẫn thử. Cháu nhờ bác chuyên lời nhé.”
“Người đàn ông nào thế, Grace? Ai bảo cháu chuyển lời?”
“Lần đầu tiên cháu thấy ống ta, mắt ông ta có hình ống hút. Ông ta nói sẽ không quay lại nữa nếu cháu gửi lời nhắn đến thám tử Anderson. Ông ta đã cố khiến cháu tin rằng ông ta có đôi mắt của bố cháu nhưng ông ta không phải bố cháu, thực sự đấy ạ. Khuôn mặt của ông ta đã đẹp hơn trước nhưng vẫn đáng sợ lắm. Cháu không muốn ông ta quay lại, ngay cả khi đó chỉ là một giấc mơ, vậy bác sẽ giúp cháu gửi lời đến thám tử Anderson chứ ạ?”
Lúc này mẹ cô bé đang đứng ở ngưỡng cửa, lặng lẽ quan sát, và Grace nghĩ mình có thể sẽ gặp rắc rối, nhưng cô bé không quan tâm.
“Bác nên nói gì với bác ấy đây, Grace?”
“Dừng lại. Nếu bác ấy không muốn điều gì đó tồi tệ xảy ra, bác ấy phải dừng lại.”
❊ 7 ❊
Grace và Sarah ngồi trên ghế dài trong phòng khách. Marcy ngồi giữa chúng, hai tay choàng qua các con. Howie Gold yên vị trên chiếc ghế bành êm ái từng là của Terry cho đến khi thế giới đảo lộn. Chiếc ghế đó có kèm cả gối quỹ. Ralph Anderson đã lấy nó đặt trước chiếc ghế dài và ngồi trên đó, chân anh dài đến mức đầu gối gần như chạm mặt. Anh cho rằng mình trông thật hài hước, và nếu điều đó khiến Grace Maitland cảm thấy thoải mái một chút, thì cũng tốt.
“Đó hẳn chỉ là một giấc mơ đáng sợ thôi, Grace. Cháu có chắc đó là một giấc mơ không?”
“Tất nhiên rồi,” Marcy nói. Mặt cô căng thẳng và tái nhợt. “Làm gì có người đàn ông nào trong nhà. Hắn không thể lên lầu mà chúng tôi không nhìn thấy được.”
“Hoặc ít nhất cũng phải nghe thấy tiếng động chứ ạ,” Sarah nói, nhưng cô bé có vẻ rụt rè, sợ sệt. “Cầu thang nhà cháu kêu to lắm.”
“Anh ở đây vì một lý do duy nhất, trấn an con gái tôi,” Marcy nói. “Anh có vui lòng làm điều đó không?”
Ralph nói, “Dù đó có là gì thi cháu cũng biết là trong nhà giờ không có người đàn ông nào cả, đúng không, Grace?”
“Vâng.” Cô bé có vẻ chắc chắn về điều này. “Ông ta đi rồi. Ông ta nói sẽ rời đi nêu cháu chuyển lời đến bác. Cháu không nghĩ ông ta sẽ trở lại nữa đâu, cho dù ông ta có phải là một giấc mơ hay không.”
Sarah thở dài đánh sượt và nói, “Như thế chẳng phải nhẹ nhõm hơn sao.”
“Đừng nói thế con yêu,” Marcy nói.
Ralph rút sổ tay của mình ra. “Hãy nói cho bác biết hắn trông như thế nào. Gã đàn ông trong giấc mơ của cháu. Vì bác là một thám tử, và bác biết chắc thứ đó là gì.”
Dù Marcy Maitland không thích anh và có lẽ sẽ không bao giờ thích, nhưng ánh mắt cô vẫn dâng lên vẻ thẩm cảm ơn vì đã làm điều này, ít nhất là thế.
“Đẹp hơn,” Grace nói. “Ông ta trông đẹp hơn. Khuôn mặt Play-Doh của ông ta biến mất rồi.”
“Em ấy bảo trước đây mặt ông ta như thế,” Sarah nói với Ralph. “Em cháu nói vậy.”
Marcy nói, “Sarah, vào bếp với bác Gold và lấy cho mỗi người một miếng bánh, con giúp mẹ nhé?”
Sarah nhìn Ralph. “Cả bánh cho bác ấy ạ? Giờ chúng ta thích bác ấy à?
“Bánh cho tất cả mọi người,” Marcy nói, khéo léo né tránh câu hỏi . “Đó được gọi là sự hiếu khách. Đi ngay bây giờ đi con.”
Sarah rời khỏi ghế và băng qua phòng để tới chỗ Howie. “Cháu bị đuổi rồi.”
“Chẳng phải chuyện đó sẽ không xảy ra với người lịch sự hơn sao,” Howie nói. “Bác sẽ cùng cháu vào khu cung cấm.”
“Vào gì cơ?”
“Đừng bận tâm, nhóc.” Họ cùng nhau vào bếp.
“Làm ơn nói gọn ghẽ giúp tôi,” Marcy nói với Ralph. “Anh chỉ ở đây vì Howie nói việc này rất quan trọng. Rằng nó có thể liên quan gì đó đến... anh biết đấy.”
Ralph gật đầu mà không rời mắt khỏi Grace. “Gã đàn ông có khuôn mặt Play-Doh trong lần đầu tiên xuất hiện...”
“Và mắt ống hút,” Grace nói. “Chúng thò lò ra, giống như trong phim hoạt hình, và cái lỗ đen sâu hun hút.”
“Uh-huh.” Ralph viết trong sổ tay, Mắt ống hút? “Khi cháu nói khuôn mặt hắn trông giống Play-Doh, có thể nào là do hắn bị bỏng không?”
Cô bé ngẫm nghĩ một lúc. “Không. Có vẻ như hắn vẫn chưa hoàn thành. Không... bác có biết...”
“Chưa hoàn thành?” Marcy hỏi.
Grace gật đầu, nhét ngón tay cái vào miệng. Ralph nghĩ, Đứa bé ngây thơ 10 tuổi với khuôn mặt đầy tổn thương này... Cô bé là của mình. Đúng thế, và sự rõ ràng của những bằng chứng mà anh vẫn đang bám vào để hành động sẽ không bao giờ thay đổi được điều đó.
“Hôm nay hắn trông như thế nào, Grace? Gã đàn ông trong giấc mơ của cháu ấy.”
“Tóc đen ngắn dựng đứng, giống như lông nhím, và một ít râu quanh miệng. Ông ta mang đôi mắt của bố cháu, nhưng chúng không hẳn là mắt của bố. Ông ta xăm hình trên bàn tay và khắp cánh tay. Có một số hình xăm là hình rắn. Lúc đầu, áo của ông ta có màu xanh lá, sau đó chuyển sang áo bóng chày có hình con rồng vàng của bố cháu, sau đó lại chuyển sang màu trắng, giống như kiểu áo bà Gerson mặc khi làm tóc cho mẹ cháu.”
Ralph liếc nhìn Marcy, cô nói, “Tôi nghĩ con bé muốn nói đến áo choàng khoác ngoài.”
“Vâng,” Grace nói. “Chính thế. Nhưng rồi nó lại trở về là áo xanh, vì thế cháu biết đó là mơ. Chỉ là...” Miệng cô bé run lên, đôi mắt ầng ậng nước, những dòng nước mắt lăn dài trên đôi gò má ửng hồng. “Chỉ là ông ta nói ác lắm. Ông ta nói ông ta sẽ vui khi thấy cháu buồn. Ông ta còn gọi cháu là em bé.”
Cô bé úp mặt vào ngực mẹ và nức nở. Marcy nhìn Ralph qua đỉnh đầu con, thoáng chốc cơn giận anh không còn mà chỉ lo cho con gái mình. Cô ấy biết đó không chỉ là một giấc mơ , Ralph nghĩ. Cô ấy thấy nó có ý nghĩa gì đó với mình.
Khi Grace thôi nức nở, Ralph nói, “Mọi chuyện đều ổn, Grace. Cảm ơn cháu vì đã kể cho bác nghe về giấc mơ của cháu. Bây giờ tất cả đều kết thúc rồi?”
“Vâng,” cô bé nói với giọng nghèn nghẹn. “Ông ta đi rồi. Cháu đã làm những gì ông ta bảo và ông ta đã biến mất.”
“Chúng ta sẽ mời mọi người ăn bánh,” Marcy nói. “Con đi giúp chị chuẩn bị đĩa nhé.”
Grace chạy đi. Khi còn lại riêng họ, Marcy nói, “Chuyện này thực sự khó khăn với chúng, đặc biệt là Grace. Tôi muốn nói rằng chuyện chỉ có vậy thôi, ngoại trừ việc Howie không nghĩ như vậy và tôi cũng không nghĩ anh nghĩ như vậy. Tôi nói đúng chứ?”
“Bà Maitland... Marcy... Tôi không biết phải nghĩ gì nữa. Cô đã kiểm tra phòng của Grace chưa?”
“Tất nhiên. Ngay sau khi con bé nói với tôi tại sao con bé lại gọi cho Howie.”
“Không có dấu hiệu của kẻ xầm nhập?”
“Không. Cửa sổ đóng, rèm vẫn nguyên. Cầu thang thì đúng như Sarah nói. Đây là một ngôi nhà cổ, mỗi lần bước lên cầu thang sẽ phát ra tiếng cót két.”
“Thế còn giường của cô bé thì sao? Grace nói hắn đã ngồi lên đó.”
Marcy cười nhạt. “Ai biết, con bé lăn lộn trên giường...” Cô đưa tay lên mặt. “Điều này thật kinh khủng.”
Anh đứng dậy và đi đến chiếc ghế dài, chỉ có ý an ủi, nhưng cô đã đông cứng người và lùi ra xa. “Xin đừng ngồi xuống. Và đừng chạm vào tôi. Anh đang ở đây có nghĩa là tôi đã phải cố lắm rồi, thám tử. Chỉ để tối nay bé út của tôi có thể ngủ mà không phải la hét om nhà.”
Ralph không nói gì cho đến khi Howie và các cô con gái nhà Maitland quay lại, Grace cẩn thận cầm trên mỗi tay một chiếc đĩa. Marcy lau mắt, làm rất nhanh để không ai có thể nhìn thấy, nở một nụ cười rạng rỡ với Howie và các con gái của cô. “Bánh đây rồi!” Cô reo lên.
Ralph cầm lấy miếng bánh và nói cảm ơn. Anh định sẽ kể với Jeannie về cơn ác mộng chết tiệt này, nhưng anh sẽ không nói với cô về giấc mơ của cô gái nhỏ. Không, không phải lần này.
❊ 8 ❊
Alec Pelley nghĩ mình đã có số của người muốn liên hê trong danh bạ, nhưng khi thực hiện cuộc gọi, ông nhận được thông báo tằng số này đã hủy dịch vụ. Ông tìm thấy cuốn sổ địa chỉ cũ màu đen của mình (từng là người bạn đồng hành trung thành đã cùng ông đi khắp nơi, nhưng trong thời đại máy tính ngày nay, nó đã bị xếp xó trong ngăn kéo bàn, và nằm dưới vài cuốn khác) và thử gọi một số khác.
“Finders Keepers xin nghe,” giọng nói ở đâu dây bên kia vang lên. Nghĩ mình vừa được chuyển vào hộp thoại tự động - một giả định hợp lý, vì bây giờ là đêm Chủ nhật - Alec chờ đợi nghe tiếng thông báo về giờ làm việc, theo sau là một số lựa chọn có thể được xác định bằng cách bấm vào một số nút khác nhau, cuối cùng là lời mời để lại tin nhắn sau tiếng bíp . Nhưng thay vì thế, một giọng nói có vẻ hơi kỳ quặc vang lên, “Chà? Có ai ở đó không?”
Alec nhận ra giọng nói đó, dù anh không thể gọi tên. Đã bao lâu rồi anh chưa nói chuyện với chủ nhân của giọng nói đó? Hai năm? Ba?
“Tôi cúp máy đã...”
“Đừng. Tôi đây. Alec Pelley đây, tôi đang cố liên lạc với Bill Hodges. Tôi từng làm việc với anh ấy ưong một vụ án vài năm trước, ngay sau khi tôi nghỉ việc tại Cảnh sát Tiểu bang. Gã diễn viên tồi Oliver Madden đánh cắp một chiếc máy bay từ một người buôn dầu ở Texas tên là...”
“Dwight Cramm. Tôi nhớ. Và tôi nhớ anh, anh Pelley, dù chúng ta chưa bao giờ gặp nhau. Tôi rất tiếc phải nói rằng ông Cramm đã không thanh toán kịp thời cho chúng ta. Tôi đã phải lập hóa đơn cho ông ta cả nửa tá lần, sau đó dọa kiện. Tôi hy vọng anh ổn.”
“Cũng tốn sức đấy,” Alec nói, mỉm cười khi nghĩ vê kỷ niệm đó. “Tấm séc đầu tiên mà ông ta gửi cho tôi bị trả lại, nhưng tấm thứ hai thì không sao cả. Cô là Holly, phải không? Tôi không thể nhớ họ, nhưng Bill đã đánh giá rất cao cô.”
“Holly Gibney,” cô nói.
“Chà, rất vui được nói chuyện lại với cô, cô Gibney. Tôi đã thử số của Bill, nhưng tôi đoán ông ấy đã đổi số.”
Im lặng.
“Cô Gibney? Cô có đang nghe không?”
“Tôi đây,” cô nói. “Tôi đây. Bill đã qua đời hai năm rồi.”
“Ôi Chúa ơi. Tôi rất tiếc khi nghe tin đó. Có phải do tim không?” Dù Alec mới chỉ gặp Hodges một lần - họ đã thực hiện hầu hết công việc qua điện thoại và email - nhưng ông biết bệnh tình của ông ấy có vẻ nặng.
“Bệnh ung thư. Tuyến tụy. Bây giờ tôi điều hành công ty với Peter Huntley. Anh ấy là đồng đội của Bill khi họ còn trong lực lượng.”
“Tuyệt quá, chúc mừng cô.”
“Không,” cô nói. “Tôi không thấy tuyệt mấy. Công ty đang hoạt động khá tốt, nhưng tôi sẽ từ bỏ nó để đổi lại Bill còn sống và khỏe mạnh. Bệnh ung thư thật phũ phàng.”
Alec đã suýt cảm ơn cô ấy và kết thúc cuộc gọi sau khi nói lại những lời chia buồn. Thế rồi, ông tự hỏi mọi thứ sẽ thay đổi như thế nào nếu ông ấy còn sống. Nhưng ông vẫn còn nhớ vài điều mà Bill đã nói về người phụ nữ này trong quá trình lấy lại King Air của Dwight Cramm: Cố ấy là người lập dị, hơi ám ảnh cưỡng chếmột chút và không giỏi giao tiếp, nhưng cô ấy không bao giờ bỏ lỡ mánh khóe nào. Holly sẽ trở thành một thám tử cânh sát tuyệt vời.
“Tôi định thuê Bill điều tra giúp tôi,” ông nóỉ, “nhưng cô cũng được. Ông ấy thực sự đã đánh giá rất cao cô.”
“Tôi rất vui khi biết điều đó, Pelley, nhưng tôi không biết mình có phải là người phù hợp hay không. Finders Keepers chủ yếu tập trung vào những kẻ bỏ trốn hoặc người mất tích.” Cô dừng lại, sau đó nói thêm, “Thực tế là chúng tôi cũng ở cách anh khá xa, trừ khi anh đang gọi từ một nơi nào đó ở phía Đông Bắc.”
“Tôi không, nhưng vụ mà tôi quan tâm tình cờ lại ở Ohio, và sẽ rất bất tiện cho tôi khi tự mình bay đến đó — tôi có việc cần giải quyết ở đó. Cô cách Dayton bao xa?”
“Chờ chút,” cô ấy nói, và sau đó, gần như ngay lập tức: “Ba trăm bảy mươi ba cây số, theo MapQuest. Chương trình này rất chính xác. Anh cần điều tra gì, Pelley? Và trước khi anh trả lời, tôi cần nói với anh rằng nếu nó liên quan đến bạo lực, tôi xin kiếu. Tôi ghê tởm bạo lực.”
“Không có bạo lực,” anh nói. “A có chút bạo lực - giết hại một đứa trẻ - nhưng nó đã xảy ra ở đây, và người đàn ông bị bắt đã chết. Vấn đề là chúng tôi không rõ anh ta có phải là thủ phạm thực sự hay không, và muốn biết thì chúng tôi phải kiểm tra lại chuyến đi mà anh ta đã thực hiện cùng gia đình vào tháng Tư.”
“Tôi hiểu rồi, và ai sẽ trả tiền cho các dịch vụ của công ty? Anh?”
“Không, một luật sư tên là Howard Gold.”
“Theo anh, luật sư Gold có thanh toán nhanh hơn Dwight Cramm không?”
Alec cười toe toét. “Chắc chắn rồi.”
Và mặc dù người đứng ra thanh toán là Howie, toàn bộ phí trả cho Finders Keepers — giả sử Holly Gibney đồng ý điều tra ở Dayton - cuối cùng sẽ là từ Marcy Maitland, người có đủ khả năng chỉ trả. Công ty bảo hiểm sẽ không muốn chỉ tiền cho một kẻ giết người bị buộc tội, nhưng vì Terry chưa bị kết án, họ sẽ không có quyền bác yêu cầu. Ngoài ra còn có vụ kiện oan sai chống lại thành phố Flint mà Howie sẽ thay mặt Marcy nộp đơn; ông ấy đã nói với Alec rằng thành phố có thể sẽ phải bồi thường một khoản ít nhất bảy con số. Một tài khoản ngân hàng béo bở sẽ không thể đưa chồng cô trở lại, nhưng nó có thể chỉ trả cho một cuộc điều tra, và một chuyến chuyển nhà nếu Marcy cho rằng đó là điều tốt nhất, và việc học đại học của hai cô con gái khi đến lúc nữa. Tiền không thể mang nỗi buồn đi mất, Alec phản pháo, nhưng nó cho phép người ta cảm thấy thoải mái hơn nhiều.
“Hãy kể cho tôi nghe về vụ này, Pelley, và tôi sẽ cho anh biết liệu tôi có thể đảm nhận hay không.”
“Chuyện dài đấy. Tôi có thể gọi vào ngày mai, trong giờ hành chính, nếu điều đó ổn hơn cho cô.”
“Tối nay cũng được. Chờ tôi tắt bộ phim đang xem đã.”
“Tôi đang làm gián đoạn buổi tối của cô.”
“Không hẳn. Tôi đã xem Paths of Glory ít nhất hàng chục lắn rồi. Đó là một trong những bộ phim hay nhất của Kubrick. Theo tôi, hay hơn nhiều so với The Shining và Barry Lyndon , nhưng tất nhiên hồi đóng bộ phim này anh ta còn trẻ. Các nghệ sĩ trẻ thường dám chấp nhận rủi ro hơn.”
“Tôi không phải là một người mê phim,” Alec trả lời, nhớ lại những gì Hodges đã nói: lập dị và có chút ám ảnh cưỡng chế.
“Chúng khiến thế giới rực rỡ hơn, tôi nghĩ vây. Chờ một giây...” Ở phía sau cô, tiếng nhạc phim yếu ớt không còn nữa. Sau đó cô đã trở lại. “Hãy cho tôi biết anh cần làm gì ở Dayton, anh Pelley.”
“Chuyện này không chỉ dài mà còn kỳ lạ. Hãy cho phép tôi được cảnh báo cô trước.”
Cô ấy cười, một âm thanh giàu sắc thái hơn nhiều so với cách nói cẩn thận thông thường của cô. Nó khiến giọng cô nghe có vẻ trẻ trung hơn. “Câu chuyện của anh sẽ không phải là cầu chuyên kỳ lạ đầu tiên tôi được nghe, tin tôi đi. Khi tôi ở với Bill... à, đừng bận tâm đến điều đó. Nhưng nếu chúng ta định nói chuyên trong một thời gian, anh có thể gọi tôi là Holly. Tôi sẽ mở loa ngoài để đỡ mỏi tay. Chờ chút... được rồi, bây giờ hãy nói cho tôi biết mọi chuyện.”
Được khích lệ, Alec bắt đầu nói. Thay vì nhạc phim làm nền, anh nghe thấy tiếng lách cách đều đều của bàn phím khi cô ghi chú. Và trước khi cuộc trò chuyện kết thúc, anh vui vì mình đã không cúp máy vội vàng. Cô đã đặt ra những câu hỏi hay, đầy sắc bén. Những điều kỳ lạ của vụ án dường như không làm cô bối rối chút nào. Thật tiếc khi Bill Hodges đã chết, nhưng Alec nghĩ ông có thể đã tìm được một người thay thế hoàn toàn phù hợp.
Sau khi kể xong câu chuyện, ông hỏi, “Cô có hứng thú không?”
“Có. Anh Pelley...”
“Alec. Cô là Holly và tôi là Alec.”
“Được rồi, Alec. Finders Keepers sẽ nhân vụ này. Tôi sẽ gửi cho anh các báo cáo thường xuyên qua điện thoại, email hoặc FaceTime, ứng dụng mà tôi thấy là vượt trội hơn nhiều so với Skype. Khi tôi đã có được mọi thứ có thể, tôi sẽ gửi cho anh một bản tóm tắt đầy đủ.”
“Cảm ơn cô. Nghe có vẻ rất...”
“Đúng thế. Bây giờ hãy để tôi cung cấp cho anh số tài khoản, để anh có thể chuyển phí đặt cọc như chúng ta đã thảo luận.”