CON SÓNG THỨ HAI
Tin ông Phủ bị trúng gió, rồi toàn thân bất toại, chỉ trong một sớm một chiều đã loan đi rất nhanh. Bà con trong xóm ngơ ngác ngó nhau, vì ông vốn là người rất tráng kiện, đẹp lão. Thầy tướng số Đại Lục Tiên, nổi tiếng ở chợ Giồng Trôm, ăn tiền quẻ tới năm cắc bạc, chấm số tử vi cho ông rồi cứ ngồi ngó ông mà tấm tắc cười hoài, khen ông có số sống lâu trăm tuổi. Bởi vậy, có người mới nói:
— Ủa! Mới hôm nào, thấy ổng còn đi sân sẩn!
— Sáng hôm qua tui còn thấy ổng mạnh khù, đứng săm soi mấy gốc kiểng thế trước sân. Ai mà dè ổng đứt dây thiều sớm vậy!
Ông Ba bỏ hết công ăn việc làm còn đăng đăng đê đê ở nhà, ông tất tả đi thăm ông Phủ cho trọn tình chủ tớ.
Lúc ông Ba tới nhà thì ông Phủ đã á khẩu.
Thiệt ra có trúng gió máy gì đâu. Ông Phủ bị đứt dây thiều, lọt cầu... cá tra. Cũng như đa số những nhà giàu có lớn ở Nam Bộ thuở ấy, không ai có tập quán xây cầu vệ sinh ở trong nhà. Thường ngày họ vẫn ngồi chong ngóc trên cái cầu cá tra bắc ngang mặt ao. Cái cầu tiêu miệt vườn, nó mát thôi lồng lộng, đố có cầu tiêu máy nào ở thành phố mà sánh bằng. Gió lòn mát đít, khung cảnh xung quanh lại khoảng khoát, thơ mộng. Tức cảnh sinh tình, ý thơ nó vận vào mình, người có tâm hồn thơ thẩn, đôi khi còn rặn ra được những vần thơ lai láng, bất hủ, kiểu như bài Quần ngư tranh thực trích trong tuyển tập Ngồi cầu cá tra cảm tác:
Một cục vàng rơi “tủm” xuống ao,
Ao đang tĩnh lặng bỗng ba đào,
Kia đàn cá đói tranh hùng mãi,
Gẫm lại người đời cũng thế thôi,
Sao bằng giống cá tanh hôi.[62]
Còn không thì cũng có có dịp buông lời thăm hỏi, hoặc kêu réo, chọc ghẹo những ai tình cờ đi ngang qua đó. Thử hỏi ai mà không khoái, quận công[63] cũng không bằng...
Vừa ở trong cầu đứng lên, trong một thoáng ông thấy đất trời chao đảo, chùng chình. Gắng gượng ra được tới cái tay vịn bắc ngang mặt ao thì máu xâm đã túa lên mặt làm cho ông xây xẩm, cảnh vật xoay tròn, bầu trời đổi sang sắc tím. Nghe như có tiếng nổ bụp ở trong đầu rồi một đám mây đom đóm túa ra nhảy múa loạn cuồng trên một nền trời đen kịt. Mồ hôi vã ra sâm sấp lưng áo, ông chưa kịp níu lấy cái tay vịn thì cơn buồn nôn, muốn ói đã hối hả dưng lên. Cả bầu trời chao nghiêng, đảo lộn, ánh sáng và bóng tối quây mòng mòng, càng lúc càng nhanh, dường như có cả quả núi đè lên trước ngực. Chới với, lảo đảo, ông ngã ùm xuống ao...
Một lát sau có đứa gia nhơn ở trong nhà đi ra, thấy cây gậy nằm lăn lóc ở đó mà ông chủ thì đâu mất tiêu. Chừng ngó trực xuống ao, nó hết hồn lật đật nhảy xuống. Vừa lóp ngóp vớt ông lên, nó vừa tri hô inh ỏi. Cả nhà xúm nhau rinh ổng lên giường, kẻ hơ lửa, người cạo gió. Kể từ lúc đó, ổng dớ lưỡi luôn, ai tới thăm, ổng chỉ chằm chằm ngó người ta, ứa ra hai hàng nước mắt.
Người nhà khiêng ông xuống một chiếc ghe lớn có mui, chở tuốt qua Sơn Đốc khám ông Quan Dương.
Ông Quan Dương là ông thầy thuốc có tiếng cả huyện. Sau khi bắt mạch xong, ổng lắc đầu nói:
— Bịnh nầy có khi ngày mai chết, có khi nằm cả chục năm cũng chưa chết, nhưng không thể phục hồi, đi đứng lại được như xưa.
Gọi riêng con cháu ra sau hè, ông nói nhỏ:
— Ông Phủ nhắm không qua khỏi! Tôi “thối”[64] rồi, ổng muốn ăn gì thì cho ổng ăn. Thôi, mấy cháu lo chở về đi...
❖
Đứa cháu cõng ông Phủ, vừa từ dưới ghe bước lên, đã thấy ông Ba đứng sựng rựng trên bến sông tự lúc nào, hai hàng nước mắt ròng ròng, cái mặt héo queo, miếng trầu trong miệng trẹo qua một bên.Ông Ba nằng nặc xin được ở lại để nuôi ông Phủ. Nhà có lắm gia nhơn, nhiều đầy tớ, nhưng vì cảm tấm chơn tình của người lão bộc, nên đám con cháu ông Phủ cũng vui lòng mà chấp thuận.
Ông Phủ nằm một đống như thây chết chưa chôn, con cháu phải cạy miệng, đổ hồ bằng muỗng, chân tay ông y nguyên bất động nhưng hai con mắt thì mở trao tráo, tròng mắt cứ đảo lia, đảo lịa. Con cháu không ai hiểu ý tứ gì ráo.
Mấy hôm sau, nhân lúc vắng người, đỡ đầu người bệnh lên tay, ông Ba kê miệng sát tai người bệnh, ân cần hỏi nhỏ:
— Ông chủ muốn trối trăng lại điều gì phải không? Nếu phải thì ông chớp mắt liền ba cái đi.
Người bệnh chớp mắt đủ ba cái.
— Ông chủ muốn đi mà còn “núm nuối”, đi không đành đoạn vì ông còn để của lại cho con cháu, mà không đứa nào biết chỗ phải không?
Cặp mắt lờ đờ của người bệnh vụt sáng lên, lại chớp mắt liền ba cái.
— Ông chủ cứ cho tui hay. Thề có thiên địa quỷ thần, hai vai chứng giám, tui mà có gian, cho ngọn đèn nầy tắt thì cái mạng của tui cũng tắt theo cái “phụp” đi.
Ông Ba bắt đầu nhẩn nha kể lể, liệt kê từ cái tủ sắt, tủ gõ, cái rương xe, giường hòm, cả cái cỗ thọ[65] kê ở đằng sau vườn cũng kể, vậy mà người bệnh chẳng chịu chớp mắt lấy cái nào... Nhưng cuối cùng rồi, cái gì tới thì cũng phải tới...
Ông liếc mắt nhìn chầm chập về phía cái đôn sứ nhỏ đặt dưới đất cạnh đầu giường, hạ giọng:
— Ông chủ để của ở cái đôn sứ đó phải không?
Ba cái chớp mắt vừa mới chớp xong thì đầu người bệnh đã rớt “phịch” xuống giường. Nhảy phóc một cái, ông Ba đã quơ cái đôn sứ ôm cứng ngắt trong tay rồi.
Nhìn trước ngó sau không thấy ai, ông lẳng lặng lủi ra sau vườn, tế như ngựa vía, dông thẳng một mạch xuống tuốt bến sông.
Còn lại một mình trên giường, người bệnh uất ức sôi bọt mép, trào máu họng, ưỡn cong mình lên như một cánh cung, hai con mắt trắng dã, con ngươi đảo đồng, đảo địa... Được một lát thì đứng tròng lộn ngược, cái lưng lại rớt phịch xuống giường, im lìm như cũ... Ô hô ai tai! Hồn quy dị lộ!
Một cơn gió lạnh đi lạc vào buồng, mấy tấm màn treo rũ phập phồng. Ngọn đèn bàn chao đi chao lại vài cái rồi tắt phụt, bóng tối ngập tràn, bưng kín lấy căn buồng.
Dưới xẻo, đã cột sẵn chiếc xuồng nhỏ. Để cái đôn sứ xuống, lấy rơm lá phủ lên, ông Ba lẳng lặng bơi xuồng về nhà.
Vừa ra tới con rạch lớn, bỗng nghe trong gió đưa lại, có tiếng xôn xao đằng nhà ông Phủ, trước còn văng vẳng, sau nổi lên tiếng gì nghe như tiếng than khóc rùm trời.
❖
Khuya hôm đó, ông Ba chốt chặt cửa nẻo lại, đốt một ngọn đèn nhỏ, rồi vô buồng thọt lét kêu bà dậy.
Sật sừ ngồi dậy, chưa kịp bới cái đầu lại cho gọn, bà đã mở miệng cằn nhằn:
— Lạ cho cái ông này quá! Hổm rày, từ khi đi nuôi bịnh ở nhà ông Phủ về, tui thấy ông lạ lắm à nghen!
— Đờn bà thì biết cái khỉ khô gì mà nói! Để tui nói cho bà nghe, phen nầy vợ chồng mình hết nghèo, hết khổ rồi đó nghen bà.
Nói rồi ông đi lấy một cái búa chẻ củi, lột mấy tờ giấy nhựt trình để lộ ra một cái đôn sứ nhỏ. Bà định mở miệng cằn rằn: “Nửa đêm, nửa hôm, ông dựng đầu tui dậy để dòm ba cái đám ôn nầy hử? Bộ mấy cái thứ quỉ này mà làm cho mình hết nghèo, hết khổ được sao?” Nhưng thấy thái độ trịnh trọng của ông nên bà cũng đành im lặng, đợi chờ.
Để cái đôn sứ vững vàng trên bàn, ông dang củ lừ táng cho nó một búa. Cái đôn sứ bể tan tành, miểng sành văng bắn ra lổn cổn lanh canh. Lẫn lộn trong đám miểng lộn xộn đó, lộ ra một gói giấy dầu, ràng rịt cẩn thận.
Trước đôi mắt kinh ngạc đến sững sờ của bà, ông cẩn thận lột từng lớp, từng lớp giấy dầu.
Gian buồng nhỏ bỗng sáng rực lên dưới ánh đèn bởi ánh sáng lấp lánh của vàng nén, bạc thoi, đổ ra chài bài.
— Kể từ ngày hôm nay, nhà mình giàu có lớn. Rồi đây mấy cái quân nó hay khi dễ tui với bà, tụi nó hãy chống con mắt lên mà coi thằng Ba ở dợ nầy. Cái nầy là do công lớn của tui, từ rày về sau, hễ tui nói ra cái gì, thì bà nó phải nhứt nhứt tuân theo lịnh của tui à nghen. Bà nó có nhớ chưa! Nhớ hay... chưa!!!
Nói xong, ông vênh váo cuộn xấp giấy dầu lại, gói lẹ chỗ hoàng kim vừa mới đếm. Ông bà vốn khắc khẩu, hễ nói ra láp váp ít tiếng là gây, mà phần thắng lần nào cũng thuộc về bà, vì ông nổi tiếng là người tốt nhịn và “nể nang” vợ. Sẵn dịp lập đặng công trạng, lần đầu tiên trong đời, người đờn ông nầy mới dám hách cái mặt lên trời, làm tàng với vợ mình chút đỉnh.
Mải ngất ngây sung sướng, ông không để ý gì đến vẻ mặt tinh quái của bà, mà cũng quên không tự hỏi, tại sao nãy giờ bà không vặn vẹo, hỏi han xuất xứ, lai lịch của cái đôn, và cũng chưa ngã ngửa ra mà xỉu - vì mừng cho rồi.
Im lặng giờ lâu, một lát sau, vừa xỉa thuốc, ăn trầu bà vừa từ tốn nói, giọng lạnh tanh:
— Chưa chắc đâu à nghen ông! Ông đã thật lòng cho tui coi cái của ông thì tui cũng chẳng hẹp bụng gì mà không cho ông coi lại cái của tui, nó còn ngộ gấp trăm, gấp ngàn lần cái nhỏ xíu của ông đó nữa.
Nói rồi bà đi tuốt vô nhà trong, chậm chạp dềnh dang, ột ệt thấy phát mệt, bắc ghế leo lên bồ lúa. Một lát sau, bà è ạch lôi xuống một vật nặng, khệ nệ vác ra, để cái “ịch” lên bàn, làm cho bốn cái chưn bàn lung lay, như muốn sụm.
Đó là một cái va li bằng da thuộc, loại mắc tiền, được ràng rịt cẩn thận bằng hai cái khóa sắt, bốn góc sẫm màu vì còn hơi âm ẩm. Cái va li tốt, cái khóa cũng tốt, nước xi sáng giới. Nhưng uổng quá, cái khóa đã bị ai đó phá bung ra một cách thô bạo, có lẽ nạy bằng xà beng hay búa đẽo chi đó.
— Đó ! Cho ông coi đó, có ngon thì giở ra mà coi đi!
Bán tín, bán nghi, ông lẹ làng cạy nắp va li ra... Cái nắp nặng nề còn chưa kịp mở bét ra hết, ông đã cầm đèn rọi vô.
Chợt mắt ông đứng tròng, miệng ông há hốc. Ánh vàng chóe nhảy nhót lấp lánh như reo vui trên đôi đồng tử đã mở to hết cỡ - cái va li đầy nhóc bạc bó lẫn với vàng cây.
Thời gian như chùng lại, lặng ngắt giờ lâu. Mãi sau, ông vẫn chưa tỉnh hồn, miệng không sao khớp lại được. Tiếng bà như từ cõi xa xôi nào vẳng lại:
— Ông xích lại gần đây để tui nói cho ông nghe, vợ chồng mình bữa nay được của. Ông được của, tui cũng được của, mà của của tui là “vàng cây, bạc bó”, còn nhiều gấp mấy lần của của ông nữa. Té ra, cái câu “phước bất trùng lai” mà ông bà mình thường nói, gẫm ra chẳng trúng chút nào, phải vậy... không... a... ông? Ông bà mình nói ra một trăm câu, thì cũng phải có câu trúng, câu trật chớ. Ai chê “của hoạnh tài bất phú”, chớ riêng tui, tui nghiệm ra câu này mới thiệt trúng... ơi... là trúng: “Nhơn vô hoạnh tài bất phú, mã vô dạ thảo bất phì”[66] phải vậy không... a... ô.ô.ông?
Ông chỉ im lặng ngồi nghe, nhè nhẹ gật đầu, bộ ria xụi lơ nhưng trong bụng lại sôi lên trăm lời gào thét.
Còn nhớ, lâu nay sợ mang tiếng là nể vợ, hễ mỗi khi bà đi bán xa, có khi ta bà, lâu vê một chút. Ở nhà ông nhớ, ông ghen, rồi ông tức tối lớn tiếng hăm he, cả xóm đều nghe: “Lần nầy bả về! Bả biết... tay tui!”
Lần nào cũng vậy, hễ vừa về tới nhà, liếc mắt thấy cái gì để sai chỗ, chưa vừa ý, bà liền đá thúng đụng nia, ong óng cái miệng, rầy ông sa sả. Ông nín khe, xìu xuống như cái bánh tráng nhúng nước, phơi sương. Hàng xóm thấy vậy, có người cắc cớ, mới khều ông ra sau hè hỏi nhỏ: “Sao! Lần nầy có rầy la bả nữa hay thôi? Tụi tui sợ ông đánh chết bả nên qua đây chờ sẵn, để... can”.
Người đàn ông nầy, cả đời chưa dám ó với vợ tiếng nào. Bữa nay, ngàn năm một thuở mới có dịp lên mặt làm chồng. Dè đâu, mới vừa ló ra chút đỉnh bản lĩnh đàn ông, chưa kịp dạy vợ tiếng nào thì đã bị bả “đốn” nghe cái “cụp”. Rốt cuộc gì, ông cũng đành phải nằm dưới cơ người vợ biết làm ra của nầy rồi.
Xóm trên còn văng vẳng tiếng trống tùm tum, tiếng kèn đám ma om sòm bát nhã, từ phía nhà ông Phủ, theo hướng gió đêm, ò e í e vẳng lại.
Chú thích:
[62] Bài thơ thâm thúy này bị mất khúc giữa, nhưng cũng hiểu là ý tác giả muốn nói: giống cá tra tuy ăn bẩn kịch liệt nhưng chúng không giết hại đồng loại như con người.
[63] Dân gian có câu: thứ nhứt quận công, thứ nhì ỉa đồng, (ỉa cầu cá tra sướng hơn ỉa đồng, ỉa đồng còn phải vác theo cái cuốc hoặc con dao).
[64] Thối: từ chuyên môn của thầy thuốc Đông y, có nghĩa là thầy chạy, con cháu đem người bịnh về mà lo hậu sự. Có lẽ do từ “thoái” trong tiếng Hán Việt, viết ra cho biết, chớ cũng không chắc.
[65] Cỗ thọ: cỗ quan tài sắm trước để dành lo hậu sự. Nhiều người già lo xa, chọn cây, mướn thợ đóng cho mình cỗ quan tài. Cỗ thọ thường được kê bên chái nhà hoặc phía sau vườn. Khách tới nhà, chủ nhân thường hay nắm tay dẫn ra khoe, có người còn leo vô nằm thử nữa. Có khi cỗ thọ đã mục nát rồi mà chủ nhân vẫn còn sống nhăn răng.
[66] Nhơn vô hoạnh tài bất phú. Mã vô dạ thảo bất phì: người ta, nếu không nhờ sự may mắn hưởng được của từ trên trời rớt xuống (như trúng số độc đắc hoặc đền bù đất đai mặt tiền) thì khó mà giàu có lẹ lên được. Người chủ ngựa mà không cho ngựa ăn cỏ bồi dưỡng thêm vào ban đêm thì nó cũng.