Kỳ Ảo Đất Phương Nam

Lượt đọc: 6485 | 4 Đánh giá: 8,5/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
HỒI THỨ HAI MƯƠI MỐT
“nhơn phi ngãi tất giao, vật phi ngãi tất thủ

CON SÓNG THỨ BA[67]

Tuy đã “thủ” đắc được hai cái vật phi ngãi ấy rồi, nhưng ông bà vẫn không sao quên được những tháng ngày ngậm đắng nuốt cay khi còn là “con nợ”, phải trốn nhà lánh nợ vào đêm ba mươi Tết. Hơn ai hết, bà biết rõ: không có nghề nào mau làm giàu bằng cái nghề cho vay bạc góp. Cho nên việc đầu tiên của bà là tạo thần thế, vây cánh để bảo kê cho mình, để người đi vay không ai dám giựt. Sẵn bạc tiền, bà vung tay mua chuộc các vị chức sắc - từ ông Hương cả trong làng cho đến cao nhứt là ngài Chủ tỉnh. Sau khí đã bôi trơn các mối quan hệ đó rồi, đã “giao” tế được với các nhơn phi ngãi đó rồi, thì bà mới bắt đầu phát triển công cuộc làm ăn: thu mua lúa non, cho vay bạc góp. Mỗi khi ông tiếc của, ngầy ngà, bà ngoắt ông lại, (thiếu điều bắt đứng khoanh tay) rồi giảng ro ro như người lớn dạy con:

— Hoạnh tài bất phú mạt cùng nhân.[68] . Ông trời, ổng đã cho mình giàu có ngang xương. Có tiền, sẵn của, nếu tui mà không biết cách tạo thần thế để làm giàu, cứ để cho một mình ông quản hết thì khác nào tọa thực sơn băng, ngồi ăn núi lở, chẳng bao lâu cốt khỉ lại hoàn cốt khỉ[69]. Từ rày về sau, hễ tui nói sao thì ông nghe vậy cho tui nhờ.

Bà cho vay nặng lãi, có khi không giấy không tờ, mà chắc ăn còn hơn đi trước bạ hay cầu chứng tại tòa nữa; ai đâu lớn gan mà dám giựt, bởi giựt rồi liệu có thoát được hay không. Hễ không có tiền trả, hoặc trả không đúng kỳ hạn thì bà cho người đến tận nhà réo tên mà chửi, chừng nào họ chịu lòi tiền ló bạc mới thôi, còn bằng mất khả năng chi trả thì bà cào nhà, cắm ruộng, rào đất, xiết vườn.

Hễ cho ra năm đồng, tới kỳ phải trả sáu đồng, còn như cho ra mười đồng thì cuối tháng phải trả mười hai. Bởi vậy dân tình mới có câu ta thán: “bạc vay xăng-xít, đít-đuôi” (cing-six, dix-douze).

Chỗ bà con quen biết thì bà tính khác, nhơn đạo hơn: cho góp tiền ngày. Tiếng là vay vốn một trăm chớ bà chỉ đưa ra chín chục, chặn lại mười đồng tiền đầu, chịu thì mượn, không chịu thì xê ra chỗ khác mà chơi. Đó rồi một trăm ấy, mỗi ngày chỉ phải góp đủ một đồng hai cắc, chẵn một trăm ngày thì hết nợ. Rủi bề túng quá, không xoay nổi đồng hai ấy thì chỉ cần trả hai cắc bạc cũng xong, còn đồng nợ vốn kia thì vẫn y thinh không mẻ.

Tới kỳ không có tiền trả, nhiều người nghèo khổ đem đầu tới khóc lóc, năn nỉ ỉ ôi, miệng sôi bọt oáp, cổ nổi gân xanh, bà vẫn lạnh tanh, mắng thôi xối xả, đòi đem bỏ tù, phát mãi tài sản, bắt con trừ nợ, v.v. và v.v...

Đã quyết tâm làm giàu rồi thì khó tránh khỏi cái sự làm chuyện bất nhơn. Bà vẫn thường nói: “Vi phú bất nhơn, vi nhơn bất phú . Đố cha thằng nào vừa vi phú, vi nhơn cho được”. Vì vậy bà không từ bất cứ thủ đoạn “nạo xương, róc tủy” nào; đến nỗi chiều ba mươi Tết mà bà vẫn thản nhiên, dẫn gia đinh tới rinh bộ lư đồng trên bàn thờ ông bà ông vãi người ta.

Trong làng ngoài tổng, hầu như không mấy ai là không nợ tiền bà. Tuy biết là cắt cổ, mổ họng, nhưng không vay thì lấy đâu ra vốn làm ăn, chữa bịnh. Bởi vậy, hễ thoáng thấy bóng bà đi tới đâu, ai nấy thảy đều giở nón, lột khăn, cúi đầu chào sát rạt.

Của cải bạc tiền tích cóp ngày một nhiều, đồng bạc trắng bà đầm xòe phải cân bằng cân xách (thứ cân mà bạn hàng ngoài chợ, vẫn dùng để cân khoai), rồi phong lại thành cây, chứa lu, chứa hũ. Vốn cũ đã không mẻ một xu, tiền cho vay không mất một cắc, lúa ruộng góp không thiếu một hột, tá điền, tá thổ làm trả công không sót buổi nào. Còn bọn tôi tớ trong nhà thì răm rắp, không dám ăn sớt ăn bớt chút nào, cho nên bà chẳng ngại gì mà không vung tiền ra mua thêm, nào ruộng, nào vườn, rồi mở trại cưa, trại hòm, che đường v.v... Bà là một trong những nhà giàu có lớn đầu tiên ở Nam Bộ, mở nhà máy xay lúa, máy móc còm-măng ở tận bên Tây, một mình đứng ra làm chủ, không thèm hùn hạp với ai ráo trọi.

CÁI NỒI ĐẤT

 

Về phần mình, tuy không làm ra của được như bà, nhưng ông lại có tài giữ của. Ở thôn quê, nhà giàu có lớn vẫn thường âm các súc đá xanh xuống dưới móng nhà, bao bọc xung quanh nền nhà để ngừa ăn trộm đào hầm, khoét ngạch. Mỗi súc đá lớn, bốn người lực điền khiêng còn cóng róng. Ăn trộm hay dùng cây chỉa nhọn để xâm, hễ xâm trúng đá xanh thì chúng dội ngược, tháo lui.

Có năm kia, mùa màng thất bát, đói kém, trộm cướp nổi lên đều trời. Nhà ông bà chỉ còn dãy nhà ngang là chưa kịp kêu thợ tới âm đá xanh. Tối nào ông bà cũng ra ngủ trên bộ ván gõ kê ở dãy nhà ngang, nói là ngủ ở đó cho mát chớ thực ra là để canh ăn trộm.

Đêm đó trời mưa sập sòi, thiệt là giờ khắc lý tưởng để đi ăn trộm vì mát trời thì gia chủ dễ ngủ say, đất lại mềm dễ đào. Đầu hôm, bà thức canh cho ông ngủ, đến khuya, bà ngủ để ông thức canh, ông ngủ sẻ thức lắm.

Khoảng nửa đêm hôm đó, có tiếng sột soạt trong vườn. Con Mực hực lên một tiếng rồi im, con Vá, con Phèn cũng im theo thin thít. Ông biết là chúng đã trúng phải bả của đạo chích rồi. Bọn đạo chích chuyên nghiệp vẫn thường thủ sẵn các xâu đầu gà đầu vịt, ướp ngũ vị hương, chiên giòn thơm phức, cốt để lo lót cho đám cẩu canh phòng này. Giờ này, chắc mỗi em đã lãnh một xâu, kiếm chỗ vắng vẻ ráng ăn cho hết vì sợ mấy con khác giành phần.

Ông nhón chân đi nhè nhẹ xuống bếp, rút cây mác vót giắt sẵn ở trên vách. Cây mác này thường ngày vẫn dùng để vót tre nên lúc nào nó cũng sáng ngời, bén ngót.

Hờm sẵn cây mác trong tay, ông yên tâm ngồi rình. Thời gian chừng ăn xong bữa cơm, đất trước mặt ông bỗng sụt xuống một cái lỗ hổng nhỏ bằng cái hang chuột. Im lặng nặng nề, vẫn không thấy động tịnh gì, cái hang chuột càng lúc càng mở rộng ra, như có một bàn tay vô hình, lạt sạt khoét rộng cho vừa một người chui lên. Lại im lặng, chưa tàn một điếu thuốc bỗng từ dưới hang nhú lên một cái đầu. Cái đầu tròn vo, đen thủi đen thui, đảo đồng đảo địa, bẹo hình bẹo dạng một hồi rồi mới chịu biến mất.

Ông Ba hồi hộp xiết chặt ngọn mác, ông biết giờ phút quan trọng đã đến. Bọn đạo chích chuyên nghiệp thường hay dò đường bằng một cái nồi đất. Nếu gia chủ có ý rình, nhưng thiếu kinh nghiệm, hoặc quá hồi hộp sẽ trúng kế ngay. Cứ tưởng cái nồi đất đen, là đầu thằng ăn trộm nên dang củ lừ đập mạnh, cái nồi bể nghe cái “bụp”, là thằng ăn trộm biết đã lộ, sẽ tháo lui. Có thằng trước khi tháo chạy còn quay lại lêu lêu gia chủ “Ê! Ê! Xí hụt! Ý ẹ! Thí cho cái nồi!”

Ba cái trò “đào hầm, khoét ngạch” này, ông Ba quá rành: “Bây làm sao qua mặt tao nổi”. Nghĩ thầm trong bụng như vậy nên ông lẳng lặng hờm sẵn cái mác, đợi...

Chưa giập bã trầu, một cái đầu khác lại lú lên, ông Ba vung ngọn mác lên cao hết cỡ, lấy hết sức bình sinh, xắn xuống nghe một cái “phụp” gọn hơ, ngọt sớt. Có tiếng kêu nghèn nghẹn vang lên rồi tắt lịm...

❃ 

Ba ngày sau, khúc sông trước cửa nhà ông Ba bỗng nổi phềnh lên một xác chết sình trương, tay chưn cà huynh, cà hoang, không biết là ai vì không có cái đầu. Nước lớn trôi vô, nước ròng trôi ra. Vợ con thằng chỏng chết trôi, đợi trời tối mới lén vớt xác về chôn, gạt thầm nước mắt, nuốt hận vào lòng, chớ không dám hó hé kiện thưa gì ráo.

Ba con sóng dữ đã hội tụ về đây, về đầy đủ ở trong cái nhà nầy rồi...

Nhà cửa, sự nghiệp đã trở nên rân rát rồi mà ông bà vẫn giữ nếp xưa, vẫn “cần kiệm tế gia chi bổn” nghĩa là vẫn hà tiện, keo kiệt bủn xỉn như thuở hàn vi. Bữa cơm vẫn cá rô dầm nước mắm đồng, tuy lần nầy có khá hơn, mỗi người được chẵn một con, dùng kèm với đọt bầu, đọt bí (hái ở trong vườn), dọn lên trên cái bàn chân quỳ, mặt bằng đá cẩm thạch trắng, rộng minh mông. Còn quần áo thì tứ thời bộ nghiêm, bộ nghỉ. Dân trong điển vẫn quen thấy ông đi đám tiệc với cái quần lưng vận, áo bà ba trắng cháo lòng vá nhiều chỗ, được che đậy bằng cái áo bành tô cũ kỹ, xuềnh xoàng. Hôm nào đi rước quan trên thì mới có thêm cái nón cối trắng, cây ba toong gỗ trắc bịt đồng.

Sau nầy, ngày càng giàu có, trong nhà có nuôi mấy chục gia nhơn, sợ người ta đàm tiếu nên bữa cơm mới có thịt cá thay đổi chút đỉnh, nhưng đặc biệt trên mâm cơm dọn riêng cho ông bà, bao giờ cũng phải có món cá rô nướng dầm nước mắm đồng. Hễ hôm nào ông bà ăn vô món gì có dính chút dầu mỡ, như thịt heo quay, thịt kho tàu chẳng hạn, thì bữa đó nếu không miệng nôn, trôn tháo, thượng thổ hạ tả, thì cũng bị Tào Tháo rượt chạy có cờ... Hình như cơ thể họ đã quen kham khổ, nên không thể dung nạp được các chất béo bổ hay sao, và ông bà cũng chỉ cảm thấy ngon miệng với món cá hủng hỉnh kho quẹt, hoặc mắm sống ăn bốc mà thôi.

Để biện minh cho thói hà tiện, hà tặn của mình, bà vẫn thường nói: “Đời ông bà tiện tặn, ăn mắm mút giòi, chắt mót là để của lại cho con cháu đời sau đó”.

Nhưng hỡi ơi! Hễ đặng hào của thì lại mất hào con, lời ông bà mình nói, thiệt chẳng sai chút nào. Không hiểu vì sao mà trời Phật lại bắt ông bà hiếm muộn, choen hoẻn không con. Không phải bà không sanh đặng, mà bà sanh năm một luôn, nhưng toàn là “hữu sinh vô dưỡng ” không hà.

Bà con trong làng quen lệ, hễ thấy một người đờn ông ở trần, vai vác cuốc, nách cắp một bó chiếu rách, ràng dây trái trả, quật mí lỏng lẻo hai đầu - có khi còn để ló ra ngoài lỗ rách, cái cẳng nhỏ xíu như cẳng búp bê, đong đưa theo từng bước chân thất thểu, đi ra nghĩa địa gò làng. Thì ai nấy thảy đều chắc lưỡi thương thầm, biết rằng ông bà mới vừa “bỏ” thêm đứa nữa. Khỏi cần qua thăm hỏi lăng xăng chi cho mất công, để lâu lâu thăm gộp một lần chẳng muộn.

Thuở còn hàn vi, không con đã đành, chẳng nói mần chi, không ai để ý. Còn bây giờ, ruộng đất bể bề, cò bay gãy cánh, chó chạy rớt đuôi, đáng bực rân rát nhứt ở trong hàng tỉnh rồi, lỡ sau nầy ông mà cỡi hạc, bà cũng chầu trời, thì của ấy để lại cho ai. Không người nối hậu thì lấy ai là người hương hỏa, phụng tự cho ông bà.

Bà ham con nít đến nỗi ai bày thầy bà giỏi ở đâu bà cũng đốc ông lặn lội, đi thỉnh, đi mời. Chùa chiền linh ứng ở đâu, dẫu xa xôi thế mấy bà cũng cơm ghe bè bạn, đi khẩn, đi cầu. Ăn ở với nhau mấy chục năm rồi mà nhà cửa vẫn còn rộng rinh vì thiếu tiếng con nít khóc tu oa cho vui cửa vui nhà...

Lần đó, có người bày cho ông bà một toa thuốc lạ. Đỉa trâu mấy chục, bắt về bằm nhỏ, ướp gia vị, đổ vô chảo mở đương sôi, xào với củ hành cho thơm phức. Trộn thêm vô mấy vị thuốc Bắc: ba kích, nhơn sâm với dâm dương hoắc, vắt thành một cục nhưn to, cho vừa cái bánh ít bự.

Lựa ngày lành tháng tốt, hai vợ chồng ăn cùng một lượt, rồi đồng lòng vén mùng chun vô, làm liền cái chuyện vợ chồng cho nóng sốt thì toa thuốc kia nó mới linh nghiệm. Có lẽ họ lý luận rằng không có gì dai nhách cho bằng bột bánh ít, và cũng không có mầm sống nào dai dẳng cho bằng cái giống đỉa trâu.

Cực chẳng đã ông bà phải nén gớm, ráng ăn cho hết mấy chục cái “bánh ít nhưn đỉa” ấy, mà cũng chưa thấy hiệu nghiệm gì ráo trọi.

Có hiệu nghiệm hay không, đợi tới hồi sau mới rõ...

Chú thích:

[67] Vốn là câu “Nhơn phi nghĩa bất giao, vật phi nghĩa bất thủ”: Người phi nghĩa (không lương thiện) ta không nên giao thiệp, tiếp xúc, (có ngày phải ở tù vì tội tòng phạm hoặc không tố giác tội phạm). Những tài vật phi nghĩa (không do công sức của mình làm ra) thì ta không nên lấy, (có ngày phải ra tòa vì tội sử dụng tài sản do người khác phạm tội mà có).

[68] Hoạnh tài bất phú, mạt cùng nhân: tiền của do may mắn đem đến, nếu không giàu lên được, hoặc không giữ được để mà hưởng, thì coi như là người mạt vận rồi. Giống như trúng số độc đắc mà không biết lo làm ăn, lại ăn chơi hoang phí, thì chỉ sau một thời gian, hết tiền, lại nghèo như cũ.

[69] Cốt khỉ lại hoàn cốt khỉ: ý muốn nói nghèo vẫn hoàn nghèo.

« Lùi
Tiến »