CUỘC ĐẤT THỦY BÁI
Trời vừa tang tảng sáng, bà con dọc mé sông đã thấy thấp thoáng hai bóng người đi tới đi lui, chắp tay sau đít. Họ là ai mà vừa nhác thấy bóng họ từ xa thì ai nấy cũng đều lột nón, trật khăn, lật đật đứng nép vô hai bên đường vậy cà? Và khi họ vừa đủng đỉnh tới gần thì hết thảy đều cung kính chắp tay cúi đầu, xá dài sát đất, đồng thanh nói như ăn rập: “Dạ! Bẩm bà chủ, bà đi dạo sớm quá!”.
Té ra đó là bà Ba, đi cùng với một người khách lạ. Khách không phải người miệt này, nước da mét mét, nét mặt khắc khổ, miệng nhai trầu bô bô, cái trán trợt lớt, râu ba chòm mấy sợi le the, giọng nói trọ trẹ. Trên đầu khăn đóng chữ nhơn, trật ra sau ót, ló cái củ nừng lúc lắc. Mình mặc áo dài lương đen sờn rách, ló hai cùi chỏ. Cái quần trắng đã hơi nhục nhục, ngả màu cháo lòng, xăn lên tới gần bắp chuối khoe đôi giày hàm ếch, dính bùn mốc thếch. Một tay máng cây dù đen cán tre, tay kia cắp một cái tráp gỗ sơn mài, trước kia chắc là đen bóng, còn bây giờ nước sơn đã tróc lỗ chỗ, trổ cái cốt gỗ ra ngoài, nên cũng không biết màu gì mà tả. Còn mấy thứ lục cục lòn hòn, khua lụp cụp lạc cạc ở trỏng, thì đố ai biết nó là cái giống gì mà kể.
Hai người vừa đi vừa chậm rãi chuyện trò. Bà Ba, ngoài cái nhà máy xay lúa, mấy cái trại cưa, trại hòm, bà còn làm chủ thêm mấy cái che đường, cả trăm khung cửi dệt tay, lại còn sắm thêm mấy chiếc ghe thương hồ. Bà thường cho người chở vải ta, vải tám từ miệt Bến Tre, giong ruổi ra bán tới tận ngoài Trung. Bận về, chẳng để ghe không, bà buôn cá khô, đường Quảng và các loại đặc sản ở ngoải. Mấy cô tiểu thơ, con bà Cai tổng, cháu ông Hội Đồng vẫn thường đặt mua ở bà các loại son môi, phấn nụ gia truyền mà các nàng cung nữ Huế vẫn thường dùng riêng trong chốn cung đình.
Đặc sản miền Trung của bà đem về lần nầy không phải son môi, phấn nụ gì ráo, mà là một con người, một ông thầy Huế hẳn hoi; một thầy ngự y chốn cung đình mà vì thời cuộc bị thải ra ngoài, một thầy đồ nho lỡ vận, có tài nho, y, lý, số, mà giỏi nhứt là cái tài coi phong thủy.
Vậy là đã rõ, mấy cái thứ lục cục, lòn hòn đang xục xạc ở trong cái tráp sơn đen mà ổng vẫn ôm khư khư trên tay nãy giờ, chém chết gì cũng là tróc long, địa bàn, nếu không tính tới mấy cuốn sách phong thủy chữ Nho rách nát.
Vô Nam chưa được bao lâu, tuy ổng cũng gắng gỏi, ráng học ăn, học nói cho ra vẻ rặc ròi Nam Bộ; nhưng cái tánh hay quên, bởi rứa cho nên trong câu chuyện cũng còn đá vô mấy tiếng trọ trẹ; khiến cho bà con cô bác trong nầy, chẳng ai hiểu mô tê răng rứa, xí nào ráo trọi.
Hai người lững thững đi theo con lộ đắp, dọc bờ sông trong nắng sớm. Con lộ nhỏ ven sông, sau cơn mưa đêm, mát rượi hơi đất. Hàng dừa nước, ngâm mình dọc mé sông, phần phật reo vui trong gió sớm. Ánh nắng phản chiếu xuống mặt sông, qua kẽ lá, lóe sáng thành những vũng vàng óng ánh, lấp lánh ngôi sao, lung linh chao động. Thế đất chỗ này hơi cao so với xung quanh, dòng sông cuồn cuộn chảy, đâm thẳng vào doi đất trước khi bẻ quẹo cánh chỏ chảy tiếp qua nhánh khác.
Khách đi trước, chủ lẽo đẽo theo sau, bà Ba mải mê suy nghĩ nên không thèm đáp lại những lời chào hỏi vang rân của đám tá điền, tá thổ ở trong đất của bà. Ông thầy Huế đột ngột dừng lại ở chỗ đất cao ráo, dọc triền sông rộng rãi. Lấy tay che mắt, ông hấp háy nhìn ra mặt sông xa:
— Thế đất trẹt lét, sông nước lỉnh lảng miệt vườn như ri mà mụ ni đòi... ủa quên! Bà nầy đòi cho có được Thanh Long, Bạch Hổ, Huyền Vũ, Lệ Tuyền thì mắc chi mà có. Người An Nam ta thì phải biết cách dùng phong thủy của người mình. Bà có biết mần răng, chừ tui mời bà ra đây vào cái giờ giấc sớm bửng như ri không hỉ? Bà cứ chờ một xí đi rồi biết hỉ, bà cứ dòm thẳng ra cái mặt sông rộng tê tể! Bà có thấy cái chi “lọa” không hỉ?
— Tôi dòm nãy giờ, chỉ thấy mấy giề lục bình trôi nhanh riu ríu thôi, chớ có thấy chi mà hỏi. Tôi sanh đẻ tại đây, còn lạ gì con sông nầy nữa. Hồi nhỏ, chiều nào chẳng ra đây tắm sông, giặt đồ, gánh nước dộng đầy lu.
— Ậy! Bà có dòm mà con mắt của bà không thấy, chỉ có con mắt của thầy địa lý mới nhìn ra được mà thôi. Bà dòm ra xa đây nì, thấy cái chi mô?
— Có thấy cái chi lạ đâu nà! Chỉ thấy mấy đám chèo ghe đương chổng mông chèo mái một vô cho kịp phiên chợ sớm, chớ có gì lạ? Mấy đám ghe nầy họ tới đây từ hồi hôm, phải đậu ghe nằm ngủ ngoài giáp nước để chờ con nước sớm. Tới giờ mới hối hả chèo miết vô để tảng sáng kịp bán ở chợ mới.
— Tụi hắn theo con nước sớm chèo vô, đông vô kể, bà có thấy không? Đó nờ! Ngó tụi hắn tề! Mình đứng trên cuộc đất ni ngó xuống, thấy tụi hắn đương quay chèo, bườn vô kín rạch, kín sông, bà có thấy chi không hỉ? Tụi hắn mần cái chi “lọa” rứa? Tụi hắn đương xoay “xỏa” ra răng?
— Ớ cái ông này! Khéo hỏi ngớ ngẩn dữ đa? Thì họ đương khom lưng, dang củ lừ bổ mái chèo xuống nước chớ mần chi!
— Thôi! Để tôi nói cho bà rõ hỉ. Bà thấy có phải dường như cả đám tụi hắn đang chổng mông lạy bà và tôi đó không? Đọ! Đọ! Thấy chưa nì?
— Ừa hén! Ông nói tôi mới để ý. Đúng rồi! Đứng từ trên nầy dòm xuống, thấy cả đám tụi hắn... ủa quên, tụi nó đương khom lưng, nhỏng đít, cúi đầu xuống mà bổ mái chèo, rồi ngửng đầu lên, giống y như tui nó đương sụm lên sụm xuống mà lạy mình vậy đó. Việc nầy chẳng phải chơi đâu.
— Trên đời ni, mấy ai mần răng mà được người ta vái lạy mỗi ngày, bà hỉ. Các bậc đế vương như mụ Võ Tắc Thiên, hay mụ Từ Hi Thái Hậu, ngày mô lâm triều thì mấy mụ nớ mới được bá quan bái lạy tung hô, mà có phải ngày mô hắn cũng được lâm triều đâu. Rứa còn bà ở đây thì sáng mô cũng...
Ông thầy Huế bỏ lửng câu nói... Lát sau, cho rằng bà Ba đã thấm, ông mới từ tốn nói tiếp:
— Hắn ở đây nì! Cái cuộc đất Thủy Bái ấy. Ai cũng "noái" rằng hắn chỉ có ở trong sách vở mà thôi, úy chu choa! Ai mà dè, hắn có thiệt, sờ sờ ra trước mắt tui với bà bữa ni. Thưa với bà! Cuộc đất ni là cát địa..Theo sách phong thủy, hắn được xem là cuộc đất Thủy Bao vì ba mặt có sông sâu uốn lượn, bao bọc. Cái đó, rứa cũng tốt nhưng không phải là cái mà tôi nói tới bữa ni. Mà cái chính là hắn còn hội được cả yếu tố “Thủy Bái” nữa, rứa thưa bà. Chu choa! Mẹc mẻn ơi! Cả đời tôi, tôi đi từ Bắc chí Nam mà chưa từng được thấy cuộc đất Thủy Bái ra răng, tới hôm ni mới thấy như ri là lần đầu. Dám chắc, ngoài tui ra, chưa có thầy địa lý mô được trông thấy hắn, thưa bà. Ai mà có phước có phần, cất nhà trên cuộc đất ni, day cửa chính về phía mặt sông, mỗi ngày đều được chúng bái lạy, tung hô thì sau nầy dòng họ, nếu không phát vương, phát tướng, giàu sang muôn lượng, thì cũng được thiên hạ trọng vọng, khúm núm, xum xoe.... Chỉ hơi tiếc một điều, có cái xẻo nhỏ xắn ngang trước mặt, nên chi cũng làm giảm bớt cái tốt của hắn đôi phần, chớ chi con xẻo nớ cạn nước đi thì cuộc đất Thủy Bái mới phát tiết hết cái tốt của hắn, rứa thưa bà.
— Ậy! Có khó khiếc gì đâu, cái xẻo hẹp té, cạn xợt, tôi mà mua được cuộc đất nầy rồi, tôi sai tá điền, tá thổ, gánh đất lấp xẻo, có hại chi đâu. Ngày nào cũng lấp, tốn công bao nhiêu cũng không nệ, tốn tiền bao nhiêu cũng không tiếc, chẳng bao lâu thì...
— Uở! Không nên mô! Răng ai lại làm cái việc vô hậu như rứa, phải để tự nhiên, khi mô trời đất hắn vần xoay, hắn làm cho con xẻo nớ cạn đi. Hoặc giả phải là người khác, họ không biết việc ni, họ tự ý lấp đi. Răng chừ mình đã biết rồi, mà mình còn cố ý lấp cái xẻo nớ; làm như rứa, chẳng khác chi mình cãi lại mệnh trời! Rứa thưa bà.
— Ừ thôi, rứa cũng được! Còn cái nầy nữa ông ơi, lúc tan chợ, trưa trưa, bận về, theo con nước họ lại chèo ngược ra, họ chổng mông, day đít, day khu về phía mình. Cuộc đất đối diện phía bên kia sông là nhà của thằng cha Bảy, chẳng lẽ lúc đó nó cũng được họ lạy y như mình, thì cuộc đất của nó cũng tốt như của mình bên ni hỉ? Ủa quên, bên nây hả? Cái miệng nầy, bữa nay sao mà lãng xẹt! Đi với ông hoài, bẻ miệng riết, chắc tui đớ lưỡi có ngày!
— Thì có chi mô! Đúng là bận về tụi hắn chèo ra, tụi hắn lạy ngược về hướng bên tê, hướng nhà thằng cha Bảy mô đọ. Mượt choa hắn chớ, vì lúc đó thì họ thong thả chèo mái dài mà về lẻ tẻ..., nước đã ròng, linh khí đã kiệt, nên chẳng còn tốt lành chi nữa. Chẳng bằng với cuộc đất bên ni, cả đám tụi hắn lúc mới vô, “chúng thủy, triều đông” tụi hắn hăng hái khom lưng, nhỏng đít chèo mái một. Mà nước lớn tràn bờ, là chỗ khí chi tụ dã, tụ tắc vi sinh, đầy tràn và viên mãn, rứa thưa bà.
— Còn nữa, cuộc đất mà có dòng nước đâm thẳng vô như vầy thì đời nào mà tốt được hả ông? Không cần làm thầy địa lý tôi cũng biết nữa.
— Ậy! Mụ chớ có so...! Ủa quên, bà chớ có so đo với phong thủy của Tàu. Ối thôi! Tụi hắn vẽ vời ra, nào là triều thủy, nào là hoàn thủy, nào là tà lưu thủy, phản phi thủy cái chi chi rứa. Mượt choa hắn chớ! Phong thủy của ta nó nôm na hơn nhiều. Sông nước Nam ta thì phải xài phong thủy của người Nam ta thì nó mới thích hợp mà lại hiệu nghiệm hơn nữa. Chớ sao! Rứa thưa bà.
— Bẩm bà, Tám Tồn nhắn con về bẩm lại với bà là hổng đời nào ổng bán lại miếng đất đó đâu, thưa bà. Bà có trả giá cao tới cỡ nào đi nữa, ổng cũng không bán hết. Dạ bẩm với bà...
— Hổng lẽ thằng cha thầy Huế nầy là cái quân đòn xóc hai đầu. Đã cho va một số bạc lớn như vậy rồi mà va còn thậm thụt qua thèo lẻo với thằng Tám để ăn tiền cò hai chủ. Bây đâu! Tuốt qua nhà thằng Tám, xách đầu nó về đây cho bà dạy việc...
❃
— Dạ bẩm với bà Chủ. Tình thiệt không phải là tui có ý cừ ngạnh, hay kình chống lại với bà Chủ đâu. Dà! Bẩm thiệt cho Chủ thương... Chẳng là như vầy, đây là phần đất hương hỏa, con cháu nào mà dám bán miếng đất nầy. Chủ thấy đó, tuy dòng họ giờ đây chỉ còn lại có một mình tui thôi, nhưng còn mồ mả ông bà tiên tổ ở phía sau vườn, con cháu phải gìn giữ để sau nầy còn nhang khói phụng tự ông bà nữa chớ.— Ậy! Chú Tám mầy khéo lo xa thì thôi, chú Tám nói cũng phải. Tội nghiệp thời thôi! Thấy chú Tám mầy hiếu kính, ai mà không thương. Ai mua thời không biết, chớ chi chú bán cho tôi, tôi trả bằng bạc trắng, sấp năm, sấp mười lần trị giá miếng đất. Mà tôi còn hứa với chú Tám mầy, mấy cái mồ mả ở trong đất, tôi để nguyên, y xì cho chú cúng kiếng tảo mộ mỗi năm. Đất điền của tôi, nói thiệt hỏng phải khoe với chú Tám chớ... minh mông thiên địa, tui cần chi cái thẻo đất nhỏ xíu đó. Vậy đi! Tôi tính vậy, vừa không mích lòng chú, mà cũng chẳng hẹp bụng tôi. Thôi! Còn nghĩ ngợi gì nữa! Giấy đoạn mãi đây, chú mau điểm chỉ vô rồi đem bằng khoán qua đây, để tôi còn sai bầy trẻ nó kịp đem lên huyện sớm.
Tám Tồn gãi đầu, gãi tai xin được về nhà suy nghĩ lại. Rốt cuộc tham tiền nên gật đầu, lập tức y nhận được một số bạc lớn, đủ cho y sang lại mấy căn phố gạch mặt tiền, ở chợ Bến Tre. Y đem cho mướn, tiền bạc té ra, y hùn vốn mở trại hòm, làm ăn cũng khấm khá. Năm sau, gần Tết, lối hai mươi ngoài, Tám Tồn xênh xang áo nhiễu giày cườm, sắm sanh lễ vật đề huề, về xứ tảo mộ ông bà.
Chừng ra sau vườn, y chưng hửng, ngã ngửa ra khi thấy mấy cái ao cá tra nằm chình ình trên đó, lại thấy mấy cái cầu tõm đang hoạt động ì xèo nữa chứ. Thất kinh hồn vía, y chạy lại hỏi bà thì bà nói đã đưa cốt vô chùa. Chạy hỏi chùa thì sãi chỉ vãi, vãi chỉ tiểu, tiểu nói tiểu mới đi tu nên không được biết. Ngoài chợ, dư luận ác khẩu còn đồn đại rằng, bả đã móc cốt lên liệng hết xuống sông. Thế lực bà quá mạnh, Tám Tồn đành gạt nước mắt, ngậm ngùi bỏ xứ đi luôn, không dám kiện cáo gì ráo, mà có kiện chắc cũng hổng ai dám xử...
Ông thầy Huế vừa xây lưng đi khỏi thì bà Ba đã lập tức sai tá điền gánh đất lấp ngay cái xẻo nhỏ xắn ngang trước mặt. Nói là xẻo nhỏ chớ bả phải huy động cả trăm tá điền trai tráng, gánh đất lấp cả tháng ròng mới rồi đời cái xẻo. Bả không đợi được, đợi tới khi nào thì trời đất mới vần xoay; đời người ngắn ngủi quá mà. Bả cũng không tin rằng có ai đó sẽ lấp được nó cho bà. Rồi bà mướn thợ Hậu là tay thợ mộc khéo nhứt thời đó, đứng ra tuyển thợ, xây cho bà một ngôi nhà lộng lạc, kinh dinh nhứt xứ.
Nhà mới cất, nền đúc phong tô, vách rờ mát tay, cột cẩm lai láng lẫy ngó thấy mặt, trong ngoài bày biện rực rỡ, tiêm tất. Đặc biệt nhứt là mặt tiền day cửa hướng thẳng ra mặt sông rộng, đón ngọn gió sông hiền hòa mát rượi, lồng lộng thổi vào. Mỗi buỗi sáng sớm, bà bắc cái ghế ngai, ra ngồi chéo ngoảy, chễm chệ vắt chân chữ ngũ, để cho thiên hạ phải rầm rộ chèo ghe vô mà bái lạy bà.
❃
Bà Ba, vì mưu đoạt cái “Dương cơ” cho dòng họ nhà mình mà nỡ đoạn đi cái “Âm phần” của gia tộc khác. Bà làm chuyện “bạo thiên, nghịch địa” như vậy mà càng lúc càng giàu. Hổng biết, có phải nhờ cuộc đất đó mà phất lên không, chớ từ đó về sau, công cuộc làm ăn của bà, ngày càng phát đạt, túi tiền càng ních càng chặt, tiền bạc cứ rủ nhau chun vô túi bà ào ào, thấy mà ham.Mặc dù tuổi đã già chát, đường tử tức tưởng đâu đã chai ngắt chai ngơ, đám cháu ruột kêu bà bằng dì còn đương hí hửng, thì ai dè cuối năm đó bà lại mang thai rồi hạ sanh quý tử. Con trai, cứng khừ, trọng bân, đặt tên là Tấn Phát. Thiệt là “lão bạng sinh châu”, trai già sanh ngọc tốt, lại càng tăng thêm niềm vui cho nhà giàu có của lên bội phần...
Đứa nhỏ sổ sữa, cù lự làm sao, dễ thương hết sức, ai ngó thấy cũng muốn nựng. Chừng lẫm chẫm biết đi, cặp mắt nó lanh thấy sợ, miệng nói cũng sõi nên càng được cưng chiều, muốn ngăn nào được ngăn nấy, ông bà thiếu điều đội nó lên đầu. Lớn lên chút nữa, thằng nhỏ thông minh dĩnh ngộ, dạy đâu nhớ đó, lại hiếu kính đủ đường.
Có hào của, lại đặng hào con, ngẫm đi ngẫm lại, ông bà thấy cuộc đời của mình, giờ đây đã đủ đầy phước lộc. Chỉ còn chờ cho Hai Phát lớn lên, học giỏi, đỗ đạt ra làm quan, cưới vợ, sanh con, nối dõi tông đường... Ngoài ra không có thứ chi trên cõi đời nầy còn khiến cho ông bà phải thèm muốn hay ước ao gì nữa hết.
Bậc thức giả, ưu thời mẫn thế trong làng, biết chuyện nầy, chỉ còn biết ngậm ngùi, chạy thẳng ra giữa sân, khóc ba tiếng, cười ba tiếng, đấm ngực, kêu trời:
— Cha chả! Thiên địa chí công ở đâu? Phật trời báo ứng ở chỗ nào? Thiệt là... thiên đạo bất công mà! Bớ ông trời! Sao ông khéo nịnh nhà giàu?
Phật trời báo ứng ở đâu thời không biết. Chớ ở đây, lúc nầy, thì chưa thấy gì hết...