HỘI CHỢ TAM KỲ
Tết năm đó, không nhớ năm nào, chỉ nhớ rõ là vào khoảng năm một ngàn chín trăm... lâu lắm. Nhà nước bảo hộ có mở hội chợ đấu xảo Nam Kỳ (Kermesse de la Cochinchine) ở ngay trong châu thành tỉnh Bến Tre.
Hội chợ nầy mấy năm mới mở một lần, nên chưa tới ngày khai mạc mà cả cái sân cỏ rộng minh mông như cái sân banh trước cổng tòa Bố đã ken kín mít các quầy đấu xảo. Quầy nầy chen khít quầy kia, nào là: dừa ba ngọn, buồng chuối hai trăm nải, khoai lang Gảnh một củ chín ký, trái bí bự bằng con heo mọi, cùng với các loại đặc sản khác của xứ dừa như bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc, đế Phú Lễ, đế Lương Hòa, rượu bổ tỳ Cánh Xuân Đường, Hạnh Xuân Đường. Sầu riêng, măng cụt Cái Mơn, kẹo dừa kẹo chuối, thuốc rê Mỏ Cày. Lụa Ba Tri, chiếu Nhơn Thạnh, mắm Châu Bình, xen lẫn với các loại đặc sản khác của khắp xứ Lục tỉnh Nam Kỳ và toàn cõi Đông Dương, đương theo ghe ùn ùn chở tới, đậu lềnh khênh ở dưới bến sông...
Ngoài ra, còn phải kể tới các sản phẩm nhập cảng, từ Sài Gòn, theo xe đò gởi xuống kin kìn, bày bán ê hề như: xà bông thơm Ca-đum, Mạc-xây, dầu thơm Coty, thuốc đánh răng Gibs V. V... Ối thôi! Kể sao cho xiết...
Nam thanh nữ tú dập dìu, việc bán buôn cạnh tranh thiệt là náo nhiệt. Từ ông già chín mươi cho tới anh con trai tuổi vừa mới lớn chưa mọc lông chưn, vừa mới lú đầu vô hội chợ, chưa kịp rảo quanh một vòng xem chơi cho biết thì đã bị nắm chóp kéo lại, bắt phải tập tành hút xách, cho hút thử thả cửa: Bát-tô, Cô-táp, Gô- loa... . Cỡ nào cũng cho, miễn đừng lận lưng đem về.
Gặp mấy tay “ra đi vợ có dặn dò, thuốc cho thì hút, thuốc mua thì đừng”, thì khác nào buồn ngủ mà gặp chiếu manh, thôi thì điếu hút, điếu giắt lỗ tai, bợm ta bập bập tới trớt môi ăn thua.
Cù là con hổ, cù là Miến Điện, dầu Nhị Thiên Đường, tranh nhau níu kéo mấy bà già trầu, mấy cô thôn nữ, mấy đứa trẻ ranh, một hai nài ép bắt phải vạch rún xức thử, chạy đâu cho thoát.
Từ ngoài cửa hội chợ đi dài dài vô tới cuối bãi xe kéo, một dãy máy hát quay tay hiệu Pathé phono, có logo in hình con chó ngồi chồm hổm, dòm vô cái ống tà la, tòe loe như cái nơm nơm cá, cứ thi nhau trỗi lên các giọng oanh vàng lảnh lót của cô Ba Bến Tre, cô Năm Trà Vinh. Có mấy cái dĩa đá Asia mà cứ hát tới hát lui hoài, nghe riết phát nhàm, con nít cũng thuộc lòng. Hát thôi lồng lộng, từ tang tảng sáng, hát tới khuya lắc khuya lơ, không lo nhảy đĩa, chẳng nệ mòn kim, hát tới chừng nào cà lăm cà lặp, đứt dây thiều mới thôi.
— Nhân dịp hội chợ, bổn hiệu ở trên Chợ Lớn xuống đây, bán dzẻ trước để làm quen, sau làm việc nghĩa: “Mại... dzô, mại... dzô! Dzẻ... lắm, dzẻ... lắm dồi! Dịp may hiếm có! Mua một, tặng một, tính tiền... hai! Lẹ tay thì còn! Chậm tay thì... đổ Sài Gòn cũng hết...”.
Rượu bổ Ông già leo núi, ỷ mình có cái ống tà la lớn, quảng cáo chát là, át giọng tiếp thị rất nhu mì nhỏ nhẻ của các loại Điều kinh bạch đái, Dưỡng thai nhành Mai, Mĩ nữ cao, Mĩ dung lộ, Xuân nữ dược, Bóng nha duyên, dành riêng cho quý bà, quý cô, quý chị và quý... em gái nhỏ:
Bà nào chồng bỏ chồng chê;
Uống Xuân nữ dược chồng mê tới già.
Bà nào già như trái cà;
Xức cao Mỹ nữ hết già hết nhăn.
❃
Trà Thái Đức[70] trình làng một bình trà bự tổ chảng, có nhị vị củ nường[71] nheo nhẻo, mặc sườn xám xẻ cao tới háng, phò ở hai bến. Kẻ rót người dâng, ỏn thót kính mời quý vị khách quan “nhẩm xà” tại chỗ.Trà ngon hảo hạng, sườn xám xẻ cao, khoe đùi non trắng hếu, muốn uống bao nhiêu, xẩm non cũng rót, a muối cũng chiều. Vậy mà bán vẫn không chạy bằng cái quầy kia, có sáng kiến gởi cho người đi xem hội chợ, mỗi người một gói trà nhỏ đem về, con nít còn bồng trên tay cũng gởi, thiếu điều chạy theo mà nhét vô tay người ta. Tức khí sai người chạy đi hỏi. Tưởng ai, té ra là trà “con khỉ hộc máu”[72] , cũng là danh trà ở ngay trong tỉnh của mình đây, chớ có đâu xa...
Càng không thể thiếu các trò cờ bạc công khai, thiếu nó thì không ra không khí cái hội chợ tỉnh chút nào. Năm thuở mười thì, mới có một khi, nhà nước đã xả láng cho chơi, thì bịnh gì mà cữ. Chiếu trải lềnh khênh dưới đất, chỗ nầy bầu cua cá cọp, hốt me, xóc bài cào, chỗ kia tài xỉu, gầy sòng, chỗ nọ ném lon lấy rượu, thảy vòng vịt, đá gà tự do. v.v. và v.v...
Xôm tụ nhứt vẫn là mấy sòng lô tô, rao hay như hát: “Con vượn bồng con, lên non hái trái. Anh cảm thương nàng phận gái mồ côi, là số một thôi. Rồi cờ ra con mấy, con mấy... gì đây. Tề Thiên Đại Thánh, đánh với Hồng Hài. Đánh suốt cả ngày, bất phân thắng bại, là con bảy mươi bảy. Con bảy mươi bảy nó... ra. Rồi cờ ra con mấy, con mấy gì... đây”.
Có chín chục số mà cứ xốc xáo kêu tới kêu lui hoài, nghe riết con nít cũng thuộc làu nên lâu lâu nhà cái phải vắt óc ra mà chế. Hễ nghe đàng nầy xướng lên: “Con Bảy theo trai là con bảy mươi hai. Con bảy mươi hai nó ra...”, thì đàng kia đã át giọng: “Hay hát hay hò là con Bảy đưa đò. Bỏ thuyền bỏ lái, bỏ cả dòng sông. Bảy đi lấy chồng, bỏ mẹ cho ai nuôi, lòng Bảy chẳng vui, là con số... xui. Con số xui nó ra...a...a. Trời đất! Số xui mà nó cũng hổng thèm biết nữa bà con ơi! Số xui là con mười ba đó mấy cha!”.
Vui nhứt vẫn là lúc nhà cái xướng lên con số bốn mươi bốn. Tại cái vần “ôn” mắc dịch, nó làm cho người ta dễ liên tưởng bậy bạ tới cái của phụ nữ, nên chưa xướng dứt câu mà đám đàn bà con gái ở dưới đã la rùm, ó lên phản đối một cách vui vẻ:
— É! Cái quân ăn nói tục tĩu!
La thì la vậy, ó thì cũng chỉ ó ré lấy lệ vậy thôi, chớ bữa nào mà vắng cái quân ăn nói tục tĩu ấy, mấy cô lại nhắc.
LÔI ĐÀI
Nhưng hấp dẫn nhứt vẫn là màn đả lôi đài, kéo dài tới ba ngày ba đêm, do võ sĩ vô địch Sáu Cường thủ đài thách đấu.
Cái lôi đài cao nghêu được dựng lên trước ngày khai mạc mấy bữa, đứng sừng sững ở giữa sân như muốn thách thức hết thảy các anh hùng hào kiệt khắp xứ Lục tỉnh Nam Kỳ. Phía ngoài cùng là một vòng rào tre chắc chắn, vây bọc lấy một cái chòi cao cẳng liền kề với cái võ đài vuông vức, ghép bằng mấy chục tấm ván của cả chục bộ ngựa. Trước cửa chính, căng phập phều hai câu đối:
Quyền đả anh hùng, Đông Dương toàn cõi; Cước chấn hảo hán, Lục tỉnh Nam Kỳ.
Ở giữa là một vuông vải hồng điều, có ghi bố cáo rõ ràng bằng ba thứ chữ: Tây, Tàu và Quấc ngữ, nét mực nguệch ngoạc đậm lè:
Mức thưởng của Ban tổ chức Kermesse, được sự cho phép của nhà nước Đông Pháp[73] như vầy:
1. Hễ đứng vững được trên võ đài ba hiệp, rồi mới bị đánh lọt xuống đài, thưởng mức: 50 đồng.
2. Huề thủ: ngang tay với thủ đài, bất phân thắng bại, thưởng mức: 80 đồng.
3. Thắng điểm thủ đài, dù chỉ nửa điểm thôi cũng được thưởng mức tột bực: 120 đồng[74]
Trước hết phải báo danh tánh, cùng với niên canh, quê quán cho chú Biện, chú biên vô sổ, để lỡ có bị đánh chết thì người ta còn biết mà báo cho thân nhơn lên lượm xác về chôn.
Luật lệ thi đấu phải dùng tay không, cấm dùng binh khí, cấm lận boa-nho[75], phi tiêu hay ám khí.
Hễ chịu thì lăn tay, điểm chỉ vô tờ “Sinh tử trạng”. Sống nhờ chết chịu, chốn lôi đài, quyền cước không có con mắt, lỡ có bị đả thương mang tật, thì hổng được kiện cáo hay sanh oán thù chi hết.
Hễ nhận lời, chịu đấu thì xin mời lên đây điểm chỉ.
Toàn ban khánh tiết Kermesse, nay bố cáo.
(Ở dưới có đóng một cái mộc son tròn vo, đỏ chót của tòa Bố tỉnh).
❊
Võ sĩ Đông Dương, giang hồ tứ xứ, nghe đồn dưới Bến Tre có mở lôi đài, ai nấy đều ức đi xem, nên cấp kỳ phó hội, tề tựu đông đủ về đây, y như tràng an thí võ. Thiệt! Không khác chi là Giang Đô khảo võ để cho triều đình tầm kiếm võ trạng nguyên vậy. Ai mà chậm lụt đi không kịp thì tiếc thôi hùi hụi.Buổi sáng, trời còn sớm bửng, cái Kẹc-mét mới vừa khai mạc, vòng rào tre còn tươi roi rói vây quanh cái lôi đài rộng lớn đã đông nghẹt người ta. Ken cứng không còn một chỗ chen chưn, nhiều người đã cơm ghe bè bạn, đùm túm lên đây từ hồi gà chưa gáy sáng. Biết chừng nào mới có Kẹc-mét, mà đâu phải Kẹc-mét nào cũng có lôi đài. Lôi đài mở ra đâu phải chỉ riêng cho dân Bến Tre mình thôi, mà còn mở ra cho toàn thể Nam Kỳ lục tỉnh, nói chung là cho toàn cõi Đông Dương (Indochine) Việt, Miên, Lèo thuở ấy.
Thiên hạ đổ xô mua vé vô coi, chen lấn nhau thiếu điều sút quần, rách áo. Vé vào cửa bán chạy vo vo, in không kịp bán, hết vé đã lâu mà không ai chịu về. Rừng người còn mải nấn ná ngoài hàng rào; tụ tập, xô đẩy, chen lấn nhau muốn nhẹp ruột, đạp cỏ chết hết ráo.
Sợ biển người lấn sập hàng rào, ban tổ chức có người sáng ý, mới lấy cái mộc tròn với hộp tăm-pông đỏ trong văn phòng tòa bố ra. Hễ ai chịu xỉa xu, thì đóng cho một cái dấu tròn vo, đỏ lói vô giữa lòng bàn tay xòe. Vừa chen vừa xòe, không được nắm tay lại à nghen. Tả xông hữu đột, phá trùng vi, đem được cái bàn tay đỏ lói, dơ hầy đó vô trình thì đám lính gác mới hé cửa cho vô.
Được bữa đầu, qua bữa sau, lính tuần đi rỏn, hết hồn hết vía khi thấy cả chục thằng con nít đứng sắp hàng, mà đứa nào đứa nấy cũng xòe ra bàn tay đỏ lói.
Thì ra mấy ông con cháu Thần Nông nầy, có sáng kiến lấy củ khoai lang cắt ngang, khắc sơ sịa vài chữ, rồi ịn thuốc đỏ, giả làm con dấu của quan Tham biện. Rượt bắt đâu được cả chục thằng, cú đầu khóc nhoi.
Thiệt là! Dân tình gì đâu, mới có bấy nhiêu tuổi đầu, đã biết làm con dấu giả, tội nặng quốc sự à nghen. Nhưng rồi nội vụ cũng chìm xuồng, vì trong cái đám lí lắc đó, cũng có dính dáng tới con cháu của ban tổ chức. Hơn nữa nếu làm lớn chuyện, sợ lòi chành té bứa ra cái tội ẩn lậu vé gian, bởi đóng mộc vô lòng bàn tay thì làm gì có cái cùi để mà so với sổ cái chớ. Cho nên mỗi thằng chỉ bị quất sơ sơ có vài roi, cú đầu vài cú rồi bạt tai, đá đít, a lê đi về.
Chú thích:
[70] Thái Đức: một hiệu trà ngon nổi tiếng vào thời đó, cái tên rất dễ nhớ vì dân Nam Bộ có thói quen thích nói lái.
[71] Nhị vị cú nường: hai vị cô nương.
[72] Con khỉ hộc máu: cũng là một hiệu trà ngon vào thời ấy, nhãn hiệu con khỉ chuyển cành, in hai màu, con khỉ màu xanh, le cái lưỡi màu đỏ. Nhưng vì kỹ thuật in ấn lem nhem, màu đỏ bị lem, chồng màu bị lệch, giống như con khỉ bị hộc máu ra ngoài. Bà con kêu riết, chết danh thành con khỉ hộc máu luôn, chủ tiệm cũng không thèm đổi, thành thương hiệu, nhờ vậy mà trà bán chạy.
[73] Đông Pháp: Đông dương thuộc Pháp gồm ba xứ: Việt Miên, Lào
[74] Tiền Đông dương thời đó có giá trị, đúc bằng bạc nguyên chất, mỗi đồng cân nặng hai mươi bảy gờ-ram. Những năm kinh tế khó khăn, lúa hai cắc một giạ, một người khỏe mạnh đi làm công một ngày có hai cắc bạc mà cũng không ai thèm mướn. Có người đến chết cũng chưa thấy được tờ giấy xăng mặt tròn méo ra sao (100 đồngm có hình bộ lư). Cho nên, hễ con nít hoặc người lớn ở trần mà cần tờ xăng vô tiệm mua đồ có khi bị nghi ngờ kêu lính bắt “Ở đâu mà mầy có”
[75] dao găm