Kỳ Ảo Đất Phương Nam

Lượt đọc: 6469 | 4 Đánh giá: 8,5/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
HỒI THỨ MƯỜI CHÍN
sóng thần, ba ngọn kéo về, hà bá no nê, chê không thèm rước.

CON SÓNG THỨ NHỨT

Tàu chệc[58] Đồng Sanh, hôm đó chạy chuyến chót, nấn ná tới gần nhá nhem tối mới chịu rời bến Châu Thành. Về gần tới khúc sông Tam Điền thì trời đà tối mịt, ngửa bàn tay cũng không thấy ngón. Mấy ngọn đèn bão vàng vọt treo lơ lửng dưới nóc mui, dọi bóng đám hành khách đang chen chúc nhau lên vách tàu, tạo thành những hình thù kỳ quái, chao đảo lắc lư, phình to, thu nhỏ, lúc tụ lúc tan, khi mờ khi tỏ.

Tàu chạy chuyến chót đêm ba mươi nên số hành khách đông gần gấp đôi ngày thường. Ai cũng nôn nóng muốn được về sớm để đón giao thừa, có ai muốn la lết ở lại bến sông vào cái lúc năm cùng tháng tận nầy bao giờ.

Hai bên bờ, trời tối đen như mực, lác đác có tiếng pháo Tết nhà ai nổ sớm. Nước xuôi, gió thuận, tàu rẽ nước, chạy bon bon. Thiệt! Không có thứ âm thanh nào vừa đơn điệu vừa buồn ngủ cho bằng tiếng máy tàu chạy xinh xịch, xinh xịch, tiếng chưn vịt tàu quạt nước nghe ùng ục, ùng ục... nó khiến cho cả đám hành khách, kẻ trước người sau, lần hồi gục gặc đầu hết thảy. Đã vậy mà lâu lâu trên mui lại còn súp-lê[59] thêm vài tiếng rời rạc trầm buồn, lan tỏa ra trên bao la sông vắng.

❃ 

Bà Ba ngồi rầu rĩ, cái túi đệm kẹp chặt giữa hai chưn theo thói quen của mấy bà bạn hàng, chớ cái túi lỏng le lỏng lét, vỏn vẹn có mấy ốp trầu già, héo queo héo quắt, tiền bạc đâu có, giữ kĩ ích gì... Chuyến nầy đụng hàng, bỏ mối không đặng, còn mấy mối quen gối đầu, lại không thâu tiền được. Nợ đòi tới đít, nên bà phải đợi tới tối ba mươi, mới về chuyến tàu chót nầy là để trốn nợ, vì dù có nanh vuốt dữ dằn tới đâu đi nữa thì mấy bà chủ nợ cũng phải đợi đến ra giêng mới dám đi đòi tiếp.

Dưới chân bà, nằm lăn lóc mấy trăm bánh phồng dừa được phong thành cây, có lót lớp lá chuối khô ở giữa. Quê bà nổi tiếng nhứt tỉnh Bến Tre là xứ bánh phồng, “bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc”. Bánh làm ra, bỏ mối khắp cả Nam Kỳ lục tỉnh, còn ra tới Bắc, tới Trung, nói chung là toàn cõi Đông Dương lúc đó. Cứ ba bốn giờ sáng là làng trên xóm dưới đã thập thình vang lên tiếng chày đạp, chày quết bánh phồng. Mặt trời vừa lên thì cả xóm đã trắng lốp bánh phồng, gác sào phơi chiếu.

Con nít có nhiệm vụ phải coi chừng gà chó, sợ nhứt là ở gần mấy nhà có nuôi dê bầy. Cái giống phá hoại nầy, chỉ xương rồng gai có mủ là nó chừa, chớ thứ gì chúng cũng chẳng chê. Mấy miếng bánh phồng còn ướt phơi trên chiếu, xông lên mùi nước cốt dừa thơm phức thì dễ gì mà nó tha, bịnh gì mà nó cữ. Bởi vậy, lâu lâu lại nghe tiếng con nít la rùm: “Hùi! Hùi! Ê! Ê! Bắt con dê ăn cắp! Trả cái bánh lại đây!”.

Con dê cong lưng chạy cà cồng cà cưỡng, vừa né tránh mấy cục đất chọi theo, vừa cố lì vươn cổ họng, trợn trắng trợn dọc, cố nuốt cho trôi cái bánh mới vừa lột được. Thong thả rồi nó mới hách cái bản mặt dê lên, vểnh râu be be một tràng, ý như muốn chọc: “Trả gì mà trả! Trả lại thì mấy người có dám ăn hôn? Vô họng dê rồi thì đừng có hòng mà... trả! Be he! Be he! Be... he!”.

Bà Ba đất điền không có được một cục đất chọi chim, vốn liếng cũng không nên bà đành phải khởi nghiệp bằng nghề xay hàng xáo. Trời vừa hừng đông bà đã quảy gánh đi rảo dọc theo xóm, bà gánh bánh bò, cốm chuối đi đổi lúa cho con nít ở trong các xóm sâu. Cứ một quảu lúa nhỏ thì đổi được hai cái bánh bò hoặc một bịch cốm chuối. Bận đi hai thúng bánh bò, bận về hai thúng lúa đầy. Ông Ba ở nhà lo chuyện cơm nước, nội trợ. Cơm vừa cạn, ông cời than, chẻ cái gấp tre, kẹp một con cá rô nhỏ, kê trên hai cục gạch, nướng bằng than miểng gáo. Ông ăn cơm với nửa con cá rô dầm nước mắm đồng, nửa con còn lại, ông lật úp xuống dĩa, để dành phần cho vợ.

Nhắm chừng trưa trưa, mặt trời lên đến đỉnh đầu, ông te tái chạy đi đón bà, gánh phụ cho bà một đỗi đường. Lúa đổi về, bà đem xay xát: gạo, tấm đem bán, cám để nuôi heo. Gần Tết bà mới chạy vạy đi vay vốn làm bạn hàng, bỏ mối bánh phồng lên tới Bến Tre, có khi phải qua tới tận Mỹ Tho lận. Mần không đủ lủm, đắp đổi qua ngày, không thiếu nợ là may rồi, dù có nhịn ăn nhịn mặc cả đời, cũng không khá nổi, lấy chi mà giàu, mãn kiếp chịu nghèo, mãn đời chịu khổ...

Khúc sông Tam Điền nầy có ba con sóng lớn, hay nổi lên nhận chìm ghe tàu qua lại. Dân thương hổ qua lại khúc sông này, đặt tên cho ba con sóng đó là: “sóng ông, sóng bà và sóng cậu”. Thường chúng chỉ xuất hiện lẻ tẻ dưới hình thức những con trốt nhỏ, đùa giỡn, lăn lộn với nhau trên mặt nước. Nguy hiểm nhứt là khi hội đủ mặt cả gia đình nhà sóng. Cao hứng, chúng nhập vào nhau làm một, khiến cho sóng to, gió lớn đùng đùng nổi lên, lúc đó mới thật là tai họa cho dân sông nước, thương hồ. Ghe tàu nào qua lại nơi đây cũng đều phải gác mái, neo tàu chờ trời sáng xem hướng gió, sức nước rồi mới dám đi tiếp.

Mỗi năm, đáo lệ một lần, dân làm nghề hạ bạc như chài lưới, đóng đáy, đều phải cúng cô hồn cho ba con sóng đó. Đồ cúng không thể thiếu gà sống, vịt sống. Gà thì phải lựa cho được giống gà trống tơ chân đen, chưa đạp mái lần nào. Sau khi tế lễ, gà vịt bị trói chưn đem thả lình phình giữa ngã ba sông nước. Không ai dám vớt về ăn, kể cả cái đám con cháu Thần Nông nổi tiếng là rắn mắt, liếng khỉ.

❃ 

Đêm ba mươi Tết, ai cũng gấp về cúng giao thừa, nên chủ tàu không do dự hối tài công chạy cho thiệt lẹ. Dọc đường chỉ có vài ba ngọn gió chướng liêu xiêu, thổi hơi man mát. Ra tới ngã ba sông cái, cảnh vật yên lặng hoàn toàn, trời lặng gió một cách khác thường, không khí oi nồng. Mấy biền dừa nước, đôi rặng bần thưa thớt mọc dựa bờ sông, xếp thành hàng, tựa như một đạo quân đúc bằng thép nguội, nắm tay nhau đứng im phăng phắc, in bóng lên một nền trời đêm đỏ khé. Từ đàng xa đưa lại tiếng sấm âm âm rền rền, đi cùng với hơi gió lao xao tự nhiên trở lạnh.

Bỗng nhiên một làn chớp nháng lên, xé toạc trời đêm, sáng lòa cả mặt sông, kèm theo một tiếng sấm long trời, lỡ đất. Gió đột ngột đổi chiều, bắt đầu thổi mạnh, ù ù nổi lên, mang theo hơi nước, lùa khắp mặt sông như có hằng trăm, hằng ngàn cái xa quạt lúa khổng lồ đang hè nhau mà quay thẳng cánh.

Sóng đuổi nhau, trước còn lao xao, sau cứ lớn dần, lớn dần, ùn ùn thốc tới càng lúc hăng, càng dữ tợn. Như có hàng ngàn, hàng vạn cái lưng trâu điên, đang chen lấn nhau, sầm sập điên cuồng, nhảy tuôn trối chết vào cái khe núi hẹp. Gió thổi hết chiều này qua chiều khác, làm cho tấm màn mưa khổng lồ dạt qua dạt lại, dạt tới dạt lui, rào rào trút nước, trắng trời, trắng đất, trắng cả mặt sông.

Mưa càng lúc càng lớn, giông gió mặc sức tung hoành trên nền trời đỏ bầm, đỏ khé. Hột mưa trắng xóa, đập vào mặt nghe rát rạt.

Gió mỗi lúc một dữ, mưa xiết đồm độp như gõ trống vào mấy tấm vải bạt che hàng hóa ở trên mui tàu, làm cho chúng rung lên phần phật rồi vụt rách tan tành, bay vèo như những chiếc lá khô, biến mất tăm vào trong đêm tối.

Thường thì vào khoảng ba mươi Tết, đã hết mùa mưa, năm nào núm níu lắm thì ông trời mới ráng thêm vài cây mưa xuân lác đác. Nhưng năm nay, có lẽ vì trên trời còn dư nước mưa nhiều quá mà lão Tặc Thiên thì làm biếng, muốn trút phứt một lần cho rảnh để còn lăn thùng đi nghỉ. Bởi vậy mới sinh chuyện...

❃ 

Ánh chớp sáng lòa và tiếng sấm ầm ì càng lúc càng lớn. Trong màn đêm đen tối mịt mùng, bỗng trên mui có tiếng người thất thanh hô lớn: “Trời đất ôi! Ba ngọn sóng hội đủ về đây hết rồi! Phen nầy chắc chết! Bà con ơ. ơ. ới!”.

Sóng bủa có vòi, giận dữ gầm thét, xô đẩy nhau chồm chồm lên cao, đập ẩm ầm vào khoang tàu chở khẳm. Ngọn đèn bão treo cao giữa khoang tàu, lắc lư như điên cuồng, phóng to lên vách tàu những bóng đen khổng lồ, nhớn nhác chạy đi chạy lại. Có tiếng người hô lớn: “Bà con! Ai ở đâu ở đó! Đừng chạy tới chạy lui! Chìm tàu bây giờ!”. Mặc kệ, ai la cứ la, ai chạy cứ chạy. Tài công vừa cố chẻ sóng để kềm giữ mũi tàu cán lên mặt sóng, vừa ráng lèo lái cho tàu chạy gần mé bờ để tránh sóng to, gió lớn; nhưng chạy như vậy cũng rất nguy hiểm vì tàu rất dễ vướng cồn.

Mặt sông ngầu bọt, tung sóng trắng bạc đầu. Thỉnh thoảng giữa những tia chớp sáng lòa, soi rõ xa xa ngoài kia là những rặng bần đang vật vã điên khùng, cố gắng chống chỏi với cơn giông tố kinh hồn. Trong khi đó thì hàng dừa nước phía trước, dường như có vẻ thích thú, như những vũ công điên, ngặt nghẽo nắm tay nhau, nhảy múa một vũ điệu điên cuồng, ma quái...

Cả vũ trụ quay cuồng trong cơn thịnh nộ. Trên không trung có tiếng rần rần, rộ rộ như tiếng của vạn mã thiên binh. Mưa xối xả, gió xoáy cuộn từng hồi giận dữ. Khi dựng mũi, ngóc đầu trên mặt sóng, lúc chỏng đuôi hụp xuống vật lộn với từng đợt sóng bủa dập dồn, thân phận của con tàu Đồng Sanh lúc này, sợ còn nhỏ bé hơn cái vỏ trứng vịt mỏng manh. Sóng cả ba hướng, thay phiên nhau bủa xéo tới như ba ngọn roi da trong tay ba đứa con nít khổng lồ rắn mắt, đứng trấn ở ba góc, quất đen đét, túi bụi vào làm cho con tàu xoáy tròn như bông vụ...

Bánh lái đà gãy gọn, tài công cũng bó tay, đành để cho con tàu trôi dạt lênh đênh, phó mặc cho sóng dập gió dồi.

Thình lình có tiếng sạt lớn kéo dài dọc theo hông tàu. Con tàu chấn động mạnh, rồi nhảy chồm lên, chúc mũi xuống, hành khách ngả nghiêng, té đùn cục. Tàu nghiêng hẳn qua một bên. Đèn đóm tắt ngóm, tối thui như mực. Có tiếng người la chói lói: “Tàu xốc cạn, phá nước rồi! Huớ bà con ơi!”.

Nước chảy ồ ồ vào khoang. Chầm chậm, từ từ nước ngập lé đé tới lưng quần, rồi từng chút, từng chút nước tiếp tục dưng lên lém đém tới ngang ngực. Chẳng mấy chốc, nước đã ồng ộc tuôn vô lỗ mũi, lỗ tai. Mấy quày dừa khô nổi lều phều, cụng vào trán, vào đầu côm cốp. Đám hành khách nhốn nháo tìm đường thoát thân giữa những tiếng vịt gà, heo cúi, eng éc kêu la, hòa lẫn với tiếng kêu khóc rùm trời của đám người còn bị kẹt cứng ở dưới khoang tàu:

— Đẹt ơi Đẹt! Con đâu rồi!?

— Trời ơi! Đừng lấn nữa! Coi chừng đạp chết... bà già!

— Thằng Bé Hai... con Bé Ba... đâu? út Năm... ơi! Leo lên cổ ba nè con!!!

Con tàu như quái vật bị trọng thương, giãy chết, thất thanh hú lên từng hồi còi dài dồn dập, kêu cứu hù hụ như heo bị thọc huyết, rồi khò khè khọt khẹt như người hấp hối sắp tắt hơi. Cuối cùng, nó thở hắt ra một tiếng khì thiệt mạnh rồi lịm đi giữa cảnh ngầu bọt điên cuồng của sóng và gió.

Có tiếng đàn ông, ong óng ở trên mui: “Nước tới trôn rồi! Thân ai nấy lo, hồn ai nấy giữ! Huớ bà con ơi!”

Hành khách giày xéo nhau tuôn hết lên mui. Mui của con tàu lúc nầy, đặc gật người đeo, giống hệt như một cục đường chảy bị kiến nhọt bu đầy. Giông tố mạnh đến cực độ, mặt sông réo lên từng hồi, sôi sùng sục, xô đẩy, tung những đợt sóng dồn dập, hung tợn cỡi lên nhau, ầm ầm đánh vào mạn tàu, văng bọt lên mui tung tóe.

Giữa lúc đám nạn nhân chìm tàu còn đang loi ngoi, lóp ngóp vật lộn với sóng to gió lớn, tính mạng như chỉ mành treo chuông, tưởng đâu đi chầu Hà Bá hết ráo phen nầy. Thì thời may, vừa lúc đó, xuyên qua màn gió mưa mờ mịt, bỗng thấy xuất hiện một hàng đèn cách đều nhau chằn chặn, thoắt ẩn thoắt hiện ở phía đối diện xa xa. Trời vẫn tối đen như mực, dãy đèn le lói giữa màn gió mưa mờ mịt kia hiện ra như một vị cứu tỉnh, một ngọn hải đăng trong đêm tối...

Lại cũng tiếng đờn ông ong óng nãy giờ, nhưng lần nầy lớn tiếng và điềm tĩnh hơn: “Bờ kia rồi! Cũng không xa lắm đâu. Mạnh ai nấy lội! Bà con ơi!”. Tình thế xem ra cũng chẳng lấy gì là trầm trọng lắm. Thấy đèn là thấy bờ rồi...

Đám đàn ông, con trai, vội vã tuốt quần dài cột vô cổ rồi hè nhau nhảy ùm xuống nước. Đám đàn bà, con gái, còn đương mắc cỡ chần chừ thì thình lình con tàu cựa mình rên lên một tiếng, nghiêng mui gạt thêm ba mớ nữa rớt lủm chủm xuống sông. Không còn chần chừ gì được nữa, những người còn sót lại trên mui lật đật tuốt quần, lột áo, chen nhau phóng ùm ùm xuống nước.

Màn đêm đen kịt, sấm chớp nhá đùng đùng trên đầu, xé rách bầu trời đêm, soi rõ giữa những làn sóng ngầu bọt trắng xóa là dãy đầu người loi ngoi, lóp ngóp như những trái dừa khô, nhấp nhô theo từng đợt sóng. Dãy đầu người đen thui đang ngụp lặn bập bũm đó, bắt đầu từ thân con tàu hấp hối, kéo dài thành những hàng zíc zắc, nghiêng ngả, nhấp nhô đến tận dãy hàng đèn cứu tinh đang leo lét ngoài kia, tạo thành một khung cảnh vừa kỳ quái, vừa u u minh minh tựa cảnh trời đất hỗn mang, thời hồng hoang, thuở mới tạo thiên lập địa.

 ❊

Ở vùng sông nước, con nít chưa biết đi đã biết lội, bà Ba là con gái miệt vườn mà không biết lội, hễ rớt xuống sông thì nghe cái “chủm” và chìm như cục đá. Biết thân, bà đành ở lại khoang tàu, phó thác tính mạng của mình cho Hà Bá.

Thiệt ra, con tàu bị sóng xô, chỉ gác mũi rướn lên cồn, nên nghiêng mui lật úp, chớ chưa chìm hẳn. Nước sông tràn vô ồ ồ, nhưng đến ngang lườn tàu thì ngừng lại. Đáy tàu kín mít, như cái chén khổng lồ úp ngược nên không khí bị nén, ngăn không cho nước sông dưng lên cao thêm nữa.

Bà Ba hỏng cẳng, chòi đạp tứ tung như điên như khùng, cố sức trồi lên mặt nước, bỗng tay bà đụng phải một vật gì phập phều, in như là cái phao. Như người hụt cẳng vớ được bập dừa, bà vội vàng ôm lấy. Cái phao nầy, giống như một cái hộp lớn, nổi phều. Bà đang cố sức ghì chặt lấy vị cứu tinh ấy, tưởng đâu đã yên ổn lắm rồi thì thình lình có một bàn tay của ai đó, tàn nhẫn hất tay bà ra. Bản năng sinh tồn khiến cho bà bằng mọi cách phải giữ rịt lấy cái phao, hễ người nọ gỡ tay nầy ra thì bà ghì chặt tay kia lại.

Trong cái vòm tối đen ngột ngạt đó, cuộc chơi cút bắt vẫn tiếp diễn. Một lát sau, chắc đã đuối sức nên người kia cũng đành thôi. Mỗi người níu một bên phao, cái phao xem chừng cũng đủ sức cõng nổi cả hai người.

Cách ly hẳn với thế giới bên ngoài, mọi tiếng động kinh hồn của giông tố ngoài kia chỉ còn vọng lại âm âm, ong ong như úp tai vô cái vỏ ốc lớn. Thỉnh thoảng lắm mới nghe được tiếng sóng to đập oàm oạp vào thân tàu, còn thì tiếng sóng chỉ phòm phọp như nước vỗ hang còng. Nước trong vòm dềnh lên hạ xuống, nhấp nhô từng đợt, từng đợt nhịp nhàng. Trời đất dường như chỉ yên ắng riêng ở trong cái vòm tối tăm u ám nầy.

Thời gian trôi qua, không biết là bao lâu, chỉ biết là lâu, lâu lắm, đêm dài như vô tận. Bỗng nhiên, một tràng tiếng kèn kẹt vang lên, thân tàu lại nghiêng thêm chút nữa. Đợt sóng lớn hồi hôm đã xô dạt xác tàu gác mũi lên cồn, bây giờ nước bắt đầu ròng nên nguyên cái xác tàu mới lần lần lòi ra. Chút xíu ánh sáng ban mai yếu ớt, le lói chiếu vào, bà Ba nhận ra cái phao cứu tinh hồi hôm tới giờ chỉ là một cái va li lớn làm bằng da thuộc.

Cái va li này thuộc loại mắc tiền, rất chắc chắn, được ràng rịt cẩn thận. Và kia! Kia kìa! Phía bên kia, đối diện với bà, hai tay còn nắm chặt cứng chiếc quai duy nhất, đó chính là người đã tranh giành cái va li suốt đêm với bà. Giông tố dịu hẳn đi, chỉ còn tiếng gió vù vù thổi vọng vào khoang tàu ngập nước. Lẫn trong tiếng gió ù ù, bà Ba nghe rõ từng hơi thở khò khè khó nhọc của người kia. Bà kéo cái va li ra chỗ sáng để coi cho rõ, thì người kia cũng không cưỡng lại được. Một cái khăn trùm đầu ướt sũng, viền lấy một khuôn mặt đen bóng râu ria. Bà Ba nhận ra ngay, đó chính là anh Bảy Chà, chủ nhân của chiếc va li đó. Bà nhớ rất rõ, lúc mới lên tàu, bà đã châm bẩm vô anh Bảy này rồi vì ảnh ăn bận hổng giống ai. Trên đầu ảnh úp sùm sụp một cái khăn vấn khéo, khoác áo bành tô may bằng vải túc xo màu mỡ gà, mà ở dưới ảnh lại vấn xà rông lụa Lèo. Xuống tàu là mướn ghế bố nằm vếch đốc, không thèm nói chuyện với ai hết, miệng ho khù khụ, tay lúc nào cũng khư khư thủ cái va li khổng lồ đó.

Tiếng thở khò khè khọt khẹt càng lúc càng gấp, như người bịnh suyễn, kéo đờm. Đôi mắt đã lạc thần, nhìn bà như muốn nói điều gì. Hiểu ý, bà lên tiếng:

— Ông muốn trối trăng lại điều gì phải không?

Khuôn mặt người hấp hối sáng bừng lên, rồi hé cái miệng với hai hàm răng khít rim trắng ởn ra, ảnh thều thào một tràng lí nhí làm bà Ba phải ghé tai vào sát miệng ảnh:

— Bà đem... đem giùm tôi cái va li này về... về... số nhà 13/... XXX, đường... Phe... Lu y[60] giao... giao... cho con vợ tôi. Con... vợ tôi sẽ đền ơn cho bà... Nhớ nghen bà. Bà hứa... với tôi đi bà... Bà! Thề... đi... bà!

Nâng đầu người hấp hối lên cao khỏi mặt nước, bà Ba long trọng thề:

— Được rồi. Tôi hứa với ông. Tôi thề có thiên địa quỷ thần, hai vai chứng giám. Tôi sẽ đem đầy đủ cái va li nầy về số nhà 13 đường Lơ Phe, Lơ Pheo gì đó. Tôi mà trái lời thề cho trời tru đất diệt, con cháu đau bịnh nghiệt, nằm liệt một chỗ, cất đầu lên không nổi đi. Ông đã yên lòng chưa?

— Tôi! Tôi đội... đội... ơn... bà. Thôi! Bà ở lại... mạnh giỏi, tôi... đi...

Bàn tay ông từ từ buông cái va li ra, loay xoay tìm tay bà, nhưng nửa chừng thì khựng lại vài giây rồi rớt cái “bũm” xuống nước. Anh Bảy Chà chỉ thở hắt ra được một cái rồi nghẻo đầu qua một bên, bất động. Cái phao nhẹ bỗng, người ảnh từ từ chìm sâu vào trong làn nước phù sa đục ngầu. Không gian yên ắng giờ lâu, chỉ còn nghe tiếng sóng vỗ đều đều vào vỏ tàu ộp oạp.

Phía trên chiều gió bỗng văng vẳng có tiếng mái chèo khua nước xen lẫn với tiếng người cứu nạn lao xao. Giông tố đà dứt hẳn, trời quang mây tạnh, cơn thịnh nộ của tạo hóa rồi cũng phải nguôi, sông nước đã bình yên trở lại.

Trời vừa rạng sáng, mặt sông đầy ánh nắng, bầu trời lại xanh trong mây trắng. Bà con xóm chài ở hai bên bờ sông, hay tin tàu chìm nên đem ghe xuồng túa ra đi vớt. Cả trăm hành khách đi trên tàu Đồng Sanh đều về chầu Hà Bá hết ráo. Chỉ còn sống sót duy nhất có một người đàn bà yếu đuối, nhờ không biết lội. Bao nhiêu đàn ông, trai tráng khỏe mạnh trên tàu, Hà Bá có chê đứa nào thì bà thủy cũng giành rước đi hết ráo, kể cả tài công và chủ tàu. Tại sao kỳ cục vậy!?

Bí mật ấy, chỉ có một người biết thôi. Về sau, khi tới tuổi ngồi tụng kinh sám hối, lần chuỗi bồ đề, bà mới chịu tiết lộ ra cho mọi người biết. Thì ra dãy hàng đèn cứu tinh, cây hải đăng trong đêm tối mà mọi người đều tưởng là đèn của nhà dân hai bên bờ ấy, té ra chỉ là những ngọn đèn treo trên đầu những cây cột đáy. Bà con xóm chài đóng đáy ở giữa sông lớn để bắt tôm cá. Hằng đêm họ phải treo đèn bão lên đầu cột đáy, để làm hiệu cho tàu bè qua lại biết mà tránh.

Đèn treo cột đáy, nước chảy cột đèn xây.

Dĩa nghiêng múc nước sao đầy?

Lòng thương người nghĩa, phụ mẫu rầy em cũng thương.[61]

Trong bóng tối mịt mùng của đêm ba mươi Tết, những người chìm tàu xấu số cứ nhắm hướng có ánh đèn mà lội tới. Tưởng là lội được vô bờ, té ra càng lội càng xa, xa thiệt là xa, giữa bao la sông nước. Ra tới đó là đuối đừ rồi, còn sức đâu mà quay vô bờ được nữa, cả trăm mạng người mà giành nhau đeo như sung vô mấy đầu cột đáy nhỏ xíu lắt lay, giữa cơn giông tố cuồng nộ, sóng dập gió dồi thì chịu đời sao thấu. Cuối cùng thì cũng mỏi mòn, đành buông tay nhắm mắt, chết chùm cả lũ... Đàn bà con nít buông tay trước, đàn ông trai tráng ráng níu lại được lâu hơn, nhưng sức người có hạn, rồi cũng rã rời, thỏn mỏn lẩn...

Mấy chục năm sau, hễ có người nhắc lại vụ chìm tàu Đồng Sanh, thì bà con thân nhơn của những người chìm tàu bất hạnh cũng vẫn còn tức tối. Họ lột khăn đội đầu xuống, giũ cái phạch, ngó lên trời, miệng chửi đổng:

- Đồng Sanh mụ nội tui chớ đồng sanh cái giống gì! Đồng tử hết ráo cả đám thì có...

Chú thích:

[58] Tàu chệc: chủ là người Hoa, cạnh tranh với tàu Tây do người Pháp khai thác.

[59] Súp-lê: gốc tiếng Pháp, (souffler). Động từ siffler là thổi còi tàu, để chuẩn bị khởi hành, rời bến hoặc ban đêm gần đến khúc cua, súp-lê cho tàu nhỏ biết mà tránh. Dân mình có thói quen dùng nhầm giữa siffler và souffler. TD: Tàu súp-lê ba, tàu ra biển Bắc/ Tay vịn song sắt, nước mắt ròng ròng.

[60] đường Phe... Lu y (Frères Louis): Bây giờ là đường Nguyễn Trãi.

[61] Đó là phần hò đáp lại của người nữ sau khi nghe người nam hò trước như vầy: “Đèn treo cột đáy, nước chảy cột đèn rung. Qua thương em tha thiết vô cùng, Biết ba với má có thuận tùng hay không?”

« Lùi
Tiến »