Kỳ Ảo Đất Phương Nam

Lượt đọc: 6499 | 4 Đánh giá: 8,5/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
HỒI HAI MƯƠI SÁU
bởi mê hát, ra thân lưu lạc, ba đào không chịu, chịu kim thoa.

CÔ BA KIM THOA

Trời vừa tưng bửng sáng. Con Quyên cầm cây chổi ra sân, chưa kịp lia nhát chổi nào thì đã thấy một cô, tuổi chừng hai bảy, hai tám, tay xách bóp đầm, xăm xúi đi luôn một hơi vô cửa.

Cổ đeo hai cây kiểng vàng, bận nguyên một bộ đồ bà ba trắng lụa lèo, tóc bới ba vòng một ngọn, rẽ bảy ba, chải gỡ láng nhuốt, đúng điệu con gái kim thời. Dung nhan cô mặn mòi sắc lẻm, tuy mặt có sớ ngang, đuôi mắt hơi xếch, lưỡng quyền[86] nhô cao, thượng đình hơi thấp, còn nhơn trung thì quá cạn. Trọn hàm răng trên của cô, nó giành nhau lấn lướt với hàm răng dưới. Nước da ngâm đen bánh ít mà cô dồi phấn quá cỡ nên da mặt bạch chảng như đào hát bội. Bởi dồi không được khéo lắm nên mới lòi ra cái cần cổ mốc thích. Bộ tướng coi bộ cũng gọn gàng nhậm lẹ.

Chuỗi hột vàng y, cô quấn đều hai bến cườm tay, lên tới cùi chỏ. Một tay cầm khăn mù xoa trắng, còn tay kia nhỏng nhảnh bóp đầm, cô đi xuống pha luông tuồng trong nhà. Từ nhà ngoài, cô xăm xúi đi tuốt một hơi vô nhà trong rồi le te tới cái trường kỷ, thót lên ngồi. Ngó có duyên ớn!

Xảnh xẹ phạch cái bóp đầm ra, cô săm soi, nhắm nhía dung nhan trong miếng kiếng vuông nhỏ xíu. Mắm môi, mắm lợi, cô ráng tỉa tót, cạo gọt cặp chưn mày rô cho nó nhỏ rức. Chu chu cái miệng tròn vo, cô ráng tô cho tròn vành cái hình trái tim đỏ lói trên đôi môi mỏng dính. Đã thèm rồi, như sực nhớ ra, cô ngoái cổ vô nhà trong, kêu trỏng:

— Trẻ có đứa nào đó không bây, xách tô ra chợ mua cho cô tô cháo lòng, cô lót dạ coi bây! Lẹ lên nghe không! Cô đói bụng lắm rồi đó. Ê! Con nhỏ kia! Lại biểu coi! Cái con nhỏ trắng trắng, tóc dài, đương cẩm cây chổi đó! Sao chưa chịu đi mà còn đứng chết sửng ở đó vậy? Bộ mới thấy “gái lịch” lần đầu hả? Tao biểu mầy đó! Muốn ăn thoi hả mậy?

Nghe tiếng chộn rộn, từ trong buồng, bà Ba không kịp xỏ guốc, để cẳng không phóng ra cái rẹt. Bà nóng ra coi, con nhỏ nào mà mới sớm bửng đã dám ăn nói hỗn ẩu, xấc xược quá đỗi. Bà tằng hắng vài tiếng, lên gân để lấy giọng chửi. Dè đâu ngó trực thấy cô, bà cười giả lả, lên tiếng bãi buôi:

— Ủa! Con Ba Kim Thoa đây mà. Hèn chi! Chèn ơi, sao giờ nầy bây mới qua, ăn uống gì chưa con?

Con Thôi giành bưng tô cháo lên cho cô tiểu thơ đó. Con nhỏ nầy thiệt ra chẳng có bụng dạ tốt lành gì. Bưng được tô cháo lên tới nhà trên, sao khỏi hao hớt dọc đường chớ. Nó kín đáo “nghía” cổ một phát rồi ngoảy đít trở xuống, một bên mép nó còn bóng lưỡng. Hướng mắt về phía nhà trên, nơi cô tiểu thơ nọ còn đương húp cháo lòng rồn rột, nó giả mặt khờ, cười hăng hắc:

— Ở bên nây, người ta thiếu gì bàn nạo, hổng hiểu sao bà chủ lại còn rinh về thêm một cái “bàn nạo” nữa! Chi vậy trời!?

Nói xong, cả đám tụi nó ôm nhau cười lăn ngoắt ngoẻo làm cho Quyên chưng hửng, cô đeo theo hỏi phăng tới thì nó sặc ra một bụm cười văng nước miếng:

— Chị nầy hỏi ngộ! Vậy là không phải con gái Bến Tre rồi, có vậy mà cũng không hiểu! Tội nghiệp chưa! Bộ chị hổng thấy cổ “hô trớt” đó hay sao? Hổng phải “bàn nạo dừa” thì là cái giống gì nữa đây, hả trời!?

❃ 

Tra hết mấy cuốn sổ bộ đời bụi bậm ở trong nhà vuông làng Hưng Lễ, kiếm đỏ con mắt, tháo mồ hôi hột mà vẫn không thấy có thị nào tên là Kim Thoa. Vậy thời cái tên đó ở đâu ra? Trong bờ trong bụi nào ló ra vậy? Thiệt tình! Có tích mới dịch ra tuồng.

Số là như vầy: nhũ danh của cổ được ông Chánh lục bộ, ghi rõ ràng là Nguyễn Thị Đào. Cổ lại thứ Ba, nên bà con xóm giềng cứ nhè tên Ba Đào mà réo, thét rồi quen, chết danh con Ba Đào luôn. Tên Đào nghe cũng ngộ, thứ Ba kêu cũng thường, nhưng gộp lại thì nghe rất chướng.

Sợ cuộc đời con mình sau nầy giập bầm “ba đào chìm nổi truân chuyên”, nên ông bà Hương Sư nhiều lần có ý muốn biện xôi chè mà sửa lại cho cô một cái tên khác nghe cho nó yên phận hơn, nhưng mà tên nào thời cô cũng chê ráo trọi. Thời may, lần đó có gánh hát Kim Thoa của bầu Luông về diễn ở chợ Sơn Đốc mấy đêm liền.

Thị Đào mê anh kép chánh vô phương xiết kể. Hát mấy đêm coi đủ mấy đêm, mà đêm nào thị ta cũng thượng lên ngồi chong ngóc ở hàng ghế đầu, lấn lướt hết thẩy mấy bà già trầu, mấy vị thân hào nhân sĩ, mấy ông hương chức hội tề có vé mời thượng hạng.

Anh kép nhứt nầy tên thiệt là gì, thời chỉ có má ruột của ảnh mới biết. Lóng mới đi hát, hồi còn chưa nổi tiếng, ảnh được bầu Luông đặt cho nghệ danh Minh Nhựt, là có ý mong muốn cho sự nghiệp sân khấu của ảnh sau nấy sẽ tỏa rạng ra như vừng dương, mặt nhựt vậy. Về sau, mấy (fan) ái mộ miệt vườn quen miệng gọi tắt là “kép Nhựt” cho nó gọn.

Lần đó, ghe hát diễn ở Sơn Đốc. Dân miệt nầy nói lái giỏi lắm, ai mà lái giỏi, họ gọi liền là thằng “lái gió”, nói lái rồi chạy là thằng “lái dọt”. Còn cha nào mà hay cãi chày cãi cối, cù cưa cù nhầy thì họ lại khen là cái thằng “cãi dóng” nữa. Rất đỗi đạo cao đức trọng như Huề thượng Thiện Đức trụ trì ở chùa KV, vậy mà họ cũng không chừa, thì còn ai mà họ không dám “nái lói” nữa chớ.

Chợ ở thôn quê, vui nào hơn khi gánh hát về. Có đám con nít rắn mắt kia, đứa áo rách lòi rún, thằng ở trần phạch ngực, chạy theo ghe hát rần rần, đứng dọc theo hai bên bờ sông, đồng loạt phất cờ lá chuối, vỗ tay réo lên inh ỏi:

- Gánh hát bầu tèo ở tại cù lao heo, có anh kép nhứt tên là kép Nhựt. Hi! Hi! Hi! Mắc cỡ lêu lêu! Kép nhứt cũng là Kép Nhựt[87]... . Ha! Ha! Ha!

Kép Nhựt nhà ta, mới nghe qua đã “tá hỏa”, rồi xanh mặt, muốn đổi nghệ danh ngay tức khắc. Nhưng mà băng rôn đã giăng, áp phích đã dán, rồ-gam (program) đã phát rồi, còn đổi gì được nữa.

Không dè, đêm đó “tổ đãi”, đậu giàn quá cỡ. Bầu Luông mới khều ảnh ra sau hậu trường, nói nhỏ đủ nghe: “Nghệ danh càng độc đáo, thì càng dễ đi sâu vào lòng quần chúng. Người ta sẽ nhớ mình hoài, hâm mộ mình mãi, chớ khán giả mà, họ mau quên lắm đó...”.

Anh ta cũng dằn lòng, rán nghe theo lời bầu Luông. Nhờ vậy mà “tổ độ” cho anh, cuộc đời nghệ thuật của “Kép Nhựt” càng lúc càng tấn triển, sự nghiệp cầm ca ngày thêm sáng rỡ, đi lên vùn vụt. Hơn nữa, mấy năm đó, Nhựt Bổn chưa vào Đông Dương nên ảnh cũng khỏi phải lo dân chúng bài Nhựt, hay chống Nhựt gì hết ráo.

Gánh Kim Thoa hát có mấy đêm. Đêm cuối ghe hát nhổ sào, cả nhà ông Hương mới tá hỏa tam tinh khi biết Thị Đào cũng đà cuốn gói, trốn theo mất tích. Hỡi ôi! Tiếng là Hương Sư, là bực trông coi việc giáo hóa dân tình trong bản xã, vậy mà đứa con gái rượu của mình lại cuốn gói theo kép hát, cái thứ mà ông Hương vẫn khinh khi là “xướng ca vô loại”. Có chết không chớ!

Đích thân ông Hương phải mướn ghe nhẹ, hối thằng trạo chèo cho thiệt lẹ, rượt miết theo ghe hát, tuốt vô tới chợ Hương Mỹ thì bắt kịp, tốc vô hậu trường, nắm tóc kéo về.

Như bắt cóc bỏ dĩa, cứ bắt về vài bữa, Thị Đào lại trốn đi vài bữa. Mỏi mê quá, không lẽ cứ níu cổ nó về, rồi ghịt đầu nó vô cột nhà hoài nên ông bà Hương Sư cũng đành phải bỏ liều, bỏ lún. Trong làng ngoài tổng, thiên hạ lại có dịp, lập lại câu hát ru em mà đã lâu rồi hổng ai thèm hát:

Ầu... ơ... Trồng trầu thả lộn dây tiêu,

Con theo hát bội, mẹ liều... con hư... à... ầu... ơ.

Tiếng là từ, là bỏ, nhưng tấm lòng người mẹ thương con thì làm sao mà dứt tình cho đành đoạn. Cho nên mỗi khi nghe ghe hát về hát ở tổng nào, huyện nào ở gần gần một chút thì bà Hương lại lén lút, giấu giếm ông Hương mà “lòn” tiền, dấm dúi trợ cấp cho chị chàng đỡ khổ.

❃ 

Những tưởng cuộc đời của cô “keo sơn” gắn bó luôn với anh kép Nhựt nầ rồi chớ. Nhưng không ngờ, ngoài các khoản rượu chè, cờ bạc ra, anh kép này còn thạo nghề đi mây về khói, kết bạn nhơn tình với ả Phù Dung.

Mà hễ đã trở thành bợm ghiền á phiện rồi thì cả tháng trời không tắm là sự thường tình. Buổi tối, sau khi vẽ mày, vẽ mặt, phấn son lộng lạc, khoác lên mình bộ “cẩm bào”, dưới ánh đèn màu sân khấu, ảnh hóa thân thành Quân vương, Hoàng tử, sang trọng uy nghi, oai phong như Lữ Bố, Triệu Vân... Nhưng khi ánh đèn măng-xông vừa tắt, tấm màn nhung khép lại sau lưng, y trang mũ mãng đã treo, phấn son đã gột sạch, thì “cốt khỉ lại hườn cốt khỉ”.

Sáng ra, sau tấm màn nhung bạc phếch, gián nhấm như thêu, đấng quân vương hồi tối, trang Lữ Bố hồi hôm, thiếu ngủ ngồi cú rũ, cởi trần khoe bộ xương cách trí gió thổi muốn bay, tay gãi sồn sột, lác nổi tùm lum như cái tủ cẩn xà cừ. Thiếu nhựa nên ngồi ngáp gió, hai con mắt trỏm lơ, ợ lên ngáp xuống liên hồi, nước mắt sống tuôn ra ràn rụa. Ngáp thôi muốn sái quai hàm, muốn trẹo bản họng, nhứt là mỗi khi chú chàng tới cữ, mà con vợ nó chạy lo không kịp.

Tuấn mã thường hay giở chứng. Thôi thì! Sao cũng được, đã có tài xuống sáu câu mùi rụng rún thì dẫu có tật phun mây nhả khói chút đỉnh cũng không sao. Cô cũng ráng gồng mình mà gánh chịu.

Nào dè, cứ cách vài ba bữa, lại có một chị đờn bà lạ hoắc, đùng đùng tới kiếm ông bầu, tự xưng mình là vợ chánh của kép Minh Nhựt, khóc lóc đòi ứng trước tiền cữ cho chị ta, để chị ta mua gạo đem về nuôi đám con thơ nheo nhóc, đương chết đói ở dưới xứ.

Mà nào có phải chỉ một chị như vậy đâu. Tháng nầy một cô, tháng khác một chị. Chị nào cũng thề sống thề chết, nói mình mới là “chánh thất”. Chị thì trưng ra hôn thơ, hôn thú, chị thì nói có mẹ chồng cầm trầu cau đi cưới hỏi đàng hoàng. Thì bởi, ai biểu bùi tai, tin lời thề thốt của kép hát làm chi, cho có ngày tự vận.

Đi “chợ nạy”[88] cho ảnh hà rầm nên số tiền trợ cấp “năm thuở, mười thì” của bà Hương Sư không thấm vào đâu. Bao nhiêu tiền bạc cụ bị đem theo hết trước, kế đến vòng vàng chuỗi hột - đầy đủ bộ vận hồi môn của cô sau nầy - tự dưng không chưn mà biết chạy, không cẳng mà biết đi, đội khăn đội nón ra đi, không một lời từ giã. Đi đâu? Hỏi chi lọa! Thì đi thẳng vô tiệm cắc chú mà hóa thành cái biên lai cầm đổ, chớ còn đi đâu nữa.

Sự hy sinh cao quý của cô cho tượng đài nghệ thuật, cho sự nghiệp sân khấu, đôi khi cũng được anh kép nhứt trả ơn bằng những cú giựt cùi loi, cú thoi, cú đấm, cú lên gối, cú dọi đầu, xen lẫn với tiếng bấc, tiếng chì - không kể tiếng chửi thề giòn khướu - mỗi khi anh ta tới cữ, thiếu thuốc mà cô chạy lo không kịp. Sức chịu đựng của con người không phải là vô hạn, cho nên mới keo... rã, hồ... tan! Chồng.,, hỡi là.,, chồng!

❃ 

Một buổi sáng tinh sương, bà Hương dậy sớm, tính ra dặn con ở bắc cho ông một siêu nước nhỏ để ông uống trà. Dè đâu, mới vừa xỏ guốc bước chưn ra cửa, đã thấy ai đâu một đống thù lù, ngồi chù ụ trước hàng ba từ hồi nảo hồi nào. Đầu cổ chôm bôm, áo xăn chưa xả, quần vo bết bùn; càm gác lên đầu gối, hai vai xương xẩu nhô cao, cái mặt héo queo buồn nghiến, hai con mắt thụt lút trõm lơ, một con còn tím máu bầm. Bà Hương điếng hồn, kêu lên thảng thốt:

— Úy trời đất ơi! Con Đào đây mà! Sao con dìa đây? Thằng... đâu rồi con?

Thấy con gái ốm o gầy mòn, sắc diện chao dao, kẹp nách lỏn lẻn cái gói giấy nhẹ hều. Phành gói giấy nhựt trình đó ra, chỉ thấy mấy bộ đồ nhục nhục, bộ nào cũng vá đít, vá vai. Hồi nào tới giờ, bà tưng con như vàng như ngọc, từ nhỏ tới lớn, kẻ hầu người bẩm, không làm động tới cái móng tay, gót chân chưa lấm đất bùn, vậy mà... bây giờ! Hu! Hu! Hu!

Cầm lòng không đậu, bà ôm con khóc òa; cô cũng ôm bà khóc ngất, hai mẹ con đều khóc như mưa. Khóc chưa đã thèm, cô đã lấy tay khều khều, bệu bạo xin bà mấy xu, mua tô cháo lòng, để cô cầm hơi cho đỡ đói. Chớ mấy ngày qua, kể từ lúc nhảy ghe bỏ trốn, cô đi miết, không có hột cơm vô bụng, đói meo, mà trong lưng thì không còn một hoẻn, vì hồi nào tới giờ, tiền bạc bị thằng chồng ghiền nó quản, nó ôm trụm hết, không lọi ra cho được một teng. Nghe thảm đến mức vậy, bà Hương Sư lại càng khóc dữ. Rể ơi là... rể! Rể... bần, rể... lác.

Hai mẹ con còn đương ngồi khóc nhểu nhão, thì có tiếng guốc của ai in như là của ông Hương. Chưa kịp lau nước mắt, bà phải lật đật đem con đi giấu, tính thầm trong bụng, đợi tới khi nào ông Hương vui thiệt là vui, chừng đó bà mới dám dẫn cô ra trình, hai mẹ con sẽ dập đầu, lạy mà thú thiệt. Hùm dữ còn không nỡ ăn thịt con, huống chi ông là bậc... Hương Sư ở trong làng.

❃ 

Về nhà rồi, ít nào khi cô nhắc lại quãng đời sôi động cũ. Thảng có ai đó vô tình nhắc lại, thì cô chỉ ngậm ngùi mà rằng: Cái nghề đi theo gánh hát là cái nghề bạc bẽo, xướng ca vô loài, hào nhoáng bề ngoài. Cuộc sống nghệ sĩ, ba chìm bảy nổi chín long đong, gạo chợ nước sông, nó giả dối như các tích tuồng trên sân khấu, hoàn toàn không “hạp” với cái bản tính chân thật, đạo đức đầy mình của cô nên cô mới dứt tình mà không thèm đi theo nữa; mặc cho cả đoàn Kim Thoa, từ ông bầu trở xuống cho tới anh em kéo màn, ai nấy cũng đều đồng lòng níu kéo cô ở lại. Còn kép nhứt Minh Nhựt thì khỏi nói rồi, ối thôi: “xỉu lên, xỉu xuống”.

Ngoài chợ có một dạo, thiên hạ rộ lên, “chộ” cô là cô Ba Kim Thoa, cô Ba lưu lạc. Ai dè cô không giận mà vui, nên từ đó mới chết danh là cô Ba Kim Thoa luôn tới giờ. Kêu thét rồi quen, nên cái tên cúng cơm Ba Đào, lần hồi rồi cũng trôi vào quên lãng, trong làng chẳng mấy ai còn nhớ.

Chú thích:

[84]còn gọi là điều lộn hột

[85] súng săn hai nòng bắn đạn chài

[86]phụ nữ lưỡng quyền nhô cao thì khắc chồng

[87] kép nhứt hay kép Nhựt gì cũng không nên nói lái

[88]chạy nợ

« Lùi
Tiến »