Kỳ Ảo Đất Phương Nam

Lượt đọc: 6504 | 4 Đánh giá: 8,5/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
HỒI THỨ HAI MƯƠI BẢY
bày tuyệt lộ, thí sư diệt tổ, sóng hàm luông, nhất trạo diệt quân ma.

NHẤT TRẠO CUỒNG MA

Chầu xưa, dưới trào Tây, hễ mấy năm liền mà mùa màng thất bát, thì trộm cướp lại nổi lên đều trời. Trong giới lục lâm thảo khấu, giang hồ Đông Dương thuở ấy, khét tiếng nhứt vẫn là đảng cướp Mây Mưa, Tây ta đều ngán, chúng chỉ chịu nhường bước trước tướng cướp Đơn Hùng Tín[89] mà thôi. Riêng ở Nam Kỳ lục tỉnh, hễ nghe anh em thằng Mây, thằng Mưa đi tới đâu, thì những tay điền chủ, nghiệp chủ, những nhà giàu có lớn thảy đều xanh máu mặt. Chúng đã gây ra nhiều sự lúng túng cho việc trị an của nhà cầm quyền Pháp. Cò Tây nghe tiếng cũng chạy re.

Đó là hai anh em ruột, thằng Mây là đầu đảng, tướng tá vạm vỡ to xương, chắc da chắc thịt, nhỉnh hơn thằng Mưa em nó, mà sức vóc cũng khỏe hơn, võ nghệ cũng cao cường hơn. Nhưng ở đời, “hữu dõng” thường đi liền với “vô mưu”, thằng nầy như Uất Trì Cung, chữ nghĩa lem nhem không đầy lá mít, sao bằng thằng Mưa là thằng quân sư cho cả đám. Thằng nầy ẻo lả thư sinh nhưng “mưu quá Khổng Minh, nghi hơn Tào Tháo”, cho nên mới hai mươi tuổi ngoài mà cái đầu của nó đã sói sọi như đầu của con chim già dãy.

Mọi kế hoạch đánh cướp: nhà nào, cửa nẻo ra sao, độn nhập thế nào, rút lui ra sao, thảy đều do một tay thằng em nó ngồi giữa trung quân mà bày binh bố trận, liệu việc như thần.

Hổng biết nó có ghiền chuyện Tàu hay không mà nó dám tự xưng là “Anh hùng Lương Sơn Bạc”, sai đám lâu la chiếm cứ miễu Bà Chúa Xứ làm sào huyệt, để tụ họp chia chác tài vật cướp được. Rồi thì đứa nầy phong cho đứa kia, đứa kia phong cho đứa nọ, phong qua phong lại, nào là Minh Công chủ tướng, nào là Thần Cơ diệu toán quân sư, nào là Tả Hữu phó tướng, nào là Tiên Phuông, nào là Hậu Tập v.v. và v. v.

Nói nào ngay, cũng nhờ bà con cô bác người ta thương, người ta che chở, vì hai thằng nầy đã từng là dân khố rách áo ôm, cho nên dẫu sao chúng cũng còn có chút lòng thương xót dân nghèo. Cướp ở đâu thì cướp, không bao giờ chúng cướp ở địa phương, (địa phương thì nghèo rớt), mà nhứt là không thèm cướp của người nghèo và tá điền, (tá điền thì có cái khỉ khô gì mà cướp, nhà cửa trống huếch trống hoác, tinh là nhà đá, nhà đạp không hà; đá một đá, đạp một đạp là sập tuốt xuống sông).

Tài vật cướp được, chúng trích ra một phần, để mua gạo cứu tế cho dân nghèo. Tiếng thơm để lại, nên đã có một ông đồ nho (giấu tên), tặng cho chúng một tấm trần điều đỏ lói, treo lên cao chót vót chính giữa miễu Bà Chúa Xứ, viết ba chữ đại tự thư pháp, bằng mực tàu đậm lè, nét chữ hùng mạnh chân phương: “Tụ Nghĩa Đường”.

Nói cho ngay, kể từ hồi chọn miễu Bà Chúa Xứ để làm nơi long bàn, hổ cứ, giương cao ngọn cờ “Thế thiên hành đạo” cho tung bay phần phật ở trên nóc miếu. Rồi thì chiêu binh mãi mã, rồi thì tích thảo đồn lương. Cho đến tận cái ngày bị Cai tổng Tâm lập mưu bắt được, giải ra ba tòa áo đỏ ở tỉnh Bến Tre, lãnh án tử hình, thọc đầu vô máy chém. Bấm đốt ngón tay mà tính, thiệt tình mà nói, các vị hảo hớn Lương Sơn Bạc miệt vườn nầy, thương ôi, cũng chưa khi nào chiêu dụ cho đủ con số một trăm lẻ tám vị anh hùng.

❃ 

Trong suốt cuộc đời ngắn ngủi và sôi động của chúng, cuộc đời mà cái sự cướp của, giết người như ta ăn cơm bữa, có xảy ra một việc nầy, tuy nhỏ thôi nhưng nó cũng đã làm cho lương tâm kẻ cướp của hai thằng lúc nào cũng nhộn nhạo, bứt rứt không yên. Nó như một vết nhơ không thể nào phai trong công cuộc tụ nghĩa anh hùng. Đó là chuyện ông thầy Huế.[90]

Sư phụ Huế nầy vốn là thầy nghề võ của chúng. Ông gốc gác ở tận ngoài Trung, đâu đó trong một ngôi làng nhỏ ven sông Côn. Thời thanh niên ông đã từng được triều đình phong cho chức Võ cử[91] Nhưng không may, trong cuộc kháng chiến Cần Vương, ông bị mất hết vợ con trong cơn binh lửa. Buồn tình ông mới đi lang bạt kỳ hồ, đeo ghe bầu vô đây lập nghiệp cũng đã mấy mươi năm dư.

Ông thầy già đã cúp bình thiếc[92] rồi mà trên đầu vẫn còn phải gánh tới hai thứ tội. Tội thứ nhứt là khi nghe phong thanh vụ tụ nghĩa anh hùng để làm ăn cướp thì ổng có ý cản ngăn. Chuyện đó cũng không có gì lạ, thuở đời nay, có sư phụ nào mà vui nổi không, khi thấy cả đám đệ tử cưng của mình rủ nhau đi làm ăn cướp (dù rằng chỉ cướp của nhà giàu, sớt bớt cho dân nghèo đỡ ngặt). Tội thứ hai còn nghiệt hơn nhiều, đó là tội đã dạy võ cho đồ đệ mà không chịu dạy cho hết lòng hết dạ. Đó cũng là cái tật chung của mấy ông thầy nghề võ, đến như học trò ruột của mình mà cũng không chịu trút ống ra dạy cho hết. Bởi vậy, tuyệt kỹ công phu mới bị thất truyền hoài.

Thầy nghề võ nào cũng có cái tật là trước khi thâu nhận đồ đệ thì phải xem tướng cái đã. Phải có tướng “hiền” thì ông thầy mới dạy. “Đệ tử tầm sư dị, sư tầm đệ tử nan” , dễ gì mà tầm đặng một đệ tử vừa ý. Ông thầy nầy, nghề võ thì giỏi quá chừng, mà thuật xem tướng lại quá chừng “ạch đụi”.

Bởi vậy, mới nhận lầm đệ tử, phải đâu chỉ có một thằng, mà là cả đám ăn thua. Than ôi! Việc dĩ lỡ rồi, ăn năn đà quá muộn, thập bát ban võ cử đã lỡ truyền dạy hết cho chúng rồi. Thôi thì, cố giữ lại một hai miếng võ ruột phòng thân. Mà giấu là đúng! Ngừa trước vẫn hơn, vì chúng đệ tử thì dữ như cọp, còn lão sư phụ lại nhỏ thó như mèo. Mèo phải giấu biệt đi miếng võ leo trèo, để phòng cọp có rượt thì biết đường mà chạy...

Chuyện nầy, có người nói cho thằng Mây biết trước, nhưng tánh nó không hay so đo nên nó cũng mần thinh không nói làm chi. Đến chừng thấu tai thằng Mưa thì dễ gì mà nó chịu thua. Tụi nầy đã biết ông thầy già còn giữ lại mấy miếng võ hiểm gia truyền, không chịu dạy, hai thằng cũng không có chước chi mà dụ cho ổng trút ống ra truyền hết cho mình, bởi lẽ ổng sẽ viện cớ là công lực chúng chưa tới, hoặc thời vận chưa cho phép. v.v...

Ông thầy tuổi hạc đã cao mà mình trần thân trụi, hổng còn ai thân thích ruột rà. Nói dại, lỡ một mai ổng trăm tuổi rồi thì hổng lẽ ông cũng “làm hiểm” mà lận lưng mấy miếng “võ hiểm”, đem xuống chốn tuyền đài, dạy riêng cho đám Ngưu đầu, Mã diện ở dưới hay sao?

Làm sao để “lấy nghề” thầy bây giờ? Vốn là đứa túc trí đa mưu, nhưng Thần toán tử cũng phải nghĩ hết mấy đêm liền, hút hết mấy ngao á phiện mới lòi ra diệu kế, bèn kề tai anh nó mà nói nhỏ: phải làm như vầy... như vầy.

Miếng võ nầy theo như lời xưa đồn đại là một tuyệt chiêu võ thuật, đẳng cấp thượng thừa, có thể chế ngự được mọi sự tập kích của kẻ địch, từ phía sau bất ngờ đánh lén. Muốn biết hư thực ra sao chỉ còn một cách là phải đánh lén thầy, bất thình lình từ phía sau a thần phù đánh tới.

Cầm đầu cái đám phản đồ, “thí sư diệt tổ” dám đánh lén cả thầy, thì ông nội thằng nào cũng hổng dám, kể cả cái đứa trây trúa nhứt là thằng Mưa. Thành thử chúng phải rút thăm. Lá thăm đương nhiên là rớt trúng thằng Mây rồi (vì cái thằng hữu dõng vô mưu nầy, nó để cho em nó làm mấy lá thăm mà không có chút hoài nghi chi hết).

❃ 

Đám giỗ vừa tàn là lúc ba thầy trò kéo nhau ra về. Rượu vô ba sợi sần sần càng làm cho hai anh em xiết chặt cái quyết tâm hơn nữa. Đêm trăng thanh gió mát, ba người tà tà giăng tay ra về, thong thả đi dọc theo con lộ đắp, hai bên trồng toàn dừa giống Tam Quan.

Khi đi qua ranh đất, chỗ có cây cầu dừa bắc ngang con xẻo nhỏ, thằng Mưa từ phía sau bỗng vọt lên phía trước, nó là người đặt chân lên cây cầu dừa trước tiên. Ông thầy đi giữa, thằng Mây tập hậu phía sau. Ba người ra đến giữa cầu thì thằng Mưa đột nhiên đứng phắt lại, tằng hắng một tiếng. Lập tức thằng Mây rút cây thước nách bằng gỗ trắc giấu sẵn trong tay áo, vung lên cao “táng” vô đầu ông thầy già một phát. Thằng Mưa cũng quay phắt lại, trong tay nó đã thấy lo le một tay thước khác.

Bất thình lình bị lâm vào thế “lưỡng đầu thọ địch”. Nhưng không hổ danh thầy võ Bình Định chút nào, dường như sau ót có mọc thêm con mắt, chỉ cần nghe tiếng gió là ông thầy đã rùn mình bỏ giò lái, nghiêng người xử miếng võ gia truyền, từ dưới hốt lên, hất tung thằng Mây rớt “ùm” xuống xẻo.

Hỡi ôi! Mãnh hổ nan địch quần hồ! Ở vào cái tuổi bát thập cổ lai hi, lại bị lọt vào giữa cái trận địa hẹp té mà chúng đà chọn trước. Thói thường, sau khi thi triển đòn xong, phải lập tức bỏ bộ qua một bên, để nghinh đón cú tấn công thứ hai, từ hướng khác đánh tới thì mới đúng điệu với phép đánh “tứ trụ”: tiền-hậu, tả-hữu bốn phía. Đằng nầy cây cầu dừa quá chật hẹp, lại lắt lay trơn tuột như bôi mỡ đã hại ông thầy. Bỏ bộ, rủi trật chưn, hụt cẳng chới với, ông thầy lãnh trọn cây thước nách nặng chịch từ phía thằng Mưa táng tới nghe cái “cốc”, ngay chóc óc o. Choáng váng, lảo đảo vài bước rồi lực bất tòng tâm, không sao “khiển” nổi cặp giò nên ổng xuống tấn không vững, ngả qua ngả lại như người say rượu rồi té cái ùm xuống xẻo. Ô hô lão hỉ! Dị lộ hồn quy, máu loang hồng mặt nước. Hai thằng nhảy tùm xuống xẻo, mò xác thầy lên, rinh về mai táng, thằng Mây cứ luôn miệng trách em nó hoài:

— Thử thầy mà mầy làm như đánh quân thù quân hằn không bằng. Mầy quên là ổng đã già cốc đế rồi hay sao?

Thằng Mưa nghiến răng trèo trẹo, trán nổi gân xanh, quai hàm nó bạnh ra:

— Chuyện nầy đâu phải chuyện chơi, hạ thủ bất huờn, chém chết không chém lấy vết. Chuyện bạo thiên nghịch địa như vầy, ổng mà không chết thì tao với mầy phải chết... À! Mà mầy còn chưa chỉ lại cho cho tao miếng “võ hiểm” mà ổng đã dùng để đánh mầy văng xuống xẻo đó.

— Có thấy được trời trăng gì đâu nà! Mới “nháng” lên một cái, hạ bộ tao đã dính đòn “Độc xà thám huyệt” của ổng rồi, thiếu điều giập dái. Đau thấy ông bà ông vải, muốn tắt thở luôn, còn nhớ gì nổi mà nhớ.

Vốn bản tính đa nghi, thằng Mưa không tin, nhưng anh em ruột thịt, không tin thì biết tin ai, cho nên nó cứ ấm ức, miệng láp váp hoài:

— Biết vậy khỏi cần bốc thăm gì ráo, để tao đánh trước, giao cho mầy cũng như không mà còn mang thêm tiếng ác.

Cũng vì chuyện nầy mà hai anh em nó hục hặc nhau suốt mấy tháng liền.

❃ 

Mang tâm trạng ấm ức vì chưa học được hết nghề, hai thằng cứ bức bối, tức tối mãi. Sau đó, chỉ cách có vài tháng, trong một tiệc nhậu, tình cờ một bậc kỳ lão trong làng đã tiết lộ một tin bí mật, động trời, “đất bằng sấm dậy” làm cho hai thằng tức trào máu họng, tiếc thôi hùi hụi, đau cha chả là đau, đau hơn bị hoạn.

Đúng là người tính không bằng trời tính. Làm như thể ông thầy Huế có linh tính, đọc thấy được những tia sáng lạnh lẽo, kì dị từ trong những ánh mắt “nhìn xéo liếc trộm” của đám đệ tử, hay ông đã loáng thoáng nghe được những lời nói bóng gió, lấp liếm của chúng. Biết trước mình sắp hết kiếp, không cam lòng để cho tâm huyết cả đời phải trôi sông, đổ biển, tuyệt chiêu của dòng họ bị thất truyền, nên trước đó không lâu, ông thầy già đã cất công lặn lội, bí mật lẻn qua điền khác, “trút ống” truyền hết các tuyệt chiêu võ thuật gia truyền của mình cho một thanh niên lạ hoắc.

Hai miếng võ hiểm này, ngoài đặc tính là chống được mọi sự tập kích của địch thủ đánh lén từ phía sau lưng, lại có thể trá bại (giả bộ thua), nhát đòn bỏ chạy, đưa lưng về phía địch thủ, bộ chưn líu ríu, xà lỉa xà lay, dụ cho địch thủ háo thắng rượt theo, rồi “xuất kỳ bất ý” xoay mình, tung “thoái ảo cước” sau khi đã tạt ngang một quyền vào màng tang địch thủ, trăm lần như một, hiệu nghiệm cả trăm, đến nỗi các bậc hào kiệt giang hồ, lục lâm sáu tỉnh, mấy chục năm sau mà vẫn còn phục lăn sát đất, đồng lòng bái phục mà tặng cho hai câu thiệu, đọc lên nghe kêu rôm rốp là: “La Thành trá tẩu hồi mã thương” hoặc “Tần Quỳnh trá bại sát thủ giản” (Ủa! Đánh tay không mà! Thương ở đâu có mà hồi, giản ở đâu ra mà sát).

Người thanh niên lạ này, được ông thầy Huế nắc nỏm khen thầm: “Đức hạnh song toàn, khởi phụng đằng giao, lục thao tam lược”. Và nhứt là, cầm lòng không đậu nên ổng còn trút túi ra mà khuyến mãi thêm cho chàng ta một pho “bí kíp” nội công, cực kỳ thâm diệu nữa. Nghe đâu tuổi va còn trẻ lắm, hình như tên là Thành, thứ hai, ở đâu đó bến cù lao Bảo, trong điền bà Ba Ngơi, cũng thuộc tỉnh Bến Tre của mình đây chớ có đâu xa.

❃ 

Năm sau, cũng trùng vào khoảng thời gian ông thầy Huế chết, đảng cướp Mây, Mưa lại gặp phải một chuyện dị thường.

Bữa trước, đám bối đường sông, hào hển chạy về bẩm báo, chuyến nầy gặp đặng “gió lớn”[93] rồi. Một chiếc ghe bầu chở vải khẳm lừ, thế nào rồi cũng phải đi qua vàm kinh, xuôi dòng Hàm Luông đổ thẳng ra biển Đông, thuận theo gió mùa Tây Nam từ Bến Tre thổi tuốt ra Trung.

Thiên la địa võng lập tức được giăng ra. Lần cất vó này mà thành công trót lọt, thì mặc sức mà ở không cả năm, nằm khoảnh nhịp giò, đờn ca vọng cổ.

Chiếc ghe bầu chở vải khẳm lừ đang lừ đừ trôi theo dòng nước. Nước xuôi, gió thuận nên mấy thằng trạo khỏe re, lâu lâu mới phải chống vài sào lây lệ, rồi thì nghêu ngao ca hát, đờn địch từng tưng. Qua khỏi ngã ba Vàm Kinh không bao xa thì trời chạng vạng tối. Bỗng từ trong đám lá tối trời, một tiếng quát dõng dạc cất lên:

— Ghe ai ngừng lại! Thằng Mây, thằng Mưa ở đây!

Từ trong con rạch nhỏ, dưới tán lá dừa nước dầy mịt, xông ra ba chiếc ghe nhẹ. Mỗi chiếc chở cả chục ông tướng ở trần trùi trụi, tướng tá bậm trợn, lưng nách cả vừng, đồng phò chúa tướng ào ào bơi ra.

Chiếc ghe bầu chở vải lập tức buông chèo, riu ríu ngừng lại. Đèn đóm trên ghe tắt ngóm, cửa sổ hai bên hông ren rét kéo gài kín mít, không thấy động tịnh chi hết, im lặng phủ trùm như con tàu ma.

Chiếc ghe nhẹ đầu tiên, liệng móc, cập mạn thuyền lớn. Phó tướng Hoài, xung phong đi đầu, miệng cắn chặt thanh mã tấu, co cẳng nhảy lên sạp ghe bầu chở vải. Chân vừa chấm mũi thuyền, chưa kịp đứng vững đã vọt ra một tiếng thất thanh la lớn:

— Chết tao rồi bây ơi!

Dòng sông đêm, nước đen ngòm, mở ra cái “đùng” rồi lạnh lùng khép lại. Phó tướng Hoài đã chìm nghỉm, bập bũm trôi dạt về mạn hạ lưu.

Qua cơn sảng sốt ban đầu, hai ghe cướp còn lại nhất tề tấn công. Hơn ba chục thằng cướp đeo đặc gật hai bên mạn ghe bầu, đồng thanh hô lớn:

— Sát! Sát! Sát...!

Rồi đồng loạt vung mác thong, mã tấu, a lát xô xông vô, đánh xáp lá cà. Dẫn đầu ghe bên hữu là chủ tướng Mây, ghe bên tả là quân sư Mưa.

Bất luận Thần cơ diệu toán quân sư hay lâu la chí mén, hễ vừa phi thân đu lên, chưa kịp đặt chưn xuống sạp thuyền, thì đều bị một thế lực vô hình thần bí nào đó đẩy bật tung lên, bay bổng lên không như chiếc lá khô lìa cành, văng trớt xuống sông cái “đùng”. Ngó đi ngó lại không thấy ai, chỉ nghe trên không trung có tiếng gió quạt mạnh vun vút hên hồi như một loài dơi quạ khổng lồ đang phần phật giũ cánh.

Quanh thuyền, không ngớt vang lên những tiếng kêu la: Binh! Bốp! Chát! Hự! Ối! Ái! Ai da! Hòa lẫn với tiếng thân người rớt đùng đùng xuống sông, lủm chủm như chùm sung rụng.

Chủ tướng Mây thất kinh hồn vía, điểm lại sĩ tốt bên mình: tướng tá, lâu la không còn ngoe nào. Tức khí cành hông, nó vỗ đùi cái bép, phi thân bay lên sạp thuyền, xuống tấn vận công phu “Thiên Cân Trụy”, khiến cho chiếc ghe bầu lớn tròng trành.

Hỡi ôi! Cái sức mạnh vô hình, siêu nhiên thần bí đó, nó không phân biệt được lâu la chí mén với Minh công chủ tướng gì ráo. Đã vậy nó cũng không thèm biết đến công phu “Ngàn cân nặng” là cái gì, cho nên nó cứ lạnh lùng mà phang thẳng cánh cho anh chàng Minh công chủ tướng kia một đòn chí tử.

Chú chàng đứng đầu Lương Sơn Bạc miệt vườn nầy, chỉ kịp “Ướ!” lên một tiếng rồi cũng cùng chung số phận với đám lâu la (nghĩa là cũng cắm đầu chổng cẳng, bay trớt cái đùng xuống sông).

Uống no một bụng nước sông, sặc thây ông bà ông vải, nhưng cũng còn nhớ tới bổn phận chủ tướng của mình, nên nó lấy hết sức bình sinh chòi đạp trồi lên, cố nén đau, hổn hển phất tay, phì phò những bong bóng nước:

— Tất cả... nghe lịnh... ta! Bườm! Bườm lẹ... bây...ơ...ơi...!!! (Bườm là tiếng lóng của quân ăn cướp, có nghĩa là chạy, mạnh ai nấy chạy, chạy chậm thì... chết).

Khi đó, mạnh tướng, tướng bơi, mạnh quân, quân lặn, rựa ngoéo, mác thong văng tuốt luốt; xà no, mã tấu gì cũng chìm sâu xuống đáy sông ráo trọi - mình trần thân trụi, cha mẹ sanh sao để vậy. Cũng may, “cái đó” nó dính sẵn ở trong háng, chớ nếu hơ hổng để ra ngoài, chắc đã văng mất tiêu xuống đáy giang hà rồi.

Ba chiếc ghe cướp, trống huơ trống hoác, không còn lấy một em, bị mấy đứa trạo phu[94] ùa ra, lấy búa đẽo chặt đứt mấy cái móc rồi co cẳng đạp dạt ra hai bên, cho lững lờ trôi xuôi về mạn hạ lưu...

Chỉ chờ có vậy, mấy chục thằng án cướp, loi ngoi lóp ngóp leo lên. Chèo lái, dầm mũi gì cũng đều mất ráo, mấy chục cánh tay không, phải “quào” xuống nước mà đưa ghe vô bờ. Ghe bầu chở vải vẫn đứng yên, không thèm rượt theo.

Cái bụng tức anh ách, chủ tướng Mây ra lịnh cho đám lâu la quào nhóng lại gần ghe bầu. Lâu la run thầm trong bụng, vừa ráng sức quào xuống nước vừa rụt rè hỏi lại:

— Ủa! Bộ đánh nữa hả đại ca!?

— Quào đi! Đừng hỏi!

Giữa dòng, chiếc ghe bầu chở vải vẫn đứng yên, lù lù như một con thủy quái khổng lồ. Bỗng từ trên mui ghe cao chót vót, quăng xuống một tiếng quát dõng dạc:

— Bộ chưa “tởn” hay sao mà còn dám quay lại?

Trời tuy không có trăng, nhưng đêm đó có nhiều sao, mặt sông lấp lánh hắt chút ánh sáng lờ mờ. Đám cướp trật ót ngó lên trên mui ghe cao ngất. In như cắt trên nền trời đêm xám xịt là một bóng hình hiên ngang, sừng sững đứng. Dáng người tầm thước, nai nịt gọn gàng, một tay chống nạnh ngang hông, tay kia thủ cây chèo lái khổng lồ. Tướng mạo đường đường, đâu chịu nhường gã Triệu Tử Long, đơn đao Giang Đông phó hội. Thần oai lẫm lẫm, chẳng hề chịu kém chàng họ Lục, bên trời bẻ gậy đả Phong Lai.

Đám cướp đường sông, bấy giờ mới ồ lên một tiếng lớn. Thiệt! Té ngửa cũng không hết hồn bằng. Thì ra nãy giờ tụi mình xất bất, xang bang, bị hất tõm xuống sông ráo nạo là bởi cây chèo đôi khổng lồ đó (phải hai người khỏe mạnh cùng chèo mới nổi). Cũng bởi lúc đó tối trời nên không thằng nào biết mình bị hất bằng cái gì nữa. Nhưng nói gì thì nói, một tay mà giở nổi cây chèo đôi khổng lồ đó lên thì ắt hẳn là một người có nội công cực kỳ thâm hậu.

Thì ra cái anh chàng hảo hớn miệt vườn, đơn thân độc mã, nhất kiếm trấn ải này, (Ủa! Dưới ghe thì kiếm ở đâu ra mà trấn, mã ở đâu ra mà độc), tuy là quả bất địch chúng, vậy mà một mình một chèo, chàng ta trấn ở trên mui, chống trả quyết liệt với cả một băng cướp đường sông, dẹp tan “lũ kiến, chòm ong”, chỉ trong khoảnh khắc, thật quả là một con người trí đởm...

Thiệt ra, ghe nầy là loại ghe cửa (tiếng địa phương), ghe cửa là ghe bầu đi biển được cải tiến lại, cửa sổ lắp ráp chắn chắn, sạp thuyền đóng rất khít. Khi nào gặp giông bão, lập tức đóng hết các cửa lại thì khít rim, giống y chang như cái vỏ hột vịt bộng, nổi phều, nhào lộn trên mặt sóng, mặt tình cho sóng dập gió dồi, nước biển dẫu có tạt vô cũng phải tràn qua hai bên. Còn ở đây, bây giờ thì: nội bất xuất, ngoại bất nhập, không một thằng ăn cướp nào có thể chun vô ngang hông, chỉ còn một cách là đứng vững trên sạp thuyền, vung búa tài sồi lên mà “nói chuyện” với nó thôi. Chàng trai khôn ngoan, mưu trí kia, đã chọn mui ghe làm vị trí cố thủ.

Ở trên mui ghe cao chót vót, chiếm thế thượng phong, chàng ta có thể dòm bao quát khắp chiếc ghe lớn rộng thênh. Hễ có tên cướp nào co cẳng nhảy được lên sạp thuyền, trong đêm tối, chỉ cần nghe tiếng gió, thuyên hơi chòng chành là chàng ta biết liền, bèn hoành thân huơ chiếc bơi chèo khổng lồ kia, nhẹ nhàng như ta huơ một cây côn nhỏ, vun vút lia chèo, quất cho nó văng tuốt luốt xuống sông...

Trăm lần như một, để đâu dính đó, hết thằng nầy chổng gọng, tới thằng khác té nhào. Nhắm mắt cũng trúng, không sót một thằng, có khi chỉ cần lia một dọc chèo mà dính liền tới hai ba trự, (hiệu ứng Domino, thằng nầy té nó chụp thằng kia, thằng kia chới với, chụp tiếp liền thằng khác, thành ra té chùm cả lũ). Cây bơi chèo vun vút lia trong đêm tối trời đó thiệt là lợi hại, còn hơn các loại kiếm kích, siêu đao nữa. Thiệt! Đúng là “Nhất trạo diệt quần ma”[95] mà...

Nhưng dù sao, chàng ta cũng là người nhân hậu, (họ nghèo, sống không nổi, mới phải đi ăn cướp, cũng bà con mình không chớ ai), cho nên chàng đã lấy đức hiếu sinh mà “trạo hạ lưu nhơn”, chỉ điệu nghệ quất chèo bằng bề bản thôi. Chớ nếu chàng trở bề cạnh bén, thì chết ráo cả lũ, hoặc chí ít cũng có vài thằng bị “gọt ót” đi chầu Hà Bá. Hà Bá mà chê, thì mèn ơi, bà Thủy cũng rước liền một khi hà. Thiệt! Cái con người sao mà nhơn đức quá!

Chủ tướng Mây, quân sư Mưa đứng dưới xuồng, vòng tay ra trước mặt, hai bàn tay nắm chặt vào nhau (bắt chước kép hát bội), đồng thanh lớn tiếng, thưa vọng lên trên:

— Dám hỏi vị anh hùng đó là ai vậy?

Đáp lại chỉ có sự im lặng và tiếng nước reo róc rách mạn thuyền...

Thần cơ diệu toán, quân sư Mưa lại trịnh trọng vòng taỵ lần nữa, (lần nầy cũng bắt chước giọng kép hát bội):

— Tụi tui “hữu nhãn vô châu”, dám xin anh hùng cho biết cao... danh, quý... tánh?

Chiếc ghe chở vải khẳm lừ, nặng nề như một pháo đài, chuyển mình răng rắc, rồi tiếp tục thả xuôi theo dòng nước. Theo gió đêm, còn vẳng lại một giọng nói cực kỳ hào sảng:

— Anh hùng con khỉ... mốc! Tôi cũng dân “ở dợ” như mấy anh vậy thôi. Tôi là Hai Thành ở quán Sơn Đốc, làng Hưng Nhượng, thuộc cù lao Bảo, Bến Tre mình đây chớ có đâu xa. Hôm nào huỡn, muốn “so cựa” báo thù thì tới kiếm tôi, tôi xin bồi tiếp...

Hai thằng nầy, chắc có máu Châu Du nên mới vừa loáng thoáng nghe tên Thành, thứ hai, ở cù lao Bảo, thì cả hai thằng tức trào máu họng, giậm chưn cái đùng, muốn lủng sạp ghe, rồi ngửa mặt lên trời, đấm ngực mà rống lên:

— Trời hỡi trời! Trời đã sanh Mây Mưa! Sao còn sanh thêm thằng Thành chi vậy?

Đúng là “oan gia” ngõ cụt gặp nhau, đụng đầu cái “cốp”.

Chú thích:

[89] tên thật là Lê Văn Tín, là tá điền nghèo ở Cao Lãnh. Học được võ thuật và đạo thuật, can đảm và giàu lòng nghĩa hiệp, thường cướp của trọc phú giàu, chia bớt cho dân nghèo. Dân nghèo phục nên đặt tên Đơn Hùng Tín cho va, là tên một nhân vật nghĩa hiệp trong thuyết Đường

[90] Người Nam bộ thuở ấy có thói quen thấy ai người miền Trung vô đều gọi là người Huế hết trọi

[91]võ cử nhân, đứng sau võ tiến sĩ

[92] Tả con ngựa già kéo xe hết nổi

[93] Tiếng lóng của quân trộm cướp, chỉ vụ cướp sắp tới là một vụ lớn, gia chủ có nhiều tài sản quý giá

« Lùi
Tiến »