QUÂN TỬ MIỆT VƯỜN
Hai Thành gốc gác không phải là người ở miệt nầy. Không ai rõ gia tộc của cậu ta từ đâu trôi dạt đến, chỉ biết rằng họ có mặt ở đây sau ngày Phiên An thành thất thủ không lâu.
Quyền gia phổ dòng tộc, trên trang đầu có ghi mấy câu vắn tắt như vầy, thơ chẳng ra thơ, kệ không ra kệ:
..................
Muốn tâm sanh lộ, không ngừng đào vong;
Thay tên đổi họ đã từng,
Triều đình tróc nã, phải dừng lại đây.
Xứ đấu, xứ lạ người dưng.
...................
Bà ba Ngỡi tin cẩn Hai Thành, bởi cậu ta là người có đạo đức, chữ nghĩa. Thuở nhỏ, lúc nhà còn khá giả, cậu được gởi cho đi học chữ Nho mấy năm liền bên điền ông Bộ Hộ. Mấy tâm liễn đối chữ Nho, viết bằng mực tàu lên giấy hồng đơn dán đầy trên những cây cột các nhà khá giả trong những ngày Tết, cậu đều đọc được hết và bàn “ý nghĩa” thông vanh vách.
Nhà cậu còn giữ được một tủ kiếng đầy ních sách chữ Nho. Nghe nói trong dòng họ nhà cậu, có ông cao tằng cố tổ nào đó, đi sứ tới tận bên Tàu. Ngoài mấy bộ Tam Quốc, Thủy Hử, Tây Du, Kim Bình Mai, Hồng Lâu Mộng, ổng còn cộ về cả rương sách lớn. Ối thôi lủ khủ, lu bù, có đủ cả Liêu Trai chí dị, Kim cổ kỳ quan, Sưu Thần ký, Sơn Hải kinh, Dị Nhân truyện, Dị vật chí, Bác vật chí và nhứt là trọn một bộ Tử bất ngữ nữa. Còn nói gì tới truyền kỳ, quái lục của nước Nam ta thì không thiếu cuốn nào. Nào là Lĩnh Nam chích quái, Truyền kỳ mạn lục, Việt Điện u linh cho tới Lan trì kiến văn lục v.v... đều chen lấn nhau, nằm ngồi lểnh nghểnh ở trong tủ sách...
Cái câu “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”, xem ra không đúng với cậu ta chút nào, vì cậu là một ngoại lệ. Là thanh niên mà chỉ khoái kết nghĩa kim bằng với mấy ông bạn già vong niên, hoặc cặp kè, bá cổ choàng vai với các bậc kỳ lão trong làng, để luận cổ, suy kim, bàn chuyện Thủy Hử, Thuyết Đường, luận Tam Quốc anh hùng phân chia thiên hạ.
Cậu chỉ thích ngồi bên ấm trà quạu, giữa các bậc lão nông tri điền, để tính toán giống má, phân phướn, thời vụ gieo trồng. Chớ không thèm quần tam, tụ ngũ quanh bàn nhậu với đám bạn tác, thanh niên cùng trang lứa, lúc nào cũng chỉ rậm rật những chuyện huê tình mà cậu cho là cực kì vô bổ. Cậu sẵn sàng nằm gác chưn lên mình ông Hương trưởng Tạc thâu đêm suốt sáng để cùng nhau luận đàm triết lý hoặc chiết tự cho ra ý nghĩa sâu sắc của một câu chữ Nho mắc mỏ. Mặc cho ngoài kia, tiếng trống của ghe hát về làng đang gióng lên từng hồi lùng tùng xòa, lùng tùng xèng giục giã, nó dội vào lồng ngực, làm náo nức, rạo rực biết bao bầu máu nóng của nam thanh nữ tú trong làng.
Mỗi khi có tiệc tùng, giỗ quảy gì đó, hễ cậu vừa mới bước chưn vô chưa tới thềm ba, thì đã nghe tiếng cười khơ khớ của mấy ông già xưa:
— Hai Thành qua chưa? Kêu nó lên đây!
Ông Hương trưởng Tạc còn quay lại khoe với mấy ông già kia:
— Hôm cúng rằm, thằng Thành chiết tự cho tôi nghe chữ Phật. Nó nói: chữ Phật gồm có bộ nhơn là người, đứng bên cạnh chữ phất có nghĩa là không màng gì hết. Tui hỏi mấy ông, vậy chớ người mà không màng tới thứ chi hết trên cõi đời, có phải là người đã được giải thoát rồi không hè? Không phải ông Phật thì còn là cái giống nữa gì chớ? Thành đâu! Lên đây chiết tự chữ Đạo cho mấy bậc trưởng thượng nghe chơi đi mậy!
Hương sư Quá đế thêm vô:
— Còn cái vụ “mãn đường” với “mãn môn” nữa chi! Sao không nói luôn? Thằng Thành nó nói, mình là hàng dân dã, củi lục làm ăn thì viết tới “phúc mãn môn”[96] là vừa rồi, viết “mãn đường” mần chi cho nó tủi, bởi chữ “đường” là chữ dành riêng cho hạng cao sang, quyền quý.
Đến nước đó rồi thì dẫu Hai Thành có muốn trốn cũng không thoát được, vì mấy cái ông “Hán thâm, Nho chùm” đó cứ thi nhau réo vọng xuống dưới nhà hoài:
— Cái thằng! Không mấy thuở qua đây! Tới rồi sao không chịu lên nhà trên mà ngồi uống trà, bàn chuyện Thuyết Đường, luận Tam Quốc anh hùng nghe chơi đi mậy!
— Ê! Lên đây mậy! Lên nói tiếp cái hồi Khổng Minh tam xuất Kỳ Sơn, lần trước nói còn thiếu nghen mậy!
— Còn e lệ gì... nữa! Ở dưới đó, có ba cái cà ràng, ông táo, chớ có cái gì đâu mà mầy mê dữ vậy! Cái thằng! Sao mà...
❃
Cũng vì cái tật “ham trà hơn ham rượu”, mê nói chuyện “nghĩa lý” với người già hơn mê mồi nhậu, mà cậu bị hụt vợ một lần. Lóng đó, cậu hay “chà lết” ở nhà cô Nhan, con gái rượu ông Hương Hào. Cô nầy là bạn học chữ Nho hồi nhỏ với cậu.Thời đó con gái nhà nghèo không ai được cho đi học, bởi vậy trong lớp chữ Nho chỉ có mình cô và cô Hường - con của một ông huyện hàm, là gái.
Hồi nào tới giờ, học với mấy ông thầy khác, ai cũng có bụng tư vị con gái ông Huyện, ông Hương, cho nên dù có lỗi, thì quá lắm cũng chỉ nhịp roi sơ sơ vô đít cho Hường Nhan sợ rồi bỏ qua, chớ ít ai dám đánh. Còn cái ông Bộ Hộ nầy thì khác, ổng thương học trò bằng roi bằng vọt. Trả bài không thuộc hả? Cho dù con Phủ con Huyện, Hường Nhan Lan Huệ gì cũng bị ổng quất cho nát mông như chơi. Ổng nổi tiếng là đánh đòn quạu. Còn như nhéo lỗ tai, thụt dầu hay bắt quỳ vỏ mít hả? Cái đó chỉ là các món ăn chơi, khai vị mà thôi.
Ổng triệt để áp dụng câu “thầy khó, trò nên”, roi trâm bầu, ổng trữ sẵn cả bó trên đầu tủ. Mà nghiệt một nỗi là cái ông thầy nầy, ổng hay chồng tội, treo án rồi để đó. Chờ lâu lâu cho đủ ba đứa, mới nẹt roi vô đít một lần cho nó gọn, chớ không thèm đánh lắt nhắt mần chi cho mất công.
Tuy mang danh là gái mĩ miều nhưng vì bị ép phải đi học, cô học không vô, nên cứ bị đòn hoài, gần tới giờ đi học là rớt nước mắt. Ai đời, con gái người ta, đã lớn tồng ngồng, chồng gần đi nói rồi, vậy mà không thuộc bài hả, ổng xách lỗ tai hổng cẳng, bắt cúi nằm dài cho ổng quất. Lúc đầu ổng còn cho nằm rải ra, đứa nằm ngoài đau rát hơn đứa nằm giữa, đứa nằm giữa đau hơn đứa nằm gần phía tay thầy. Có đứa phân bì nên ổng bắt chồng sắp lớp trên bàn, ba lớp hẳn hoi. Nằm giữa hai đứa con trai, có đứa con gái làm nhưn ở giữa, như đổ bánh da lợn, chẳng thèm đếm xỉa gì đến câu “nam nữ hữu biệt” hoặc “nam nữ thọ thọ bất thân” gì ráo.
Rút roi trâm bầu, ổng quất cho thẳng thét. Má ơi! Có đứa són đái ra quần. Thằng nằm trên cùng, ổng quất trót, trót, trót, ba roi: “Leo xuống đi mầy”. Con nhỏ nằm giữa, trót, trót, hai roi, cũng: “Leo xuống đi trò”. Tội nghiệp nhứt là thằng nằm ở dưới chót, hai tay bấu nát cạnh bàn, bị hai đứa kia đè lên, thiếu điều ná thở nên ổng chỉ trót có một roi thôi: “Ủa! Ngồi dậy đi chớ! Bộ tính nằm vạ luôn ở đây hay sao?”.
Đứa nào mưu mô, lót mo cau bó đít, đánh nghe bồm bộp, là ổng biết liền, bắt lột quần ra, đánh tới rách mo cau ăn thua, mấy roi trước bỏ, không tính.
Nghỉ học mấy năm rồi mà có đêm ngủ cô còn mơ, chiêm bao thấy bị thầy kêu lên, bắt khoanh tay đứng ngay giữa lớp, trả bài tại trận: “minh đạo gia huấn”, khó thôi trần ai khoai củ. Giựt mình thức dậy, xuất hạn dầm dề, thức luôn tới sáng, đố dám ngủ lại...
Cô Nhan thù chữ Nho vô phương xiết kể, ai bày ra chi cái thứ chữ nhăng nhít đó, chỉ để làm khổ cho mấy đứa con nít. Đó rồi cô đâm ra thù lây tới người học trò giỏi chữ Nho là Hai Thành, và cô cũng ghét lây luôn cái đạo học mà anh ta coi trọng. Tam tòng mà chi? Tứ đức làm gì? Chỉ có lợi cho đám đàn ông ích kỷ.
❃
Tết năm đó, Hai Thành khăn đóng chữ nhân ngay ngắn, áo dài the đen lụng thụng, lộp cộp giày Gia Định bóng, lễ mễ theo cha đi chúc Tết nhà ông Hương Hào.Hai ông bạn già, cụng ly rôm rả ở nhà trên, đệ đệ, huynh huynh, ngó bộ tương đắc lắm. Bà Hương Hào thấy cậu đứng sụt sè, bà thương lắm, bà mới nắm tay cậu, dắt thẳng ra sau vườn, ngọt ngào, thẻ thọt nói: “Ra ngoải chơi đi con, em Nhan con ở ngoải”.
Ngoài vườn có đám nhậu đang gầy độ dưới tàn cây vú sữa, toàn là đám bạn tác, trang lứa với nhau không hà. Cô Nhan, áo quần nhổn nha, lăng xăng châm rượu, rội mồi, mắt long lanh, má ửng hồng, chúm chím miệng cười đưa đẩy.
Thấy Hai Thành đứng xơ lơ xáo láo, cô sai thằng nhỏ ở dọn riêng cho Thành một cái bàn ở kế bên, rồi đích thân cô bưng qua một bình trà quạu, một đĩa mứt gừng. Cô dằn cái bình trà xuống trước mặt cậu nghe cái “cốp”:
— Uống đi ông cụ non! Cho ông “háp” luôn!
Bàn nhậu kế bên, ré lên cười nghe cái rần: “Vậy là trúng ý!”
Hai Thành, ngu gì không biết, nên từ đó về sau, cậu ít tới lui, có việc chi cần, cậu chỉ xẹt qua một chút, rồi đi.
❃
Cô Nhan không ưa Hai Thành cũng phải. Vì hồi còn đi học, cậu ta có cái tội nặng nhứt là ít khi bị đòn, mà cơ khổ, ông thầy lại hay lấy Thành ra làm tấm gương, bắt Hường với Nhan phải rọi tới soi lui miết. Bởi vậy tấm gương mới bị liệng đá. Ít năm sau, cô Nhan đi lấy chồng, chồng cô tên Năm Sử, có máu tài tử, là cái người bạn học vẫn thường hay nằm chồng lên mình cô - có khi cũng bị nằm dưới - mỗi khi cô bị ăn đòn... mà hiếm có ngày nào cô không bị phỏng bàn tọa, như ăn cơm bữa...Thiệt cũng lạ cho tâm lý của giới nữ lưu, không hiểu sao họ lại không ưa Hai Thành, mẫu người “hiển nhân, quân tử” cuối cùng còn sót lại. Cái người còn ráng ăn ở theo đúng sách thánh hiền. Cái người mà vào thời buổi nầy, vẫn còn tin tưởng vào ngũ thường: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín...
Nói nào ngay, Hai Thành cũng đâu có hủ nho tới mức hễ mở miệng ra là “Tử viết...”, là “sách có câu...”, là “chữ rằng...” đâu. Nhơn vô thập toàn, cậu ta chỉ có mỗi một tật rất lớn là không biết nói xạo, và cũng không giỏi dùng lời môi miếng, bải buôi.
Thời đó chưa có khoa tâm lý, cũng như chưa có mấy cái mục gỡ rối lòng thòng, tơ vò có lọn, nỗi lòng biết ngỏ cùng ai hay nhỏ to tâm sự gì hết ráo. Nhưng ai cũng biết: những hạng gái tài sắc, cá tánh mạnh, họ không ưa hạng đờn ông mực thước, thủ lễ mà họ cho là quân tử Tàu, là Lục Vân Tiên miệt vườn đó. Họ chẳng thà “tan nát đời bông với công tử bột”, còn hơn là an phận thủ thường với những hạng đờn ông chung thủy, củ mỉ cù mì mà họ chê là ông cụ non, là cù lần biển. “Kệ thây ổng! Ổng có phong lưu đàng điếm, nhậu nhẹt tối trời, tối đất, giang hồ lạc phách ở đâu không rõ, miễn khuất mắt thì thôi, về nhà không đẽo tiền vợ hay đánh đập con là được”. Cô Nhan vẫn thường lớn tiếng tuyên bố tiêu chuẩn chọn chồng của cô là như vậy. Đời sao mà rắc rối...
Nhà nào có đám tiệc giỗ quảy, tổ chức nhậu nhẹt linh đình. Nếu chịu khó quan sát cho kỹ đi thì sẽ thấy, không phải chỉ có mấy cái bàn nhậu đang “Dzô! Dzô.ô.ô...!” rổn rảng ở nhà trên là bốc trời, là rôm rả không thôi đâu. Mà ở nhà dưới, mấy bà, mấy cô, làm thôi không hở tay, miệng than xoành xoạch: “Mệt thấy cha”. Tuy rất mệt mỏi vì phải vất vả cung phụng, mà bổn thân thì không hề được nhắp giọt nước nếp nào, nhưng tâm trạng họ lại rất vui vẻ, long lanh mắt sáng, má ửng lửa lò, tía lia cái miệng, khác hẳn ngày thường. Làm như mấy mẹ cũng bị lây bởi cái không khí say sưa rôm rả, bốc trời ở nhà trên.
Mẹ nào cũng tưởng rằng họ vui vì chồng họ được lên chức, con cái họ đầy tháng, thôi nôi hay thi đậu, chớ họ có ngờ đâu: “Nhà trên dzô dzô, ê-cô[97] tới nhà dưới... nhà dưới cũng sướng lây!”. Là sao? Hổng... hiểu? Có lẽ chính các chất hóa học[98] trong người mấy gã bợm ở nhà trên, đang hưng phấn trừng lên quá cỡ, tỏa ra nồng nặc trong không khí, đã làm ảnh hưởng lây tới các chất hóc môn trong mình các bậc quần thoa nhà dưới khiến cho họ cũng dường như ngây ngất, say say. Có thiệt vậy không? Chất endorphin nào đó mà đến giờ phút nầy khoa học vẫn chưa tìm ra được. Đời sao mà rắc rối...
❃
Cái nết siêng năng cần kiệm của Hai Thành thì không ai sánh kịp. Lần đầu tiên lên Bến Tre, bận về, đường xa, nắng gắt, khát nước. Sẵn tiện đi ngang qua chợ, thấy cái chảo bán rẻ, cậu ta mua một cái, cột quai úp lên đầu, mua thêm mấy cây mía đường rồi cứ vậy mà lầm lũi lội bộ một hơi từ Bến Tre về tới nhà, hơn hai mươi tư cây số ngàn, băng qua sáu xã, đầu đội chảo, tay chống gậy mía - oai vệ, y chang như một Samurai chính hiệu Nhựt Bổn.Còn cái cách ăn mía của ảnh cũng không giống ai; vừa đi vừa nhai, xước mía ăn từ trên ngọn, ăn lần xuống tới dưới gốc. Ai cắc cớ hỏi thì ảnh cười, nói: “Trên ngọn, mía ít chữ đường nên lạt, ăn không đặng ngon, dễ ngán, nên phải ăn trước; lần hồi ăn xuống đến thân, đường nhiều, mía ngon hơn; đến khi xước xuống tới dưới gốc, mía ngọt gắt, ăn tới đó vãn tuồng là vừa, về tới nhà còn thèm”. Ấy là ảnh đã bắt chước theo Cố Khải Chi đời Tần.
Vậy mà khi về tới nhà, không như người ta, than mệt, đổ thừa đường xa, nghỉ ngơi cho khỏe một chút thì đứa nào dám phân bì. Ánh thản nhiên cởi áo máng lên nhánh ổi trước sân, hai tay hai thùng, lội xuống xẻo xách nước, dộng đầy tràn mấy cái lu trong nhà bếp; lại còn vác búa ra sân, cong lưng bửa cả thước củi gộc cho mấy bà mấy cô, chớ ít ỏi gì cho cam.
Chính vì cái tật làm ráng, không ai qua được của ảnh, đã làm cho chúng ghét, đám đầy tớ thường hay xầm xì: “của ông của cha gì mình mà mình phải nai lưng ra làm chớ”. Đơn giản, chỉ vì Hai Thành đã tìm được niềm vui trong công việc, ảnh vốn ghét cái sự ăn không ngồi rồi mà ảnh chê là “nhàn cư vi bất thiện”.
Ảnh học hành không biết mệt, làm lụng không hở tay, chẳng chịu ngồi không để trống chơn trống cẳng, cái nết tốt mà mấy nhà giàu có, căn cơ trong làng, muốn kén rể đông sàng vẫn thường nắc nỏm: “Cái thằng Thành nầy, nó mà không giàu có lớn thời thôi, chớ ông trời kia, dẫu ổng có ghét nó tới đâu, thì ổng cũng không có cách chi mà bắt nó phải nghèo cho đặng ”.
❃
Bà Ba Ngôi vốn có “biệt nhãn” với Hai Thành từ trước, trước cả cái tích “náo lôi đài” khiến cho danh tiếng của ảnh vụt nổi phình, rồi kế đến chuyện “nhất trạo diệt quần ma” ghe vải của bà ta, nhờ có bảo tiêu Hai Thành nên mới được toàn vẹn y nguyên thì bả lại càng thêm trọng vọng.Được một người tâm phúc như Hai Thành, bà Ba như người bắt được của. Tuy chưa đến nỗi “thượng mã đề kim, hạ mã đề ngân” hay “tam nhật tiểu yến, thất nhật đại yến” như Tào Tháo đối với Quan Vân Trường. Nhưng trong làng ai cũng biết, bả chỉ dành cho ảnh những công việc ngon lành, những chuyến “đối ngoại” quan trọng mà mấy đứa ở khác không đởm đương nổi.
Để chặn họng bóp hầu mấy đứa hay so đo phân bì, bà Ba thường hay nói trỏng: “Lựu lê khó kiếm chứ bưởi bòng thiếu chi”. Khiến cho mấy đứa kia không hiểu ý tứ gì hết ráo.
Nhưng bả cũng chớ có dại mà phân ảnh đi thâu lúa ruộng hay đòi tiền, xiết nợ ai hết, vì cầm chắc ảnh sẽ về tay không. Tánh ảnh vốn thương người, hễ nghe người ta than nghèo kể khổ, năn nỉ ỷ ôi một hồi là ảnh chịu không nổi, có bao nhiêu tiền trong túi cũng trút ra hết cho người ta.
Vậy đó, cái con người “nhơn chi sơ tính bổn thiện” đó, con người tốt bụng bẩm sinh đó, chẳng thà đi về tay không, chịu đòn, chịu mắng, chớ không thể hoạnh họe, làm hùm làm hổ, hay nạt nộ hầm hứ với ai được hết.
Người như vậy, lẽ ra được nhiều người thương mến, gạt ra còn không hết, chứ ai đâu nỡ ghét ảnh cho đành. Nhưng bởi cái tánh “trọng nghĩa, khinh tài” không chịu lòn cúi, bợ đỡ người quyền thế, ghét Tây tà, coi khinh làng lính, nên bị chúng ghét cũng hơi nhiều. Siêng năng mà ngay thẳng, nói oan dám cự, nói bậy dám cãi, không bao giờ “tưng bốc” chủ.
Bà chủ “dụng nhơn như dụng mộc”, lại có bụng lân tài, nên hễ những việc gì có chút mờ ám hay khuất lấp, bả đã không dám giao cho ảnh làm mà bả còn dặn đi dặn lại mấy đứa ở khác:
— Giấu kín đừng cho thằng Thành nó biết, sợ thằng nổi máu Lục Vân Tiên lên thì hư bột hư bánh ráo trọi.
❃
Cái người trí thức miệt vườn, lại giỏi trai đến độ các bậc cha mẹ có con gái lớn trong làng, ai cũng ngầm muốn “chấm”. Cho nên mỗi khi có đám tiệc, giỗ quảy, thảy đều giành nhau gấm ghé - thiếu điều đánh lộn.Hai Thành ăn nói trơn tru, ông già bà cả nghe thấy đều ưa. Còn đám đờn bà, con gái thì nghe mà phát... ghét. Chỉ có ông Khổng Tử với cụ Đồ Chiểu sống lại thì mới khen ảnh mà thôi, chớ còn đám đờn bà, con gái, ai mà chịu nổi cái anh chàng “Hán rộng, Nho thâm” nầy chớ! Vì ảnh không nói thời thôi, hễ nói ra mười câu, thì hết chín câu là những lời đạo lý thánh hiền không hà! Chịu đời nổi không? Bởi vậy, tuổi đời đã trông cải rồi, mà vẫn còn phòng không chiếc bóng. Vậy mới đáng đời!
Ối thôi! Đờn bà, con gái, vốn là rắc rối tổ mẹ! Hổng biết sau nầy, có cô nào mà mê nổi cái anh chàng “Quân Tử” gần đạt chuẩn Lục Vân Tiên miệt vườn đó không? Chính xác là chữ quân tử có gạch đít, viết hoa, để ở giữa hai cái ngoặc kép đậm lè, nhớ đừng có lộn với chữ “công tử” à nghen!
Để rồi coi! Nội trong Nam Kỳ lục tỉnh của mình..., đờn bà, con gái cũng phải có người vầy người khác, chớ bộ!
Chim quyên hút mật bông quỳ,
Nam Kỳ lục tỉnh, thiếu gì gái khôn.
Chú thích:
[94] Người chèo thuyền, còn gọi là bạn chèo
[95]Tiếng Hán Việt gọi là cái chèo
[96] Nguyên là hai câu liễn đối chữ Nho, vào dịp Tết thường được dán trước cửa các nhà xưa ở Nam bộ: Thiên tăng tuế nguyệt, nhân tăng thọ./ Xuân mãn càn khôn, phúc mãn đường. Nghĩa là: Trời thêm năm tháng, người thêm thọ/ Xuân khắp đất trời, phúc đầy nhà
[97]echo là vang, tiếng vang, vọng lại, đọc là ê-cô
[98]Adrenaline