THẦN GIAO CÁCH CẢM
Trên cái sân lót gạch tàu rộng minh mông, xéo bên hông nhà, có một trang thanh niên đang ở trần trùi trụi. Chàng ta chỉ mặc một cái quần lửng lá nem, dây lưng rút, màu hơi nhục nhục. Sáng nay, trời lạnh dẩu[99] ,mà dám ở trần ra sân tập một mình, ắt phải là người siêng dẩu.
Xoạc cẳng, rùng mình xuống trung bình tấn, dang rộng hai bàn chân ngang với tầm vai, chàng ta mải miết kéo đơn. Mỗi lần thổ nạp, múi ngực nổi vồng, hai bắp thịt nách bành ra như con rắn hổ mang bành, cái bụng thót lại gọn hơ như bụng con nhái bén, hót ra hót vô, lộ rõ sáu lọn cơ bụng. Khí thở ra đường miệng ồ ồ tợ như thợ rèn thụt ống. Một lúc sau, những giọt mồ hôi lấm tấm như hột đậu bắt đầu xuất hiện, ngưng tụ thành dòng rồi chảy ròng ròng trên tấm thân màu nâu đồng vạm vỡ.
Quyên, tay cầm cái ky hốt rác, nách kẹp cây chổi chà, xám xúi băng qua cái sân rộng để vào nhà bếp. Chợt ngước trực lên, đụng đầu chàng trai đó, nó đỏ bừng mặt bẽn lẽn thối lui. Dòm trước ngó sau không thấy ai, Quyên liệng phạch ky, chổi xuống đất rồi tót ngay vô bụi rậm, náu mình sau hai hàng bông bụp.
Trời đang vào tiết lập đông, trong vườn tuy đứng gió và đã núp vô chỗ kín đáo nhưng cái lạnh cũng đủ làm cho hai hàm răng con Quyên va vào nhau cầm cập. Hơi nóng từ tấm thân cường tráng bốc ra, vần vũ tụ lại đặc quánh xung quanh cơ thể chàng trai một lúc rồi mới bốc lên không trung ngùn ngụt, giống như cắc chú giở xửng hấp bánh bao vậy. Qua kẽ hở giữa hàng rào bông bụp, cặp mắt đen láy ánh lên một nét tò mò, tinh nghịch. Quyên thấy cách kéo đơn này quen quen nên nó lỏ con mắt ra dòm chăm chú.
Mùa hè cho chí mùa đông, muốn tập cho đúng phép, người tập bắt buộc phải ở trần (để ông thầy quan sát cho dễ). Hễ đứa nào làm biếng, kéo hụ hợ lấy lệ, mồ hôi không đổ, bắp thịt không chuyển, hoặc chuyển sai, dòm là biết ngay. Ông thầy khó tánh, sẵn roi trâm bầu chưa róc gai trong tay, ổng quất cho té đái.
Thì ra phương pháp kéo đơn kiêm thổ nạp này, ông Tư đã truyền dạy cho tụi nhỏ từ lâu, Quyên theo cha học được mấy năm. Có khiếu lại sáng dạ, nó học tấn tới lắm (con gái khỏi cởi trần, chỉ bắt thằng Lực ở trần thôi). Nhưng sau đó, bà Tư lấy cớ là con gái thì phải để cho bà dạy, bà cương quyết không cho nó học nữa, vì theo bà, kéo đơn thì vai ngang, chơn tay ô dề, mình mẩy kịch cợm.
Cũng vì chuyện nầy mà tía má nó giận nhau, ngủ riêng cả tháng. Cuối cùng, phần thắng thuộc về người mẹ biết giữ gìn nhan sắc cho con gái. Đuối lý, ông Tư đành phải chịu thua, tuy trong bụng cứ ấm ức hoài. Ông vẫn còn thằng Lực để an ủi đó chi.
Chàng thanh niên lại vác ra một thanh côn sắt, liệng cái “cạnh” xuống mặt sân gạch. Cây côn vừa nầy tung lên, chàng đã khéo léo dùng mu bàn chưn móc cây côn bay vút lên cao rồi lẹ làng chụp lấy gốc côn bằng chỉ một tay. Hự một tiếng, xuống tấn, vận nội công, chàng run run cố ngửng đầu cây côn sắt nặng trịch lên. Ánh nắng ban mai chiếu xuyên qua kẽ lá, sáng lấp lánh trên từng múi ngực, múi bụng, nổi vồng cuồn cuộn, láng lẩy như có thoa dầu dừa.
Lúc mới nhập môn, người tập chỉ được phép nắm gần khúc giữa thiết côn, vận công ngửng đầu cây côn sắt lên cao. Lâu ngày, nội lực tăng tiến thì cái điểm nắm mới dời lần về phía gốc. Cứ cách vài năm, phải thay cây côn khác nặng hơn và dài hơn. Vào thời điểm đó, chỉ với một tay, chàng thanh niên nầy đã có thể giở cây chèo đôi khổng lồ một cách dễ dàng, rồi múa một bài côn mãn thiên hoa vũ.
Sau cùng, để chấm dứt phần luyện công, chàng trai xuống tấn vận nội công, nắm lấy hai phần côn, kê đầu gối hét lên một tiếng lớn, uốn cây côn sắt cong vòng. Đã xong đâu, chàng còn phải kê ngực trần để nắn cho cây côn sắt đang cong, trở lại thẳng băng như cũ.
Không uổng công cho chàng ngày đêm chuyên cần luyện tập, lẩn đó có gánh Sơn Đông mãi võ xuống bán thuốc ở chợ Sơn Đốc. Thì cũng những màn quen thuộc cũ xì, lặp đi lặp lại hoài như: vận nội công nằm trên bàn chông, kê một chông gạch lên bụng rồi sai hai đệ tử lấy búa tài sồi đập bể tan tành. Kế đó đứng tấn, hứng chịu mũi thương nhọn hoắc kê vô chính giữa yết hầu, hai tên đệ tử phải hò nhau, lấy hết sức đâm mạnh đến nỗi cái cán thương cong oằn.
Sau rốt, ông Tàu Sơn Đông bán thuốc chuyển qua màn vận công đứng tấn, hét lên một tiếng “tả lớ” rồi đập mạnh thanh sắt nặng trịch vào ngực nghe một cái “chát”, thanh sắt cong vòng. Quen thói khinh thị người An Nam, y liệng thanh sắt xuống đất nghe cái “koong” rồi tuyên bố, ai mà uốn thanh sắt thẳng băng lại được như cũ, y sẽ đội lên đầu làm sư phụ, còn như ai mà đẩy cho y té ngửa được thì y sẽ lòn trôn giữa chợ.
Để tăng thêm phần long trọng, mỗi bận sư phụ ngừng nói để lấy hơi, thì hai tên đệ tử lại chấm câu bằng những tiếng: “Hầy! Tả lớ!” rồi dang thẳng cánh tay, đứa gõ phèng la, thằng khua chập chõa, lùng tùng xòa, lùng tùng xèng inh ỏi muốn điếc cái lỗ nhĩ.
Mấy ngày đầu, cả chợ ai nấy xếp re, khiến cho y càng thêm lên mặt, nhơn nhơn tự đắc. Đến ngày thứ ba, mới có một cậu nhỏ bước ra, bộ vó lóm thóm như học trò trốn học đi coi Sơn Đông. Cậu ta lỏn lẻn lại gần, cúi xuống lượm thanh sắt, kê lên ngực, gồng mình nắn mạnh một cái, thanh sắt ngay trân như cũ. Ông Tàu già xám mặt, nhưng lời hứa đã trót thả ra, có bắt mà nhốt lại được đâu. Hơn nữa, lời hứa giữa chợ, thì nuốt sao trôi. Thiệt! Đúng là: “Quân tử nhứt ngôn là quân tử dại, quân tử nói đi nói lại mới là quân tử khôn”. Biết ăn nói làm sao đây? Chỉ còn hy vọng gỡ gạc ở màn sau, tức là màn “xuống tấn chịu xô”.
Sau một hồi phèn la, chập chõa vang lên như thúc giục. Cậu nhỏ bộ vó học trò lẳng lặng bước lại gần, thử vận công xô nhẹ một cái. Lão Sơn Đông tái mặt, tuy chưa té ngửa nhưng hai bàn chưn ông cũng đã dịch chuyển ra sau vài tấc. Chú nhỏ mỉm cười, lấy kheo chân móc lại rồi tràn mình, nghiêng vai lấn tới một phát, giống như con nít chen lấn khi xem hát bội. Lão Tàu già chỏng gọng không cách chi gượng được.
Tội nghiệp thay cho ông già Tàu, khởi đi từ quê hương Sơn Đông Trực Lệ, trải qua bốn biển năm non mới tới Việt Nam, rồi dong ruổi từ Bắc chí Nam, bôn tẩu giang hổ, biết mấy là sóng to gió lớn, chưa một lần nếm mùi thất bại. Để rồi giờ đây, anh hùng lâm nạn, chết chìm trong cái ao bèo cạn xợt, nơi xó chợ quê An Nam heo hút nầy. Thiệt! Đúng như là:
Giang hồ bốn biển năm châu,
Lại nhè sụp lỗ chân trâu, chết chìm.
Đã chuẩn bị cúi mọp xuống đất, để bắt chước Hàn Tín lòn trôn giữa chợ Hoài Âm thuở xưa, thì chàng thanh niên Việt Nam kia đã cúi xuống, ân cần đỡ ông đứng dậy, lắc đầu, xua tay, ý muốn nói có ai cần như vậy đâu.
❃
Xong phần luyện công, chàng thanh niên xả tấn, buông thõng hai tay bên hông, mắt vẫn nhìn thẳng. Thình lình va rùn mình bái tổ, rồi xoay người bỏ bộ đi bài quyền, hơi gió phát ra khắp cả Nam Bắc Tây Đông, nghe vù vù, vụt vụt tựa như có mấy cái xa quạt lúa đang hè nhau mà quạt.
Trong nghề võ, tối kỵ nhứt là dòm lén môn phái khác luyện võ, lỡ có vô tình ngó thấy người ta đang luyện thì mình phải lật đật bịt mắt, bưng tai, bỏ đi chỗ khác một hơi cho thiệt lẹ. Người ta mà phát giác ra được, người ta đánh cho bỏ mạng, khỏi kêu ai, vì không ai binh mình hết.
Thiệt! Hết chỗ nói cho cái con nhỏ Quyên nầy rồi. Thấy anh Hai hiền, chắc dễ ăn hiếp, nếu có bắt được thì ảnh cũng chỉ cú đầu cái cốc hoặc nhéo lỗ mũi, rồi cười xòa bỏ qua. Lại thêm cái tật thày lay, tò mò cố hữu của con gái mới lớn, nên con Quyên mới cúi rạp mình sau hàng rào bông bụp, vén một lỗ nhỏ chỉ vừa hai con mắt đen nháy ngó ra, ngồi im re châm bẩm anh Hai. Nhờ vậy mà nó thấy bài quyền nầy cũng hơi ngờ ngợ...
Con Quyên vừa theo dõi, vừa lẩm bẩm đọc thiệu:
— Ngọc Trản ngân đài, tả, hữu, tấn khai, loạn dực, song phi, hoành tả, tạ. Ủa! Đáng lẽ ở đây phải tạ một cái rồi mới đi tiếp, không hiểu sao anh Hai lại đi lướt nhanh qua như vậy. Hổng lẽ ở đây người ta đi bài Ngọc Trản khác hơn ở chỗ của mình.
Lát sau, anh Hai chuyển qua đi bài khác, nó lại bực tức la lên (nho nhỏ thôi):
— Trực tiền vọng bái Lão Mai ông, tấn, đả, tam chiến, thối, tạ, phòng, thủ. Chuyển dực, song phi, lai phụng tấn. Trời đất! Bài Lão Mai nầy, ở đây đi hơi lạ à nghen! Hoành lai, loạn đả, tạ thiên không. Thiệt! Không đúng bài bản chút nào hết. Cha nội nầy chắc dễ dụ khị lắm đây, tham đòn là chết, chết như chơi...
Dòm đà mãn nhãn, rồi không sao dằn được, Quyên phải thổn hết mấy ngón tay vô họng (để khỏi phải lớn tiếng chê bai) vì nó thấy cách phân thế nầy cũng có gì đó hơi so le, không đúng với những gì mà ông Tư đã truyền dạy cho tụi nó năm xưa:
— Còn nữa! Ông nội ơi! “Đồng tử bái Quan Âm” chuyển qua “Triệu Tử bồng Á Đẩu”, thì ông làm ơn ông khép cái nách thiệt khít lại cho tui, giống hệt như bà mụ bổng đứa con nít nhỏ bằng một tay vậy đó. Bóng kiểu ông thì thằng Á Đẩu té lòi bản họng rồi còn gì, nó là đứa con nít mới đẻ mờ. Phải ráng kẹp thiệt chặt cây roi của địch thủ vô nách của ông đó, thì tả chưởng mới thuận đà đánh róc mía lên càm địch thủ được. Muốn tránh được đòn nầy, thì nó phải thí cây roi, ngã ngửa ra đằng sau, gọn hơ cái một. Vậy chớ cũng phải coi chừng, cây roi dài thượt mà kẹp không chắc, nó giựt ra được, nó “khỏ” cho lỗ mũi ăn trẩu, cái đầu bịt khăn đóng trắng, chớ phải giỡn chơi đâu, đừng có dễ ngươi, cẳng trước mà tấn không vững hả, nó móc chưn một cái thì ông “xụm bà chè” liền! Chớ không à? Còn cái mông đít xế xệ như vầy, để “bẹo” cho chúng đá hả? Trời ơi! Còn hữu trảo kia nữa chớ! Ngộ chưa!? Sao tui thấy giống “tay cùi móc xơ mít” quá. Thiệt tình mà nói! Múa may huê dạng như vầy, ai khen là đệ tử chơn truyền, học trò nòi của thầy Bộ Dực chớ! Sao tui thấy “ẹ” quá!!!
Con Quyên vô tình đã thì thầm lặp lại, y chang những lời mà ông Tư vẫn thường dữ dội rầy la tụi nhỏ, mỗi lần ông tập võ cho chị em tụi nó năm xưa.
Thiệt! Hết chỗ nói cái con nhỏ Quyên tài khôn tài khéo nầy rồi. Nó đã không hay, không biết gì đến cái tích “Náo lôi đài”, còn cái chuyện “Nhất trạo diệt quần ma” thì mải lúc thúc ở nhà, nó lại càng không biết nữa. Bởi vậy mới nói, điếc không sợ súng, lại nhè trang nam nhi, võ nghệ đệ nhứt cù lao Bảo, mà con nhỏ tài lanh nầy, nó chê thôi trấm trơ trấm trất, hổng có ghe tàu nào mà chở cho hết nữa.[100]
Chê vậy chớ! Biết có phải thiệt vậy không đó cô? Con gái mới lớn mà...
Thiệt tình mà nói, trong số mấy chục thanh niên trai tráng, tôi tớ trong điền bà Ba, còn như nếu tính thêm cả số lực điền khác vẫn thường tề tựu đông đủ về đây vào những đêm trăng thanh, gió mát, để vừa xe trâu, đạp lúa, vừa hát hò đối đáp với nhau thì con số phải ngót nghét gần trăm đực rựa. Lạ làm sao! Quyên ta chỉ ghé mắt tới một người. Không phải vì anh ta có chữ nghĩa, ăn ở theo sách thánh hiền, tánh tình hào hiệp, hay tế khổn phò nguy, mà vì ở anh ta có cái gì đó đã làm cho nó nhớ tới vong linh ông già tía nó.
Càng nhìn lâu, Quyên càng thấy anh Hai giống ông Tư quá chừng. Cũng mặt vuông, tai lớn, cũng vầng trán rộng mênh mông, cũng cặp mắt sáng ngời, chơn mày rậm đen, nhơn trung sâu nhân hậu, cũng nụ cười hiền hiển, luôn luôn rộng mở.
❃
Từ ngày đó trở về sau, trong cái nhà nầy, không biết có ai đó đã dậy sớm bửng, từ lúc gà trong xóm còn chưa gáy hiệp một, chuông chùa chưa dộng công phu, chính xác còn hơn cái đồng hồ ré. Không kể tới trời mưa, không ngại gì trời gió, không kịp cả rửa mặt chải đầu, từng nhát chổi quét lá đã xao xác cất lên suốt mảnh sân rộng lót gạch tàu.Còng lưng mà quét, vừa quét vừa ngủ gục. Ai hơi đâu mà công uổng, công thừa dữ vậy cà? Mà quét mần chi cái sân phơi lúa đó, vì mạ non vừa mới sạ, còn lâu mới tới mùa có lúa đem phơi.
Anh Hai dường như cũng không hề thắc mắc, tại làm sao mà sáng nào anh ra sân tập, thì cái sân rộng rinh như cái sân đình đó, đã được quét sạch bon, sạch li sạch lai luôn. Cho tới một hôm, ảnh dậy sớm hơn thường lệ, rình rình nhón gót đi ra từ phía sau, nhẹ nhàng vỗ vào vai cái bóng đen bé nhỏ còn đương lui cui, hì hụi:
— Vậy ra hồi nẳm tới giờ, em Hai quét sân cho qua tập võ đó hả?
Thiệt... tình! Mắc cỡ muốn chết, “độn thổ” được, chắc cái bóng đen cô nhỏ đó cũng “độn” phứt cho rồi. Quăng chổi chạy mất, năm đó con Quyên vừa tròn mười bảy tuổi.
*
Buổi trưa nắng, bên hiên vắng, bầy sẻ non lích rích tìm mồi, lâu lâu bị động, bay vù lên mái ngói xanh rêu, để rớt lại những âm thanh ríu rít. Hàng cau đứng im phăng phắt, phơi mình ra dưới nắng ban trưa, tỏa hương thoang thoảng. Có tiếng gù gù rời rạc của con cu cườm, từ phía xa xôi nhà ai vẳng lại.Cửa sổ nhà bếp mở toang ra dưới tàng lá nhàu xum xuê, xanh mướt. Nắng trưa lọc qua táng lá nhàu láng lẫy, tạo thành một thứ ánh sáng xanh mát dịu, màu ngọc bích, phủ trùm lên cái sàn nước lót đá ong ẩm ướt. Có hai cô gái nhỏ đang lui cui múc nước gội đầu.
Quyên điệu đàng nghiêng đầu vén mớ tóc dài chấm gót, vắt gọn ra đằng trước. Tóc tơ trên gáy phô ra, hai vành tai như hai cái vỏ sò trắng hồng nhỏ nhắn. Suối tóc mun đen, mướt rượt, chảy tràn ra cả hai bờ vai, làm nổi bật làn da trắng mịn. Hai tay cô để lên đầu, các ngón tay quào từ từ, sột sột. Hai cô gái vừa gội đầu vừa thì thầm trò chuyện...
Con Thôi múc từng gáo nước mưa mát lạnh dội từ từ lên tóc Quyên, vừa dội đều tay nó vừa lom lom dòm đôi gò má mịn màng, rồi tấm tắc, trầm trồ:
— Chị nầy có nước da trắng nõn, hồi nào tới giờ nghe người ta ví da trắng như bông bưởi mà em đâu có tin, bữa nay mới biết. Thiệt! Nói không phải khen chớ, em là con gái mà ngó thấy còn muốn hun, muốn... nhéo, huống chi là đờn ông, con trai.
Cái con Thôi nghĩ sao nói vậy nầy, đố ai bụm miệng nó cho kịp. Cái cô Quyên da trắng tóc dài ngày nay, thật khác xa với đứa con gái nhỏ cô khổ lênh đênh ngày nào, lóng mới trôi dạt từ trên miệt rừng xuống. Và nàng Quyên yểu điệu thục nữ hiện giờ, cũng thiệt khác xa với nhỏ Quyên lì lợm thường ngày, đánh chết cũng không thèm khóc.
Mồ côi mồ cút, làm lụng cực khổ không hở tay, ăn uống cơm thừa, canh cặn, kham khổ, thiếu thốn đủ điều. Vậy mà đóa hoa đồng nội kia vẫn hồn nhiên nở vụt từng ngày, lổ lộ chẳng chút phấn son. Nụ cười tươi tắn, mấy năm qua tưởng đã đi đâu mất, giờ đây nó đã len lén trở về, đậu lại thường xuyên trên môi thiếu nữ.
Quyên ta có lẽ đã thừa hưởng được cái khí chất cương cường từ người cha, và lãnh trọn cái gia tài nhan sắc, di truyền từ người mẹ. Ở chưa giáp năm mà nó đã “hạp” cơm chủ rồi.
Trong nhà nầy, trừ con Thôi ra, không ai biết gì đến cái quá khứ đau thương, đầy oan khốc của nó.
❃
Rồi khi khổng khi không, nhỏ Quyên đột ngột ngửng đầu lên. Con Thôi sơ ý vẫn tiếp tục dội, gáo nước tràn xuống hai bên bờ vai, làm ướt đẫm một phần ngực áo, nhưng Quyên cũng không thèm để ý. Con Thôi hết hồn ngừng tay, cái gáo nước khựng lại, nước mưa sóng sánh tràn ra ngoài. Nó lỏ hai con mắt ra, sững sờ nhìn Quyên chăm chú. Làn da trắng mịn màn bỗng rựng lên, đỏ hồng, đỏ ửng, đỏ từ từ như con tép bạc nhúng vô cái cù lao lửa 274 đang sôi. Bắt đầu từ hai gò má, rồi lan tỏa ra khắp cả châu thân, đỏ từ chân tóc đỏ đi, đỏ rừng rực đến tận cùng gót chân cũng đỏ. Môi Quyên se lại, trán rịn mồ hôi, hơi thở của cô cũng mạnh và sâu hơn, cặp mắt sáng trưng, hai cánh mũi phập phồng như con thú nhỏ đánh hơi. Cô chồm hẳn về phía trước, căng cứng người lên, niềng đầu nghe ngóng. Ngoài bến sông, gió trận rì rầm từ bên kia sông kéo tới hòa lẫn với tiếng nước vỗ lách chách nhè nhẹ dưới chân cầu.Bỗng đâu, theo làn gió trưa đưa đến, văng vẳng có tiếng dầm khua nước lao xao, chẳng mấy chốc đã nghe rõ tiếng xuồng lục đục cặp bến trước nhà. Tiếng con mực quắn lên sủa mừng, tiếng gác chèo, tiếng dây lòi tói cột ghe loảng xoảng hòa lẫn với tiếng cười nói trầm ấm của ai đó theo làn gió sông đưa lên. Tiếng cười nghe sao mà ấm áp gì đâu á! Anh Hai đi Bến Tre kỳ nầy hơi lâu à nghen, cả tháng luôn, vừa về cặp bến tức thời...
Con Quyên từ từ dãn người ra, trở lại trạng thái bình thường như cũ. Nó đã lấy lại được vẻ mặt vui vẻ tươi chong, chú ý lóng nghe, chăm chú thưởng thức, cái thứ tiếng hát ru em nhừa nhựa, ầu ơ ví dầu, buồn ơi là buồn của ai đó bên hiên hàng xóm vẳng qua, mà tưởng chừng như đương ở một nơi nào đó xa lơ, xa lắc...
Ầu ơ... vắng cơm bảy bữa không phiền,
Chớ vắng anh một bữa, à... ầu ơ...
Vắng anh một bữa, đau liền tương... tư.
Chú thích:
[99]Lạnh lắm
[100] Trong “Thiên long bát bộ” của Kim Dung, nhân vật chính là Vương Ngữ Yên. Tuy không có miếng võ lận lưng nhưng đầy óc ách một bụng lý thuyết võ học. Nhờ vậy mà nàng ta mới có dịp đè đầu , cỡi cổ Vương tử Đoàn Dự, biến chàng ta thành một con ngựa hai chân, cõng nàng chạy nhong nhong. Loạn xạ trong đám quần ma, ba mươi sáu động, bảy mươi hai đảo.
[101] Thợ hớt tóc