LẤY CHỒNG XA XỨ
Sau chuyến phiêu lưu gạo chợ nước sông, tình ái bình bồng đó. Trở về với cái mình không, Ba Kim Thoa chịu khó tu tỉnh được một thời gian. Qua năm sau, có người làm mai cô cho trưởng nam của một ông điền chủ, ở đâu đó sâu tuốt trong ngọn Cái Da. Bà Ba đốc gả, bả nói:
— Con Ba nhà mình, coi như đã có một đời chồng rồi. Nó trốn nhà đi theo ghe hát, người tử tế không ai dám rớ. Nội trong cái làng của mình đây, ai đâu mà dám cầm trầu cau đi hỏi cưới nó nữa chớ. Đám nầy ở xa, họ không biết chi ráo, hối họ cưới gấp. Chừng rước dâu về, gạo nấu thành cơm rồi, thì còn nói đi nói lại gì được nữa. Ông bà Cả Nhứt, nhà cửa thiệt là rân rát, lúa ruộng thâu vô mỗi năm cả trăm cả thiên, cũng đáng mặt chủ điền lắm chớ.
Trong gia tộc, ai cũng đốc vô, chín người mười ý, nhưng tựu chung ai cũng muốn gả tống, gả tháo cô phứt cho rồi. Nhưng mạnh nhứt vẫn là bà Ba, bả thường lấy giọng ngọt ngào, thẻ thọt, nhưng oai quyền:
— Con Ba, tuy nó là con của anh chị, chớ nó cũng là cháu ruột của tui. Tui hổng có con gái nên tui cưng nó còn hơn con trai của tui nữa. Con gái có thì, phải nơi phải chỗ thì gả phứt nó đi cho rồi.
Tuy bà không nói ra nhưng ai cũng biết, bà đương vận động nhờ ông cả Nhứt - là chỗ sui gia tương lai với ông Hương - tửng rẻ cho bà mấy sở đất ruộng mới khẩn ở đầu ngọn Cái Da.
Cô Ba Kim Thoa, tuy cũng “nôn” trong bụng, cũng muốn nhơn cơ hội nầy mà “tùng” quách theo cái câu: “cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó”, đặng báo hiếu phứt cho rồi. Nhưng ngoài mặt cô vẫn làm màu chín hấu mại hơi, ra dáng yểu điệu thục nữ, cô trề, cô nhún, ngúng nguẩy còn hơn con gái mười bảy hổng chịu lấy chồng.
Bên nhà ông Hương còn đương dục dặc, chưa kịp trả lời trả vốn, mà phía bên ông bà Cả Nhứt cũng chưa cậy người đi qua bỏ trầu cau, làm lễ sơ vấn gì ráo, nhưng hổng hiểu sao trong nhà chưa tỏ, mà ngoài ngõ đã tường. Bốn bên hàng xóm láng giềng, đã có mấy chị đờn bà hiếu sự, giữa trưa mượn cớ nằm võng ru con, kẽo cà kẽo kẹt mà hát đẩy, hát đưa:
Ầu ơ... Má ơi đừng gả con xa,
Chim kêu vượn hú, biết nhà má đâu... à... ầu ơ...
Hoặc đôi khi, tỏ vẻ cảm thông rất ư là sâu sắc:
Ầu ơ... Trách mẹ trách cha (chớ) qua không trách bậu,
Cha mẹ bậu tham giàu, gả bậu đi xa... à... ầu ơ...
Họ còn đồ đi đồ lại, bằng cái giọng ngả ngớn, châm chọc:
Ẩu ơ... Tiếng đồn phụ mẫu em... hiền.
Cắn cơm không bể, (chớ) cắn tiền... bể hai... à... ầu... ơ... ơ...
Có tịch thì rục rịch, cô Ba Kim Thoa mới nổi khùng cổ lên. Chụp lấy đứa cháu, cổ đùng đùng thót lên võng ngồi lắc, mặc cho thằng nhỏ mới vừa ngủ dậy, lắc đầu nguẩy nguậy, ưỡn mình, nầy ngược, nầy xuôi.
Hì hụi huơ chân, chỏi cẳng, cổ đạp mạnh vô vách, cái võng bay lên, bay xuống vù vù, vụt vụt. Đứa cháu bật ngửa, thất kinh hồn vía, níu cô chặt cứng, xanh mặt nín khe. Chân đạp võng, miệng cô ong óng hát trả lại bốn bên hàng xóm:
“Ầu ơ... Một liều, ba bảy (tao) cũng liều,
Cầm bằng như trẻ chơi diều, (mà)... đứt dây”
Cô tính rồi, nếu như "đối đế", ông bà Hương Sư mà “gả đại”, thì cô cũng “lấy đại” cho xong. Thử coi ai hư cho biết?
❊
Đêm nhóm họ để rạng sáng ngày mai đưa dâu, ông Hương lùa cả nhà lên nhà trên. Ông đốt nắm nhang trình trước bàn thờ gia tiên, khấn khứa xin phép ông bà, để làm lễ xuất giá cho con gái.Bó nhang chưa kịp bén lửa thì bà Hương đã khóc òa, bà không muốn gả con gái của mình về chốn khỉ ho cò gáy, xa mút tí tè đó chút nào. Hồi nhà trai mới qua coi mắt, bà không nói gì, rồi đám hỏi bà cũng chẳng nói chi, để đến bây giờ thì bà khóc... Bà không dám ra mặt kình chống lại bà Ba, nhưng mà bà khóc như mưa như gió, tiếng khóc dồn nén bấy lâu, nay mới chịu bựt ra, bà cứ vật vã lập đi lập lại hoài:
— Con của mình mà quyền của bả! Con mình đẻ, mình nuôi từ nhỏ tới lớn, mà mình cũng không có quyền gả nó theo ý của mình nữa...
Mấy bà dì, bà cô ở nhà dưới, nghe chộn rộn chạy lên, trên tay còn dính theo đôi đũa đầy mỡ, thấy vậy cũng mắc khóc theo, nước mắt nước mũi choàm ngoàm. Thành ra cả nhà, như có đám ma, ai nấy cũng đều khóc hết, khóc ồ ồ, khóc như tới giờ di quan.
Tới chừng dòm lại, ai nấy thảy đều chưng hửng, sững sờ khi thấy cô dâu mặt mày lạnh ngắt lạnh tanh, hai con mắt ráo hoảnh, không thèm nhỉ ra một giọt nước mắt:
— Mắc gì mà khóc chớ! Đi lấy chồng mà mấy người làm như đi cống Hồ, cống Phiên không bằng.
❊
Xuất giá chưa đầy năm, đã thấy cô xách gói trở về. Ai có hỏi, thì cô nói cô nhớ mẹ nhớ cha nên về thăm nhà ít bữa. Chừng vài chục cái “ít bữa” nó gộp lại thành cái nửa năm, mà sao vẫn chưa thấy thằng chồng dưới ngọn Cái Da, làm Tiết Đinh San, tam bộ nhất bái lên tầm. Kịp đến khi gần Tết, có người quen ở ngoài ngọn Cái Da về chơi, hỏi ra thì mới vỡ lẽ.Té ra, đàng gái của mình nửa cân thì bên đàng trai người ta cũng tròn trèm tám lạng. Kẻ mạt cưa gặp người mướp đắng. Bà mai nhẹ nhàng khen chú rể thiệt thà, không biết bãi buôi như người ta, đến chừng về nhà chồng rồi, cô mới ngã ngửa ra là thằng chồng khật khùng, vẹo hết chỗ nói, chớ thiệt thà cái giống gì.
Còn như bào chuốt, nói tốt lớp rằng chú rể “chưa có chỗ đứng” vững vàng trong thiên hạ thì ý không phải nhún nhường rằng chú rể chưa có địa vị xứng đáng, mà thực ra là cố tình muốn che giấu cái tật lâu lâu lại đi cà nhót, một chân chấm, một chân phẩy của thằng chả.
So ra ai đã kém ai,
Kẻ kia tám lạng, người nầy nửa cân.
Thiệt tình! Tránh ô mồ, đụng nhầm ô mả, tránh vỏ dừa, đạp trúng vỏ dưa, tin lời bà mai thì trào máu có ngày.
Nhưng trong cái rủi cũng có cái may, chú rể không hề thắc mắc chuyện cô dâu không còn y nguyên con gái. Có được thằng chồng khờ, nghĩ cũng sướng thiệt, đúng y chang với câu: “củi khô dễ nấu, chồng xấu dễ xài”. Không những dễ xài mà còn dễ sai, dễ bảo nữa. Cô có nói hươu nói vượn, nói dơi nói chuột gì, thì thằng chả cũng nhắm mắt gật đầu, tin theo “sái cổ” mà làm theo cái rụp.
Thằng đờn ông con trai thứ thiệt, cho dù có thiệt thà ít oi thế mấy đi nữa, thì ba cái chuyện vợ chồng, trai gái là chuyện ông trời ổng sanh ra, thì không cần ai dạy, tự nhiên cũng phải biết chớ. Thiệt té ngửa cũng không hết hỗn bằng.
Đêm động phòng hoa chúc, bên ngoài trời nóng hầm hì, báo hiệu một cơn giông sắp tới. Trong chốn loan phòng, họ vần nhau suốt đêm, chồng gì mà sượng cứng, sượng trân hà. Cô có ra lịnh, có hò hét, có chỉ huy, dạy biểu thằng chả - chưn tay phải để làm sao cho phải chỗ, nhong nhong thế nào cho đúng nhịp - thời thằng chả tuân theo răm rắp mà lọng cọng thì vẫn cứ lọng cọng...
Cô vần cái đống thịt đó như vần bao gạo chỉ xanh cho đến tận lúc rạng đông; mồ hôi, mồ kê nhễ nhại, nhỏ giọt, rớt đồm độp, đọng thành vũng trên mặt chiếu hoa - đôi chiếu mà bà mẹ chồng phải năn nỉ nhờ một cặp vợ chồng đứng tuổi “song toàn”, con cháu “đề huề” nhứt trong làng, mỗi người phụ vịn một tay, trải lên giường cưới để... lấy hên.
Sáng ra, nhờ cái bản mặt ngỏn ngoẻn hài lòng của thằng chả, mới qua mặt được sự “săm soi”, của bà mẹ chồng quạu đeo cùng với những ánh mắt “xéo xắt” của đám em chồng quỷ quái...
❊
Quê chồng cô là miệt rẫy, ở xa thiệt là xa, sâu mút cà tha, trong ngọn Cái Da, đường sông nó lại quanh co như cửu khúc, trường xà. Chèo ghe mê mỏi cả buổi trời mới ra tới chợ, mà là chợ làng, chợ xã chớ chưa được chợ tổng, chợ huyện nữa. Vợ chồng son còn chưa quen hơi, bén tiếng thì cái buồn ở đâu đã ập tới rồi.Gái chợ về đồng, mấy tháng đầu sao khỏi buồn khỏi nhớ. Cô nhớ tới những buổi chợ nơi quê cũ làng xưa, lóng còn son rỗi, mình mặc áo bà ba lụa lèo, cổ đeo kiềng vàng, tay ôm rổ đánh đồng xa đi chợ. Cô nhớ nhứt những đêm gánh hát dọn về, mới ba giờ chiều, mặt trời chưa chếch bóng, đã nghe tiếng trống thì thùng xen lẫn với tiếng phèng la của xe rao bảng, vang lên inh ỏi rộn ràng. Nó như thúc giục mấy cô hối hả, mau mau vo gạo nấu cơm, rồi thậm thà thậm thụt qua nhà hàng xóm, hẹn giờ nào thì hú nhau đi, có đi thì bận đổ gì.
Cô nhớ tới những trưa rảnh rang, bắt chước đám đờn ông con trai, cô hiệp cùng các cô út trong chợ, nào là: út Nhứt, út Nhì, út Dứt, út Dư, út Mót, út Moi, út Rớt, út Rơi nấu nước pha trà, mua bánh tây, kẹo đậu phộng. Đó rồi, vừa ngồi tréo ngoảy ăn bánh uống trà, mấy cô vừa rôm rả “đía” chuyện trên trời, dưới biển, chuyện tiệc tùng, hôn nhân, trong điền, ngoài tổng... Cô nhớ nhứt là tiếng đàn cò mùi rệu của anh thầy hù[101], tửng từng tưng trong tiệm cúp tóc. Cô còn nhớ... nhớ nhiều lắm... nhớ đủ thứ.
Chiều chiều ra đứng ngõ sau,
Trông về quê mẹ, ruột đau chín chiều.
Chiều chiều, rảnh rang, cô hay thầm lén ra đứng ngõ sau, trông về hướng quê cũ làng xưa, mà chắc lưỡi, than thầm. Dù có ráng nhóng lên cao thế mấy đi nữa, thì tầm mắt của cô cũng bị mấy đọt dừa nhuộm ánh nắng vàng, ngoài ranh đất níu lại.
Mặt trời lặn sau biền dừa nước, chút ráng chiều cuối ngày còn sót lại, đỏ thắm ánh hoàng hôn, soi bóng những rặng bần trên mặt sóng. Tiếng con bìm bịp kêu chiều, báo hiệu con nước lớn, nghe nó rầu gì đâu.
Gần tối, những cánh cò từ đâu lũ lượt sải cánh bay về, trắng trời chao liệng, tao tác cả một khúc sông. Ở xa nheo mắt ngó lại, những cánh cò trắng lấm tấm, sập sận đậu trên những rặng bần xanh đen, giống hệt như cái cây kiếng cò bự sự.
Trời tối lần, đom đóm từng bầy rủ nhau kéo tới đậu đầy trên mấy ngọn bần trước xẻo, rồi cứ lập lòe nhấp nháy hoài, khiến cho người đã sầu trong dạ lại càng thêm héo ruột bầm gan.
❊
Thiệt là lạ cho tâm lý của người đời. Cái lóng còn đi theo ghe hát, rày đây mai đó, trôi nổi bình bồng. Tối nào cũng vậy, nằm gác tay lên trán, trước khi chìm vào giấc ngủ chập chờn, cô vẫn thường mơ về cuộc sống an nhàn ở nơi bến cũ làng xưa.Còn bây giờ, đã yên bề gia thất rồi, cuộc sống đã đi vào ổn định, gạo thóc ê hề, lúa ruộng chất tràn phè trong bồ, trong lẫm, mà sao cô lại nhớ tái nhớ tê, nhớ thiết nhớ tha tới cái quãng đời bềnh bồng, gạo chợ nước sông, ăn quán ngủ đình, ngủ luôn trên thớt thịt nhà lồng trước kia.
Cô nhớ nhứt là mỗi buổi chiều, chuẩn bị cho xe ngựa đi đánh trống rao bảng. Hai bên xe máng xề xệ hai cái bảng quảng cáo cho tích tuồng buổi tối. Chính tay cô cầm cọ chấm vô lon bột màu, nắn nót chua lên trên tấm áp phích mấy dòng chữ run run: “Tối nay bổn ban viễn tuồng Tôn Tẩn hạ san. Kép Minh Nhựt thủ vai Tôn Tẩn. Đặt biệt có màn bay và mị thuật, có đấu boa nha[102]. Kính mời quý liệt vị khán quan đến coi, bổn ban rất đội ơn, bỏ qua rất uổn”.[103]
Để diễn màn bay, ngay từ buổi chiều thằng trạo phải bắc thang leo tuốt lên nóc nhà lồng chợ - ngay chỗ dựng sân khấu - kiếm cho được một cây kèo cái thiệt chắc, móc sẵn trên đó một cái rỏ rẻ (ròng rọc) lớn. Vắt qua cái rỏ rẻ ấy là một sợi dây thừng dài, một đầu cột thiệt chắc một cái móc bằng thép bự như cái lưỡi câu, câu cá mập. Còn đầu dây kia bỏ xuống lòng thòng, gá hờ sẵn trong một góc cánh gà.
Anh kép nhứt - thằng chồng trước của cô - phải nai nịt gọn gàng, thắt một sợi dây lưng to bản thiệt chắc, trong đó giấu sẵn một cái khoen. Đến lúc cao trào, thường là màn thứ tư, màn “cụp lạc” nhứt. Màn dộng cộp cộp, đèn phải tắt bớt, để ánh sáng lờ mờ cho khán giả khỏi thấy sợi dây. Tráng sĩ ta, đơn thân độc mã, vừa phải múa kiếm chống đỡ với cả lũ lâu la, vừa phải ca sao cho mùi rệu, đồng thời phải từ từ sụt cà lui, đưa cái lưng vô phía cánh gà.
Thằng trạo có nhiệm vụ móc cái lưỡi câu bự tổ chảng vô cái khoen lú ra sau lưng anh ta. Móc xong nó liền vỗ cái “bép”vô mông anh kép. Anh kép, tay vẫn không ngớt múa kiếm, chân phải chạy vòng vòng quanh sân khấu để lấy trớn.
Nhắm chừng có trớn rồi, anh liền lớn tiếng hô: “Hô... bay!” rồi rướn mình, co cẳng phóng vụt lên. Núp sau cánh gà, thằng trạo mập nhứt, có khi phải hai thằng, lập tức trằn mình xuống - để làm đối trọng - rút mạnh sợi dây xuống. Anh kép hổng cẳng, bay bổng vòng vòng lên không.
Khán giả ồ lên, nhấp nha nhấp nhổm, ngồi đứng không yên, rồi không ai rủ ai, đồng lòng hè nhau đứng lên một lượt, há hốc miệng, nhểu nước miếng, quên vỗ tay.
Thỉnh thoảng, anh kép phải co cẳng đạp mạnh vô mấy cây cột trong nhà lồng chợ để lấy thêm trớn, để vòng bay thêm nhanh, thêm vù vù, vụt vụt, thêm hớp hồn khán giả.
Cao hứng, thằng trạo rút mạnh hết ga, anh kép bay tuốt, xà quần lên nóc rạp. Rồi nó nhổm mình, thả dây, anh kép sà xuống, bay vòng vòng, lượn lờ sát đầu khán giả làm cho họ hết hồn, đồng loạt ngã ngửa ra đằng sau. Đèn màu chớp chớp, phựt phựt, trống đánh chiêng khua inh ỏi, lâu la ó ré rân trời, khán giả phấn khích vỗ tay rần rần thiếu điều muốn bể rạp...
Bay vòng vòng một hồi, nhắm chừng vừa đủ, anh kép la lớn: “Hô... thăng”. Hai thằng trạo trằn mình rị mạnh, kéo vọt anh kép thăng thiên lên chót vót nóc nhà lồng. Màn hạ thật nhanh để còn bắc thang cho ảnh leo xuống.
Sanh nghề, tử nghiệp. Lần đó diễn ở chợ Cái Mít, mặc dầu sáng hôm đó anh ta cũng nhớ đèn nhang hoa quả, cúng kiếng tổ nghiệp đàng hoàng, nhưng trước lúc diễn màn bay, đi ngang qua bàn thờ tổ, sớn sác đưa lưng, day đít, giỡn hớt, ăn mía, chửi thề, lại còn quên chắp tay xá tổ, tạ tội.
Đêm đó đậu giàn quá cỡ, khán giả đông gần nứt rạp. Hết vé, phải đóng dấu son vô tay con nít. Ngờ đâu ông tổ nghề hát, lâu nay chưa thèm trác ai, nhè bữa đó thấy xốn con mắt[104], mới chờ dịp chơi ác, sửa lưng cho ảnh kiểng oai.
Màn bay đang hồi cụp lạc, khán giả đồng loạt đứng dậy hết, để dòm cho mãn nhãn. Ai dè tổ trác! Chưa kịp vỗ tay tán thưởng thì bỗng nghe “phựt” một tiếng, sợi dây đứt phựt thình lình, quăng anh ta rớt một cái “ành” xuống sân khấu, lăn mấy vòng rồi văng trớt vô mình mấy ông kỳ lão, hương chức hội tề, ngồi ở hàng ghế thượng hạng. Hàng ghế đầu sụm xuống, kéo theo mấy hàng ghế sau, sụm gần nửa rạp. May mà bữa đó, không có ai bị thương tích gì nặng hết.
Bầu Luông vừa chửi cha thằng trạo, vừa chụp vội chụp vàng cái áo long bào cũ, lụng thụng khoác vào, lập cập vén màn bước ra sân khấu, nghiêng mình cáo lỗi cùng quý khán giả thân mến, đồng thời xin hứa trả lại tiền vé, không sót một xu.
Bận đó, cô phải đưa thằng chồng cô - tức kép Nhựt - lặn lội lên tuốt Bến Tre, tìm cho đặng ông Tàu già Lục Mừng, bó cánh tay gãy cho ảnh bằng một loại thuốc cao gia truyền.
Tốn tiền, tốn bạc không nói làm chi. Có điều gánh hát phải nghỉ hát cả tháng, thiếu điều rã gánh, ông bầu kêu trời như bọng.
Hễ đêm nào mà vắng mặt ảnh thì khán giả ùn ùn trả vé, đòi lại tiền, rồi bỏ ra về hết ráo.
Quen lệ, hễ tối nào mà ông trời mưa giàn, mưa sập sòi từ hồi chưa bán vé, thì cả đoàn phải đốt đèn khí đá, đi soi nhái về xào sả ớt. Mỗi bữa, ông bầu chỉ nấu cho một chảo đụn cơm, còn đồ ăn thì ai ăn nấy lo - ai chậm lụt, chụp không kịp ếch nhái thì bắt cóc thế vô, vì cóc khờ, dễ bắt. Miễn đừng rớ nhằm cóc tía, chầu tổ có ngày.
Báo hại, sau khi gánh hát đã nhổ sào lui ghe, bà con hai bên dãy phố chợ mới phát hiện ra, mấy bụi ớt lúc lỉu sau hè, đã bị vặt cho trụi lủi, còn đám sả dầy mịt trong vườn, nay cũng đà thưa rỉnh thưa rảng.
Sau nầy mở băng ra, cánh tay tuy đã lành lặn nhưng cũng còn hơi dơ dơ, đành phải chịu mang tật “cán vá” suốt đời.
Đó là nạn lớn, chứ còn nạn nhỏ thì “hà rầm” hà, không kể xiết. Thay vì co cẳng đạp chưn vô mấy cây cột nhà lồng chợ để lấy trớn thì không đạp, lại nhè đạp trúng cánh gà, phông màn, đề-co sơn thủy của gánh hát. Mấy thứ đó, nó mục rệu, mục rã, rách toạc, có khi còn bị mắc kẹt chưn vô trỏng. Sáng ra, bầu Luông không những cúp tiền cữ, mà còn rên rỉ đòi phải may lại cái khác, mắc thền cho ổng.
Còn mị thuật thì khỏi nói rồi, người lớn còn mê, huống chi con nít. Buổi chiều, nhóm đạo cụ phải lo chuẩn bị châm dầu sẵn mấy cây đèn măng-sông (manchon). Mấy cây đèn nầy để vừa vặn trong mấy cái thùng cây, ba bề bốn bên che giấy đen kín mít, phía trên khoét sẵn mấy cái lỗ nhỏ cho khí nóng thoát ra.
Mặt trước thùng cây, mướn thợ cưa lọng, khoét lủng mỗi thùng một hình: hình thanh kiếm, hình cây phất trần, hình vành khăn (Càn khôn quyện), sợi roi dây phất phơ (Khổn tiên thằng), hình bầu rượu (Hồ lô báu) v.v...
Ra chợ mua giấy bóng kiếng đủ màu - thứ giấy vẫn dùng để phất lồng đèn trung thu, không có thì dùng tạm giấy gói bánh in cũng được - phất lên mặt trước, bọc kín mấy chỗ thủng đã cưa lọng lại. Đó rồi tất cả được móc chắc chắn lên một hệ thống ròng rọc giấu sau một tấm phông trắng mỏng, tượng trưng cho cả bầu trời.
Sắp tới màn mị thuật thì phải lo đốt đèn máng-sông, thụt lên cho kêu khè khè rồi gài sẵn vô thùng, giấu sau cánh gà..
Đến màn thứ năm, trống cơm vừa nổi lên tùm tum thì kép thầy Rùa, mắt bịt bạc - đạo trưởng phe bàng môn tả đạo - nhảy lôm xôm ra sân khấu, ngả ngớn đi vòng quanh, miệng niệm thần chú, lớn tiếng: “Hô... biến!”, rồi làm điệu làm bộ như tung bửu bối lên không. Thằng trạo phải lập tức dộng cây ành ành xuống sàn, ra hiệu.
Đèn tắt phụp tối thui, chỉ còn lại ánh đèn măng-sông, chiếu xuyên qua mấy lỗ cưa lọng trong thùng, dạ cái màu vàng sáng chói của hình Khổn tiên thằng, rực lên trên tấm phông trắng ở mặt sau sân khấu. Hệ thống ròng rọc cót két chuyển động, mấy thằng đóng vai quân sĩ được huy động thêm, kéo cái Khổn tiên thằng chạy qua chạy lại, xẹt lên xẹt xuống, tỏa hào quang sáng rực.
Quân bàng môn tả đạo, Dư Hồng, Dư Triệu hứng chí vỗ tay reo hò vang trời, dậy đất. Bên kia, phe chính phái danh môn té thôi đùn cục, ngã nghiêng, ngã ngửa. Tưởng đâu phen nầy sẽ bị cái Khổn tiên thằng trói cho ráo nạo.
Thời may, giữa lúc cực kỳ nguy khốn đó, Quỉ Cốc tiên ông ở trên núi cao, bấm độn ngón tay, biết đệ tử mắc nạn nên tôn sư mới giá võ đằng vân, tà tà xuống cứu.
Tiên ông lấy tay giá giá lên không, như tung bửu bối, miệng hô lớn:
— Khẩu động niệm chơn ngôn, hữu thần lai, tốc giáng! Hô thâu! Cái... mà hô thâu.
Bên sân khấu tối thui phía đối diện, vùng xẹt ra một cái hồ lô báu đỏ rực rỡ, đỏ chớn chở luôn. Hồ lô báu nhào lên lộn xuống, đấu tay đôi với cái Khổn tiên thằng. Bên này - bàng môn tả đạo - hô biến rân trời; bên kia - danh môn chính phái - hô thâu inh ỏi.
Hồ lô báu càng lúc càng lấn lướt, Khổn tiên thằng càng đấu càng lép vế. Cuối cùng, bị dồn về một góc, cầm cự được một hồi thì Khổn tiên thằng bị Hổ lô báu thấu về, sa xuống đất, tắt ngúm (có một thằng lấy cái mền ướt trùm lại). Chính nghĩa thắng hung tàn. Đèn phựt sáng trở lại, vở diễn kết thúc bằng màn ban sư hồi trào, đoàn viên có hậu trong tiếng vỗ tay muốn banh nhà lồng chợ.
Cả rạp phựt sáng. Khán giả nữ (nhứt là mấy cô tre trẻ) đương lum khum cúi xuống, kiếm guốc, lụm dép, thình lình bị phía sau cố tình ủi tới, té nhủi đùn cục. Miệng la bài hải, nhưng cũng còn ráng ngoái lại đằng sau, liếc xéo “thủ phạm” một liếc, sắt hơn dao cau, muốn rách cái đuôi con mắt...
Chú thích:
[102] poingnard: dao găm
[103] Nhân vật có hạn chế về học vấn nên viết sai chính tả
[104]Tổ nghề hát ghét nhứt là ai ăn mía trước bàn thờ tổ