CẬU HAI PHÁT
Lại nói chuyện về ông thầy Huế. Lận lưng một số bạc lớn, quá giang ghe bầu trở lại miền Trung, ghe gặp bão nhấn chìm. Chừng bão tạnh, bà con xóm chài túa ra vớt hết cả ghe; chỉ có một mình ông thầy là chết chìm mất xác. Ổng hổng có phước có phần mà hưởng được số tiền thưởng lớn đó. Mần răng mà như rứa?
Trợ Trụ[105] vi ngược, phò kẻ ác làm giàu, việc ấy trời Phật nào dung. Hổng biết có phải vì ổng đã trái lời thề với thần địa lý Tả Ao,[106] với thánh phong thủy đời tam hoàng ngũ đế xa lơ xa lắc nào đó ở bên Tàu hay không thì mình không rõ. Chớ nghề nào cũng phải có đạo đức nghề nghiệp chớ. Dẫu gì cũng mang tiếng là thầy, đã từng long trọng thề trước bàn thờ tổ sư trong ngày lễ nhập môn. Tới lúc tôn sư cho hạ sơn (xuống núi) cũng phải thề thêm lần nữa, để lộ cơ trời, thì trời phạt chẳng tha.
Ông thầy Huế có lỗi một phần, bà Ba lỗi tới mười phần. Bà há không biết rằng, ông bà mình, xưa nay vẫn thường răn dạy con cháu là “tiên tích đức, hậu tầm long” đó hay sao? Không lo làm việc nhơn đức, tích cóp cái đức ấy mà để lại cho con cháu đời sau, ngày đêm cứ mãng lo làm việc gian ác bất nhơn rồi châm bẩm tìm thầy giỏi để dò tìm long mạch, hoặc sửa lại cuộc đất tổ tiên nhà mình cho phát, thì trời Phật nào mà chứng giám. Ông trời, ổng cho ra tay mặt, thì ổng lấy lại tay trái mấy hồi... (có khi lấy lại còn nhiều hơn cho nữa! Ấy mới nghiệt!?)
❃
Năm Hai Phát lên tám tuổi, thằng nhỏ thông minh lanh lợi, hiếu kính đủ đường. Không muốn con mình thua sút con người ta, bà Ba mới chọn ngày lành tháng tốt để sửa cho cậu ta một cái lễ khai tâm.Tám tuổi mới làm lễ khai tâm thì hơi trễ, trẻ trong làng sáu tuổi đã cho đi học được rồi, song vì bà Ba cưng con, không muốn con chịu cực sớm, sợ nó vô trường bị chúng bạn húng hiếp, để cho nó ở nhà hú hí với bà thêm ít năm nữa, nên bà cứ dùng dằng hoài. Cậu Hai lớn đại rồi bà mới đích thân đi rước thầy đồ Nghệ về nhà, dạy một mình cậu Hai chen hoẻn.
Con nhà người ta, lễ vật khai tâm chỉ cần buồng cau, mớ trầu, chai rượu, hoặc con gà mâm xôi là đủ. Bà Ba thì cho làm bò, vật heo, đãi cả trăm khách cho rỡ ràng thì mới vừa cái bụng của bà.
Bà sai gia nhơn chùi mấy bộ lư đồng trên ba vòng tủ thờ, bóng tới thấy mặt. Hương đăng trà quả, bày biện tiêm tất rực rỡ trên bàn thờ gia tiên, còn hơn là ngày giỗ, ngày Tết nữa. Rồi đích thân bà tắm gội sạch sẽ, khăn áo chỉnh tề, lễ mễ quỳ lạy, tế cáo với tổ tiên con mình đi học. Cầu tổ tiên phù hộ độ trì cho nó học hành đỗ đạt, sau nầy ra làm quan giúp dân, giúp nước, và nhứt là phải giúp cho dòng họ nhà mình trước tiên. Hai Phát cũng xúng xính khăn đóng áo dài, lên gối xuống gối, sụn lên sụn xuống làm lễ trước bàn thờ.
Ông thầy xướng lên ba tiếng một, hễ ổng xướng lên tiếng nào, là cậu nhái liền tiếng nấy. Cậu Hai sáng dạ thông minh, không cần học trước mà nhái lại y thinh, như con két mẹ.
Khai tâm là mở cái tâm của đứa trẻ ra cho nó thông suốt với đạo lý của thánh hiền, để nó không bị lu mờ, để được hay chữ, sáng dạ, để sau nầy nó trở thành người quân tử: “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”.
BÁO ỨNG NHỠN TIỀN
Hỡi ôi! Đứa nhỏ làm lễ khai tâm chẳng đặng bao lâu, chưa học được đạo lý thánh hiền ngày nào thì ông trời thình lình xáng xuống một cơn bạo bịnh. Cậu trò nhỏ đương mạnh giỏi, sởn sơ, chiều qua còn chạy nhảy hò hét với chúng bạn, chỉ sau một đêm sốt cao, đã nằm co ro một chỗ, rên la u ú, mặc tình cho bà Ba chạy đôn chạy đáo tìm thầy kiếm thuốc, cẳng không bén đất.
Nghe phong thanh ở đâu có thuốc hay, thầy giỏi, bà đều cơm ghe bè bạn, cõng con đi khẩn đi cầu. Lên tới nhà thương Bến Tre, trị theo Tây y, bà cũng không từ. Ở đây, họ chỉ tuốt lên Sài Gòn, tới quan đốc tờ Tây ở đường Kinh Lấp, bán cả trăm mẫu đất, ráng theo chạy chữa bà cũng chẳng tiếc. Rốt cuộc, cũng đành bó tay, bịnh nghiệt không lùi. Y học thời đó, thiệt không tìm ra được đó là chứng bệnh chi mà đứa nhỏ tự nhiên bại liệt toàn thân, nằm ì một chỗ, ăn ngủ, ỉa đái gì cũng chỉ quanh quẩn trong chu vi cái giường gỗ tiện, càng ngày càng ròm rút ốm o, đến nỗi bà Ba là má nó mà nhiều khi cũng không nhận ra con. Thân hình cậu rút lại, bằng độ đứa trẻ lên ba.
Trong cái rủi cũng có cái xui, cùng năm đó, ông Ba lâm bệnh qua đời, cho ứng với câu “họa vô đơn chí”. Sự tác tệ không ngừng ở đó, tánh tình cậu ta thay đổi hoàn toàn, trong nhà bỗng xảy ra lắm chuyện dị thường.
Đầu tiên là bà vú, bà nầy nuôi cậu từ hồi còn ẵm ngửa, xin phép về thăm nhà ít bữa, rồi ở luôn không trở lại. Kế đến là con nhỏ chuyên tắm rửa, đút cơm cho cậu, cũng thôi ngang nửa chừng. Ai có hỏi, thì nó hạ giọng thầm thì: “Rửa mình cho cậu, mà tui gớm còn hơn là ngậm rượu mà phun bộ xương hốt cốt nữa...”.
Mấy đứa tớ gái sau nầy, bà Ba tuyển toàn là đám mồ côi cha mẹ, không còn ai thân thích ruột rà. Trả công cao, đối đãi tử tế, vậy mà không đứa nào trụ lại được lâu, chúng lần lượt mất tích. Bà Ba đổ thừa chúng ăn cắp đồ rồi bỏ trốn; dư luận đồn đãi rằng chúng đã nhảy xuống giếng tự trầm. Bà Ba cho người gánh xà bần, lấp đầy cái giếng lại rồi sai người đi tìm đứa khác...
Thời may, tuyển được con Quyên. Cái sinh vật lạ lùng nằm tênh hênh bất động trên giường mà lần đầu tiên mới vừa dòm thấy, Quyên đã muốn ói. Cái đồ chúa ôn đó, đã từng một thời là đứa trẻ giỏi trai, sởn sơ, tươi tốt, chơi đùa liếng khỉ nào có kém ai.
Ni cô Diệu Thiện, trụ trì một cái am nhỏ, là chị bà Ba, dì ruột đứa nhỏ, hay tin cũng có tới thăm hỏi mấy lần. Lần nào cũng lắc đầu, ngước mặt lên trời, chắp tay mô Phật: “Tội nghiệt! Thiệt... là tội nghiệt! Mô Phật! Nghiệp chướng gì đâu á! Thiệt là thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu mà ”.[107]
Đó rồi bà đề nghị bà Ba cho cháu bà xuất gia, quy y cửa Phật - để cho nó được nhẹ mình. Bà Ba chỉ có một mình cậu Hai, lẽ nào lại chịu, còn chi là thể diện, mất mặt bầu cua. Sau cùng, đối đế quá bà cũng đành nhượng bộ, chịu cho cậu Hai tu tại gia. Nghĩa là ăn chay trường để làm giảm bớt cái hung tính (như lời bà vãi già đã nói).
Theo lịnh của bà Ba, một chế độ trường chay nghiêm nhặt được thiết lập. Hai Phát từ đó, tuy không xuống tóc quy y, cũng chẳng có pháp danh, pháp hiệu gì ráo trọi, mà phải trở thành một người ăn chay trường vĩnh viễn. Đám tôi tớ trong nhà được dặn kỹ, không bao giờ được “bẹo” cho cậu ta thấy những thứ đồ mặn như là thịt cá, nhứt là những món còn sống sít. Nồi niêu chén bát gì của cậu cũng phải trụng nước sôi để riêng, không được để chung lộn với người nhà.
Hai Phát bị bịnh nghiệt đã lâu nên ròm rút tới xương tới tủy, nay còn phải chay tịnh, khem khổ như vậy nữa thì chịu đời sao thấu, đã ròm rõi lại càng còm cõi thêm lên. Nhưng vì á khẩu không nói được nên lời, chỉ ú ớ trong cổ họng thì biết đòi hỏi làm sao, tranh đấu thế nào cho mọi người hiểu đặng. Tính đến năm con Quyên vào làm, thì cậu trường kỳ khem khổ như vậy, cũng được năm sáu năm ròng. Trường chay, khổ hạnh như vậy mà ai thấy cũng đều chạy tét. Vậy là sao? Hổng... hiểu!?
❃
Sự báo ứng tuy chậm nhưng nhỡn tiền. Đúng y thinh như lời ông bà mình, xưa nay vẫn nói: “phụ trái, tử huờn”. Bậc thức giả trong làng, bấy giờ mới làm ra vẻ ta đây thầy đời, hách cái bản mặt lên trời:— Dục tri phước đức, tiên thị tử tôn! Ai dám nói trời không có mắt.
Dân trong điền, vì thói quen kỵ húy của người Nam Bộ, lại sợ oai của bà nên cung kính gọi bà là bà Ba Ngỡi. Chớ thiệt ra, trong cuốn niên giám hằng năm của nhà nước Đông Pháp, mở chương Province de Ben Tre, tra mục Notabilités Inscrites au Liver D'or (thân hào, nhơn sĩ được nêu tên lên sổ vàng) thì thấy tên cúng cơm của bà được trang trọng trương lên đầu bảng: Nguyễn thị Nhơn Nghĩa.
Cha mẹ bà sanh ra bà, đặt tên cho con là Nhơn Nghĩa, với kỳ vọng sau nầy con mình ăn ở với mọi người có nghĩa có nhơn. Bà sanh nhiều, nhưng chỉ nuôi được có một mình cậu Hai, cho nên đặt tên con là Phan Tấn Phát, cũng là kỳ vọng cho con mình, học hành tấn phát hơn người.
Hỡi ôi! Xem ra bao nhiêu kỳ vọng của cha ông, thảy đều tréo ngoe... trớt quớt.
Chú thích:
[105] Trụ Vương
[106] Là thầy địa lý nổi tiếng nhất nước ta, tên thật là Nguyễn Đức Huyên, người làng Tả Ao, huyện Nghi Xuân, tỉnh Nghệ An, sống vào khoảng thế kỷ 18 dưới thời hậu Lê. Ông được tôn làm phúc thần, có nhiều giai thoại kỳ thú về tài địa lý của ông đã được truyền tụng trong nhân gian cho đến ngày nay.
[107] Lưới trời lồng lộng, thưa mà khó lọt