NỒI CƠM GẠO LỨT
Rước dâu về hôm trước, hôm sau bà mẹ chồng đã lột hết kiềng vàng, nhẫn xuyến, quần lãnh, áo the bỏ vô cái rương xe, khóa lại nghe cái “cắc”. Chùm chìa khóa, bả giắt toòng teng lủng lẳng ở bên hông. Phát cho nàng dâu mới mấy bộ đồ bà ba may bằng vải ú đen, bả nói tỉnh bơ:
— Nhà mình là nhà dân dã mần ăn, ở dưới nầy mà chưng diện se sua, người ta cười chết.
Ngôi nhà rộng minh mông, tập chạy xe máy ở trỏng cũng còn được. Đông đủ kẻ ở người làm nhưng nàng dâu mới vẫn phải gánh gồng việc bếp núc, nội trợ, để cho nó quen - bà mẹ chồng nói.
Chân ướt chân ráo về nhà chồng, ngày đầu tiên vô bếp, cô phải bước chân lên ba bậc cấp mới với tới cái mặt bếp lót gạch tàu, đóng bằng cây tốt. Bếp gì mà cao tới ngực! Na cái nồi đồng mà xửng vửng muốn té! Nặng thấy ông bà, ông vải! Nàng dâu mới chắc lưỡi than.
Nỗi khổ làm dâu chưa dừng lại ở đó. Lúc dọn cơm lên mâm, cô quên dọn đũa, ông cha chồng cái mặt coi hiền khô, vậy mà “quạu trời gầm”. Ổng không dằn mâm xáng bát, cũng không mắng chó chửi mèo chi ráo. Ông chỉ lẳng lặng xăn tay áo lên cao cho đỡ vướng, rồi ổng “bốc”. Trước tiên, ổng bốc cơm vô chén, kế ổng bốc đồ ăn. Chừng ổng bốc tới món mắm ba khía hôi rình, bỏ mấy cái ngoe vô miệng nhai nhồm nhoàm thì nàng dâu mới khóc òa, xụp xuống xá như bổ củi:
— Thưa cha! Xin cha thứ lỗi, để con đi lấy đũa. Con còn thưa thớt lắm, cha có la rầy, đánh mắng gì thì con cũng chịu, xin cha đừng ăn bốc nữa.
Trước cảnh tình hoạt kê đó, cả mâm cơm tự nhiên trầm lại, mọi người ngồi lặng trang, im thin thít, chỉ còn nghe tiếng ruồi nhặng vo ve. Bỗng rộ lên một trận cười hắc hắc...
Tiếng cười lạc lõng, vô duyên và lãng nhách đó mới vừa cất lên, thì cô vợ trẻ biết ngay đó là tiếng cười của chồng mình. Tiếng cười vừa dứt, cô lại phát hiện ra thêm, anh ta không được phép ngồi chung mâm với cả nhà, ảnh phải ngồi riêng, chen hoẻn một mình. Sao lạ đời vậy?!
Té ra, ngoài cái tật khật khùng khật khịu ra, chú chàng còn mang thêm trong mình chứng bịnh thũng kinh niên nữa. Con ở phải nấu riêng cho ảnh một nồi cơm gạo lứt, rồi đập tỏi bỏ vô. Cả nhà ai nấy ăn xong, đi ta bà, tứ tán hết, ảnh vẫn còn ngồi đó, mải “nhơi” nồi cơm gạo lứt ba sồn ba sực, cơm vãi trắng đất như người ta gieo mạ.
Vợ chồng là nợ túc trái ba sinh, nợ nầy biết trả chừng nào cho xong. Nhưng đã là Ba Kim Thoa, Ba lưu lạc rồi thì món nợ ba đời đó cũng chỉ là chuyện... nhỏ. Qua ngày hôm sau, cả nhà ngạc nhiên đến sửng sốt khi thấy nàng dâu mới tự nhiên sanh tật “tưng” chồng, cô tưng tiu chồng cô còn hơn là mẹ cưng con đỏ nữa. Cô triệt để áp dụng câu “Giáo phu sơ lai, giáo tử anh hài”, (dạy con từ thuở còn thơ, dạy chồng từ thuở ban sơ mới về) trong sách Minh đạo gia huấn mà ông Hương Sư đã dạy cho cô, từ hồi cô còn nhỏ.
Đích thân cô chăm sóc từ miếng ăn, từ giấc ngủ cho chồng. Cô không cho con nhỏ ở đụng tay vô nấu cơm nữa mà chính tay cô vo nồi cơm gạo lứt, rồi cũng chính tay cô đập tỏi bỏ vô.
Không muốn người ta chê cười chồng mình ăn uống đổ tháo, bung thùa, cô bắt thằng chả phải hả họng ra cho cô đút. “Để ổng ăn một mình thì đời nào cho xong” cô nói. Mỗi bận thằng chồng chịu khó hả cái họng tròn vo ra cho thiệt bự, thì muỗng cơm vừa đút vô, cái miệng của cô cũng tròn vo chữ o theo, cô hô lên một tiếng “Ùm” thiệt lớn.
Những buổi trưa huỡn việc, thảnh thơi. Đè thằng chồng xuống, cô cắt móng tay, móng chơn, lấy ráy tai, hớt lông lỗ mũi. Thảng có đôi khi, cô bắt thằng chả nằm dài, gối đầu lên bắp vế cô, vạch mặt chồng ra, tay cô mằn mằn nặn mụn. Thằng cha nầy, mụn có giề như giề cơm cháy, lớp cũ, lớp mới chồng chất lên nhau, lẫn lộn tàn nhang, y chang như cái bánh tráng rắc nhiều mè đen vậy.
Nặn riết bắt ghiền, bữa nào không nặn lại thấy nhớ. Thét rồi da mặt thằng chồng nó sần sượng như cái vỏ cam sành. Mỗi bận cái cồi mụn đầu đen trồi lên, đau đến hít hà, chảy nước mắt, thằng chồng đều hả miệng rầy: “Làm cái giọng như chị Hai người ta vậy!”, song ngó cặp mắt với sắc diện của chả thì biết thằng cha nầy làm bộ la chớ trong bụng khoái thấy bà.
Đám em chồng, đứa đi qua hứ háy, đứa đi lại hứ hé. Còn bà mẹ chồng, ngoài mặt ngó thấy quạu đeo chứ trong bụng hiền khô hà. Bả không thấy cảnh đút cơm, nặn mụn như vậy là trái tai gai mắt chút nào, trái lại bả còn tủm tỉm cười ruồi, nhỏ to với ông Cả Nhứt:
— Thế thường, thằng chồng nó có bịnh, khật khùng, mà con vợ nó biết thương, hết lòng lo cho chồng như vậy, thật là phải đạo. Thiệt! Thằng Hai nhà mình có phước lắm, mới cưới được con vợ, chịu “làm mọi” chồng như vậy.
Có phước, có phần hay không, ai làm mọi ai, đợi vài bữa nữa đi, rồi bà sẽ biết...
❃
Ngày kia, cô vợ trẻ đương đút cơm cho chồng thì từ ngoài ngõ có tiếng người quen, réo nghe giựt ngược. Cô vội vã đưa chén cơm cho chồng, rồi te rẹt chạy ra đầu ngõ, nói chuyện với khách cũng có hơi lâu.Ở trong nầy, anh chồng đành phải ngồi đó “nhơi” cơm một mình. Thấy anh ta nhăn nhăn nhó nhó, trợn trừng trợn trạc nhai cơm sao có vẻ khó khăn quá, nên cô em chồng - mà chồng thị mới chết bất đắc kỳ tử chưa được bao lâu - thị ta buồn tình, bán hết sự sản, trở về nhà cha mẹ ruột chơi vài bữa - mới ghé mông vô bộ ván, thay chị dâu đút cơm cho anh mình.
Chỉ một lát sau, bỗng có tiếng thất thanh, la hoảng:
— Má ơi! Tía ơi! Cả nhà ơi! Lại đây mà coi. Mau đi! Chị dâu tui... chị dâu tui, chỉ "thuốc" chồng nè!
Cả nhà, ai nấy sảng hồn, bu lại. Cô em chồng trình cho mọi người coi chén cơm gạo lứt còn hôi rình mùi tỏi.
— Tui thấy anh Hai, ảnh nhai cơm sao mà trệu trạo, mặt mày nhăn nhó, ú ớ như con khỉ ăn ớt. Tui mới nếm thử chén cơm thì trời đất quỷ thần ơi. Coi nè! Trong nhà nầy coi thử coi. Có ai mà nuốt nổi không hè?
Bà mẹ chồng sớt lẹ cái chén cơm trên tay con gái, bà bỏ mấy hột cơm vô miệng nhấm nhấm.
— Ừ hén! Tao thấy hơi đăng đắng.
— Đắng thiệt chứ hơi đắng cái... gì! Cái nầy là vị mã tiền. Tui dám chắc ba bó một giạ là chỉ cà hột mã tiền, chỉ bỏ vô nồi cơm để “thuốc” cho ảnh chết chứ còn nghi ngờ nỗi gì nữa. Thảo hèn gì, từ khi có vợ tới giờ, tui thấy ảnh càng ngày càng ốm o gầy mòn, coi bộ cũng gần tới... cõi.
Bà mẹ cú lên đầu thằng con khờ cái “cốc”, vừa cú bà vừa nhiếc:
— Ngu! Ngu! Ngu! Cái thằng khờ tổ mẹ! Cơm bị “thuốc”, đắng như vầy mà nó nín thinh, nó còn chịu khó ngồi đó mà “nhơi” cho tới trợn trắng, trợn dọc hè! Chưa thấy ai u mê, ám chướng như cái thằng nầy. Ngu ơi là ngu...
Nồi cơm gạo lứt mã tiền lập tức được niêm phong lại, đem ra trình làng để làm “vật chứng”.
❃
Ở với nhau chưa nát chiếu Tân hôn thì đã lôi nhau ra tới chốn công môn. Thầy Hương quản với mấy ông hương chức hội tề bèn hiệp nhau lại rồi sai thường xuyên đi mời ông lang Tồn tới khám nghiệm nồi cơm để làm “ăng kết”. [108]Ông thầy thuốc xúc cả muỗng cơm đưa lên miệng, nhai rồi ngậm, ngậm rồi nghĩ, nghĩ rồi lại nhai, một lát sau bỗng phát ứng thinh lên nói:
— Mười phần hết bảy tám là vị mã tiền rồi. Vị đắng, tính hàn, vào hai kinh Can và Tỳ, có công dụng mạnh gân cốt, thông kinh lạc. Vị nầy mấy tiệm thuốc Bắc đều có bán, người ta mua về ngâm rượu chung với mấy vị thuốc khác để xoa bóp, trị các chứng phong thấp đau lưng, nhức mỏi tay chưn, phong... tê... bại... xụi...
Đang say sưa nói một thôi một hồi như chệc Sơn Đông bán thuốc, chừng nghe thầy Hương quản tằng hắng một tiếng, ông ta mới sực nhớ tới bổn phận, lỡ trớn ổng “thắng lại cái ét”, rồi ôn tồn hạ giọng:
— Còn nữa, mã tiền trị bại xụi hay lắm, không dùng cho đờn bà có thai, con nít còn nhỏ, vì nó có độc tính. Uống vô nó giựt chết giả, cả buổi mới tỉnh lại, ăn trộm hay mua về để bắt chó. Còn như cho uống ít, nhưng ấp lẩm, lâu ngày chầy tháng thì nó là vị thuốc độc, không thuốc nào bằng, nạn nhơn chết vô phương cứu chữa. Sự việc đã vỡ lở, nhưng vì người bị thuốc chưa đến nỗi chết, mà bên nguyên cũng muốn ém nhẹm, không muốn sự thể lùm xùm ra ngoài, sợ miệng thế gian đàm tiếu rùm beng thì con trai họ sau nầy còn đi cưới vợ khác ở đâu được nữa.
Cũng may, nói nào ngay, nhờ bà mẹ chồng, cái mặt coi quạu đeo mà có tấm lòng Bồ Tát. Bà đứng ra “bãi nại” cho con dâu, nói nó mới lỡ dại lần đầu. Làng xã người ta cũng vị tình, hơn nữa lại biết rõ cô là cháu bà Ba - là bực rân rát thế lực trong tỉnh - nên cũng phải mắt nhắm, mắt bịt mà xử “chìm xuồng”, nghĩa là chỉ bắt cô phải lăn tay, điểm chỉ vào “tờ để”.[109]
❃
Tối độc phụ nhân tâm đời nào mà hổng có.Thuốc chồng mà chồng hổng chết, thì đâu phải lỗi gì ghê gớm cho cam. Cô Ba Kim Thoa, dẫu sao cũng chỉ là tay mo, mới tập tễnh mà thôi. Chứ vào thời đó, trong giới phụ nữ thượng lưu, người ta thường rỉ tai nhau, lưu hành nhiều bài thuốc “thuốc chồng” thần diệu lắm. Tỉ như có bài thuốc kia, được bào chế để đưa vô cơ thể người chồng mỗi ngày một chút, nạn nhơn không hề biết mà cũng không chết liền. Chỉ đến khi nào vô tình ăn trúng một loại thực phẩm “khắc”, thì chừng đó mới lăn đùng ra chết, mà loại thực phẩm khắc này lại rất hiền, rất thông dụng, tỉ như món chuối cau tráng miệng chẳng hạn. Nhà chức trách có nghi thì cũng đành “bó tay”, vô phương truy cứu.
Ở đây có một chi tiết khá quan trọng mà mấy vị chức sắc trong làng, từ thầy hương quản, cho đến hết thầy hương chức hội tề, đều không để ý; (và có lẽ quý độc giả gần xa nãy giờ, cũng trớt he, trớt quớt luôn). Cô em chồng, mà chồng thị mới chết chưa được bao lâu, cô nầy từ nhỏ tới lớn, lúc thúc ở nhà, có được học hành, thuốc men, y dược hồi nào đâu. Không hiểu vì sao mà mới nếm có một chút cơm, cô đã phát hiện ra được vị mã tiền một cách thần diệu. Kinh nghiệm như ông lang Tồn kia mà còn phải xúc cả muỗng cơm đưa vô miệng nhai, cũng còn chưa dám khẳng định mười mươi. Vậy thì do đâu mà thị nầy có được cái tài “thần y” cỡ đó. Hổng ai chịu đánh một cái dấu hỏi thiệt bự ở đây hết á. Bởi vậy mới nói, ở cái xứ An Nam của mình thuở đó, không có Bao Thanh Thiên, nên không có chuyện “án trong án”. Còn nói chi tới cỡ cái ông Sơ-lốc Hôm gì đó, ở tận cái xứ sở xa xôi, tít mù sương khói nào đó, thì xứ mình lúc đó, lại càng không có.
❊
Cô con dâu mới cuốn gói về nhà cha mẹ ruột chưa được bao lâu, thì một hôm bà mẹ chồng có chuyện mới lấy chùm chìa khóa, mở cái rương xe ra lục lạo hồi lâu. Bỗng bà thất thanh la lớn một tiếng rồi xỉu lăn ra đất.Cả nhà xúm lại, nới dây lưng, giựt tóc mai, múc nước lạnh rảy lên mặt. Một lát sau bà già mới tỉnh lại, bơ ngơ, báo ngáo. Mẹ bà nó! Vòng vàng, nhẫn xuyến, quần lãnh, áo nhung, sắm lúc đi cưới dâu đã không cánh mà bay, không chưn mà chạy theo cô con dâu từ hồi nảo hồi nao rồi. Bỗng bà vỗ tay vô trán kêu một cái “chách” rồi chắc lưỡi, hít hà:
— Bà mẹ nó! Cả đám nhà mình, già đầu mà dại, đầu có hai thứ tóc mà còn thua trí đứa con nít! Ngu ơi là ngu! Hôm nọ, nó nói với tôi, nó phải đi đám cưới chị em bạn dì của nó ở đâu bên giồng Xồm. Bên đó, người ta giàu có rân rát lắm, hổng lẽ nó đi đám mà ăn mặc lôi thôi, lùi xùi quá, coi sao được. Sợ người ta cười chê, mất thể diện ba má bên nầy, cho nên nó mới năn nỉ tôi lấy kiềng vàng, nhẫn xuyến, bông tai, quần áo mới, đưa hết ra cho nó diện, nó đi đám, rồi khi về nó cởi, nó trả...
Nghe nó nói cũng hạp ý, nên tôi mới đành bụng, đưa hết bộ đồ nữ trang đám cưới, quần áo ra cho nó, mà tôi còn xúi nó lấy thêm bộ Cửu Long huờn nhận hột, với lại sợi dây chuyển nách có cái mặt đồng hồ trái quýt của tôi, để nó diện thêm cho “bảnh tỏn” nữa. Có dè đâu, đi đám về, nó chưa chịu trả đồ lại cho tôi, kế xảy ra cái vụ “thuốc” chồng, lùm xùm quá nên tôi cũng quên không hỏi tới.
❊
Cái vụ nữ trang nầy, đã làm cho hai bên sui gia hết tình, cạn nghĩa, tranh kiện lôi thôi, kéo dài tới gần cả năm. Cuối cùng, dựa vào thế lực của bà Ba, cô chỉ trả lại bộ Cửu Long huờn và sợi dây chuyền nách có cái mặt đồng hồ trái quýt của bà mẹ chồng mà thôi. Còn nguyên bộ đồ nữ trang mà nhà chồng cầm qua đi cưới, thì cô ôm trụm hết, nhứt định không thèm trả, coi như bên chồng phải bồi thường thiệt hại cho một đời con gái của cô.Cũng vì chuyện nầy mà ông bà Hương Sư “xẩu mình, xẩu mẩy” hết mấy tháng liền, bởi tiếng thị phi, lời ong tiếng ve, miệng lằn lưỡi mối. Trong làng, đã dậy lên câu hát ru em kiểu mới mà mấy bà, mấy cô nhiều chuyện, đầu hôm, sớm mới đã xậm xì xậm xịch, đơm đặt chuyền tai nhau. Mỗi khi nằm võng, kẽo cà kẽo kẹt ru con, mấy bà, mấy cô nầy đều cao giọng, hát vống lên ông ổng:
Ầu ơ... Một mai thiếp có xa chàng,
Đôi bông thiếp giấu, (mà) đôi vàng thiếp... xin.
Câu hát nầy, không bao lâu đã lan tỏa ra khắp cả trong làng ngoài tổng, con nít chăn trâu ở đâu cũng biết.
Thiệt ra, cái người “soạn giả” quần chúng bình dân vô danh nào đó, cũng chẳng phải đã sáng tác ra câu hát gì mới cho cam, họ chỉ “cải biên” lại một chút, cái câu hát ru em cũ xì đã có từ lâu đời. Câu hát xưa đó, thiệt ra nó là như vầy:
Ầu ơ... Một mai thiếp có xa chàng,
Đôi bông thiếp trả, con chàng thiếp... xin.
Mỗi khi nghe câu hát não nề này cất lên, giữa trưa hè vắng vẻ, thì mấy ai cầm lòng cho đậu, lụy ngọc không tuôn, nhứt là mấy bà, mấy cô đương có bầu tâm sự. Bởi người thiếu phụ trong câu hát này, không hề tham lam của cải, bạc vàng chi ráo. Cuộc hôn nhơn đã vô phương cứu vãn, nàng trả lại hết bông tai vòng vàng - mà nhà chồng đã cầm qua đi cưới - nàng chỉ khép nép xin được phép nuôi con mà thôi. Chẳng bù với câu hát ám chỉ cô Ba Kim Thoa, chưa hát dứt câu, họ đã ngả ngớn, cười rú cười lăn với nhau rồi.
Sau nầy, hễ có ai nhắc tới quãng đời làm dâu ở ngọn Cái Da, thì cô Ba Kim Thoa lại xụ cái mặt xuống chừ bự, hứ nghe cái “cốc”, rồi cô trề, cô nhún:
— Cái xứ... gì? Mà nó quê thôi... quê trất!
Chú thích:
[108]enquête : biên bản cuộc điều tra, gốc tiếng Pháp
[109] Giấy li hôn thời xưa