LỬA TÌNH NHEN NHÚM
Quyên núp sau lưng con Thôi, e lệ giấu khuôn mặt đỏ ửng sau vai con nọ chỉ để ló hai con mắt đen nhánh, long lanh. Hai đứa đứng chàng ràng sau bụi bông bụp, như có ý đợi ai đi qua đó. Đứa nầy nạnh hẹ đứa kia, con nhỏ thúc cùi chỏ vô be sườn con lớn, bỏ nhỏ đủ nghe:
— Chị hỏi trước nghen?
Con lớn trả lại cái thúc, lời bỏ nhỏ nhẹ như hơi thở:
— Không! Em hỏi trước đi, em dạn hơn chị, với lại em quen với ảnh trước chị mà.
— Ai biểu chị xúi em! Ừ! Thôi để em hỏi cho, ảnh hiền khô như đất cục, có ăn thịt ăn cá ai đâu mà sợ nữa hổng biết!
Con Thôi là nhỏ bạn thân nhất của Quyên từ hồi cô mới bước chưn vô cửa nhà nầy. Chắc nhờ vong hồn ông Tư bà Tư phù hộ, nên ngay ngày đầu tiên đi ở đợ, Quyên đã gặp đặng quới nhơn, hên quá xá. Nhờ có nó bày vẽ, nên cô mới biết đường đi nước bước trong nhà, ăn ở sao cho hạp bụng chủ, khiến cho chủ không rầy không đánh. Rồi cũng chính nhờ có nó bảo kê nên Quyên mới không bị mấy đứa khác húng hiếp hay lấn lướt lần nào. Cô quới nhơn nhỏ nầy lại đem lòng yêu mến chị Quyên bằng thứ tình yêu dễ thương của một người em gái mà không cầu được đền đáp lại chút nào.
Con nầy hồi nhỏ thiếu ăn nên nó dẹt ngắt như trái khổ qua đèo, nhưng bù lại nó được nước da mởn, tóc tai tuy không dài bằng Quyên nhưng nó cũng chăm chút lắm. Lén lấy dầu dừa nó xức, rẽ ngôi ở giữa, rồi kẹp lại bằng kẹp ba lá - bắt chước mấy cô ngoài chợ - nó ngỏn ngoẻn cười. Tánh nó lí lắc, lanh thấy sợ, cái miệng tép lặn tép lội, bị rầy hoài mà cũng hổng bỏ.
Khi nào rảnh rỗi, lấy cặp đũa sắt cời than, nó lùi vô bếp lò cho nóng rồi bắt Quyên phải bỏ cả buổi trời, tằn mằn ngồi cuốn từng lọn tóc cho nó. Để nguội, gỡ ra, chải cho phùng lên thì được một cô Thôi đầu quăn môi trớt - y chang quý cô trên tỉnh - nó hãnh diện nói.
Con nhỏ nầy ở dợ có ba-tăng[110], mới mười một, mười hai tuổi, nó đã xa nhà rồi. Nhà nghèo quá mạng, má nó lại đẻ cả lúc cả láy, sòn sòn năm một. Hai vợ chồng nai lưng chạy gạo thôi cũng đủ sói đầu. Mới sáu tuổi, nó đã è ạch nách em nhỏ đến vẹo be sườn, chai cứng một bên hông, đứa dắt, đứa nách trên tay. Thằng em con mắt lem nhem, đứa bồng mũi dãi lòng thòng, thấy mà phát gớm.
Lê lết đầu làng cuối chợ. Đêm rồi, nhà ai bị trộm cạy cửa, vô lấy món gì, còn thằng chỏng chết trôi là đờn ông hay đờn bà, vớt lên ở bến nào, nó đều biết rõ. Đám đánh lộn, ai phải, ai quấy, hỏi nó, nó phân xử cho mà nghe. Bởi vậy, đứa mánh lới đủ thứ, con khôn lỏi trật đời cũng chính là nó.
Mấy đứa con đầu, tía má nó đặt tên là Phủ, Huyện, Phán, Cai không hà. Chắc cũng hy vọng đời mình cực khổ bỏ đi, đời con cái sau nầy sẽ được giàu sang, y chang như cái tên của chúng. Đặt tên khéo lựa tên tốt dữ chưa, giàu sang đâu hổng thấy, hễ lớn đứa nào là đợ luôn đứa nấy, lấy tiền trước, đứa nào cũng nghèo hết mức, cực trần thân.
Lúc sanh con nhỏ nầy ra, chắc mẻm tới nó là út rồi, nên mới đặt tên Thôi cho nó. Dè đâu lòng người muốn vậy mà trời còn cho thêm, năm sau lại lú ra thêm thằng Dứt, thằng Đi, rồi tới con Chớ nữa thì mới chịu dứt hẳn, vậy là một dọc lòi ra: Thôi - Dứt - Đi - Chớ...
Nhà ở gần mà nó ít khi về thăm nhà lắm. Với Quyên, nó mới cầm tay tỏ thiệt: “Chị biết hôn, hồi năm tui có về. Về nhà mới buổi sáng: mẹ con, chị em còn mừng rỡ, tới chiều đã thấy nhấp nhổm muốn đi rồi. Chị biết tại sao hôn? Cái cảnh má tui xách cái quảo nhỏ xíu, chạy qua lối xóm năn nỉ mượn gạo, thấy rầu lắm chị à, thành thử... hết muốn về...”
Gần Tết năm đó, lóng tui còn ở nhỏ, thấy mấy đứa con thèm khát, ao ước quá, má tui mới đi mượn nếp về làm bánh. Mắc cả ngày còng lưng gút nếp, xay bột, lau lá, đãi đậu, xào dừa làm nhưn. Bả gói thành những cái bánh ít bự như con ếch bà ngồi chồm hổm, bày lên bộ vạt cau trước cửa nhà. Nhưn dừa, nhưn đậu đủ hết, cả thúng bánh chứ ít ỏi gì sao, như là làm bánh đám giỗ vậy.
Vậy mà sau khi bánh chín vớt ra, chia phần cho lũ con rồi, thì tía má tui hai người còn sót lại chỉ có đúng một cái. Chưa kịp lột bánh ra ăn thì đám nhỏ đã lủm hết phần của chúng rồi. Có thằng nào đó xẹt ngang, sớt cái bánh trên tay ổng bả chạy mất. Hai người chưng hửng, đứng ngó nhau lắc đầu, hổng biết đứa nào, con trai đông quá xá mà...
Lần khác, ông già tía tui vác được ở đâu đó về, một quày chuối hột, của nhà ai đó chê, bỏ. Ông xin về, cắc ca cắc củm dú trong đống rơm, lấy rơm lá phủ lên, giấu kín tụi nhỏ, lâu lâu ra thăm, tính đợi tới chín muồi mới đem ra chia phần.
Dè đâu, mấy ngày sau ra coi, thì thấy cả quày chuối hườm hườm lớn chảng, đã bị thiến sạch, chỉ còn trơ lại có cái cùi dài ở giữa. Đè lũ con xuống mà khảo thì đứa nào cũng chối, lắc đầu quầy quậy, mấy ai chịu cha ăn trộm.
Ít bữa sau, có thằng bón thôi là bón, ba ngày không đi cầu đặng, chổng khu mà rặn, nó la khóc rùm trời. Chừng đó mới lòi ra đích danh thủ phạm. Chị coi đó, một mình nó mà quất láng... te, cả quày chuối hột! Dễ sợ... chưa! Không bón mới lạ.
Tui nói chị nghe, nhà tui nghèo sát giường, sát chiếu, thiếu trước hụt sau, chạy gạo hàng ngày cũng đủ dựng tóc gáy. Muốn vậy thì cho vậy, nghèo cho nghèo luôn, mạt cho mạt tiếp, nên má tui bả cứ sòn sòn năm một, đứa giáp thôi nôi, đứa lôi đầy tháng, nuôi không kịp, cù bơ cù bất, vậy mà có bận bả còn rán đẻ thêm một cặp sanh đôi nữa chớ. Ai cũng cười má tui, nói đẻ sai như heo nái, chắc tính đẻ rút, chừng nào hết trứng mới thôi.
Tui còn nhớ, lóng má tui đẻ chị em con Chớ, hai đứa sanh đôi mới vừa lọt lòng, còn đỏ hỏn, chưa kịp đặt tên. Trong nhà lúc đó, hổng còn một đồng xu cạo gió, hổng có một hột lúa nhổ râu, rờ thạp hết gạo, rờ hủ hết muối, rờ tới đâu là rầu tới đó, cảnh tình thắt ngặt quá mà má tui lại bịnh, ốm quá nên không có sữa. Thấy tụi nó cứ giành nhau nhoi mãi hai cái vú da teo nhách, cầm lòng không đậu, tui phải vác tộ qua nhà lối xóm, năn nỉ họ chắt nước cơm sôi, đem về quậy với đường chảy, đổ hổ cho tụi nó.
Má tui mới sanh còn non ngày tháng, tủi phận quá mới ôm hai đứa nhỏ vô lòng mà khóc ròng, chắc lưỡi than: “Mấy con ơi! Sao mấy con không lựa cửa giàu sang mà đi đầu thai, giành làm con má mần chi để phải chịu đói chịu khát, nghèo ngắt nghèo ngơ, vậy... a... mấy con!?”.
Nói tới đó, giọng con Thôi tự nhiên thấy hơi khang khác, lạ hoắc lạ huơ như người bị ông ứng bà hành hay có đấng khuất mày khuất mặt nào đó đang dựa vô nó:
— Mới quở... có một câu, vậy mà...!!!
Quyên tự nhiên cũng thấy rùng mình ớn lạnh, hạ giọng thầm thì:
— Vậy mà... sao???
— Chúng nó hờn! Lẫy! Bỏ bú! Chê nghèo hổng thèm ở! Ba ngày sau, hai đứa nó giành nhau, chết queo hết một đứa! Chết... mà cũng giành! Cái đứa chậm chân, đành phải ở lại chốn trần gian là con Chớ bây giờ đó.
❃
Hả! Câu gì? Mấy câu mà bà chủ hay nói đó hả? Cha! Kiếm chuyện hỏi ngặt dữ he! Ừ, thôi! Để qua cắt nghĩa cho hai em rõ nghen. Mấy câu đó có gì là lắt léo đâu, có phải câu chữ Nho mắc mỏ gì cho cam, ông bà mình xưa nay vẫn thường nói đó mà: “Ở như chó mới có mà ăn, ở như trâu của đâu cho đủ”. Con chó nó láo ăn lắm, hai em không thấy đó sao? Nó đương ăn trong chậu, hễ đám con nó sáp lại gần là nó gừ liền, nó cắn, nó táp con nó thiếu điều lòi ruột. Còn con trâu, nó thảo thơm lắm, đương ăn mà có con nào khác tới gần, thì nó lẳng lặng bỏ đi chỗ khác, nhường đám cỏ đó cho con kia liền hà. Con người ta, muốn giàu có lớn thì phải láo ăn như con chó, chớ ở đời mà bụng dạ rộng rãi như con trâu thì khá còn không nổi, lấy chi mà giàu.À! Còn câu: “Ăn cơm thiếu đũa, giã gạo dư chày” hả? Đám tiệc dọn lên, có mấy người ăn, thì mấy em biết hết rồi đó, đã xếp lên mâm đủ mấy đôi đũa rồi, vậy mà vẫn còn thiếu đũa là tại làm sao? Mấy người nữa ở đâu ra? Làng xóm mình hổng thiếu chi mấy cái thằng ăn chực, hễ nghe nhà nào động dao động thớt là tụi nó bu lại như cá tra, cá chốt. Cái đám “Ăn như xáng xúc, làm như lục bình trôi” đó, có khi nó còn dò theo màng màng mỡ trôi sông[111] mà xách đít tới nữa. Còn giã gạo thì mỗi đứa được phát cho một cái chày. Có đứa làm biếng tổ mẹ, giã cà lơ phất phơ vài cái để “trả nợ quỷ thần” rồi bỏ chày trốn biệt, kiếm chỗ mà ngủ, bởi vậy mới ló chày dư. Đợi tới khi ai nấy giã xong, tới giờ ăn nó mới lỏn lẻn mò về. Còn “Lựu lê khó kiếm chứ bưởi bòng thiếu chỉ” hả?
— Ý! Cái nầy thì em biết! Dễ ợt.
Con Thôi hớt trả lời, nó hớp tớp nói một thôi một hồi như sợ bị ai giành:
— Trái lê em chưa thấy lần nào, chớ trái lựu thì em được ăn rồi, nhiều hột lắm. Lần đó lấy trộm - ủa quên - xin được trên bàn thờ ông Địa. Còn trái bưởi thì em ăn hoài, bẻ trộm - ủa quên nữa - hái ở trong vườn - (cái miệng tui bữa nay, sao mà lãng xẹt vậy cà). Còn trái bòng thì mọc hoang, chớ xứ mình ai đâu mà thèm trồng nữa, nó chua té đái.
— Nhưng mà hai em có biết, ông bà mình dạy câu đó là có ý nghĩa sâu xa gì hôn?
Con Thôi quýu lưỡi, tịt mít...
Quyên cười che nửa miệng, mặt vẫn đỏ bừng, mắt vẫn chăm chắm nhìn xuống ngón cẳng cái, vừa thẹn vừa ngại, rụt rè đưa ra ý kiến:
— Có phải ý ông bà mình muốn lấy chuyện trái cây để nói chuyện con người đó không? Để so sánh người nầy với người khác vậy mà...
— Đúng vậy! Trái lựu, trái lê là thứ trái cây ngon, khó trồng, trồng được cũng ít trái, là thứ trái cây có giá trị nên mới tuyển ra bán mắc. Cũng tỷ như người tài bộ, giỏi giắn siêng năng thì khó kiếm, chớ cái đám lòng tong lục chốt, làm biếng nhớt thây, chây lười lệu ệu, cái đám đó thì cũng ê hề như trái bưởi trái bòng, quơ đại ở đâu mà chẳng có. Thôi! Qua nói vậy là hai em “ý nghĩa” rồi hén. Vậy hen! Hai đứa. Qua còn phải lên nhà trên coi bà chủ có sai bảo việc chi không.
Trước khi đi ảnh còn quay lại khen con Quyên sáng dạ, nói ít hiểu nhiều, ảnh cũng không quên hỏi nó, hồi nhỏ có đi học không.
Quyên đeo xà nẹo sau lưng con Thôi, bối rối không biết giấu ánh mắt của mình vào đâu nên cứ nhè ngón cẳng cái của mình mà e lệ dòm hoài, rồi cười lỏn lẻn, trả lời ấp úng. Tuy nhiên, nó cũng kịp hãnh diện khoe, hồi nhỏ lóng còn ở nhà, nó được ông già tía dạy cho mấy năm chữ Nho. Gì chớ Gia Huấn ca, Minh Tâm, Âu học thì nó thuộc làu làu, còn Tam thiên tự, Ngũ thiên tự thì nó đọc nghe ro ro, kế rồi ông già tía, ổng mất.
Nhưng nó lại khôn ngoan giấu biệt, không dám khoe chuyện ông Tư luyện võ cho chị em tụi nó từ hồi còn nhỏ. Không ai bày cho, nhưng tự nhiên nó cũng biết là đờn ông con trai, không ai ưa đờn bà con gái có võ hết.
Dõi nhìn theo bóng anh chàng khuất lẩn sau rặng bông bụp xa xa, thật lâu sau nó mới buột miệng nói khe khẽ:
— Anh Hai nhà mình giỏi thiệt hén! Cái gì ảnh cũng biết hết.
Anh Hai nhà mình giỏi thiệt hén, cái gì ảnh cũng biết, chữ Nho cũng biết mà quấc ngữ ảnh cũng rành. Còn nói gì tới nghề võ, chắc chỉ thua có một mình ông già tía mình thôi. Ý! Cũng chưa chắc, hai người có “so cựa” với nhau lần nào đâu mà biết. Ý! Mà không nên, quyền cước không có con mắt, rủi người nào bị thương hay mang tật thì mình cũng không muốn hết. Thiệt tình! Không biết binh ai, bỏ ai! Khó xử dữ đa! Hồi hộp quá chừng. Thôi! Cứ coi như hai người ngang ngửa với nhau đi...
Người đâu mà hiền ơi... là hiền, nói chuyện với ai thì nhìn thẳng vô mắt người ta, cái nhìn thẳng băng, chớ có hề cong cong, quẹo quẹo, hay nhìn ngang liếc dọc, lấm la lấm lét như mấy cha nội khác ở trong cái làng nầy. Mình đã thử trợn cặp mắt cọp cái của mình lên mấy lần, ngó bộ chẳng ăn thua gì ráo. À, mà nghĩ cũng ngộ! Ảnh cũng trông tuổi rồi mà sao chưa kiếm được chị nào vá áo cho ảnh há. Ý mà! Ảnh là đờn ông con trai, đâu có sợ gì ế ẩm! Chị nào mà có phước, chắc phải tu chín kiếp. Hổng biết có gấm ghé đám nào hay chưa? ủa! Mà cũng lạ! Mắc chứng gì, bữa nay mầy lo chuyện bao đồng chi vậy Quyên. Quyên hỡi là Quyên, mầy điên vừa vừa thôi. Chuyện của người ta, mầy để ý tới mần chi. Ối! Hơi sức đâu mà để ý tới người dưng. Nhưng mà tức quá! Nói gì thì nói, ảnh cũng đã nhìn mình, cười mỉm chi với mình, vậy là quá đủ!
Con Quyên cứ độc thoại hoài hoài như vậy. Khùng quá nghen... gái! Tình lại giùm cái đi...
❃
Gió ngoài bờ sông thổi vào lồng lộng, con nước rong đổ tràn về mé rạch trước nhà, ngập hai bên bờ lém đém. Gió từ bờ sông bên kia, từng trận, từng trận ào ạt kéo qua. Sào đổ sau nhà tung bay phất phới, quần áo phơi lủ khủ trên dây, cứ đu đưa phồng lên xẹp xuống.Hai Thành đi ngược chiều gió, một tay cầm cái mác, tay kia nách mấy tàu lá dừa nước, hơi ngả người về phía trước, dáng dấp khỏe mạnh in đậm lên nền trời xanh cao lồng lộng.
Một cơn gió lạc bầy, nhảy cửng lên, vây bọc lấy anh, đùa giỡn giằng dai, xoáy tròn ranh mãnh, tốc quần tốc áo làm cho ảnh phải nhắm hít mắt, lấy tay che mặt vì sợ... bụi, mấy tàu dừa nước trong tay reo vui phần phật.
Trận gió quái như đứa con nít ham chơi tách ra khỏi bầy, hí ha hí hửng một hồi, chừng sực nhớ ra, sợ má gió la, nó bỏ ảnh cái vụt rồi tất tả rượt theo nhập bọn với đám gió khác đã vượt lên phía trước nãy giờ, bỏ nó xa lơ xa lắc.
Hai Thành dụi mắt, tiếp tục bước, bỗng anh ta đứng phắt lại, cúi nhìn xuống đất. Trước mắt ảnh là một cái áo của ai đó bị gió lớn thổi bay, phập phồng vướng vào bụi cây chùm nụm, hai cánh tay áo còn vẫy lật phật như người kêu cứu.
Ảnh cắm cái mác xuống đất rồi lơ đãng bước đến, cầm cái áo “mắc nạn” kia lên, đem máng trả lên sào. Bỗng sực nhận ra, đó là một cái áo bà ba trắng vá quàng, đường kim mũi chỉ nhỏ rứt. Áo của ai đây?
Thương em thuở áo mới may,
Bây giờ áo đã thay tay, vá quàng.[112]
Nội cái nhà nầy, có ai đâu mà còn nghèo đến mức phải bận áo vá quàng. Hai Thành quăng “phẹp” ba tàu lá dừa xuống đất, rồi ngó nghiêng ngó ngửa, ngó dáo dác xung quanh.
Lưỡng lự vài giây, rồi hai bàn tay thô nhám của anh nâng cái áo “biết ngoắc” kia lên, ngắm nghía, tưng tiu như là trong tay anh đang nắm giữ một sinh linh bé bỏng tội nghiệp, đương thoi thóp thở, chỉ sợ nó hóa thành con chim, giãy giụa rồi bay vù đi mất. Rồi anh cứ để mặc cho cái áo nó phất phơ, mơn man, ve vuốt cườm tay cho mát mẻ thịt da.
Nếu vì sự tò mò có tính bản năng giống đực thì thiếu gì quần lãnh, áo the đang máng ê hề ở trên sào kia kìa, mắc chứng gì mà tự nhiên lại đi trìu mến, nưng niu chi cái áo bà ba trắng vải ta đã cũ mèm mà còn vá quàng hai ba chỗ nữa...
Không màng áo nhiễu nút vàng,
Chỉ thương cái áo vá quàng rách vai.
Máng trả cái áo trở lại lên sào, bỏ đi mấy bước không đành, ảnh còn lộn trở lại, vớ lấy cái kẹp ở gần đó, cẩn thận kẹp lại. Rồi cầm lòng không đậu, ảnh còn quành trở lại lần nữa vuốt ve thêm mấy cái cho thẳng thớm, phẳng phiu, phủi bụi một cách nhẹ nhàng, như sợ làm đau cái áo.
Sực tỉnh, sợ có ai dòm thấy, ảnh vội vã kéo tuột mấy tàu lá dừa nước, đi thẳng một hơi ra tuốt sau vườn, cái lưng xông xổng. Người “quân tử” mà, ai hơi đâu để ý chi đến ba cái thứ đồ bận của đám “phụ nhân nan hóa”[113] kia chớ.
❃
Đang lui cui, phùng mang trợn má, chổng mông thổi lửa phù phù ở trong chái bếp, khói đen mù mịt bốc lên làm cho con Quyên nước mắt nước mũi ràn rụa. Bởi củi phơi chưa được khô lắm nên khi chụm thì khói tỏa ra mịt mù như cái đống un. Tới chừng ngước trực lên, qua màn khói mỏng lét, tình cờ nó ngó thấy hết.Núp sau kẽ vách, cô nhỏ lom lom theo dõi hành vi của anh Hai từ đầu chí cuối. Nhóng cần cổ, lõ hai con mắt ra mà dòm, một tay cô bấu chặt vô cánh cửa, trong khi tay kia vẫn còn kẹp theo cái ống thổi lửa. Rồi từ từ sụt cà lui, cô vội vã bước ra sau hè để tự do mắc cỡ một mình. Quyên mà mắc cỡ thì dễ biết lắm, hai gò má đỏ au đỏ ửng, rồi cả người vụt nóng ran lên phừng phừng, phựt phựt...
Hai Thành đã khuất dạng từ lâu, mà cô nhỏ vẫn còn ngẩn ngơ, chưa thể nào hoàn hồn trở lại với ba cái cà ràng ông táo. Tim cô đập thình thịch còn hơn là cái trống làng, nhưng lòng cô lại cảm thấy vui vui, bếp lửa chưa bén mà sao trong hai con mắt cô đã thấy có ánh nhảy nhót reo vui.
Cơm cạn, cô chạy bổ đi kiếm cây đũa bếp, ai ngờ nãy giờ nó vẫn còn đeo dính trên tay của cô. Rửa rau, quên rổ ngoài cầu ao, nấu cơm thì cơm khét, còn kho cá thì mặn chát xẵng lè như đi nuôi đàn bà đẻ, nấu canh thì lạt nhách vì quên nêm, quên nếm, quên bỏ hành tiêu. Tới lúc múc canh ra tộ để bưng lên nhà trên, cô cũng quên rắc rau thơm luôn.
Trọn ngày hôm đó cô không làm được một việc gì cho nên thân, nên hình. Có một cái gì đó cứ trào lên nhộn nhạo trong ngực, trạo trực trong tim làm cho cô cứ bổi hổi bồi hồi.
Không chỉ ngày hôm đó thôi, mà cả tới những ngày sau đó nữa, cô như người lộn hồn lộn vía, lẫn lộn việc nọ với việc kia, cầm cái gì rớt cái đó. Không việc gì làm cho xong xại hết mà một nụ cười e ấp, tinh ranh cứ vương vấn hoài trên môi thiếu nữ.
Đôi đũa đặt lệch, vạt áo gài bắc quàng so le hột nút cũng đủ làm cho cô cười giòn rụm, cười nắc nẻ suốt cả buổi trời. Niềm vui vụt ào đến bất ngờ, có muốn làm nghiêm cũng chẳng được, từ sớm đến khuya, không biết cô đã cười đến mấy bận rồi mà nụ cười nào cũng vô duyên vô cớ. Đó rồi nó còn nhẹ nhàng đeo đuổi miết theo cô, vào tận trong giấc ngủ êm đềm...
Cái điệu nầy, để lâu ngày, sợ e nó sanh ra bịnh tim thì khổ.
Bịnh tim thì chưa thấy, chớ hổng hiểu sao kể từ ngày ấy, nhỏ Quyên mắc chứng gì mà tự nhiên sanh tật, hay kiếm cớ đi qua đi lại khoảng hàng ba nối liền nhà ngang với nhà trên hoài, mà bước chân của nó hình như cũng dịu dàng, uyển chuyển hơn xưa, bởi nó đã bỏ được cái tật chạy nghe đùi đụi.
Bà Ba cấm tiệt gia nhơn không ai được léo hánh tới đó nếu như không có phận sự. Tâm trạng vui vẻ hơi ồn ào của Quyên lóng rày đã khiến cho con Thôi lo lắng phải để ý dòm chừng. Nó cứ thắc mắc hoài, ở đó thì có gì mà vui chớ, chỉ có cái bàn nước với bộ kỷ trà. Hổng lẽ chị Quyên nhà mình đã trở thành bợm ghiền trà quạu hồi nào mà mình không hay. Té ra không phải vậy, vì ngoài mấy bộ bình tích trà để sắp lớp, ở đó còn có treo thêm một tấm kiếng lớn tráng thủy, cao cả thước Tây.
Con Thôi bèn để ý rình, bắt gặp quả tang chị Quyên đang nhắm nhía tới lui, sửa sang điệu bộ.
— Biết ngay mà! Vắng chị, lên đây là thấy.
Nó còn giả bộ ôm ghì lấy Quyên rồi thình lình lục lưng lôi ra được một miếng kiếng tròn nhỏ xíu, bằng cỡ bàn tay, mua ở chợ với giá bốn xu rưỡi mà lúc nào cô cũng cắc củm lận theo. Hễ rảnh rỗi được lúc nào là móc ra săm soi cả buổi, cạo sửa, tỉa tót cặp chưn mày cho bớt rậm, bớt dữ.
— Vậy là hết... chối!
Thôi ta cứ tủm tỉm cười hoài, những nụ cười đầy “ý nghĩa” của nó khiến cho Quyên đâm thẹn, đổ lì, nói trây với nó:
— Bộ lạ lắm sao mà cười!
Nó lại càng nhăn răng khì khì dữ nữa. Nhỏ bạn dịch vật nầy còn đưa hai ngón tay trỏ lên, quẹt quẹt hai bên gò má nhí nhảnh nói:
— Lêu! Lêu! Lóng rày có người vui quá há!
Nói chưa dứt câu, nó đã phải lạng người, để kịp thời né tránh một cú đá với “thoái ảo cước”.
Mấy dì sồn sồn trong nhà, cứ thắc mắc hoài, hổng hiểu sao dầu dừa lóng rày hao hơn lóng trước, mà tóc tai con nhỏ thì bóng mượt, mặt mũi lại vén khéo, chớ không còn u xù, u trệ như hồi mới ở rừng về. Ai nấy cũng đều tấm tắc khen thầm: “Con nhỏ trổ mã, biết làm tốt rồi đó, coi cũng được đến chớ!”
BIẾT NGỎ CÙNG AI
Có cái miệng làm chi mà không thể hé răng tâm sự được với ai câu nào. Có hai con mắt làm chi mà một ánh mắt liếc xéo cũng không dám trao, thì cái trí của mình nó bắt mình phải suy nghĩ, nó hành cái thân mình phải chịu cực, vậy thôi...
Những ngày sau đó, gánh tương tư của ai đó càng nặng thì tô cơm nguội để dành phần cho người ấy - mỗi khi người ấy đi đâu về muộn - đã được ai đó đơm đầy vun, đầy tràn có ngọn luôn. Con cá để dành trong ơ cũng nhỉnh hơn, hoặc tép kho trong tộ cũng nhiều hơn. Người quân tử thực vô cầu bảo, vốn rất vô tâm và rộng rãi cho nên người ấy sẵn sàng chia sẻ phần cơm ấy với thằng bạn chèo cùng về với ảnh, mà vô tình không biết rằng mình đã phụ tấm lòng ưu ái của người ta. Người mà đã gởi gắm vào đó biết bao là tình cảm yêu thương, qua những sự chăm sóc quê mùa, mộc mạc nhưng kín đáo ấy...
❃
Cho đến một hôm, trong bữa cơm của đám gia nhơn, ăn chung với nhau ở nhà bếp, bỗng có đứa lớn tiếng tri hô:— Chị Hai ơi! Cho xin thêm miếng cơm cháy nữa đi. Sao chị để dành, đơm thêm cho anh Hai mà không thèm đơm cho tụi tui. Vậy là nhứt bên trọng, nhứt bên khinh à nghen!
— Thượng điền tích thủy, hạ điền khan. Sao tô canh trước mặt anh Hai, nó nhiều nước, nhiều cái hơn cái tô canh của tụi tui vậy a... chị Hai?
Thằng Được là thằng mồng một nói một tiếng, ngày rằm mới nói thêm được tiếng nữa, cả năm nay chưa ai nghe nó nói tiếng nào. Vậy mà cũng cà lăm, cà lập, đưa chén cơm mới xúc lên cao, rặn tróc đít lòi khu mới ra tiếng một, nghe mà phát... mệt:
— Sao... sao... chén cơm của... anh Hai, chị xúc vun... chùng, đụng... đụng... tới... tới... cái lỗ mũi vậy a... a... chị Hai? Vun hơn cái chén của tui. Cái mà... cái mà... xúc cho ảnh, chị còn tém... tẻ gọn gàng nữa. Như vậy là có bụng tiên vị[114] à à. à. nghen! Cái mà... cái mà... tui hổng có chịu... đâu!
Cả bàn ăn ré lên cười cái rần như pháo nổ, có thằng cười tới sặc cơm, té ho, có con cười đến lọt ghế, ngã ngửa. Đó rồi, cả đám tụi nó xúm nhau lại bàn tán, phân bì:
— Thấy cái tay chỉ bới chén cơm đưa cho ảnh không? Nó mới dịu dàng làm sao, giống hệt như tay vợ hiền đưa cho chồng vậy. Còn khi đưa cho tụi mình, thiếu điều chỉ thảy cho mình chụp.
Đó rồi, chúng nó mới quay ra “cáp đôi” anh Hai với lại chị Hai rân trời, nghe điếc con ráy. Mãi đến khi có tiếng guốc lóc cóc của bà chủ đi xuống, tụi nó mới chịu thôi, trật tự mới được vãn hồi.
Thiếu chút nữa là Hai Thành sặc cơm, ảnh ngồi cóng lưỡi, sượng trân. Ngày thường ảnh vừa gắp vừa lùa, vậy mà bữa nay, hai bàn tay cứ cóng róng, và có mấy miếng cơm mà nghẹn ngang, trợn trắng...
Bợ tô canh lên, chan liền một hơi ba bốn muỗng, lùa tọng vô họng cho hết chén cơm. Lật đật bỏ chén xuống, ảnh chạy ù một hơi ra ngoài mái hiên.
Nước mưa chứa trong hai hàng mái bọng, sau hiên nhà mát lạnh. Lật cái gáo dừa lên, khỏa khỏa vài cái cho đám lăng quăng tản ra, lặn tuốt xuống đáy lu, rồi cái bàn tay lượng sượng ấy cứ khỏa hoài, khỏa hoài làm cho đám lăng quăng núp dưới đáy lu chờ lâu muốn ná thở.
Hồi lâu, sực tỉnh, ảnh vội vã vục gáo vô lu, múc một gáo đầy tràn, uống ừng ực một bụng nước mưa no cành rồi bẽn lẽn nhìn trời, nói một câu hổng ăn nhập gì hết ráo:
— Nước mưa nhà lá để lâu ngày, uống vô mát lạnh, ngon ghê nơi! Ngon hơn nước mưa nhà ngói.
Quyên ta mặt mày đỏ au - chắc tại ngồi gần bếp lửa - ánh lửa lung linh nhảy múa trong hai con mắt. Cô rút tuốt ra sau bếp rồi ngồi riệt luôn ở trỏng. Từ đó cho tới hết bữa cơm, không ai thấy Quyên đâu hết. Tới chừng ai nấy ăn xong, đi ta bà tứ tán hết, cô mới dám mò ra dọn dẹp.
Những ngày sau đó, mắt cô long lanh hơn mọi khi. Mà cái nắng, cái gió lúc nầy cũng lạ, nắng vàng như cũng vàng hơn, tươi chong như mật ong rừng, da trời cũng trong xanh, trong như tấm kiếng mới vừa tráng thủy. Còn dì gió mắc dịch kia, dường như cũng muốn ghẹo cô hay sao mà cứ dịu dàng mơn trớn mớ tóc mai hai bên má cô hoài. Tiếng con chim sâu trong kẽ lá, nghe cũng ríu rít du dương hơn.
Đến như tiếng hót “tu hú, tu hú” đổ hột cụt ngủn, cụt ngẳn của con tu hú mồ côi ở trong đám lá sau vườn, mà sao cô nghe cũng thánh thót, véo von còn hơn là “tiên thiều nhã nhạc” nữa...
Chất ngất trong lòng một niềm rạo rực, cô ưa tìm những nơi vắng vẻ, để mặc sức mà gặm nhấm niềm vui của mình.
Chểnh mảng việc nhà bị bà chủ la rầy hoài, thiếu điều muốn thoi, muốn dọi mà cô cũng không thấy buồn, không thấy giận, vì cô cảm thấy lóng rày, sao mà ai cũng đáng yêu, đáng mến quá. Đến nỗi lúc vào trong buồng thay đồ, rửa ráy cho cậu Hai, cô cũng gượng nhẹ chớ không dằn xóc như mọi khi. Tràn ngập trong cô một niềm yêu đời mãnh liệt, trào dâng ra ngoài bằng một hành động không ngờ, cô đã lén hun một cái “chụt” lên vầng trán thấp tè bé tí, trên cái bản mặt “dị hụ” đầy rớt rãi nhớt nhao kia.
Chính cô cũng thấy bất ngờ...
Chú thích:
[110]patene: giấy phép
[111] Đám tiệc dưới quên thường hay rửa thịt, rửa dao thớt bến sông. Thấy màng màng mỡ trôi sống là biết trong làng đã có nhà làm đám tiệc
[112] Người lao động nghèo mặc áo thường hay sờn rách ở vai và hai khuỷu tay. Không đủ tiền may áo mới nên họ mua vài tấc vải cùng màu để thay phần tay và ai rách ấy. Cái áo thành ra có hai sắc độ màu, cũ mới rõ rệt
[113] Ý nói phụ nữ khó dạy lắm. Câu này có ý khinh thường phụ nữ, theo quan niệm trọng nam khinh nữ của Nho giáo thời xưa
[114] Nguyên là thiên vị, cậu này đã dốt lại hay nói chữ.