GIŨ CHO MỘT GIŨ
Bữa sáng kia, đang ta bà trong nhà lồng chợ Bến Tre, cô Ba chồng xảnh xẹ, đang đứng mua vải. Oan gia ngõ hẹp, cụng đầu cái “cốc”. Cô nầy làm mặt lạ, ngó lơ, giả bộ như người không quen, đi giáp vòng chợ, hách cái mặt lên, lớn tiếng khoe với mọi người xung quanh là cô đi sắm đồ cưới cho anh trai của mình.
Thì ra, bên nhà ông bà Cả Nhứt, ỷ mình có của, con dâu mới vừa xây lưng về nhà cha mẹ ruột chưa mãn năm thì đã rùm beng đi cưới vợ khác cho con trai. Vác hất cái mặt lên trời, cô em chồng vinh váo khoe:
— Lần nầy, chắc ăn lắm à nghen! Chị nầy công dung ngôn hạnh đàng hoàng. Bên nhà tui đã dò trong, lóng đục kỹ càng rồi. Hứ!
Không phải như cái thứ gái hư, gái thúi! Thứ gái “vặn nài, bẻ ách”, ẵm trọn gói dông tuốt về nhà như ai kia đâu à nghen!
Cô Ba tím mặt, sôi gan, nhưng có ghẻ phải né ruồi, cô đành nín khe, không dám trả treo lại tiếng nào. Không phải cô tiếc gì cuộc hôn nhân “chưa nát một xác chiếu” đó, còn nhớ, cái lóng hồi cô mới vừa xách gói về nhà cha mẹ ruột, bọn hàng xóm nhiễu sự lại có dịp ôm con nằm võng mà hát mỉa hát mai:
Có chồng năm ngoái năm xưa,
Năm nay “chồng để”, như chưa có chồng.
Cô nhảy đông đổng lên, ai đi qua cũng bị cô níu lại phân trần là cô "để chồng" chớ nào phải bị "chồng để".
Hồi sự việc mới vừa vỡ lở, ông bà Hương Sư cứ đeo theo cô mà giữ chằng chằng. Tuy không dám ra mặt binh con, vì sợ dễ duôi thì nó lờn mặt, nhưng hễ mỗi lần bà Hương rề rề lại gần, tính gạy chuyện cũ ra để dạy dỗ khuyên răn. Dè đâu, chưa kịp mở miệng ra nói câu nào, thì đã bị cô nhảy tót vô đốc họng:
— Thứ chồng khùng như vậy! Không “thuốc” thì để làm gì? Má còn tiếc cái nỗi chi? Thứ đồ bủng bủng beo beo đó! Tui cưới chồng chớ có phải cưới cái “tủ thuốc” đâu! Má bắt con má phải làm người nuôi bịnh mãn đời hay sao? Tui còn cái thân của tui chớ!
Đó rồi cô lớn tiếng ngâm nga, sao cho bà Hương và cả xóm giềng nghe luôn một thể:
Xa xôi chẳng biết mà lầm.
Giờ đây rõ đặng, (thì) vàng cầm (tôi) cũng buông.
Những tưởng đường ai nấy đi, hồn ai nấy giữ rồi, vậy mà mới vừa nghe tin thằng chả sắp cưới vợ một cách gọn gàng nhậm lẹ, mới nghĩ tới đó thôi cô đã thấy tức anh ách rồi. Có đâu mà dễ ợt, có đâu mà giòn rụm như vầy .
Nếu có ai đó tình cờ đứng gần, ắt phải thấy chưn mày cô đang giựt giựt, răng cô nghiến trèo trẹo như là muốn nhai xương ai.
Bậu ra sao khỏi tay ta,
Cái xương bậu nát, cái da bậu mòn.
❊
Ngày rước dâu, đám cưới xếp thành hàng đôi, đi diễu qua làng trên, xóm dưới. Chú rể xúng xính áo dài khăn đóng, gấm xanh bông bạc. Cô dâu mặc áo gấm đỏ, lót ba lớp đoạn, trùng trình nón cụ quai thao, khoan thai đi đôi hài nhung kết cườm trắng, hai bên có hai người che đôi lọng tía.Thình lình có tiếng xôn xao, tiếng xôn xao mỗi lúc một gần rồi một bóng người bỗng từ đâu xẹt ngang vô, hất vẹt đám con nít té lăn cù, chen vô giữa cô dâu và chú rể, lấn cô dâu xửng vửng, thiếu điều lọt tuốt xuống mương.
Té ra là con vợ cũ. Cô Ba Kim Thoa cái mặt vác hất, miệng cười hỉ hả, cặp tay chú rể vô nách cứng ngắc như khóa tay tội phạm. Chú rể, cái mặt bí xị, xuội lơ, trằn ra không lại nên cái chân đã xà bát, lết bết hai hàng.
Không ai dám can hết, vì xét theo danh phận thì cô Ba vẫn còn là vợ chánh thức, có mẹ chồng cầm trầu cau đi cưới hỏi đàng hoàng. Chính tay bà mẹ chồng này đã đeo đôi bông cưới cho cô. Còn cái chuyện phải ra ngoài Nhà làng làm tờ để, vì sợ mất mặt bầu cua nên ở bên nầy người ta giấu biệt, không dám lậu ra ngoài. Để giữ thể diện cho gia đình ông Cả, làng xã người ta cũng không treo bảng hay rao án gì hết, thành thử ít người biết được. Người ta chỉ biết vì cô bỏ về nhà cha mẹ lâu quá nên bên nầy làm lẫy, đi cưới vợ khác cho con. Mà cái đám cưới sau này, cũng chưa kịp đăng bát nhật ở ngoài Nhà làng. Hơn nữa, ai cũng sợ oai cô - cháu ruột kêu bà Ba Ngỡi bằng dì.
Cô vừa xuất hiện, đã dắt theo cả một dây tò mò, một lò tọc mạch, nhiều chuyện nhứt trong làng. Họ tụ tập vòng trong vòng ngoài, càng lúc càng đông - đứng trước cửa dòm vô như đi nhóm chợ.
Con nít đi coi đám cưới mà ngồi nhóc mỏ, “đía” với nhau rân trời như đi coi hát Sơn Đông. Còn người lớn thì chen lấn, thúc cùi chõ để giành chỗ tốt, đông còn hơn coi hát thả giàn . Cãi lẫy om trời, ai nấy cũng đều hí hửng chờ xem một trận gầm ghè “ngứa ghẻ, hờn ghen”, giữa hai nàng dâu - dâu mới và dâu cũ.
Măng non nấu với gà đồng,
Đánh nhau một trận coi chồng về ai.
Mấy bà cô, bà dì lớn tuổi đi họ, xúm nhau lại, kẻ nắm tay vuốt ve, người khuyên lơn an ủi: “Thôi con! Chuyện đâu còn có đó, tại bây không duyên không nợ...”. Năn nỉ một hồi thì cô Ba cũng tạm nguôi ngoai, nhưng coi mòi cô chỉ nghỉ mệt thôi, chớ dễ gì mà cô đã chịu thua ngay. “Làm cho đã nư chơi, cho bỏ ghét, chớ duyên nợ gì mà tiếc”, cô nghĩ thầm trong bụng.
Đến hồi hai họ lên đèn, làm lễ tơ hồng, cô dâu chú rể sì sụp, quỳ lạy trước bàn thờ gia tiên, coi cũng bông xứng bông, bình xứng bình lắm. Cô Ba càng nhìn, càng thấy ứa gan, xốn hai con mắt. Bỗng cô nổi hung, vùng lên, chen vô giành lạy, hất cô dâu lọt tuốt ra rìa. Chẳng thèm đếm xỉa gì đến câu “nam tả nữ hữu”, cô bổ lia bổ lịa. Vừa bổ cô vừa ấn đầu chú rể bổ theo như bổ củi, bổ không kịp đếm, bổ muốn trật xương sống luôn.
Cô dâu vốn là con gái tá điền nghèo, chỉ được cái nước da trắng, còn thì tướng tá bặm trợn, không đẹp mà cũng chẳng có duyên. Ngày trước cô có để ý thương thầm một người thợ cấy, ở làng xa, đi cấy lấy công, vẫn thường hay sáp lại gần cô mỗi khi hai đứa cấy chung, để kiếm chuyện hát hò đối đáp.
Mùa cấy năm nay, người bạn hò năm xưa đã bặt tin nhàn cá, chắc anh ta phong thanh nghe được tin gia đình cô đã nhận sính lễ của người ta. Cha mẹ tham giàu gả ép, nên ngày rước dâu, mặt cô không vui, mà buồn dàu dàu, thiệt là: “Bước chân đi mà hồn vía vật vờ”.
Đám cưới dù có bị lợn cợn óc trâu hay sọc dưa sặc rằn, thì cô cũng lơ là mặc kệ. Ai đó biểu cô quỳ thì cô quỳ, biểu cô đứng thì cô đứng, dù có bị hất cho lọt tuốt ra rìa, trật niềng trật ngông, thì cô cũng cà lơ xí xụi, đứng tránh qua một bên, không thèm lạy mà cũng chẳng thèm tích cực “giành chồng” gì ráo. Khiến cho cái đám hiếu sự, đương háo hức đợi chờ, đương cá độ rân trời ngoài kia, phải một phen thất vọng não nề. Họ đương tiu nghỉu, chuẩn bị giải tán ra về trong vòng trật tự thì bỗng đâu sự việc lại được đẩy mạnh lên, đến tận đỉnh cao trào.
Đó là lúc cô dâu chú rể đi chào bàn, mời rượu trước bàn trưởng tộc hai họ. Cô Ba lỏn lẻn theo sau, chen lại gần, hai tay áo xăn lên gọn ghẽ, hổng ai biết cô có ý định gì...
Bất thình lình, a thần phù cô xốc lại, hai tay túm lấy hai chéo khăn bàn tốc lên, rồi vươn mình lấy hết sức bình sinh, cô giũ cho một giũ, mạnh còn hơn người ta giũ chiếu.
Một tràng tiếng rổn rảng vang lên: chén dĩa, ly tách, tô tộ, muỗng nĩa theo tay cô mà tung bay lên trời hết ráo, như một đám mây châu chấu cào cào, không có cái giống gì mà còn sót lại ở trên bàn...
Một cái liễn, nhè úp ngược vô đầu ông trưởng tộc, giống y như ổng đang đội cái mão bình thiên; cà ri chảy dài xuống đầu, xuống cổ rồi tuột nhểu nhão, tèm lem hết bộ đồ vía của ổng. Ông cứ nhảy loi choi, lóc chóc, lo gạt lia gạt lịa cho cà ri khỏi nhểu vô hai con mắt, mà quên không lo gỡ cái liễn ra khỏi đầu, lụp chụp thế nào mà chụp nhầm vô ngực bà sui gái.
Còn bà sui gái thì mảng lo gỡ con vịt tiềm, đang nằm thu lu trên cái búi tóc cao vấn khéo, y như con gà mái ghẹ ấp trứng, mà quên không lo phủi miếng chả, cắt hình cánh phượng rất công phu, còn đương hít chặt vô một bên gò má nhăn nheo.
Mấy bàn kế bên cũng bị văng miểng. Cà ri, vịt tiềm, nước chấm, bắn lên không tung tóe; dính tùm lum tà la lên đầu, lên cổ, lên khăn đóng, áo dài quý ông; trây trét nhoe nhoét, nhểu nhão lên quần lãnh, áo the, khăn nhung quý bà...
Cha mẹ ôi! Trời thần hỡi! Đến nước nầy rồi, thì dẫu hiền như ông Phật ngồi thiền, cũng phải nổi xung thiên, tốc tòa sen nhảy xuống mà vặn họng nó phứt cho rồi, huống hồ chi là ông cha chồng. Lửa giận phừng phừng, mặt đỏ gay như mồng con gà đá độ, cặp chơn mày rậm đen nhíu lại, hai con mắt nẹt lửa, ổng vỗ bàn nạt lớn:
— Con nầy lếu quá!
Tức thì ổng xô ghế đứng phắt dậy, huơ ba toong xốc tới, rượt con dâu hụt chạy té sấp té ngửa, vừa huơ vừa khện tưới hột sen lên đầu. Rượt vô tới giữa bàn thờ nhà trên thì bắt kịp, thò “cù nèo” ngoéo cổ kéo lại.
Hổng ai thèm can hay binh cô hết. Biết thân, cô ngồi phẹp xuống đất, hai tay đưa lên che đầu, trân mình, rút cổ chịu trận.
Cây ba toong bịt đồng chắc nịch vung lên cao, thật cao. Thôi rồi! Có trời mà xuống cứu! Sắp có án mạng trong ngày vui đám cưới rồi nè trời!!!
Cây ba toong vung lên cao quá... cỡ. Thời may, cái “cù nèo” vướng nhằm bộ đèn chùm pha lê hiệu Limoges - còm-măng ở tận bên Tây - đang treo toòng teng ở giữa nhà. Bầu dầu nát ngứu, miểng chai văng lổn cổn, lanh canh.
Dầu lửa đổ xà ra, tưới xuống tung tóe, trúng nhằm cặp đèn cưới Long Phụng cắm trên bàn thờ, bắt lửa phựt lên, phừng phừng cháy lẹ. Còn lẹ hơn là Khổng Minh đốt Tào tặc trong trận Xích Bích đời Tam Quốc nữa. Cuộc vui tân hôn, giờ đây đã biến thành cái đám cháy nhà, chữa lửa.
Ai nấy nhốn nháo, kẻ lo xách gàu chạy ra ao, người lo vác thùng hụp xuống xẻo. Thừa lúc hỗn loạn, Ba Kim Thoa co cẳng vọt lẹ ra ngoài, phóng như ngựa tế, khuất dạng sau một khúc quanh...
Cho người đi mời hương quản tới xử thì hương quản mắc đi bắn le le ở ngoài vàm; kiếm phó hương quản thì ông phó mắc đi thăm vợ bé chưa dìa. Bà mẹ chồng thở dài ngao ngán:
— Thôi khỏi! Họ đã muốn lánh mặt rồi thì còn mời thỉnh mần chi cho mất công, mất lênh.
Cô Ba trốn mất rồi, coi như cũng xong cái đám cưới nhớ đời. Ông cha chồng thì đi nghỉ, mấy bà dì bà cô lớn tuổi, nấn ná ở lại chuyện trò được một lát, rồi thì ai về nhà nấy. Công việc coi bộ đã êm xuôi, ai nấy cũng đều mừng thầm trong bụng...
Tội nghiệp cho mấy bà mừng... hụt. Vì tới lúc cô dâu chú rể nhập phòng, lại có tiếng xôn xao ngoài cửa. Cô Ba xăm xăm bước vô, xô vẹt cô dâu qua một bên, ôm lấy chú rể cứng ngắc đòi động phòng. Chú rể trằn mình không lại, ghì chặt cứng lấy tay bà má, miệng la bài hãi:
— Má! Má! Coi nó kìa! Coi nó kìa má!
Đối đế rồi, bà mẹ chồng đành phải xuống nước, hạ mình năn nỉ:
— Con Hai! Má chịu thua cái nư của con rồi đó, con muốn cái giống gì thì cứ nói đại ra đi, chứ đừng có làm như vậy nữa! Má xin con! Má chỉ có chút trai, hổng lẽ chịu tiệt tự. Thôi! Để má mượn cái chiếu, má quì xuống tại đây mà lạy con! Hai... à!
Cho biết tay đáo để của Ba Kim Thoa nầy rồi, lại được nghe hai tiếng má má, con con, lòng nào nỡ giận. Cô Ba thấy hởi lòng hởi dạ, nư giận cũng từ từ nguôi theo. Đã cái nư, lợi cái gan, mát cái ruột của cô rồi thì cô mới chịu vui vẻ ra về, buông tha cho cả nhà, mà không thèm đòi hỏi cái gì ráo trọi.
❃
Nạn nọ chưa dứt đã nối tiếp nạn kia, Chung Quốc Mẫu[115] kia, bửu bối giắt đầy mình mà còn bị biếm lãnh cung tới ba lần, huống hồ chi cô Ba chỉ là phụ nữ thường tình...Số là như vầy, về ở nhà với cha mẹ, đít chưa ấm chỗ, thì đùng một cái, cô “tá hỏa” ra khi biết rằng, kể từ lúc gả cô đi làm dâu, ông bà Hương Sư ở nhà đã chia lại phần gia tài cho các con.
Lấy cớ là cô có phước, có phần, lấy được chồng giàu, nên phần ăn của cô, ông bà đã sớt bớt cho cô Tư Đầm, là em kế cô, cô nầy lấy phải chồng nghèo mà lại còn đông con nữa chớ.
Biết vậy, cô nhảy dựng lên, đông đổng làm dữ. Cô lập tức mời vợ chồng cô Tư tới, rồi ông bà Hương Sư cũng phải có mặt, cho giáp ba mặt một lời.
Hổng biết họ tranh chấp có gấu ó gì với nhau không thì mình hổng biết, bởi lẽ họ đóng cửa kín mít, đuổi hết gia nhơn ra ngoài. Mất hết ba ngày cãi cọ, hai đêm thức trắng, ngày chót có hơi lùm xùm một chút, nhưng cũng không sao, mọi việc rồi cũng êm xuôi hết ráo.
Chỉ biết rằng, cuối cùng rồi thì Ba Kim Thoa vẫn phải chịu lép, thiệt thòi, hạ mình nhận phần ít ỏi hơn cô Tư Đầm. Nhưng còn về phần cô Tư, thắng chẳng đặng vui, vì kể từ ngày đó trở về sau, cho tới già, tới chết “hễ ở nhà thì xõa tóc sùm sụp, ra đường cho dù mát trời vẫn phải trùm khăn choàng hầu kín mít, che khuất hai bên lỗ tai”.
Chỉ có vậy thôi, mà cho tới tận bây giờ, trong làng, ngoài tổng, nhứt là bốn bên hàng xóm, hai bên dãy phố chợ, người ta vẫn còn hát, câu hát ru em kiểu mới như vầy (câu này là hoàn toàn sáng tác à nghen):
Chị em đông lấy chồng cách bức,
Tranh ăn gia tài, cắn sứt (cái) lỗ tai.
Cũng vì chuyện nầy, mà cả phần đời còn lại, hai chị em không ai dòm mặt ai.
❃
Đó cũng là lý do tại sao, khi bà Ba Ngôi mới vừa ngỏ ý, muốn cho cô Ba qua chơi bên điền bà ít bữa; thì ông bà Hương Sư đã hoan hỉ tống tiễn cái “hũ mắm đầu giàn” đi ngay khuất mắt.Bà Hương Sư còn nôn nóng đến nỗi mấy đêm liền giấc ngủ bà phập phù. Bởi trong lòng người mẹ thương con, cứ “chấp chới” hoài một viễn cảnh. Bên đó, xứ lạ người đông, nhiều người không biết lai lịch của cô. Biết đâu nhờ thế lực và sự bào chuốt của bà Ba, có khi bả còn kiếm được mối cho cô yên bề gia thất, nếu như cô mà chịu “yên bề” như thế thường con gái người ta. Tuy mang danh là gái nứt niềng[116], nát nước hai đời chồng, năm cơm bảy cháo rồi, nhưng nếu chịu khó o bế lại, xem ra cô cũng còn màu tươi tắn lắm.
Niềm hy vọng của bà ngày càng lớn, càng rõ ràng hơn khi chỉ cách có vài bữa, đã thấy cô Ba trở lộn về nhà. Hỏi về làm chi sớm? Cười lỏn lẻn thưa rằng: về lấy thêm đồ, kỳ nầy chắc tui ở luôn bên bển.
Đám bạn tác, đeo theo chọc ghẹo. Có người cắc cớ mới ướm thử một câu:
— Qua chơi bên điền bà Ba Ngỡi hổm rày, mà có “chấm” được đám nào hay chưa?
“Bẽn lẽn như thể con gái muốn chồng”. Thế thường con gái người ta, hễ nghe hỏi vậy thì thảy đều mắc cỡ cúi đầu, ngó xuống ngón cẳng cái mà cười lỏn lẻn. Còn cái cô Ba nầy, cô chỉ chúm chím môi rồi vác hất cái mặt lên trời, nói một câu, chắc như đinh đóng cột:
— Chấm rồi! Ngon lành luôn! Người nầy “Văn võ song toàn”. Đám đờn ông, con trai trong điền của mình, không sánh bằng cái móng chơn út của người ta.
Thấy cũng chưa đã, bà Hương Sư còn “đế” thêm vô:
— Thiệt! Cũng xứng với cái công òn ỹ hổm rày của nó. Cái tánh hổng chừng hổng đổi, vậy mà hễ nòng nả muốn cái gì rồi là đòi lấy được, ông trời có xuống đây mà cản cũng không cản nổi nó nữa.
Chú thích:
[115] Chung Vô Diệm, vợ của Tề Tuyên Vương.
[116] Ý nói gái hư.