Kỳ Ảo Đất Phương Nam

Lượt đọc: 6521 | 4 Đánh giá: 8,5/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
HỒI THỨ BA MƯƠI SÁU
ai về nhắn với ông câu. cá ăn thì giựt, để lâu hết mồi

BUỔI CHIỀU CUỐI NĂM

Một tay vác cuốc, tay kia máng toòng teng đùm bánh lá men theo bờ mẫu, chàng trai phăm phăm đi ngược về nhà. Sau lưng anh ta vẫn còn văng vẳng tiếng cụng ly rôm rả của đám gia nhơn đi tảo mộ. Mặc cho tụi nhỏ chèo kéo, mời mọc, nhưng anh chàng thối thoát, nại cớ phải về sớm vì công việc vẫn còn đăng đăng đê đê ở nhà.

Lụi hụi mà Tết đến sau lưng, hàng dừa ngoài bờ kinh đã lao xao gió chướng, văng vẳng xa đưa tiếng chày quết bánh phồng, lác đác tiếng pháo Tết nhà ai nổ sớm. Trên không, đôi ba cánh diều chao liệng trong ráng chiều đỏ ối...

Lách mình nhẹ nhàng qua cái cửa nách bên hông nhà, ảnh đi miết ra sau chái bếp. Ngó dáo dác một hồi dường như kiếm ai, rồi nhẹ chưn ảnh lỏn ra phía sau vườn, cắm đầu xăm xúi đi luôn một hơi ra tới cái giếng lạng cuối vườn. Trời cũng vừa nhá nhem, chạng vạng.

❃ 

Vườn cây vốn vẫn ôm tròn lấy ao sen, nhưng ở đây vòng tay nó đã lơi lỏng lần lần. Càng gần về phía biển cỏ bao la, cây cối càng mọc thưa thớt, còi cọc. Nơi đây là chốn tận cùng của ranh đất, là nơi phân tranh giữa vườn cây và biển cỏ. Một cuộc chiến giành đất, bất phân thắng bại, mà phần thắng dường như nghiêng hẳn về phía biển cỏ mênh mông, cỏ tranh lả lướt, cỏ gà nuột nà, cỏ cú tràn lan, hiệp cùng với mấy đám sậy khô xơ xác, phủ trùm lên phơ phất cỏ lau...

Vườn ở đây, cây chết không được trồng cây khác thay thế, phần thì già lão lắm rồi nên chúng kháng cự không lại vái bọn dây leo, cỏ dại. Chỉ còn lại lác đác vài chiến tướng dừa lão lơ thơ, ốm nhom ốm nhách, không đeo trái trăng chi hết. Đã lỡ lãnh ấn tiên phuông trong đoàn cây đi mở cõi, nên phải gắng sức vượt lên phía trước; giờ như lạc ngũ, cô đơn rớt lại phía ngoài, bị vây hãm bởi trùng trùng giặc cỏ, nên đành thúc thủ xuôi tay, oằn mình chịu trận, để mặc cho chúng dây leo vô danh tiểu tốt, bòng bong, ráng, choại, ô rô, cóc kèn hỗn hào lấn lướt, bò đeo tưới sượi lên cổ, lên đầu.

Hễ trời vừa chập choạng tối là sương mù đã dềnh lên từ biển cỏ mênh mông rồi từ từ bò lan, tràn ngập cả khoảnh vườn hoang xơ xác, xóa mờ đi dấu tích của lối mòn xưa cũ.

Cỏ hoang dày mịt, xanh mướt quyến rũ. Vậy mà bấy lâu nay, chớ hề thấy có đứa trẻ chăn trâu nào dám cầm liềm, cầm sọt ra đó mà cắt. Mấy ông nội con cháu Thần Nông nầy, ở đâu mà mấy ổng không dám mò tới, mấy ổng có thèm kiêng kị điều chi. Mấy ổng còn dám lội ra giữa sông cái, vớt tàu chuối “tống ôn đưa gió”, để ăn đầu heo, gà vịt cúng tế. Có đứa còn dám đeo giàn, giựt lưỡi ông

Tiêu[119], hốt gọn đồ cúng cô hồn tháng bảy. Vậy mà hễ nói đến cuộc đất nầy, thì đứa nào, đứa nấy thảy đều le lưỡi, lắc đầu, rùng mình ớn lạnh.

Trẻ chăn trâu không dám tới đã đành, mà đám tôi tớ trong nhà, đố có đứa nào dám cả gan buổi tối ra ngoài nầy một mình. Mỗi lần có chuyện, bắt buộc phải đi ngang qua, chúng đều kiếm cớ đùn đẩy nhau. Cực chẳng đã tới phiên đứa nào phải đi, thì nó đánh một vòng thiệt rộng, ráng tránh cho thiệt xa góc vườn có cái giếng lạng bỏ hoang. Thiên hạ đồn rằng có tới mấy đứa tớ gái, không biết vì buồn bực chuyện chi, mà lần lượt nhảy xuống, chết chìm dưới giếng. Ở đây âm khí nặng nề, bà Ba phải xuất ra một số tiền lớn, trám hầu, trám họng mấy ông làng ông xã rồi sai người gánh xà bần, lấp đầy cái giếng lạng.

❃ 

Cảnh vườn vắng teo, trên nhành cheo chét tiếng chim rủ nhau về ổ. Hàng xóm ở gần nhất cũng cách xa cả mấy công đất, có tiếng gà gáy xa lắc xa lơ, lâu thật lâu mới nghe được cùm cum tiếng chày quết bánh phồng như từ cõi xa xôi nào vẳng lại.

Trong cái hiu quạnh của một ngày cuối năm, tận cùng góc ao, khuất nẻo cuối vườn, kề bên giếng lạng, lặng lẽ bóng một người ngồi bó gối, im lìm như đang hóa đá. Ai đâu mà vào giờ nầy còn ra ngoài bờ ao, ngồi nhơi cái hiu quạnh một mình. Ai đâu ở trong nhà này mà còn mặc áo vá quàng? Thấy mà tội nghiệp...

Tội nghiệp thay cho cô nhỏ nầy, một thân côi cút, xứ đâu có mà về, tủi thân muốn chết. Cô cũng chẳng còn ai để mà tâm sự. Con Thôi thì mấy ngày nay đã xin nghỉ về nhà, để phụ với tía má nó lo cúng kiếng, tảo mộ ông bà.

Ngọn gió lạnh buổi chiều hiu hiu lướt qua, vài chiếc lá vàng đậu xuống mặt ao lả tả. Làn nước tĩnh lặng, chợt giật mình cau mặt làm gợn lên những làn sóng tròn lăn tăn lan rộng. Làn sóng nhỏ nhấp nhô, đưa đẩy những đài sen khô quắt, làm cho chúng nghiêng ngả, giống tựa như những người đang gục gặc đầu tụng kinh sám hối.

Trong một góc ao tù đặc thẫm rêu xanh, in bóng mây chiều, lập lờ xác một con nhái bén chết chìm trôi nổi. Con nhái - dang rộng cả bốn cái cẳng nhỏ xíu - phình trương cái bụng trắng nhởn chang bang - hệt như một bệt màu trắng lạnh, mà thiên nhiên đã điểm xuyết một nét chấm phá táo bạo, cốt làm tăng thêm cái vẻ thê lương cho toàn cảnh bức tranh “Chiều xuống trong vườn”.

Ngồi nghe hơi gió chướng lao rao thổi về, cùng với hoàng hôn muộn dâng lên từ từ. Ngắm ánh nắng chiều thoi thóp nhuộm vàng mấy đọt dừa lão xa xa, lòng thiếu nữ bỗng trào dâng lên một nỗi niềm khó tả. Cái chết của con nhái bén, một sinh vật nhỏ nhoi, cô đơn, côi cút kia; không hiểu sao đã làm lay động đến những gì sâu thẳm nhứt trong tâm hồn nàng. Con nhái chết chìm kia, dẫu sao cũng sẽ được nàng vớt lên, đắp cho nó một núm mộ đất tí hon ở góc vườn. Còn đâu là chỗ gởi xương, gởi thịt của ông Tư? Bà Tư? Của thằng Lực nữa? Không một nấm mồ! Không vùa hương cúng! Hồn cốt họ giờ ở nơi nao?

Trong cái tĩnh mịch vô cùng, bóng tối đã dâng lên từ từ, ngập tràn đôi mắt mở to, ngân ngấn nước. Cặp chân mày nét xước, giờ đây đã thôi không còn lấn lướt đôi mắt đen mở to, nhòa lệ... và những giọt nước mắt đã ròng ròng tuôn chảy, ràn rụa trên một khuôn mặt trắng xanh và thanh khiết như tượng Phật bà.

Tiếng pháo tre vẫn đì đùng vọng lại, xen lẫn với tiếng chẫu chàng não nuột, tiếng ễnh ương uềnh oang, từ phía cánh đồng xa vẳng lại.

LỆ AI CHAN CHỨA HƠN NGƯỜI...

Nhìn từ phía sau, anh chàng thấy cô nhỏ đương săm soi trên tay hai hột cườm rắn. Hai hột cườm nầy là hai con mắt của một cái bánh gừng, có hình con thú, chàng đem về trong một dịp đi đám cách đây cũng lâu. Chàng tặng riêng cho cô nhỏ vì một lý do mà chàng cũng không nhớ rõ; hình như để trả công cho cô nhỏ sáng nào cũng chịu khó dậy sớm quét sân cho chàng tập võ.

Hột cườm rắn nhỏ bằng hột đậu, ăn không được, nửa đen nửa đỏ bóng ngời, hột nào cũng có điểm thêm một cái chấm màu trắng, coi rất giống tròng trắng con mắt. Con nít ưa lấy mấy hột cườm ấy, giả làm mắt gắn cho mấy con trâu, con bò nặn bằng đất sét.

Ai cũng biết cô nhỏ ở rừng về nầy, chớ hề được ai cho quà cáp, bánh trái bao giờ. Có lẽ vì vậy mà cô quý tặng vật của anh Hai vô cùng, quý đến nỗi cô chỉ dám cầm chơi thôi, chớ chẳng dám ăn. Lâu lâu lén lấy cái bánh ra săm soi cho đỡ thèm, đỡ nhớ, rồi cô lại cắc củm đem vô cất kỹ. Có trời mới biết được vì sao mà cái bánh gừng giữ được lâu như vậy. Nhưng rồi có cái gì mà kháng cự nổi với sự tàn phá của thời gian kia chứ. Mới đầu cái bánh còn nổi mốc xanh, mốc vàng, sau cùng thì trong tay cô nhỏ chỉ còn trơ lại một vóc bụi thời gian lẫn với hai hột cườm rắn này đây.

“Hột lớn nầy là... là anh Hai, còn hột nhỏ xíu nầy chắc, chắc là... là... mình”. Tiếng thì thầm của cô bỗng trở nên nhỏ rí, nhỏ rí như con chí... . rồi tắt ngang trong cổ họng.

Không dằn được nữa, chàng ngồi thụp xuống bên cô, hai tay nắm lấy bờ vai nhỏ của cô, từ từ xoay lại. Trong tay anh vẫn còn kẹp cứng đùm bánh lá dừa mà trong đám cúng tảo mộ anh đã lanh tay chớp lấy, định đem về tặng riêng cho ai đó.

Cô nhỏ hốt hoảng, ngỡ ngàng vài giây, hức lên một tiếng rồi đổ nhào vào lòng anh như một cây non bị đốn sát gốc. Cô úp mặt vào ngực anh, òa khóc ngon lành...

Tiếng khóc bị ghìm nén bấy lâu, phập phồng ứ nghẹn trong lồng ngực, như bị đắp đập, be bờ. Giờ đây gặp đặng tri kỷ, tri âm, nên chẳng thể nào mà giữ được, tự nhiên nó phải bựt ra thành tiếng, cuốn theo không biết cơ man nào là nước mắt, ồ ồ như người ta tháo cống, xổ bọng...

Giữa những cơn co giật nức nở, giữa những tiếng hức hức nghẹn ngào, cô nhỏ dựa tấm thân dịu nhĩu của mình vào người anh Hai mà trút hết nỗi niềm, bệu bạo tiếng được tiếng mất, nghe chẳng thành câu...

Phải cố gắng lắm, anh Hai mình mới lờ mờ ráp được những âm thanh tấm tức tấm tưởi, bù non bù nước, nhão nhòe nhão nhoẹt đó, thành cú thành câu: “Những từ oan khổ lưu ly... trốn tránh một triều đình nhu nhược, rồi nhà nước Lang Sa... hức... lưu lạc về đây... hức... riêng một góc rừng... tưởng đã yên thân... dè đâu gặp nạn... Hức... cha chết... hức... mẹ chết... hức... em chết, cả nhà chết thảm, chết tức, chết tối... chết không kịp trối... Gởi thây trong bụng cọp... còn nỗi mất mát nào hơn?... Bỏ xứ mà đi... hức... hai mươi mấy tháng chạp... Hức! Không có được một núm mồ “phẳng lù hà lãng” thì làm sao mà quét vôi, dẫy cỏ? Không có cả một thẻo đất nhỏ nhoi, đặt vừa cái vùa hương, thì làm sao mà cắm lọn nhang cúng, để thắp lên tưởng nhớ?

Dòng nước mắt nóng hổi chảy tràn qua kẽ tay, cô khóc như mưa như gió cho thân phận lưu lạc của mình, cho những tháng năm nhọc nhằn, gian khổ. Rồi cô lại khóc tức khóc tưởi, khóc mùi khóc mẫn cho tiền đồ tối đen, cho tương lai u ám. Khóc ơi là khóc, khóc đớn khóc đau, khóc sao mà mờ trời, thúi đất. Bộ tính khóc cho hết nước mắt mới thôi hay sao? Cả thân hình dịu nhĩu của cô giờ đây như là một dòng suối nước mắt nóng hôi hổi. Khóc hù hụ! Nhưng không rên rỉ, không vật vã, chỉ khóc kể cho hả.

Đâu rồi con nhỏ “không sợ... ma, không sợ... chết, cũng không sợ... cọp”. Đâu rồi con nhỏ Quyên nổi tiếng lì lợm, trời gầm nhứt trong đám tôi tớ trong nhà. Bây giờ chỉ còn lại một nàng Quyên “mít ướt sút cùi”, nhõng nhẽo thấu... trời xanh.

❃ 

Chới với, ngập chìm, tối trời tối đất trong trận “Đại hồng thủy" nước mắt nóng hổi ấy. Lần đầu tiên trong đời, chàng ngố võ biền, chất phác ấy mới biết thế nào là “bối gối”. Thấy thương gì đâu á! Khóc... gì đâu mà còn hơn cả nàng Mạnh Khương[120] khóc sập Vạn Lý Trường Thành của Tần Thủy Hoàng nữa á!. Hai bàn tay to lớn, chai sần của ảnh lóng ngóng, thừa thãi không biết để ở đâu nên cứ vụng về xoa lên đầu, lên cổ cô nhỏ hoài, lại còn quýnh quáng lục lạo kiếm cái khăn trong túi. Móc một hồi mà hổng có khăn, ảnh lụp chụp kéo đại vạt áo của cổ lên mà chùi lia chùi lịa, làm cho cái mặt cổ tèm lem tuốt luốt, giống hệt như mặt con mèo ướt té mương.

Con gái người ta đã lớn chồng ngồng, bự xộn rồi mà ảnh làm như còn con nít nhỏ, ảnh ôm trum trủm trong tay, ảnh bắt hỉ mũi, rồi ảnh xoa đầu, ảnh dỗ ngọt:

— Thôi! Thôi mà, nít đi, nín dứt đi mà...

Cho hay giọt nước mắt nữ nhi, nhấn chết chìm anh hùng cái một, khỏi cần dao súng. Có thứ acid cường toan, phá sắt, thử vàng nào mà mạnh hơn thứ nước ấy không? Khóc vậy thì ai mà không thương cho được chớ? Thiệt! Anh hùng bất quá mỹ nhân quan! Đáng sợ vậy thay!

Giọt nước mắt nữ nhi dai dẳng;

Xích nào hơn xiềng cẳng anh hùng.

Nước mắt tuôn, rửa sạch mọi niềm u uất. Lâu thiệt lâu sau mới dứt tiếng thổn thức, hai vai cô nhỏ run run, thỉnh thoảng vẫn còn nghe ức ức trong cổ họng, thấy thương gì đâu á...

❃ 

Trong cái nhá nhem của buổi chiều vàng êm ả, gió hây hây thổi - hai người im lặng - không gian ngưng đọng - thời gian ngừng trôi. Cơn mưa nước mắt đã cuốn phăng hết mọi ưu sầu, phiền não, cô nhỏ ngoan ngoãn dựa đầu vào vai anh Hai, khụt khịt mũi. Hai ngố quàng tay ra sau, vỗ về nhè nhẹ vào tấm lưng thon mềm mại. Tiếng “em Hai” bỗng trở nên tha thiết ngọt ngào...

Hai con người quê mùa chất phác ấy, không ai biết cách tỏ tình, cũng như không biết nói những câu du dương, cỡ như bậu thương qua hay qua thương bậu, nhưng cái dựa đầu ngoan ngoãn ấy và cái tay vỗ về nhè nhẹ kia, thì còn hơn muôn lời thề thốt thiết tha.

Cái mặt ướt nhẹp, hai vệt nước mắt vẫn còn đọng long lanh trên má. Dưới hàng lông mi cong vút của người con gái, hai kẽ mắt nhỏ rức như hai sợi chỉ, lim dim như đang khép hờ. Con ngươi bỗng trở nên sinh động, đen nhánh long lanh, lướt nhanh qua lại, ánh lên một tia nhìn tinh quái. Hai lúm đồng tiền giãn ra bởi đôi vành môi đã thôi mếu lận, bỗng lõm sâu xuống rồi nhách lên một nét cười mãn nguyện. Ảo ảnh chỉ thoáng nhanh qua trong một tích tắc rồi trở lại bình thường.

Cô nhỏ nầy, ngoài mặt tuy vẫn còn chín hấu mại hơi, khụt khà khụt khịt, nhưng trong bụng thì đã sướng rơn, mừng húm, vì cô chắc mẻm như đinh đóng cột rằng: em nhỏ mồ côi là ta, từ rày về sau đã có sẵn một bờ vai rộng đáng tin cậy để mà nương tựa, để khi nào cần nhõng nhẽo thì gục đầu vô đó mà khóc cho đã thèm một mách, điều mà bấy lâu nay cô chỉ dám thầm ao ước, trong giấc... chiêm bao.

Vậy mới biết, ba cái vụ nầy, đờn bà họ giỏi hơn đờn ông, con gái nhỏ tuổi khôn hơn con trai lớn xác.

HẠT GIỐNG TÌNH NẢY SINH TRÊN ĐẤT NGHỊCH

Hai người trong cơn xúc động mê man, không ai để ý gì đến màn đêm đã phủ trùm cảnh vật. Họ cũng chẳng thèm để ý gì đến một cái bóng đen choàng khăn, đã theo dõi chàng ngố từ lâu và có lẽ đã chứng kiến toàn bộ sự việc. Nhè nhẹ, nhè nhẹ, từng bước, từng bước thầm, bóng đen ấy rón rén lại gần, đứng núp trong bụi rậm sau lưng hai người tự lúc nào. Nghe ngóng hồi lâu, chừng như sực tỉnh, sợ bị lộ, bóng đen ấy mới từ từ thụt cà lui, nhẹ nhàng nhón gót rút êm về núp sau kẹt cửa nhà bếp, lát sau lại xoay mình lẳng lặng đi thẳng lên phía nhà trên.

Nhà trên đã lên đèn, ánh đèn dầu đỏ lòm, đỏ quạch rọi qua khung cửa, chiếu loáng thoáng lên một khuôn mặt rắn đanh, trán nổi gân xanh, cặp mắt chóe lửa gườm gườm, thớ thịt nhỏ gần đuôi mắt trái giựt giựt, hai tay nắm chặt, môi mím khít rịt, quai hàm bạnh to như thể cố ghìm. Nhưng vẫn không sao nén được, cuối cùng vẫn phải văng ra một tiếng chửi thề, giòn... khướu.

Chút hạnh phúc bình yên, ngọt ngào tựa như nụ hoa nhỏ nhoi mới vừa chớm nở. Thì ở cuối chơn trời, mây đen đã ùn lên có ngọn, báo hiệu sắp kéo về một cơn bão lớn...

Chú thích:

[119] Ông Tiêu : Tiêu diện đại sĩ, mặt xám với chiếc lưỡi cong dài xuống tận ngực, là ông ác chuyên hàng phục yêu, cứu độ.

[120] Nàng Mạnh Tử Khương có chồng là Phạm Hỷ Lương bị Tần Thủy Hoàng bắt làm phu xây Vạn Lý Trường Thành. Nàng lặn lội suốt chiều dài của Trường Thành để tìm chồng thì mới biết chồng mình đã chết, thây vùi đâu đó dưới chân Trường Thành. Nàng khóc suốt ba ngày ba đêm làm sụp đổ một góc Trường Thành và để lộ xác của Hỷ Khương ra. An táng cho chồng xong, nàng nhảy xuống biển Bột hải tự tử. Ngày nay vẫn còn miếu thờ Mạnh Khương nữ tại cửa Đông, Sơn Hải Quan, tỉnh Hà Bắc bên Tàu

« Lùi
Tiến »