QUY CỐ HƯƠNG
Hai người thức tới sáng, ôn lại những kỷ niệm thuở thiếu thời nơi chốn cũ làng xưa. Sáng mùng một Tết dậy sớm, mỗi người dằn bụng một đòn bánh tét rồi anh Ất mới đưa chú Được ra tới bến đò, cậy người quen, gởi gắm cho chú ấy quá giang về Bến Tre.
Bùi ngùi làm sao cái buổi phân ly, kẻ ở người đi ấy. Hai người đứng bịn rịn, tần ngần, không ai nói được lời nào...
Ghe nhổ sào, tách bến, ngó lên bờ còn thấy ảnh lúc thúc chạy theo một đỗi đường. Rồi hổng biết nghĩ sao, ảnh vụt nhảy ùm xuống nước, lội theo ghe. Ghe phải tắt máy, gác sào, ngừng lại để vớt ảnh lên.
Hai người, hết quá giang ghe, tới đeo xe ngựa, rồi níu bửng xe đò. Ngày tư ngày tết, giá xe ngựa, xe lôi gì cũng mắc sấp đôi, sấp ba ngày thường, mà lơ xe nó lèn mình như là gài mắm, hai người cũng đành bấm bụng mà đi. Chiều tối, lúc trời chạng vạng, nhà nhà hai bên đường đã đỏ đèn, hai người mới lần mò về được tới cây da đầu làng.
Cả nhà, ai nấy đều chưng hửng khi thấy một cái bóng đen to lớn, cát bụi đầy mình, mặt mày lạ hoắc, lù lù bước chưn vô cửa. Mấy đứa cháu ngoại khóc ré, chị Ất ở nhà dưới nghe chộn rộn chạy lên, trên tay còn cầm theo cây đũa bếp. Ngó trực thấy ảnh, chỉ đứng chết trân, nghẹn cổ nói không ra tiếng, ngó sửng một hồi rồi khóc òa:
— Phải ba sắp nhỏ đó... hôn!?
Đó rồi vừa khóc vừa đấm ảnh thùi thụi, đấm rồi lại khóc, khóc rồi lại lật mình, lật mẩy ảnh ra, vạch lưng coi thẹo, rờ rẫm coi có phải người thiệt hôn hay là hồn ma bóng quế.
Khỏi phải nói, nhà anh Ất năm đó ăn Tết lớn, vợ chồng con cái sum vầy, gia đình đoàn tụ nhứt gia, niềm vui sướng không bút mực nào tả xiết. Việc đầu tiên là dẹp quách cái bàn thờ ở trên đầu tủ xuống.
Bà con cô bác trong làng, nghe tin ảnh trở về thì tới thăm hỏi nườp nượp. Ai có hỏi thì ảnh cũng chỉ trả lời vắn tắt là mình bị cọp bắt, nó nuốt trông thằng kia cái một, chưa kịp nuốt tới ảnh, kế ảnh được thợ săn cứu thoát. Bọn thợ săn cho ảnh đi theo, không chỉ năm bữa, nửa tháng, mà vui chân ảnh đi giang hồ luôn tới mười mấy năm...
Chuyện vô lý như vậy mà cũng có người tin sái cổ. Còn bà Ba, bả làm như không hay, không biết gì ráo, mà bả cũng chẳng thèm truy cứu gì đến số bạc đã ứng cho gia đình ảnh lúc trước. Thiệt! Cũng không giống bả chút nào!
CHẠY KHÔNG KHỎI NẮNG
Ăn Tết xong, ra giêng anh bàn riêng với chị, anh phải trở lên Sài Gòn một chuyến nữa. Lúc nhảy ghe, không kịp chuẩn bị gì ráo, anh chỉ đem về cho vợ một cái bụng đói, một cặp giò mỏi. Bao nhiêu tiền bạc tích cóp, còn để lại hết trên Sài Gòn, rồi còn đồ đạc, xe cộ nữa chi. Hơn nữa, còn phải trở lên, để nói phải quấy, mấy lời từ giã ông Tám chủ nhà, người đã cưu mang đùm bọc anh suốt mười mấy năm dư, coi anh như là con đẻ.
Ảnh đi biền biệt cả tháng trời, không về mà cũng chẳng nhắn tin gì về ráo. Chị Ất ở nhà sinh nghi, thấy nóng ruột quá nên mới qua bàn với chú Được:
— Hay là ảnh có lập phòng nhì, phòng ba gì ở trển. Vừa mới lớ quớ lú đầu lên, đã bị nó nắm chóp níu lại rồi xiềng giò, xiềng cẳng không cho về. Chú chỉ đường, chỉ nhà cho tôi, tôi bán lứa heo nầy, gom đủ tiền rồi tốc thẳng lên trển, đánh nhau một trận, coi chồng về ai.
Chú Được vừa cười vừa lựa lời khuyên giải:
— Chị là đờn bà, đi xa không tiện. Thôi ráng chờ ít bữa, tôi có công chuyện phải lên Sài Gòn, tôi ghé qua thăm ảnh. Như ảnh có bị bà nào ở trển cầm chưn, buộc cẳng, thì tôi sẽ lập kế cưa xiềng, tháo ống rói rinh ảnh về đây, trả lại y nguyên cho chị, không mất miếng nào. Mà chị phải hứa, đem ảnh về rồi thì chị ráng mà giữ à nghen. Không ai hơi đâu mà đi bắt giùm hoài.
❃
Giang ghe khoai lên tới bến Lò Gốm thì trời đã xế chiều, đi xe kéo hết hai cắc bạc nữa, chú Được mới đặt chân tới trước thềm ba nhà anh Ất. Nhà cửa sau trước vắng tanh vắng ngắt, quạnh quẽ thê lương; độ chừng ảnh đi kéo xe chưa về.Còn đương đứng ngó dáo dác, thì có một ông già đầu bạc, có lẽ là ông chủ nhà, bước ra tằng hắng, e hèm:
— Chú em kiếm ai? Nói qua chỉ cho, xóm nầy có ai mà qua hổng biết.
— Dà! Cháu kiếm anh Ất, hồi lóng trước ảnh mướn nhà ở đậu đây mà.
— Ủa! Chú em chưa hay gì sao? Mà chú em bà con chi với nó? Bạn hữu thôi sao?
Theo như lời ông Tám chủ nhà kể lại thì: “Chú ấy ở đây với qua đã mười mấy năm dư mà có khi nào thấy nhắc nhở gì tối quê hương xứ sở đâu nà. Vậy mà Tết năm rồi, chú ấy đi đâu mất biệt, chừng lên mới nói là về xứ để ăn Tết như người ta. Cái đó mới lại”.
Ờ! Để qua nhớ lại coi... Hôm đó, chú Ất mới lên, cho qua mấy chục bánh phồng rồi nói lời từ giã, trả nhà đặng về xứ. Chuyến nầy về luôn, không trở lên nữa, đồ đạc đã cụ bị sẵn sàng. Qua cầm chú ấy ở lại ăn với qua bữa cơm, chú ấy nôn về nên không kịp ăn miếng nào. Tới chừng xách đồ ra xe, mới sực nhớ còn sót lại tấm tranh thờ, chú ấy mới bắc cái ghế đẩu cho cao, đứng nhóng lên tính gỡ tấm tranh ở trên trang thờ. Lúc ấy vào khoảng chính ngọ, trời đang nắng chang chang, bỗng đâu sụp xuống ui ui, mây đen vần vũ kéo đến che kín mặt trời. Một cơn trốt cuốn cờ ở đâu đùng đùng kéo tới làm cho thiên ám, địa hôn, phi sa, tẩu thạch...
Cơn trốt xoáy nầy rất dữ, thình lình thốc ngược vô nhà, xoáy tròn dưới mấy cái chân ghế, làm cho cái ghế đẩu lung lay lung lưỡng như cái răng bà lão, rồi bỗng nhiên gãy sụm một chân. Chú Ất mất thăng bằng, chới với, bật ngửa ra đằng sau, té luôn xuống đất, kéo theo cả tấm tranh thờ lộng kiếng.
Cái khuôn tranh nặng nề rớt xuống, chấn ngay vô cần cổ. Kiếng bể tan tành, một miếng miểng kiếng văng ra, cắm ngay vô cổ chú, nhè găm nhằm chỗ nhược, máu chảy ra ồng ộc như người ta cắt cổ gà. Hàng xóm thấy vậy, xúm nhau ngoắt xe chở chú ấy vô nhà thương. Mất máu nhiều quá nên mới vừa khiêng vô tới trước cửa nhà thương, chú ấy đà tắt thở, chết không kịp trối, mà nét mặt xem chừng kinh hãi lắm. Quan đốc tờ Tây khám nghiệm tử thi, gắp từ trong cổ họng chú Ất ra một miếng miểng kiếng, dài quá bảy phân, bén ngót, cong vút như cái vuốt cọp.
❊
Chú Được bỗng nhiên rùng mình ớn lạnh. Da gà, ốc ác nổi lên cùng mình, tóc tai dựng đứng hết trên đầu, thất sắc hỏi gặng. Tật cũ đã chữa hết mười mấy năm dư, giờ mắc chứng gì mà cà lăm trở lại, phải rặn từng tiếng như con gà rặn đẻ:— Cái mà... cái mà... tấm tranh thờ lộng kiếng đó là... đó là... tấm tranh gì? Ông Tám... có... có biết... hay... khô...ông... vậy?
— Thì tấm tranh họa hình “Thần Hổ” trấn trạch đó chớ tranh gì, ai mà hổng biết. Chú Ất cắc ca cắc củm rước nó từ dưới Bến Tre lên đây, trót mười mấy năm dư, từ thuở chú ấy mới chưn ướt chưn ráo lên đây lận. Mồng một, ngày rằm, hương đăng trà quả; thờ cúng coi bộ cung kính lắm. Hỡi ôi! Trấn trạch gì đâu, sao tui chửa thấy...!?