HỔ QUYỀN GIA ĐỊNH
Đêm dần tàn. Thếp đèn dầu phộng trên bàn, bà Tư đã châm thêm không biết tới lần thứ mấy rồi, riết rồi bà phát chán, bỏ đi ngủ luôn. Không ai còn uống nổi nữa. “Thiệt... là! Một be rượu, ba thếp dầu, hao dầu hơn hao rượu”, lời đờn bà trong nhà nói chớ có sai, hổng tin thì biết tin ai.
Ngự chình ình giữa bàn là một bình trà sứt vòi, bự tổ chảng, mấy dĩa mứt gừng tráng miệng phò tá xung quanh. Be rượu không mấy cái, nằm lăn lóc cạnh chồng dĩa đã sạch bóng, sạch trơn, láng lẫy như chùi.
Ông Năm gục đầu xuống bàn ngáy pho pho, phập phều cái miệng trống lổng không răng. Cái “củ nừng” hay lúc lắc, bấy giờ mới chịu nằm yên, chổng ngược lên như muốn nghinh trời. Còn cái nết ngủ của Ba Hữu thì xấu đau xấu đớn. Va ngoẻo đầu úp mặt xuống bàn, nước miếng nhểu thành sợi, đọng vũng trên mặt bàn. Va còn ngáy lớn tiếng nữa chớ, tiếng ngáy mắc kẹt ở đâu đó trong cổ họng, cứ rò rè, rọt rẹt, lâu lâu mới thoát được ra ngoài, thành một tiếng “è” thiệt lớn.
Một cái nút be rượu bằng lá chuối khô vấn khéo, lăn lóc trên mặt bàn, mỗi khi Ba Hữu hút hơi vô, nó a thần phù lăn lại như muốn chui tọt vô cái họng tối thui đang mở ra toác hoác. Nhưng đúng lúc đó va lại è lên một tiếng è thiệt lớn, luồng hơi phụt mạnh ra xô dạt cái nút dang xa, đánh thành một vòng tròn rộng trên mặt bàn rồi từ từ lăn về điểm xuất phát. Nó cứ lúc lắc như ngập ngừng, như lưỡng lự không biết có nên nhảy tòm xuống đất phứt cho rồi hay lại tiếp tục cái trò chơi “hút, è” sau đó.
Riêng ông Tư thì ngồi ngay ngắn, nghiêm chỉnh nhứt trong cái đám lộn xộn đó. Mắt mở trao tráo, nhưng nếu có ai đó cắc cớ lấy tay phe phẩy trước mắt ông, thì ông cũng chẳng thèm chớp mắt. Té ra ông đã “đò chìm tại bến” từ hồi nảo hồi nao rồi...
Chỉ có thằng Tám là tỉnh rụi, nó đã chịu khó lò dò ra ngoài mái hiên, múc nước mưa mát lạnh trong mái vú mà rửa mặt hết thảy ba bốn lần, gột hết trơn cơn buồn ngủ. Hình như nó có mưu mô gì đây...
Thiệt ra, thằng Tám nầy là đứa thuộc tánh già Năm hơn ai hết thảy. Nó rành ông già nầy lắm, hễ mỗi lần nhậu say quắc cần câu thì ổng hay “cảm khái” lắm, rồi từ cảm khái bất tử chuyển sang “cảm thán” ngang xương hổng mấy hồi, mà mỗi lần cảm lung như vậy thì ổng hay kể lại chuyện xưa lắm. Cho nên thằng Tám nó hay gạy chuyện để cho ổng nói, ổng có cả kho chuyện xưa. Ông mà nói trạng thì can hổng nổi, dẫu cho ông Ó bên Minh[17], cũng phải le lưỡi lắc đầu, lột khăn, xá cho mấy xá... Ông kể chuyện như rút ruột tằm, đừng ai hòng dứt áo mà đi cho đặng. Ngủ một đêm, sáng ngày thức dậy, vươn vai một cái là ổng quên ráo, cũng không nhớ là mình đã kể chuyện gì nữa.
Tám khều nhẹ bên nách ông Năm:
— Ông Năm ơi, dậy nói chuyện đời xưa nghe chơi đi. Đêm còn dài, thức chờ sáng lâu quá... hà.
Người già hay tỉnh ngủ, ông Năm ngồi ngay ngắn lại, vấn sơ lại cái búi tó trên đầu rồi hỏi:
— Chuyện tao kể, bây nghe nát nước hết rồi còn gì, chuyện đâu mà kể nữa mậy.
— Ông kể chuyện Hổ quyền nghe chơi đi!
— Úy! Nghe chơi sao được mậy! Chuyện sinh tử, đâu phải chuyện chơi! Hơ hỏng nói lậu ra ngoài, chết như không.
— Thì ở đây chỉ có mấy ông cháu mình thôi, chớ có ai đâu xa lạ. Để tui đi nấu nước...
Già chuyện tới đâu, nói thét cũng nhàm, già Năm tuy biết tim đen thằng Tám, nhưng từ giờ cho tới cữ trà buổi sớm, thời gian còn dài, biết nói chuyện chi, nên ông cũng chành cái miệng móm xọm ra mà cười hệch hạc:
— Thôi được! Kể thì kể nhưng bây phải thề là không được nói lậu ra ngoài cho ai biết hết nghe không!
— Cạy miệng cũng không nói! Một tiếng cũng không! Không là không. Tui đi nấu nước pha trà, mà ông Năm phải nhớ chờ tui à nghen, không được kể trước cho ai nghe hết đó.
Vừa nghe ba tiếng “kể thì kể”, Ba Hữu đã vụt mở mắt, nín ngáy. Cái nút be rượu chỉ chờ cơ hội đó nhảy tòm xuống đất. Tuy còn sật sừ, chưa hiểu chuyện chi nhưng Ba Hữu cũng lật đật đốc vô:
— Phải đó! Kể nghe đi thầy Năm, nói nghe chơi.
❃
Ông già Năm dựa ngửa vào lưng ghế, vuốt vuốt bộ râu dài. Bộ râu của ông vừa dài vừa rậm, lại bạc trắng như cước nên ông khoái vuốt mỗi khi “cảm hoài” lắm. Lúc đó, ngó bộ ông già, thiệt là quắc thước, giống hệt như Nam cực tiên ông. Các nếp nhăn chằng chịt, chi chít bao quanh đôi hốc mắt trũng sâu, bỗng giãn ra từ từ. Trong đôi mắt ấy ánh lên biết bao là kỷ niệm rồi bỗng mờ dần, mờ dần, trở nên xa xăm, rất đỗi xa xăm...Ông già đang đi ngược thời gian, trở về quá khứ, lục lọi ký ức, sống lại quãng đời khi ông còn là một cậu bé tí hon, ngồi trum trủm trên bắp vế của ông nội; vừa lén thò bàn tay nhỏ xíu mơn chòm râu bạc trắng, vừa chăm chú hóng chuyện, như uống từng lời kể chuyện chậm rãi, khoan thai...
Năm xảy ra câu chuyện nầy, mặc dù đã có lịnh đốc thúc nhiều lần của vua Minh Mệnh, nhưng cái Hổ quyền[18] chính thức của triều đình Huế ở cạnh đồi Long Thọ, phía Nam mạn sông Hương, vẫn còn “quy hoạch treo”, nằm chình ình trên bản vẽ, gạch đá ì ạch chở về còn để đó ngổn ngang, chưa khởi công xây dựng được ngày nào. Vậy mà, cách đó hàng trăm dặm về phương Nam, cái Hổ quyền của thành Gia Định đã đi vào hoạt động... ì xèo.
Trong lúc trùng tu lại Bát Quái thành. Bởi thấy đá ong, gạch vồ, từ dinh Trấn Biên tập kết về, còn khá là dư dả, bộn bàng, nên Tả quân Lê Văn Duyệt, Tổng trấn Gia Định thành thuở ấy, ngài mới nảy ra ý định xây một cái Hổ quyền dành riêng cho dân Gia Định.
Bí mật mộ các hiệp thợ từ ngoài Trung vô, nhưng địa điểm thì phải chọn gần bến sông để tiện việc chở chuyến vật liệu, (và còn tiện việc nhập lậu thú dữ sau nầy nữa), nên tránh làm sao khỏi cảnh trên bến dưới thuyền, ghe tàu tấp nập chớ. Ở đời, chuyện gì cũng vậy, cho dù đã cố tình “miên lý tàng châm” nhưng cây kim nhỏ xíu giấu mãi trong cục bông gòn lâu ngày cũng phải phòi ra. Huống chi, cả một cái Cô-lô-xi-um (Colosseum)[19] vĩ đại, hoạt động ì xèo, thì làm sao mà che giấu nổi tai mắt của triều đình. Có điều, chưa thấy triều đình có ý kiến ý cò gì ráo. Có lẽ triều đình cũng ngầm hiểu rằng, để bảo hộ cho Chân Lạp, để đối phó với giặc Xiêm đang lăm le gây hấn, thì phương Nam cũng cần phải có một đạo quân thiện chiến, mà tượng binh vốn là một lực lượng chiến đấu hàng đầu[20], (nước Xiêm lúc đó có tượng binh mạnh lắm). Cho nên triều đình cũng đành phải mắt nhắm, mắt bịt, giả lơ, giả điếc mà bỏ qua chuyện nầy, coi như không biết. Duy có một lần, quá bức xúc về việc tranh thương thú dữ, vua Minh Mệnh mới xuống sắc lệnh, cấm tiệt thương lái không được chở cọp Khánh Hòa[21] nhập lậu về phương Nam, (mà phải chở ngược về kinh thành Huế, để phục vụ cho cái Hổ quyền chính thức và duy nhứt của đức Kim thượng mà thôi).
Hổ quyền thành Gia định xây xong vào năm Minh Mệnh đệ bát niên (1827). Cái Hổ quyền xây lậu này, hổng hiểu sao lại giống y chang như cái chính thức ở kinh thành Huế sau nầy, như hai chị em sinh đôi, tuy rằng về quy mô thì phải làm nhỏ hơn chút ít[22], chỉ nhỏ hơn chút xíu lấy có, gọi là.
Đó là một đấu trường lộ thiên, hình vành khăn với hai vòng tường thành khổng lồ xây bằng đá ong Biên Hòa chắc chắn, cao ngất nghểu, chia ra làm hai tầng. Tầng trên là khán đài, có chỗ dành riêng cho ngài Tả quân cùng với các quan chức cao cấp khác dự khán. Còn thứ dân thì ngồi dưới hai mươi mốt cái bậc cấp xây cao. Tầng dưới nuôi voi, thú dữ, riêng cọp được nhốt riêng trong các “khại” lớn, cách nhau bởi các vách ngăn bằng gạch, giữa hai vòng tường xây. Mỗi khại chứa ít nhứt là ba bốn mươi cũi cọp, mỗi cũi có cửa trước lớn và cửa sau nhỏ hơn làm bằng song sắt, trổ ra theo lối cửa vòm, đóng mở bằng một hệ thống ròng rọc có dây xích lớn kéo lên, thả xuống.
Ngoài việc chính thức luyện tập voi chiến, với mục đích luyện tập cho đàn voi quen lần với không khí chiến trận, Hổ quyền còn là nơi xảy ra hàng loạt các cuộc đọ sức giữa voi và cọp, rồi cọp với cọp. Nhưng không có cảnh tượng nào hoành tráng cho bằng cảnh cọp đấu với người.
Đích thân Đức Tả quân Tổng trấn, ngài chọn lựa đấu sĩ trong đám quân lính, tùy tướng thân cận của ngài, ngàn người chọn một. Có khi ngài còn cho phép bọn tội đồ, Hồi lương, Bắc thuận, bọn Tùng thiện, phát phối xung quân, (là bọn tội đồ miền Bắc, miền Trung, bị đày, bị biếm, bị trích giáng vào Nam) cũng có quyền ra ứng thí. Hễ ai có tài thì được cất nhắc cho vào thi đấu, quyền lợi cũng được hưởng y xì như các đấu sĩ khác.
Mới đầu, bọn đấu sĩ chỉ được thi đấu với cọp già, cọp yếu, cọp bị giũa móng, cà nanh, bỏ đói lâu ngày. Lâu dần, võ công tiến bộ, có đẳng cấp hẳn hoi thì mới được thi đấu với cọp trẻ, cọp tơ, cọp mới bắt về hãy còn sung sức. Nhưng nói gì thì nói, vẫn phải khớp mỏ và bọc cẳng cọp lại. Bọc bằng cái túi da, thọc cẳng cọp vào trong túi, rồi rút lại (như mang găng tay đánh bốc vậy). Khi được thả vô đấu trường thì trên cổ cọp lại còn phải mang thêm một cái “cổ dê” thật chắc, làm bằng da trâu thuộc. Một sợi xích sắt dài, bự bằng cỡ cườm tay con nít, một đầu luồn qua cổ dê, còn đầu kia thì tán thật chắc vào một cọc gỗ lim to tướng chôn ngập ở giữa đấu trường. Phạm vi hoạt động của cọp bị giới hạn bởi cái vòng tròn mà bán kính là chiều dài của sợi dây xích đó.
Vũ khí thì “nhân tâm tùy mạng mỡ”, ai thiện dụng loại nào, thì xin mời, cứ việc xài loại đó. Tuy có gì xài nấy nhưng một khi đã vào cuộc rồi thì luật đấu bắt buộc phải kèm theo khiên mây hộ thân. Cái khiên nầy ngó cũng ngộ, khác hẳn với các loại khiên thông thường. Nó hình thuần, giống hệt chiếc thuyền thúng nhỏ, tuy nhẹ nhàng nhưng rất chắc chắn vì được đan bằng những sợi mây đực, phía ngoài lại được bọc thêm một lớp da trâu thuộc.
Trong lúc thi đấu, tả hữu hai bên phải có quân sĩ hộ phòng, chuẩn bị sẵn phèng la, con cúi, pháo tống yểm trợ. Hễ dũng sĩ nào lâm vào cảnh cực kỳ nguy khốn, không còn đủ sức lăn ra khỏi vòng chiến, trong lúc thập tử nhất sinh ấy, phải lập tức hô lớn: “úp khiên!”. Tức thì quăng vũ khí nằm phẹp xuống đất, úp cái khiên mây lên mình, ghì chặt cứng, trân mình chịu trận. Cái khiên mây nầy, như cái vỏ ốc, cái mai rùa, sẽ bảo vệ cho chàng dũng sĩ nhà ta, đang co mình, rút cổ, nằm khít rim như cái bào thai trong bụng mẹ. Loài ác thú, cho dù có khôn ranh tới cỡ nào đi nữa, cũng không có con nào biết cách dùng chân khượi vỏ bắt mồi.
Trong lúc nguy khốn đó, quân sĩ xung quanh phải lập tức ném pháo tống, tung bùi nhùi lửa vào, đồng thời phải khua chiêng, gióng trống, đánh phèng la cho inh ỏi. Loài cọp vốn sợ lửa, nhứt là sợ tiếng động, ắt phải co cụm về một phía. Lính hộ phòng lúc đó, một mặt dùng chàng nạng sắt đẩy lùi cọp lại, một mặt dùng câu liêm “móc” chàng dũng sĩ đang nằm quặt quà quặt quại kia ra.
Trong suốt bề dầy lịch sử của Hổ quyền, chưa thấy có chàng dũng sĩ nào mà dám vỗ ngực khoe rằng mình chưa hề “úp khiên” lần nào.
Thiệt không uổng công cho Tổng trấn Gia Định thành, đã chuẩn bị khá là chu đáo. Lần đó có sứ bộ Xiêm La qua nước ta, (ngoài mặt đánh tiếng là viếng thăm giao hảo, chớ kỳ thực là dòm ngó sau lưng, để đánh giá nhơn tài, thực lực nước Nam ta). Không biết sứ Xiêm đã nghe lời ai xúi biểu, mà cứ nằng nặc đòi xem thi đấu Hổ quyền. Ngài Tổng trấn Tả quân còn đương dục dặc chưa dám quyết, viện cớ còn phải thỉnh ý triều đình, làm cho Sứ thần càng thêm tò mò, thắc mắc, ở cố lì trong dịch quán, ngày đêm trông ngóng, thúc giục. Chưa thấy, chưa về.
Cổng Hổ quyền Gia Định
Hổ quyền Gia định và Hổ quyền ngoài Huế giống nhau như hai đồng xu mới. Đến năm 1835, vua Minh Mệnh hạ lệnh phá hủy toàn bộ thành Phiên An, Hổ quyền Gia Định cũng đành chịu chung số phận.
Lời bình của B.s. Kỳ Hương: Nghi vấn về sự tồn tại của Hổ quyền: Để bảo hộ cho Chân Lạp và chống giữ quân Xiêm thì phương Nam cũng cần phải có một đội tượng binh hùng mạnh. Do đó phải có một nơi thật vững chắc để luyện voi chiến. Hơn nữa, để tổ chức màn "Tay không đả hổ" cho sứ thần ngoại bang thưởng lãm, thiết nghĩ phải có một đấu trường an toàn là điều không phải là vô căn cứ. Tuy nhiên, năm 1835, sau khi Phiên An thành thất thủ, mọi thành quách đều không còn dấu vết, thì nói gì đến đấu trường Hổ quyền.
Chú thích:
[16] Nên biết rằng, con nít thời đó khờ lắm, làm gì có sách báo, ti vi mà xem như con nít bây giờ, cho nên có đứa còn chưa biết con cọp là con gì, hình dạng ra sao. Còn tranh vẽ thì chỉ có tranh thờ: ngủ hổ, thẩn hồ, lão hổ môn thần, in bằng mộc bản, màu mè lòe loẹt, thiệt giống con mèo hơn là con cọp. Truyện ngắn Hết thời oanh liệt trong tập Hương rừng Cà Mau, kể về chuyện cọp ở Cà Mau, nhà văn Sơn Nam có đoạn viết: Sợ nhứt là khi mình đi ruộng, cọp lén vào nhà bắt con nít. Lần đó, cọp tới sân tôi chạy vòng quanh tìm cách vô nhà. Đứa con tôi ở nhà một mình. Nghe tiếng động đậy, nó chạy ra sát hàng rào. Cọp ta không phương thế nào vào trong được nên day lại, thò đuôi vô kẽ hàng rào. Tru’a vế nhà nghe con tôi nói lại: “Ba ơi! Hổi ba di ruộng, có con mèo vện lại đây, thò đuôi vô. Con nắm đuôi mà nó mạnh lắm, kéo ra được chạy vuột”. Chừng đó, lối xóm ai củng hoảng sợ xây hàng rào chung quanh nhà.
[17] ông Ó: nhân vật có thật ở cù lao Minh tỉnh Bến Tre, sống vào khoảng đầu thế kỷ 19. Không ai biết tên thật của ông là gì, chỉ biết ông có tài bẫy ó biển đem ra chợ bán, nên mới chiết danh “Ông Ó”. Tài nói trạng và tiếu lâm của ông hay đến nỗi triều đình Minh Mệnh có vời ông ra ngoài Huế, để nói trạng mua vui cho một số ông hoàng bà chúa. Ở Bến Tre, hễ ai nói láo giỏi, người ta thường khen: “Nói láo là cháu ông Ó”. Chuyện của ông đã được nhiều nhà sưu tầm văn học dân gian ghi lại, được in trong nhiều tập sách của các nhà xuất bản Nam Kỳ trước đây.
[18] Hổ quyền: có khi còn đọc là hổ khuyên, là chỗ nuôi hổ để thi đấu, đừng nhầm lẫn với Hổ quyền là môn quyền thuật bắt chước các động tác của loài hổ.
[19] Colosseum: đấu trường La Mã.
[20] Tượng binh: voi chiến, tượng binh thường được dùng để vận chuyển khí giới, lương thực. Lại còn dùng để mở đường, đạp rào, phá lũy, giống như lực lượng thiết giáp trong các trận thế chiến sau nầy.
[21] Khánh Hòa là địa phương có nhiều cọp nhứt vào thời đó, dân gian có câu: “cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận”.
[22] Tả quân Lê Văn Duyệt chỉ cho nối vách Qui Thành cao thêm 1 thước 5 tấc (thước ta) cho thêm kiên cố, vậy mà ông bị khép vào tội tự chuyên và có ngoại tâm. Vì vậy, nên cái Hổ quyền Gia Định nầy phải xây thấp hơn cái ngoài Huế vài thốn. Hổ quyền ngoài Huế xây xong vào năm 1830 đường kính 50m (thước Tây), chu vi 158m, cao hơn 6m, cũng có hai tầng. Trận đấu voi – hổ cuối cùng diễn ra vào năm 1904 dưới thời Thành Thái.