Một tiếng cọt kẹt lớn vang lên và một cú đẩy mạnh trên tấm ga giường dưới chân làm tôi tỉnh ngủ. Biba dùng giường của tôi như bệ phóng để đẩy nửa thân trên của cô qua cửa sổ trên mái nhà. Chân cô đong đưa qua khung như nửa dưới bị tách rời của con ma-nơ-canh trong cửa hàng.
“Bản tin thời tiết”, giọng của cô rơi xuyên qua cánh cửa sập, “hôm nay là một ngày đẹp trời. Chúng ta đi chơi thôi. Hãy chơi cả ngày Chủ nhật như những người bình thường vẫn làm.”
“Đó là theo suy nghĩ của cậu thôi”, tôi đáp, “tôi hoàn toàn bình thường.” Tôi lật gối sang mặt mát hơn và tiếp tục nhắm mắt.
“Thì như những người đi làm ấy. Chúng ta có thể đi chơi, có bữa trưa ngon lành ở quán rượu và đọc mấy tờ báo, rồi đến khoảng 7 giờ, chúng ta có thể bắt đầu cằn nhằn về việc phải đi làm vào ngày mai.” Sự nhiệt tình của cô như mang phép màu đến với những hoạt động tẻ nhạt nhất và nó rất dễ lan truyền: với Biba, mọi việc đều có thể mang lại cảm giác như lần đầu tiên bạn được làm, dù rằng trước đây đã có nhiều lần bạn cùng làm với người khác.
Tôi ngồi trên giường, mặt bị một tia nắng chênh chếch chiếu lên. Tôi được nhắc nhở rằng mình có việc nghiêm túc để làm, đó là phải xử lý hết những trò vui được tôi tích lũy trong suốt những năm tháng học hành chăm chỉ.
Biba nằm uỵch xuống cạnh tôi và vài giây sau đó kéo theo một tiếng “rắc” lớn từ chân giường bằng gỗ.
“Cậu đã hỏi Rex chưa?” Tôi hỏi, có chút hy vọng rằng cô sẽ nói Rex có việc bận.
“Tôi nói với anh rồi, được.” Cô cười lớn, tiếng cười lanh lảnh từ từ giảm dần, cô thích thú với ý nghĩ rằng thời gian của Rex thì cứ để anh tự chơi một mình đi.
“Nào, nhanh lên, mau đi tắm đi. Tôi muốn đi ngay khi trời còn nắng.”
Tôi không biết vì sao cô lại nóng lòng muốn đi hứng lấy ánh mặt trời ban trưa. Làn da của cô và Rex dường như lúc nào cũng được bao bọc trong những tán cây, và khi đi dạo trong bãi hoang mênh mông, họ như những kẻ truyền giáo giữa sa mạc, phủ kín bằng những lớp kem chống nắng chỉ số cao dày cộp. Tay áo của Rex xắn lên và tôi thấy anh còn gầy hơn so với tưởng tượng của tôi, bắp tay trông chỉ như một mô cơ bé nhỏ nổi trên cánh tay anh. Anh kéo quai váy của Biba ra rồi xoa kem lên vai cô, dùng đầu ngón tay cái quệt lớp kem màu trắng lên hõm xương quai xanh của cô. Biba kiễng chân lên để thoa kem lên má anh. Nhìn từ góc nghiêng phản chiếu, sự tương đồng giữa họ còn trở nên kỳ lạ hơn bao giờ hết. Đôi mắt của Rex đáp lại nụ cười của Biba, điều gì đó liên quan đến sự tương liên giữa khuôn mặt của hai người khiến anh trở nên hào hứng, giống như điện truyền từ dây cáp này sang dây cáp khác vậy. Tôi chuyển ánh mắt của mình ra khỏi cảnh xoa kem cho nhau trông đến là đáng lo này và chuyển tâm vào việc lau vết bẩn trên kính râm của tôi. Lúc họ làm xong xuôi, lớp kem làm cơ thể họ sáng bóng như ngọc trai và trông có vẻ nhợt nhạt hơn bình thường.
Bản thân việc ra khỏi nhà cũng đã là một cuộc phiêu lưu, một trò chơi của những đồng xu lẻ và những cái ví hết tiền.
Rex kiểm tra cửa ba lần để chắc chắn các chốt của đã đóng cẩn thận chưa trước khi chúng tôi có thể bắt đầu lên đường và nếu Biba không đứng ở cuối cầu thang, đứng khoanh tay ngăn anh quay lại thì hẳn anh phải kiểm tra đến lần thứ tư.
Nếu Biba là người rủ rê chúng tôi đi chơi, thì Rex lại là hướng dẫn viên của chúng tôi, anh sải bước về phía trước với đôi tay nhét trong túi. Bụi đường tụ lại thành hạt đen nhỏ xíu bám vào lớp lông mịn trên cánh tay của anh và vón lại cùng kẽm có trong kem chống nắng. Trên cầu vai của anh xuất hiện một lớp mồ hôi mỏng, khiển tôi như nếm được vị muối mặn trên đầu lưỡi.
Chúng tôi đi bộ lên North Hill, với tôi đây là một tuyến đường mới dẫn vào trung tâm làng Highgate. Sườn đồi không dốc như người ta vẫn tưởng, chỉ bởi những tòa nhà cao, nghiêng nằm dọc theo nó nên mới có cảm giác dốc hơn. Được nâng lên bởi những bức tường xiên xẹo nứt nẻ, các căn nhà và khu chung cư trông như nghiêng vào bên trong và tạo cho con đường rộng rãi một cảm giác chóng mặt và chuếnh choáng. Những giàn giáo được dựng lên với khoảng cách đều nhau càng làm tăng thêm cảm giác lún sụt ấy. Tôi có thể tưởng tượng ra cảnh hàng tấn gạch đột nhiên tràn xuống đồi như nham thạch.
Các quán rượu bắt đầu có nhiều người đến thưởng thức đồ uống trước bữa trưa. Chúng tôi đi qua khoảng chục con chó đói khát nằm cuộn mình bên mắt cá chân của chủ, những cái lưỡi hồng thè lè ra vỉa hè, con nào may mắn thì được uống nước trong hộp nhựa, một chú chó giống Border Collie đang ngửi ngửi hít hít, thử liếm một vũng bia đổ tràn ra đất.
Nếu chỉ có tôi với Biba, tôi sẽ đề nghị rằng chúng tôi tìm một chỗ ngồi giữa những người này, giành lấy một bàn trong góc để có thể đưa ra những phỏng đoán về những người khác trong sự im lặng đầy thân thiện.
Cuộc thám hiểm đến Bãi hoang sẽ được đổi hướng, như những cuộc dạo chơi ngắn ngủi khác của chúng tôi, để chuyển thành một buổi chiều chuyên tâm nhìn ngắm mọi người và cùng nhau say sưa với một chai vang đỏ ngon lành. Nhưng sự hiện diện của Rex đã ngăn tôi đưa ra đề nghị đó. Bên cạnh việc tin rằng sự kiên nhẫn của anh đủ để ngồi nhìn người ta qua lại, thì tôi lại rất ngờ vực không biết anh có trí tưởng tượng cần thiết hay không.
Lúc chúng tôi đến bãi hoang Hampstead, cơn khát đã dâng lên tận lưỡi tôi. Sau khi rảo bước rẽ trái vào một đường xe rải sỏi, tòa nhà Kenwood lờ mờ hiện lên một cách bất ngờ như thể nó đang ở rất gần chúng tôi chứ không phải ngược lại. Ánh nắng hắt ra từ những bức tường trắng. Rex thả lỏng nhịp bước, thong thả tản bộ khi chúng tôi đi xung quanh tòa nhà, một khoảng đất dốc dẫn xuống hồ ngăn cách bãi cỏ được cắt tỉa cẩn thận của Kenwood khỏi đám cây bụi của bãi hoang. Từng nhóm người trông như những cụm hoa cúc khảm lên thảm cỏ xanh.
“Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng London lại có thể đẹp đến vậy”, tôi nói vu vơ. Tôi ra khỏi lộ trình của Rex khi thấy biển chỉ dẫn đến một nhà vệ sinh công cộng và lao đến đó, nhảy vào xếp hàng và ừng ực uống nước từ vòi một cách tham lam, tôi nhắm mắt lại để khỏi phải thấy một người phụ nữ mái tóc bù xù, vàng hoe, má đỏ bừng được phản chiếu trên vòi nước bằng thép sáng bóng. Bên ngoài, Biba đang cười khúc khích một cách lạ thường, trong khi Rex đúng cách đó vài mét, hai tay khoanh lại và nhíu mày. Chuyện gì đã xảy ra vậy nhỉ? Tôi nghĩ. Dĩ nhiên họ không thể đánh nhau trong khoảng thời gian ngắn ngủi tôi uống và rửa tay dưới vòi nước mát lạnh được. Nhưng tôi vẫn không đoán được sự thay đổi trong bầu không khí này. Ngay khi Rex nhìn tôi, anh liền vội vã đi qua, ném qua vai một ánh mắt lo lắng. Còn Biba ung dung tản bộ ở phía sau, một nét cười thầm hiện lên trên môi cô.
Rex dẫn chúng tôi đến một con đường zig-zag đến chóng mặt và luồn qua một cánh cửa thấp trên một bức tường gạch rêu để vào một khu vườn có tường bao quanh, trải thảm lá xanh tươi, bàng bạc. Sự thay đổi trong không khí đột ngột như sự khác biệt giữa trong nhà và bên ngoài, thân mật và nồng đượm đến độ giả tạo như mùi của hoa oải hương và hương thảo. Rex thoáng nhìn về phía sau thêm lần cuối và rồi chìm vào một trảng cỏ, lưng tựa vào tường, cau có nhìn cô em gái của mình. Lý do cho sự ra đi vội vã đến mức lỗ mãng của chúng tôi đột nhiên trở nên rõ ràng khi Biba dốc chiếc túi xách của cô ra. Hai bánh sừng bò, một lát phô mai, một gói salad, mấy chai nước và thức uống có ga rơi xuống cỏ. Cô nhìn tôi trong chiến thắng, sau đó lắc túi thêm lần nữa, một cây kem Mini Milk trượt ra. Một dòng kem lỏng chảy ra từ một cái lỗ trên vỏ bọc cây kem và đọng lại xung quanh nó.
“Cậu mang chúng theo từ lúc nào vậy?” Tôi hỏi cô.
“Nó lấy cắp đấy.” Rex đáp. “Khi cô vào nhà vệ sinh, nó vào căng tin thó đồ.”
“Em phải làm thế thôi.” Biba nói. “Chúng ta là dân địa phương. Chúng ta không cần bỏ tiền như du khách cho những thứ thế này.” Cô cầm lên một chai cola hữu cơ đính đầy những hạt băng đá, trông như thể nó là tang vật trong một phiên tòa xử tội sát nhân từ hồi xưa vậy. “Hai bảng rưỡi! Quá đáng chết mất thôi.” Cô nói, dù tôi biết mỗi ngày cô vẫn vui vẻ chi ra số tiền gấp đôi để mua thuốc lá.
“Nếu họ bắt được em...” Rex ôm đầu.
“Nhưng họ có bắt được đâu...” Cô đáp.
“Nhưng nếu...” Anh nhấn mạnh. Tôi vặn nắp chai cola. Bọt ga màu nâu phun ra tung tóe.
“Nơi này giống như một mê cung”, tôi nói. “Tôi có cảm giác giống Alice khi cô ấy đi qua tấm gương soi và dù cô ấy có chọn con đường nào thì nơi kết thúc cũng cách điểm bắt đầu rất xa.”
“Tôi cũng thích truyện Alice lắm.” Biba mơ màng đáp. “Khi tôi còn nhỏ tôi đã cố gắng để leo qua một chiếc gương trong phòng của mẹ tôi và bị rơi từ bệ lò sưởi xuống. Nhìn này.” Cô cho tôi thấy một vết sẹo trắng trông như tia sét trên mặt trong khuỷu tay và nhét một cái bánh sừng bò vào miệng.
“Tôi cũng vậy”, tôi nói, “chuyện của tôi là với cái hang thỏ. Tôi đã bị thuyết phục rằng vấn đề chỉ là tìm đúng hang thỏ và rơi xuống đó thôi.”
Rex đã cố gắng, nhưng không phủi được đàn kiến kéo tới, bu lấy cây kem. “Hồi nó khoảng bảy tuổi, nó đã đòi cả nhà gọi nó là Alice”, anh nói. “Suốt cả mùa hè nó chỉ đeo một sợi nơ buộc đầu màu đen thô kệch và cứ đòi nuôi thỏ trắng làm thú cưng.” Lời nói của anh mang đến một thỏa thuận đình chiến tạm thời và chúng tôi mất một lúc ngồi ăn trong im lặng.
“Sao anh lại biết đến nơi đây?” Tôi hỏi anh.
“Khi còn nhỏ tôi đã phải học cách làm quen với khu này.” Rex sầm mặt nói. Những con kiến bắt đầu bò lên chân anh và anh đứng dậy để lấy nước rửa chúng đi. “Thôi nào”, anh nói, “chúng ta đi thôi.”
Chúng tôi lướt qua những vùng nắng rọi và những bóng cây khi băng qua bãi hoang. Ở những vùng nhiều cây cối, hai người bạn của tôi trông lóng lánh như ánh bạc, như thể họ thuộc về rừng cây bởi làn da của họ sáng lên trong ánh mặt trời được lọc qua tán lá.
Mặt đất đã nhẵn thín bởi những dấu chân. Không giống như ở Queen's Wood, nơi có những con đường mòn lung tung và rắc rối, ở đây có đường đất rộng, hàng chục con đường như vậy qua lại dọc ngang như một cái ổ mèo khổng lồ. Tôi đột nhiên cảm thấy một niềm thôi thúc khiến tôi chạy thật nhanh và chạy theo cách mà nhiều tuần nay tôi không được chạy, để kiểm tra sức chứa của phổi và khả năng làm việc của các cơ đùi cho đến khi chúng run rẩy. Nhưng tôi biết mình sẽ không bao giờ tự định hướng được cho bản thân mình. Những bản đồ ít xuất hiện và những bảng chỉ đường mà chúng tôi đã đi qua chỉ khiến tôi bối rối hơn vì chẳng biết mình đang ở chỗ nào chứ chẳng giúp tôi bớt hoang mang. Chúng tôi đi thành hàng, tôi theo sau Rex, Biba theo sau chúng tôi, cô vừa đi vừa lẩm bẩm lời thoại trong vở kịch mà cô đang tập, thỉnh thoảng cô ngừng đọc để lặp lại một dòng mà cô bị vấp.
Khi Biba gần như bị tụt lại ngoài tầm mắt, Rex và tôi chờ cô bắt kịp bên cạnh một cái cây bị mất một nhánh lớn. Trên nhánh cây bị đứt có hàng trăm vòng tuổi, nhiều đến nỗi không đếm nổi, chúng quây thành một đường viền sẫm màu bao lấy điểm trung tâm trông như lòng đỏ trứng. Tôi lấy đầu ngón chân giẫm thử lên đầu gỗ mục rữa, sau đó chuyển sự chú ý lên cái cây. Nó có lá kim mập mạp sáng bóng và tôi đã giật lấy một ít lá đưa lên mũi ngửi. Trước khi tôi kịp ngửi thấy bất cứ mùi hương nào thì Rex đã đập mạnh vào tay tôi.
“Đừng ăn!” Anh hét lên, trong giọng nói như có tiếng nấc.
“Rex! Sao anh làm thể?”
“Có độc đấy! Đừng ăn!”
“Sao tôi lại muốn ăn nó chứ? Tôi chỉ muốn biết nó có mùi như thế' nào thôi. Lạy Chúa, Rex.” Tôi tìm người hậu thuẫn nhưng Biba vẫn ở ngoài tầm nghe, cắm mặt xuống đường, đôi môi mấp máy lời thoại của cô.
“Tôi xin lỗi.” Rex nói, từ hoảng sợ chuyển sang ăn năn. “Tôi không có ý làm tổn thương cô.”
Anh giơ tay ra để chạm vào tay tôi, nơi anh đã đập vào, nhưng tôi rụt tay lại.
“Anh không làm tôi đau mà làm tôi bị sốc.” Tôi nói. “Nó có độc thật sao? Đây là cây gì nhỉ? Trước đây tôi đã thấy cây như thế này ở khắp mọi nơi. Có một cây trồng trong rừng, gần hàng rào ở nhà mình đấy thôi.” Đây là lần đầu tiên tôi gọi nhà của anh là nhà của tôi, nhưng anh không quan tâm đến sự thay đổi quan trọng trong câu nói ấy.
“Đó là cây thủy tùng. Chúng có thể gây chết người. Một miếng là đủ chết rồi. Biba đã ăn mấy lá trên cái cây bên hàng rào, thật đấy - khi đó nó mới sáu tuổi. Chúng tôi nghĩ rằng nó sẽ chết. Sau đó nó đã bị ốm trong suốt nhiều ngày.”
“Không ai cảnh báo cô ấy sao?”
“Ồ, nó biết chính xác đó là cái gì. Chỉ trước đó một ngày, mẹ tôi đã cảnh báo cả hai chúng tôi tránh xa cái cây ra.” Rex nói. “Bà gọi nó là Cây độc 29* .”
“Vậy tại sao cô ấy lại làm điều đó?”
“Bố tôi vừa trở về từ một buổi chụp dài ngày ở đâu đó. Tôi nghĩ đó là cách nó chào mừng ông trở về nhà. Thậm chí sau đó nó còn có cảm giác tiến bộ trong nghề diễn.”
* Nguyên gốc: The poison tree - đồng thời là tên tựa gốc của tác phẩm.
“Chúa ơi.” Tôi huýt sáo, nhưng Biba đã bắt kịp chúng tôi và tôi nhìn chăm chú lên tán lá để tìm cách thay đổi chủ đề. Bên trái Rex có một cái cây với cái tên không thể đọc ra được khắc sâu vào thân cây, cách đỉnh đầu của chúng tôi khoảng ba mươi đến sáu mươi phân.
“Nhìn đi.” Tôi chỉ.
“À, một cây sồi lớn”, anh nói, “nhìn lá mà cô không biết đó là cây gì sao? Cô có thể tìm thấy vài điều thú vị ở cây sồi, nếu cô ấy chưa biết...”
“Anh là ai, David Attenborough 30* à?” Biba ngắt lời. “Im đi, Rex. Karen chỉ tỏ ra lịch sự thôi, cô ấy không muốn nghe anh nói luyên thuyên về tự nhiên đâu.”
* David Attenborough sinh năm 1926, ông là phát thanh viên và là nhà tự nhiên học người Anh. Ông nổi tiếng với các bộ phim khoa học tự nhiên trên đài BBC.
Nét mặt anh giả bộ như đang miên man suy nghĩ, đó là biểu hiện của việc anh phải rầu rĩ đầu hàng cô em gái.
“Kiểm tra tôi đi, Karen.” Biba nói khi chúng tôi bước ra khỏi tán cây và bắt đầu leo dốc lên đỉnh đồi nắng phủ trắng xóa. Cô bắt đầu hát ca khúc tiếng Đức, lớn tiếng đến mức khiến người qua đường dừng lại và nhìn chằm chằm. Tôi không còn bất cứ điều gì cần phải sửa: cô phát âm một cách hoàn hảo, chưa kể đến cao độ cũng không sai. Biba hạ giọng một quãng tám để đạt được âm thanh như của Marlene Dietrich 31* , cô cảm thấy bài hát đáng được hát như vậy. Tôi tự hỏi làm thế nào để lá phổi mà tôi luôn nghĩ là bé như của trẻ con ấy lại có thể phát ra tiếng lớn đến thế.
* Marlene Dietrich (1901-1992) là diễn viên, ca sĩ người Mỹ gốc Đức từng được đề cử giải Oscar.
Chúng tôi dừng lại ở đỉnh đồi, nhìn về phía những ngọn đồi của Crystal Palace, chúng giấu mình đằng sau làn sương mờ tỏa từ sông lên. Phía dưới chúng tôi, thành phố chen chúc trong một lòng chảo khổng lồ của tự nhiên. Bây giờ, vòng đu quay London Eye đã chắn mất góc nhìn này của thành phố, nhưng năm 1997 nó không có ở đó. Tháp Canary Wharf lờ mờ hiện ra ở ngoại vi bên trái nhưng tòa Centrepoint và tháp Post Office đã thống trị cảnh quan thành phố rồi.
“Nhìn kìa.” Biba nói, tay chỉ vào một tòa nhà thấp tầng đang tựa lưng vào tòa tháp cao nhất. Tôi áp má mình vào má Biba khi nhìn theo hướng ngón tay cô chỉ và nhận ra những tòa nhà thô kệch của Đại học Queen Charlotte. Cô nắm lấy tay tôi. “Đó là nơi chúng ta gặp nhau.”
Những con phố chật hẹp tắc nghẽn và ngột ngạt liền sát với bầu không khí và không gian của ánh nắng trong lành, sảng khoái vẫn phủ lên tôi khi tôi phơi mình trên đỉnh đồi; giờ như treo trên một tấm màn thấp, trộn lẫn với các chất ô nhiễm khác, khiến không khí đặc quánh như keo. Mùi hương của bánh mì mới nướng và tỏi nóng tỏa từ những tiệm bán đồ ăn và tiệm bánh mì chen chúc với những cửa hàng quần áo ở Hampstead, nhưng tôi cũng có thể cảm nhận được mùi xăng và dầu diesel trong không khí. Hai người phụ nữ đẩy xe nôi đi sóng đôi dọc theo vỉa hè hẹp khiến Rex, Biba và tôi phải đi hết sức cẩn trọng trên rãnh nước. Chồng của họ, theo sau họ khoảng năm bước chân, đã cúi mình tỏ ý xin lỗi chúng tôi. Quán rượu tồi tàn mà Biba dừng chân là một điểm đến đáng thất vọng sau cuộc đi dạo đường dài của chúng tôi.
“Đến nơi rồi!” Cô nói với động tác cúi chào và vung tay rất khoa trương. Lớp men bị bong ra khỏi gạch ốp bằng sứ, phủ kín nửa dưới của tòa nhà. Mặc dù không còn biển hiệu treo đu đưa ở tầng trên, nhưng những chữ The Magdala màu đen, viết hoa to rõ vẫn được giăng ngang trước ngưỡng cửa của quán. Hàng chục người mê bia rượu chen chúc trong vườn bia nhỏ, trong khi vài kẻ thích tự do lại mang cốc bia sang bên kia đường, lười nhác đứng dưới tán cây đối diện.
“Ôi Chúa ơi, vào đây làm gì?” Rex nói, nhưng vẫn theo Biba vào trong. Bên trong quán tăm tối và trống trải, trái ngược với bên ngoài sáng sủa, đông đúc. Hai căn phòng dùng chung một quầy bar ở giữa, ở đó chẳng có ai ngoài một ông già đội mũ, khoác áo măng tô đang nhấm nháp một cốc bia nâu đục. Các khung cửa sổ chia ô lớn với những tấm kính màu trông khá thiếu thẩm mỹ đã lọc đi ánh sáng ban ngày, chỉ còn bóng tối âm u khác hẳn với ánh mặt trời rực rỡ mà chúng tôi vừa đi qua. Biba ngồi uỵch xuống ghế. Còn tôi quăng người xuống chiếc ghế bên cạnh. Sự thư thái khi được nghỉ chân của tôi đã lập tức bị lu mờ bởi cơn khát.
“Rex, lấy đồ uống cho em.” Biba ra lệnh trước khi anh kịp ngồi xuống.
“Được. Cảm phiền.” Anh nói, vội vã đi về phía quầy bar như một quản gia sắp về hưu. Một phút sau anh trở lại với một bình nước đá trên một tay, một bình gin tonic 32* trên tay kia và ba cái ly xếp chồng lên nhau được kẹp chênh vênh dưới cánh tay. “Anh đã gọi ba đĩa đồ nướng.” Tôi nghĩ chẳng có món nào kém ngon miệng hoặc ít phù hợp với một ngày nóng nực và dấp dính hon món đó, nhưng Biba vỗ tay nhiệt tình và tôi không còn lòng nào để lên tiếng phản đối nữa.
* Một loại cocktail highball với thành phần rượu gin và nước tonic chế lên đá.
“Cậu nghĩ gì về quán rượu này?” Biba nói. Ngữ điệu sốt sắng của cô khiến câu hỏi ấy gây cảm giác như đang thử tôi vậy.
“Rất đẹp”, tôi nói một cách yếu ớt, “nó... có vẻ lãng mạn bay bổng.”
“Cậu không biết nó đáng sợ thế nào đâu.” Cô nói.
Biba cho tay vào bình nước, lấy một viên đá ra khỏi cốc và thả nó xuống lưng, lấy một viên khác lăn lên trán. Anh trai của cô đẩy một miếng lót cốc qua bàn để thấm lấy chỗ nước vừa chảy ra.
“Vào lễ Phục sinh năm 1955”, Biba nói, thả một viên đá vào miệng và nhai thành tiếng. Khuôn mặt tôi ngập tràn nghi ngờ, Biba liền thở dài. “Biết Ruth Ellis không?” Tôi lại lắc đầu.
Cô ngồi khoanh chân lại và cuộn một điếu thuốc, đó là dấu hiệu cho thấy chắc chắn cô đang chuẩn bị để kể một câu chuyện thú vị. Rex chậc lưỡi và hướng mắt lên trần để bày tỏ rằng anh đã từng nghe chuyện này rồi, theo tiêu chuẩn của anh thì đó đúng là một hành động chống đối táo bạo, và ngay lập tức anh đành nhượng bộ.
“Anh ra ngoài mua báo Chủ nhật.” Anh tuyên bố và lê bước ra khỏi quán khi chưa uống được ngụm nào.
“Ruth Ellis là ai?” Tôi hỏi sau khi Rex ra ngoài.
“Ruth Ellis ấy à?” Biba nhắc lại, giọng nói nhẹ nhàng của cô trở nên nặng nề với sự khinh thường của một người hay một chuyện dành cho kẻ chẳng hiểu biết gì. “Là người phụ nữ cuối cùng ở Anh bị treo cổ. Cô ta đã ban chết người yêu ngay tại đây. Cô ta là tiếp viên hộp đêm, gã kia là một tay đua xe. Nghe hấp dẫn không? Lỗ đạn vẫn còn trên bức tường ngoài kia đấy.” Sau đó Rex nói với tôi rằng Biba biết rõ những cái lỗ ở bên ngoài được tạo ra khi người ta gỡ bỏ bảng biển đi mà không bít lỗ lại, nhưng cô vẫn tiếp tục thao thao với phiên bản ly kỳ hơn của câu chuyện này. “Cậu đã xem bộ phim về câu chuyện ấy chưa, Dance with a stranger 33* ấy? Đó là một trong những bộ phim khiến tôi muốn diễn xuất. Quá lãng mạn.”
* Tạm dịch: Khiêu vũ cùng người lạ - một bộ phim của Anh, sản xuất năm 1985, do Mike Newell đạo diễn.
“Hơi ghê rợn thì có.” Tôi nói.
“Chết tiệt, Karen, cậu xấu xa như anh ấy vậy.” Biba nghiêng đầu về phía ly của Rex, cứ như nó đại diện cho sự vắng mặt của anh vậy.
“Tôi nghĩ đó là sự khác biệt giữa cậu và tôi. Những chỗ cậu cảm thấy khó chịu thì tôi lại thấy nó đầy kịch tính và cuốn hút. Chẳng hiểu hai người bị làm sao nữa.”
Những lời cô thốt ra khiến tôi khó chịu và lẫn cả tổn thương, nhưng tôi không rõ vì sao: vì cô cho rằng tôi sống chẳng có niềm đam mê nào; hay vì cô nói tôi và anh trai cô có điểm chung. Để lôi kéo Biba trở lại thực tại, tôi đẩy nhẹ cô, dùng ánh mắt chỉ về hướng người pha chế cao lớn và nhướn lông mày lên.
“Người Úc?” Tôi mấp máy môi.
“Đồng tính.” Cô nói dứt khoát và tôi cuộn mình trong vỏ bọc an toàn của trò chơi này.
Rex trở về từ sạp báo, trên tay một chồng giấy báo và giấy bóng kính. Anh thả mạnh đống báo xuống mặt bàn, em gái của anh xem qua và chia chúng ra.
“Báo thể thao và du lịch cho cậu”, cô nói, ấn cho tôi tờ báo khổ nhỏ được gấp gọn một cách tùy tiện, “bất động sản cho Rex, còn báo lá cải và mấy thứ linh tinh thì cho tôi.” Cô nói tiếp, tay vẫn gom mấy tờ báo cùng những tờ phụ chương của chúng lại thành một đống lộn xộn, rồi quây chúng trong vòng tay như một đứa trẻ che chắn không cho bạn nhìn bài.
Tôi không quá quan tâm đến thể thao, trừ những môn tôi chơi và với mức thu nhập hiện tại tôi cũng chẳng mặn mà gì với du lịch đó đây; vì vậy tôi không thể thấy thích thú trước những tờ phụ chương mà Biba đưa cho tôi. Thay vào đó, tôi ngồi nhìn họ đọc báo. Biba lật xem từ phần chữ đến phần hình với một sự hào hứng, nhưng thiếu tập trung, thỉnh thoảng cô mở tạp chí từ trang cuối hoặc trang giữa trước, sau đó đọc ngược đọc xuôi tùy ý thích. Rex thì đọc có thứ tự hơn hơn. Anh đọc lần lượt từng trang, bỏ qua bài viết về âm nhạc hay công nghệ, nhưng anh cau mày khi đọc những trang về trang trí nội thất, phát triển bất động sản hoặc làm vườn. Đôi lúc anh lấy một trang báo ra, gấp lại và đặt sang một bên, có lẽ là để lưu giữ và đem dán vào một trong những cuốn sổ lưu niệm ở nhà. Ngón tay của anh bị dính mực in của giấy báo và có một vết nhọ ở giữa trán anh, nơi anh liên tục chạm vào khi đưa tay lên lùa qua tóc hay lúc day day trán.
Thỉnh thoảng họ lại chọn lấy đoạn nào đó và đọc to lên. Đó là một cử chỉ đẹp còn sót lại từ thời Victoria, có lẽ nó là di sản của một thời thơ ấu không có tivi.
“Nghe này, mọi người sẽ thích cái này đấy.” Họ nói. Rex đọc từng câu hoặc từng đoạn riêng lẻ nhưng Biba thường bắt đầu từ tiêu đề và đọc một bài viết dài hai trang từ đầu đến cuối mà không hề vấp váp lấy một từ. Ngoại trừ một lần tôi thấy cô trên sân khấu, tôi nghĩ rằng đây là lần đầu tiên thấy cô không uống rượu hay hút thuốc lá trong một khoảng thời gian dài đến vậy.
“Đến lượt cậu, Karen.” Biba nói sau khi đọc xong. Tôi có một tờ tạp chí Observer để mở tại một trang về những cửa hàng trà ở Granada nhưng tôi đã không đọc nó. “Tìm cái gì đó hay ho đi nào.”
“Ồ, tôi không thể”, tôi nói với giọng không được nhã nhặn, về sau, như bây giờ chẳng hạn, tôi có thể kiểm soát được giọng của mình khi cãi nhau, lúc vui mừng, thậm chí là cả lúc say, nhưng mỗi khi tôi đọc to là nguyên âm của tôi vẫn cứ bèn bẹt và méo mó.
Tôi bị nóng đến nỗi không thể đánh giá được chất lượng của món nướng dù rằng nó được chuyển tới để cứu đói cho tôi. Rex ăn hết phần của anh, một nửa phần của Biba, và một ít của tôi, anh lấy một cái bánh trứng mà tôi không ăn được để quét sạch chỗ nước thịt trên đĩa của Biba. Sau đó anh cười nhẹ với tôi và quay về với đống tạp chí của mình. Một nam người mẫu quảng cáo cho một chiếc đồng hồ lặn to bè đang nhìn chăm chú từ trang báo ra ngoài quán rượu, trông có vẻ chẳng mấy ấn tượng với chúng tôi. Rex cầm cuốn tạp chí đó lên và mở nó ra trước khi đột ngột giật mạnh nó vào ngực anh với biểu cảm đau đớn, việc đó khiến tôi nghĩ anh bị lên cơn đau tim.
“Sao thế?” Tôi hỏi. “Chuyện gì vậy?” Rex lắc đầu, đánh thức sự tò mò của Biba và tôi. Đáng ra anh đã có thể cứu vãn tình hình bằng cách giả vờ bị ợ nóng - đó là một lý do đáng tin cậy sau những thứ anh vừa ăn - hay là bị ong đốt, đau đầu hoặc bất cứ bệnh lý cấp tính nhỏ nào khác. Nhưng trong từ điển của anh chẳng có những từ như khôn khéo, che giấu hay mánh khóe, thay vào đó, ánh mắt của anh hoảng loạn, co rúm trong phạm vi bao bọc bởi đống báo, Biba và tôi.
“Thôi nào, Rex, có vụ gì vậy?” Chẳng giống như em gái của mình, Rex không phải diễn viên.
“Không có gì, nó chỉ là... chỉ là một tin vớ vẩn về nhà kính trồng cây thôi.”
“Khỉ gió”, Biba nói, cười toe toét, “thôi nào, anh phải chia sẻ cho mọi người với chú.” Anh lắc đầu. “Cho em xem nào.” Giọng nói của cô lúc này có một chút sắc bén, không còn là năn nỉ dỗ dành nữa mà chuyển thành đòi hỏi.
“Em sẽ không muốn biết đâu.” Rex nói. Anh gấp đôi quyển tạp chí, ngồi lên nó và khoanh tay lại nhưng muốn Biba không lấy được thì phải làm hơn thế nhiều. Cô vật lộn để lôi nó ra từ dưới mông anh. Rex ôm đầu. Biba mở tờ tạp chí và vuốt thẳng nó. Cả ba chúng tôi nhìn chằm chằm vào bìa báo và thấy khuôn mặt của một người đã khuất.
Tôi chỉ mới được nhìn vài bức ảnh của ông, và chẳng có lúc nào là mới chụp, nhưng chắc chắn đó là ông ấy: già hơn vài tuổi, tăng thêm vài cân và sự thật rằng ông vẫn còn tồn tại trên đời rõ ràng hơn tôi vẫn tưởng, Roger Capel. Ông mặc đồ đen; một người phụ nữ trẻ trông rất quen mặt với mái tóc vàng dài, không lớn tuổi hơn Rex bao nhiêu, quấn lấy ông như một con trăn. Đôi mắt của họ có màu xanh lam giống như nền bức ảnh. Dòng chữ màu vàng đậm trên bìa đã xác định điều đó. “Ra khỏi phòng tối” họ công bố, và với một phông chữ nhỏ hơn, Sự trở lại của Roger Capel. Biba khịt mũi như một chú cún bị làm cho sợ hãi. Cô ào ào lật qua các trang báo cho đến khi cô tìm đến bài báo trên trang bìa. Cô vuốt đi vuốt lại trang giấy, hai bàn tay di chuyển trên mặt báo như thể việc là phẳng tờ báo giúp cô có thể hiểu thấu nó vậy. Mắt tôi đảo đi đảo lại giữa những ngón tay đang cử động của Biba, cố gắng ghép lại những ẩn số. Cột hình ảnh nằm bên sườn trang báo.
Có một bức chụp ông còn trẻ, mặt tròn trịa, mặc áo có cổ kiểu áo polo, tạo thành một tấm ảnh chân dung cá tính, một tay ông kẹp điếu thuốc, tay kia lắp dây bấm mềm cho máy ảnh. Một bức ảnh khác, chụp sau đó khá lâu, cho thấy ông đang đứng bên ngoài một buổi triển lãm mang tên ông được tổ chức tại Phòng Trưng bày Chân dung Quốc gia. Bức ảnh gần đây nhất là bức ông đứng sánh vai với ngài Tony Blair tươi cười và cầm một ly rượu sâm panh. Cặp lông mày sâu róm chứng tỏ bóng hình mờ mờ phía sau họ chính là Noel Gallagher 34* .
* (1967-), ca sĩ kiêm nhạc sĩ người Anh. Anh sáng tác ca khúc và chơi ghi-ta. Anh là thành viên trong ban nhạc Oasis huyền thoại.
Nếu trang đầu tiên là một loạt ảnh về sự nghiệp của ông thì trang tiếp theo trải đầy những bức hình về đời sống cá nhân. Roger Capel và người phụ nữ tóc vàng kia, vây quanh là một đám trẻ con tóc vàng, họ chụp ảnh trong một khu vườn um tùm cây lá với một hồ bơi riêng.
Một bức ảnh thật hào nhoáng nhưng cũng rất đau lòng, một phiên bản đông đúc hơn so với bức ảnh ông cùng gia đình đầu tiên vui chơi bên bể bơi mà tôi tìm thấy trong phòng Rex.
“Cái quái gì thế này?” Cô nhắc lại. Rex không nhìn thấy nên đã sang ngồi cùng chúng tôi trên băng ghế dài và cả ba chúng tôi nhìn chăm chú vào những trang báo trong im lặng.
Tôi tì vào chiếc bàn gỗ tếch chắc chắn. Tôi không thể đoán được họ đang nghĩ gì. Tôi chỉ có thể nếm ly cocktail dường như đang loãng ra bởi sự pha trộn nỗi đau buồn bất chợt, niềm hy vọng và sự bối rối của họ. Bên cạnh tôi, Biba run lên trong im lặng. Tôi muốn ôm và chúc mừng họ về tin tức tuyệt vời này nhưng trong lòng tôi biết mình nên lựa theo phản ứng của họ. Trước khi họ lên tiếng thì tất cả những gì tôi có thể làm là đọc tiếp.
Người phỏng vấn đã tán tụng rất nhiều về cuộc sống cá nhân của Roger Capel, cũng như sự nghiệp của ông, đã khởi sắc trở lại sau khoảng thời gian khó khăn. Một dòng chú thích cho biết người phụ nữ tóc vàng kia là vợ và cũng là nàng thơ thứ hai của ông, Jules Millar. Cái tên này giúp tôi nhớ ra cô ta là người mẫu quảng bá cho một chiến dịch trang điểm khi tôi mười mấy tuổi. Bây giờ, rõ ràng là Jules đã chuyển sang chuyên tâm làm mẹ, viết sách về dinh dưỡng và trò chơi sáng tạo cho trẻ em. Đọc được nửa chừng, tôi đoán rằng Roger Capel thực hiện cuộc phỏng vấn này để thúc đẩy sự nghiệp mới của cô ta cũng như sự nghiệp của bản thân. Những đứa trẻ trong bức ảnh dường như rất được chăm chút, chúng hồng hào và hạnh phúc, là hình mẫu lý tưởng của tuổi thơ tầng lớp trung lưu. Trông chúng không giống anh chị cùng cha khác mẹ. Gia đình đầu tiên của ông chỉ được nói qua loa vài dòng ở đoạn giữa bài viết. Người ta suy đoán rằng cuối những năm bảy mươi và thập niên tám mươi đã có chuyện gì đó xảy ra với cá nhân cũng như sự nghiệp của ông, nhà báo chỉ đề cập đến một “ngày cuối tuần mất mát đã tồn tại suốt hai mươi năm qua”. Sheila Capel được nhắc đến với vai trò người vợ quá cố của Roger, “một người mẫu nhiều rắc rối đã có với ông hai mặt con”. Câu chữ được viết ở thì quá khứ sâu cay như nọc ong, đoạn trích dẫn in đậm ở đầu trang cũng đau chẳng kém cạnh gì.
“Tôi đã được trao cơ hội thứ hai trong công việc và gia đình.” Đoạn trích viết. “Đây là điểm khởi đầu mới của tôi. Không gì quan trọng hơn lúc này.” Biba lật lại một trang và lắc đầu. Cô không thể kiềm chế được nữa, nước mắt chảy tràn trên khuôn mặt Biba. Trang báo trở nên nhòe nhoẹt và hình ảnh ở mặt bên kia, bức hình của mẹ cô, le lói, rờn rợn như một bóng ma. Rex một tay ôm lấy em gái, tay kia cố gắng thấm khô trang báo bằng một miếng giấy ăn.
“Kệ đi, B”, Rex nói, “ông ta là kẻ khốn nạn.”
“Chết tiệt... Em không cho phép điều đó xảy ra. Ông ta không thể làm thế. Đó vốn là vị trí của chúng ta cơ mà.” Giọng nói của cô cao dần lên đến mức chói tai. Cô xô bàn sang một bên, đẩy nó đập vào lồng ngực của tôi, và điên cuồng nhìn xung quanh quán rượu như để đánh giá xem lối ra nào là con đường nhanh nhất để tới chỗ không khí trong lành. “Ông ta không thể làm thế.” Biba rít lên.
“Biba, không!” Rex hét lớn tiếng đến nỗi ngay cả ông già nhỏ bé kia cũng phải rời mắt khỏi ly bia nâu to lớn của mình và ngước nhìn lên. Cuối cùng tôi mới có cơ hội lên tiếng.
“Ông ta còn sống”, tôi cố rặn ra từng lời, “bố của anh. Ông ta còn sống!”
Rex chưa bao giờ thiếu kiên nhẫn nhưng bây giờ anh cũng sắp mất bình tĩnh.
“Tất nhiên là ông ta còn sống.” Anh nói. “Sao lại không còn sống cơ chú?” Một cơn gió ẩm ướt hút sự chú ý của tôi về phía cánh của đung đưa, Biba lập tức biến mất sau nó. Rex bắt kịp khoảng cách đó chỉ trong ba bước nhảy dài. Tôi nhặt tờ tạp chí lên và vội vã chạy theo họ.