Mầm Ác

Lượt đọc: 636 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 24

Dawn đã thực hiện lời hứa hẹn của mình bằng một bữa tiệc chào đón Rex đến Suffolk. Tôi không muốn đi và tôi cũng sẽ không đi, nhưng Sophie nói với Alice rằng sẽ có một bữa tiệc khác được tổ chúc trên tầng dành cho con bé và mấy cô bé học cùng lớp. Khi tôi biết thì mọi thứ đã được chuẩn bị xong xuôi rồi.

“Anh sẽ mặc gì đây?” Rex nói khi đứng trước tủ quần áo mà anh chưa quen thuộc. Khi tôi biết anh sẽ được trả tự do, tôi liền đến Ipswich và mua cho anh tất cả những thứ trang phục mà tôi nghĩ rằng anh sẽ cần. Tôi cảm thấy mình giống một người phụ nữ mang thai mua sắm cho đứa con sắp sinh, tôi tưởng tượng xem quần áo nào sẽ được mặc cho dịp nào, từ chiếc áo khoác hiệu Barbour để anh mặc khi đi bộ dọc theo bãi biển, cho đến áo thể thao mặc sau khi bơi. Tôi ướm lên người anh một bộ Âu phục. Khi mua nó, tôi nghĩ về những cuộc phỏng vấn xin việc chứ chẳng phải những bữa tiệc tối, nhưng nó sẽ rất phù hợp với bữa tiệc.

“Anh thấy mặc nó thì hơi nghiêm túc.” Anh nói, mở áo để kiểm tra lớp lót lụa màu bạc. Tôi nhớ đến bộ Âu phục anh từng mặc, đó là một chiếc áo hàng thùng mỏng manh có hai vạt, anh kết hợp nó với một chiếc áo thun và tôi phải cố quên đi cái đêm anh mặc nó.

“Mặc như thế sang nhà người khác thì có hơi quá lố phải không?”

“Anh chưa biết Dawn Saunders đấy thôi.” Tôi trả lời. Tôi gẩy tung nút áo trên cùng của chiếc sơ mi màu xám tôi đang mặc trước khi lựa chọn quần áo cho chính mình, tôi kéo đôi tất lụa đen lên và mặc thêm một chiếc váy chui màu đen. Tôi tự hỏi liệu có phải anh cũng đang so sánh những bộ quần áo tôi đang mặc bây giờ với những thứ tôi đã mặc vào mùa hè năm đó hay không. Chúng tôi năm xưa sẽ nói gì nếu được gặp chúng tôi của bây giờ? Có lẽ Rex sẽ nói rằng chúng tôi nhìn thật tuyệt vời. Còn tôi sẽ hỏi Biba đâu rồi.

“Sao thế?” Tôi hỏi. Ánh mắt mãnh liệt của anh khiến tôi cảm thấy xấu hổ.

“Trông em rất đẹp”, anh nói, “đẹp theo hướng trưởng thành.”

“Ý anh là trông em già phải không?” Tôi trêu chọc anh.

Rex đưa tay ra như một quý ông đang mời một quý cô nhảy. Tôi nắm lấy tay anh và anh kéo tôi vào một nụ hôn.

“Với anh, em vẫn luôn ở tuổi hai mươi mốt.” Anh nói.

☆ ☆ ☆

Dawn ra mở cửa chào đón chúng tôi. Cô mặc một chiếc váy màu đỏ. Lớp trang điểm của cô tạo thành một chiếc mặt nạ kéo dài từ chân tóc đến tận khe ngực của cô, nơi khe ngực có những hạt kim tuyến lấp lánh. Cô nhìn vào gót giày nhọn hoắt của tôi, rồi lấy từ chiếc bàn phía sau cánh cửa hai miếng nhựa nhỏ và đặt vào tay tôi.

“Cái này để bọc gót giày lại.” Cô nói. “Tôi hy vọng cô sẽ không khó chịu khi mang chúng, vì sàn đá cẩm thạch này rất đắt.” Tôi cúi xuống, gắn miếng bảo vệ xuống gót giày và lách cách giậm chân xuống sàn nhà trơn bóng để kiểm tra. “Tôi rất vui vì mọi người đã đến”, cô nói, hôn gió với hai chúng tôi, và sau đó đến Alice, “chao ôi, chẳng phải trông cháu rất giống bố đó sao?”

“Vâng.” Alice nói một cách vô lễ, rồi nó lên cầu thang và vào phòng ngủ của Sophie mà không tặng lại một nụ hôn hay thậm chí là một lời chào vội vàng.

Ngôi nhà này đủ lớn và những cánh cửa cũng đủ vững chắc để tiếng nhạc cùng tiếng la hét của mấy cô bé không vọng xuống tầng dưới.

“Qua đây, qua đây.” Dawn nói. Tôi có thể nhận ra rằng Rex đã bị căn nhà này cuốn hút. Ngay cả khi những tấm rèm lụa diêm dúa, sàn đá cẩm thạch và đồ nội thất da không phải là gu của tất cả mọi người, thì căn nhà này cũng gây ấn tượng bởi kích thước của phòng ốc và số tiền mà gia chủ đã chi trả để có được những thứ này. Tôi hy vọng rằng anh không nhìn xuống. Gạch ốp trên sàn trông gần giống như đại sảnh ốp màu đen trắng trong căn nhà cũ của anh ở Highgate, dù rằng sàn đá ở đây mịn màng, sáng bóng và không hề có lấy một viên gạch cập kênh.

Dawn tự mình đi mời đồ ăn nhẹ trên một chiếc đĩa bạc. Trong căn phòng mà cô gọi là phòng khách có hai cặp vợ chồng khác, tôi thường gặp họ ở cổng trường của bọn trẻ. Họ cũng mặc quần áo trang trọng, trên tay cầm rượu vang, tay kia cầm bánh nướng và cuộn xúc xích. Dawn có chuẩn bị khăn lót và giấy ăn, nhưng dường như không có chỗ để bỏ chúng. Trong phòng đặt rải rác những chiếc bàn cà phê nhỏ với mặt kính xanh đồng bộ, nhưng mặt bàn lại chất đầy sách nghệ thuật, chúng được xếp thành hình kim tự tháp nhỏ. Có lẽ họ cố ý làm thế vì chồng của Dawn Andrew nghĩ rằng chúng tôi nên thưởng thức cả buổi tối với ly rượu đầy. Anh ta tự gọi mình là người bồi rượu và liên tục hỏi chúng tôi xem chúng tôi muốn uống vang đỏ hay vang trắng. Thậm chí anh ta còn vắt một chiếc khăn trắng trên cánh tay.

Chúng tôi trò chuyện với nhau trong khi Dawn biến vào trong bếp. Vài phút sau, cô lại xuất hiện trong một chiếc tạp dề trông sạch sẽ một cách đáng ngờ, trên đó chỉ có duy nhất một dấu tay màu đỏ tím hết súc phô trương. Nó trông giống như máu.

“Andrew.” Cô nói và chồng cô nhảy vội tới chỉ sau một tiếng gọi của vợ.

“Bữa tối đang được đưa lên.” Anh ta nói, tay mở cánh cửa đôi dẫn vào phòng ăn, “Xin hãy ngồi vào chỗ của mình.”

Chiếc bàn dài được ngăn ra bằng ba lọ hoa tươi, và trên bàn có những tấm thẻ sắp xếp chỗ ngồi cho chúng tôi. Rex phía đối diện, hơi chếch với tôi. Anh ngồi bên dưới bản sao khổng lồ của một tác phẩm do Jack Vettriano vẽ nên, bức tranh được phủ một lớp sơn dầu, nét vẽ có cảm giác rất thật. Tôi nghiên cứu bức tranh một lần nữa. Thực ra, với tính cách của Dawn thì rất có thể nó là bản gốc. Ngọn lửa bốc cao liếm lên lò sưởi phía sau Rex, mặc dù hệ thống sưởi trung tâm đang được bật và đêm nay cũng không phải là một đêm lạnh giá. Má của anh vẫn còn nhợt nhạt nhưng những người phụ nữ khốn khổ đang ngồi ở hai bên anh thì đang ngột ngạt trong mớ quần áo chất liệu satin và nylon của họ, khuôn mặt họ là sự kết hợp hỗn loạn giữa lớp trang điểm đang tan chảy và đôi má đỏ bừng.

Rex là người đàn ông đẹp trai nhất ở đây. Anh chỉ trẻ hơn bố của bạn học với Alice hai hay ba tuổi, nhưng trong khi họ đang bắt đầu rơi vào tuổi trung niên, thì nét mặt của anh mới chỉ hơi có chút tuổi tác.

Dawn mang hết món này đến món kia lên bàn và Andrew rót thêm rượu vào ly của chúng tôi mỗi khi cô vợ bưng món khác lên. Rex và tôi sẽ phải đi bộ về nhà tối nay. Trước đây chúng tôi đã từng lái xe trong lúc say nhưng bây giờ việc đó chỉ khiến chúng tôi khiếp sợ.

“Tôi xin gửi lời khen tới đầu bếp.” Rex nói, nâng ly về phía Dawn.

“Vâng, tôi cũng muốn cố gắng một chút, dù sao tôi cũng không đi làm mà.” Cô nói, ban một cái nhìn thương hại về phía những người phụ nữ khác trên bàn tiệc, tất cả chúng tôi đều phải đi làm còn Dawn thì không. “Và tôi nghĩ mọi người trong bữa tiệc sẽ thấy ngon miệng và không phải ăn những món giống như trên ti vi hướng dẫn, đúng không?”

Sau đó, tôi xin phép đi vệ sinh ngay khi Rex vừa ở nhà vệ sinh ra và gặp anh lúc đi qua sảnh.

“Ở đây anh có thấy thoải mái không?” Tôi hỏi anh.

“Cô chủ nhà cũng khá chu đáo.”

“Cô ta chỉ là một bà nhà giàu mới nổi thôi.” Tôi nói như thể mình xuất thân từ nhà trâm anh thế phiệt vậy.

“Thực ra cô ta khiến anh nhớ đến một người nào đó.” Rex nói. Tôi biết anh đang nhắc đến ai và đành cứng họng. Có thể anh chỉ gặp mẹ tôi một lần, nhưng anh hiểu rõ bà ngay lập tức.

“Đừng nói thế.” Tôi nói với anh. Nhưng anh đã gợi nhắc đến mẹ tôi và tôi biết rằng, chỉ cần có tiền là bà sẽ tạo ra một ngôi nhà thiếu thẩm mỹ chẳng kém gì ngôi nhà này. Tôi thực sự cảm thấy vui vì mình không lớn lên trong nhung lụa.

Ve áo của Rex đang bắt đầu cong lên và tôi lấy tay vuốt phẳng nó xuống.

“Bữa tiệc này toàn đồ ăn sẵn thôi.” Anh nói.

“Ý anh là gì?”

“Lúc nãy anh tìm nhà vệ sinh nhưng lại đi nhầm cửa, cuối cùng đến một căn phòng chứa đồ.” Anh nói. “Có hàng đống túi giấy và hộp đựng đồ ăn của nhà hàng, anh thấy cả một tờ giấy ghi rõ thời gian đưa các món ăn vào lò nướng. Hoặc lò vi sóng. Cô ta không tự làm bất cứ thứ gì.”

“Đúng là đồ con bò.” Tôi mượn một câu mà Alice hay nói, nhưng việc lật tẩy trò gian lận nhỏ của Dawn làm cho tôi cảm thấy yên tâm hơn khi nghĩ về bí mật khủng khiếp của chúng tôi. Và tôi càng phải giữ kín bí mật này, vì khi tôi trở về từ phòng tắm với đôi tay nhầy nhụa đầy kem dưỡng da đắt tiền mà Dawn đặt bên cạnh lọ xà phòng, thì cuộc trò chuyện đổi hướng đi từ đồ ăn sang công việc. Trong lúc tôi không có mặt ở đó, Rex đã tự giới thiệu mình một chuyên gia máy tính đi làm thuê ở xa.

“Anh đã làm gì khi ở nước ngoài hả Rex?” Andrew nói khi tôi trượt vào chỗ ngồi của mình. Rex nhìn tôi bằng ánh nhìn dữ dội và trong một khoảnh khắc đáng sợ, tôi nghĩ anh ấy quên rằng họ vốn nghĩ anh ở nước ngoài, tôi sợ anh sẽ nói sự thật. Khi anh sắp mở miệng ra nói, tôi khẽ đưa đẩy để nhắc nhở anh. Người phụ nữ ngồi bên phải tôi dùng thìa phá vỡ lớp đường cứng trên mặt món caramen. Trong sự im lặng, tiếng lách cách vang như một cành cây nhỏ bị chân đạp gãy và có vẻ nó đã giúp Rex bình tĩnh trở lại.

“Tôi làm về hệ thống máy tính”, anh nói, khum tay giữ lấy ly rượu, “không có gì thú vị cả, tôi chỉ thấy phát sợ.”

“Anh làm việc theo hợp đồng à?” Andrew hỏi.

“Chủ yếu là thế.” Rex đáp.

“Vậy bây giờ anh có dự định gì không?”

“Bây giờ tôi phải tập làm quen lại từ đầu.” Anh nói, “Tôi phải dành thời gian để ở bên Karen và Alice.”

“Có thể tôi sẽ giúp được anh đây.” Andrew trầm ngâm. Anh ta nhảy ra khỏi bàn và mang tới một tờ danh thiếp. “Gửi CV của anh cho tôi trong tuần này và chúng tôi sẽ xem xét thử xem, được chứ?” Tôi không nghi ngờ sự chân thành của Andrew, nhưng vẻ kẻ cả trong giọng nói của anh ta giống hệt cách Dawn nói chuyện với tôi. Anh ta đang chơi trò ông chủ và kẻ hầu với Rex.

“Cảm ơn, Andrew”, Rex nói, “tôi sẽ làm việc đó.”

Dĩ nhiên anh sẽ không làm thế, CV của anh chỉ có vẻn vẹn một tấm bằng về máy tính mà anh có được trong thời gian ở tù. Rex không có người chứng nhận cho công việc anh từng làm, thậm chí anh còn chưa bao giờ được làm việc trong văn phòng riêng với trang thiết bị hiện đại. Hơn nữa, việc kiểm tra lý lịch tư pháp trước khi tuyển người luôn là bóng ma lẩn khuất đe dọa anh.

Để thay đổi chủ đề, tôi kể câu chuyện về vụ bắt giữ của Dave, hoàn toàn bỏ qua đoạn tôi quỳ bằng tứ chi trong phòng ngủ của mình vì lo sợ cho sự tự do của riêng tôi.

“Mọi người biết tại sao đúng không?” Andrew nói, “Họ đang bị chậm tiến độ nên phải sử dụng cả những người lao động không có kinh nghiệm, chỉ để làm cho kịp thời hạn. Đám người Ba Lan kia phải tuyệt vọng lắm nên mới đi thuê cả người Anh.” Anh ta tự cười trước câu nói đùa của chính mình.

“Cứ khi đêm xuống là họ lại bắt đầu làm việc”, tôi nói, “đèn chiếu thẳng vào phòng ngủ của Alice khiến con bé không ngủ được.”

“Công trường xây dựng đó như bị bỏ hoang vậy”, Dawn lên tiếng. “Chúng ta lái xe qua đó hàng ngày, phải không Andrew? Có những đứa trẻ nghịch ngợm trèo qua đó. Ở đó không được bảo vệ, không có gì hết. Trên mặt đất có những hố sâu đến hai mươi feet, đổ đầy bể tông ướt, không có gì ngăn đám trẻ con để chúng không bị rơi xuống. Nghĩ đến đã thấy rùng mình.” Và cô ta rùng mình một cách rất kịch.

“Đó là những gì chúng ta nhận được khi thuê lao động nước ngoài.” Andrew nói đầy uy quyền, và cuộc trò chuyện chuyển sang thảm họa nhận thức của người nhập cư trên bờ biển Suffolk, sức nóng trong phòng ăn trở nên khó chịu. Tôi vui mừng khi cà phê được mang lên, chúng được rót trong những tách sứ Trung Hoa viền vàng.

Alice xin ở lại với Sophie một đêm, như vậy ít nhất Rex và tôi có thể đi bộ về nhà mà không phải cõng theo một cô bé chín tuổi mệt rã rời. Tôi mở cửa xe, không phải để lái xe mà để lấy đôi giày đi bộ của tôi ở dưới gầm ghế khách. Từ khi tôi còn là một sinh viên, tôi luôn mang thêm ít nhất một đôi giày và đặt nó trong xe. Thói quen ấy bắt đầu từ khi tôi thường xuyên đi ra ngoài ngay sau khi đánh quần vợt và sau khi tất cả mọi thứ xảy ra, nó đã trở thành một chứng ám ảnh, như là tôi có thể sẵn sàng vắt chân lên cổ chạy ngay khi bị phát hiện. Đôi bốt trông thật lố bịch, nhìn như một cái hộp màu nâu cục mịch kết hợp với đôi chân đi tất giấy, nhưng tôi không quan tâm.

Cái lạnh của không khí ban đêm khiến chúng tôi dễ chịu hơn sau khi ngồi trong căn nhà nóng hầm hập kia. Ánh đèn pin của chúng tôi xuyên qua màn đêm màu xanh biển đậm. Rex chỉnh cho đèn sáng hơn, soi đèn lên trời, sau đó lại quay về soi sáng con đường trước mặt chúng tôi.

“Thật buồn cười, trước khi anh ra tù, anh cứ nghĩ rằng em không cần cầm theo đèn pin khi đi giữa vùng quê này.” Anh nói. Giọng nói của anh khàn hơn sau khi uống rượu.

“Anh nghĩ tất cả mọi thứ sẽ được ánh trăng chiếu sáng.” Rex tắt đèn trong khoảng một hoặc hai giây. “Nhưng ở đây tối mịt, phải không? Trong rừng không bao giờ tối đến thế này, không bao giờ.”

“Điều đó không hoàn toàn đúng. Chờ thêm một lúc mắt anh sẽ quen với bóng tối.” Để chứng minh quan điểm của tôi, tôi tắt đèn đi khi chúng tôi đến xóm nhỏ nằm giữa nhà chúng tôi và nhà Dawn, nơi có một cột đèn đường chiếu sáng giao lộ. Lúc chúng tôi ra khỏi phạm vi của ánh sáng màu cam, mắt chúng tôi dần thích nghi với bóng tối. Những bụi cây kim tước và cây mâm xôi cao cao nằm dọc bên đường, tách biệt hẳn với màu xám của con đường và bầu trời.

Tôi bảo Rex đi phía sau tôi, nói đùa rằng nếu một chiếc xe đột nhiên lao tới thì tôi muốn anh là người bị đâm trước. Tuy vậy, đó không phải lý do thực sự. Cảm giác nơm nớp khi cảnh sát đưa Dave đi đã biến mất và nỗi sợ hãi quen thuộc quay trở lại. Tôi tưởng tượng đến tiếng chuông điện thoại reo vang trong căn nhà trống trải của chúng tôi mỗi đêm. Tiếng chuông ấy cứ vang vọng trong đầu tôi khi tôi bước đi. Liệu có phải đêm nay kẻ gọi điện bí ẩn kia sẽ cho tôi biết hắn là ai?

Nỗi lo lắng trong tôi tăng dần theo thời gian. Ngay cả khi đi trên một con đường quê vắng vẻ giữa hư không vào lúc 1 giờ sáng, tôi cũng không thể giũ bỏ cảm giác mình đang bị truy đuổi. Bằng việc bảo Rex đi phía sau tôi, ít nhất tôi cũng biết chắc rằng mình đang được dõi theo và tôi biết ai đang làm chuyện đó.

☆ ☆ ☆

Thung lũng chưa bao giờ sinh động như bây giờ, quanh chúng tôi như hiện lên những dáng hình lao đi vùn vụt và những khuôn mặt xa lạ. Dù tôi đã thông thuộc đường đi trong rừng nhưng tôi vẫn vấp chân và phải quờ quạng tìm đường khi đi qua những ngã rẽ. Cuối cùng Biba phải nắm tay dẫn tôi đi dọc theo con đường mà cô và Rex đã chỉ cho tôi. Những tán cây cho chúng tôi một lối ra ở phần rìa của Onslow Gardens. Biba thở dốc, còn tôi cũng chật vật chẳng kém gì, tôi cố gắng gượng bình ổn lại hơi thở của mình.

Chỉ có một ngôi nhà nhìn ra nơi chiếc xe của tôi đang đỗ và chẳng có ai đứng bên cửa sổ. Biba mò mẫm trong túi của tôi và tìm thấy chiếc chìa khóa. Khi chúng tôi ở bên trong xe, cô cài dây an toàn cho tôi rồi mới tự cài cho mình. “Thôi nào, Karen.” Cô nói, kèm theo một cú huých chân thiếu kiên nhẫn. Tôi nghĩ rằng mình quá buồn khổ nên chẳng thể lái xe, nhưng khi tôi đặt một tay lên vô lăng và tay kia đặt trên cần số, tôi cảm nhận được một cảm giác bình tâm đến lạ kỳ mà sự tập trung của việc lái xe mang lại. Tôi đưa cả hai đến nơi duy nhất chúng tôi có thể đi.

Sự im lặng nặng nề bao trùm lấy chiếc xe khi tôi lái qua East Finchley và rẽ vào đường North Circular ở phía Tây.

Ở một điểm gần Neasden, đường đi tỏa ra thành bốn làn xe và khi chúng tôi thả trôi xuống dốc để vào đường hầm, tôi hét lên một tiếng thật dài, nghe như bò rống, tiếng hét ấy làm cơ bắp trên cổ tôi vặn vẹo. Tôi tự thấy kinh ngạc vì không dám tin rằng con người có thể tạo ra thứ âm thanh như thế. Tiếng hét của tôi chỉ dừng lại khi Biba nắm lấy tay lái rồi kéo chiếc xe trở lại trong vạch kẻ đường. Cú sốc khiến tôi thở hổn hển và tôi phải nuốt nước bọt một cách khó khăn. Sự im lặng lại chùng xuống sau tiếng hét của tôi. Khi đến gần Ealing, Biba phá vỡ không gian tĩnh lặng.

“Không hút một điếu thì tôi không thể chịu nổi chuyện này.” Biba nói. “Quanh đây phải có chỗ đỗ xe qua đêm chứ. Nếu thấy thì dừng lại nhé? Cậu có thể dừng xe được không?” Tôi khựng xe lại trên vạch kẻ đường màu vàng bên ngoài một ga nghỉ và bảo cô phải nhanh lên. Biba chỉ móc được trong túi ra mấy đồng xu lẻ. Tôi hất đầu về phía chiếc túi xách của tôi và cô thọc tay vào lấy ví.

Tôi ngồi nhìn hình bóng Biba dựa người vào cửa thu ngân. Cụm từ “hai người đàn ông đã chết” lặp đi lặp lại như tiếng trống thổ dân trong đầu tôi. Tôi có cảm giác rằng cuộc chạy trốn này sẽ không có hồi kết; rằng đó là bước đệm giữa việc vừa xảy ra và một tương lai ảm đạm, bấp bênh.

Biba trở lại với hai gói thuốc lá và một chiếc bật lửa màu tím. Tôi không thể mở lời hỏi cô những vấn đề to tát, bởi vậy tôi bắt đầu từ một câu hỏi nhỏ nhặt. “Cậu học bắn súng ở đâu vậy?” Tôi hỏi. Một câu hỏi vô nghĩa.

“Đấu kiếm, bắn cung và kỹ năng sử dụng vũ khí.” Cô nói. Vẻ ngoài và giọng nói của cô dường như rất non trẻ. “Đó là môn học tự chọn ở năm thứ hai Đại học. Chúng tôi đã học ở một trường bắn.”

“Lạy Chúa!” Tôi đấm vào vô lăng. Tiếng còi vang lên chát chúa. Chúng tôi rẽ vào con phố quen về nhà cũ của tôi.

Biba có vẻ không thoải mái khi ở trong căn nhà này, trái ngược hẳn với sự dễ chịu của Rex. Bất chấp quy tắc cấm hút thuốc trong nhà, Biba vẫn hút khi cô ngồi trên ghế sofa màu yến mạch, lòng bàn chân đen thùi lùi của cô như muốn bôi bẩn lên lớp nhung nhạt màu.

“Cậu có gì để uống không?” Cô hỏi, nhưng ngoài những viên rượu vang đông lạnh thì chẳng có lấy một giọt rượu. Chỉ có nước quả ép và chúng tôi uống luôn bằng bình như những đứa trẻ con.

“Biba, chúng ta đã làm cái quái gì vậy?” Tôi nghe mình nói và tự hỏi tại sao tôi lại nhấn mạnh bản thân như một kẻ đồng lõa.

“Khốn kiếp... Lúc đó tôi hoảng sợ quá.” Cô nói cứ như đó chỉ là một quyết định vội vàng khi đang lái xe vậy.

“Anh ấy không thể nhận hết trách nhiệm về mình được.” Tôi nói. Cô nghiêng đầu suy nghĩ về khả năng hiện tại.

“Tôi nghĩ anh ấy sẽ làm thế.”

“Cậu sẽ không để anh ấy làm thế, phải không?”

“Tôi không biết”, cô nói, “cách đó có thể có tác dụng.”

Trong một khoảnh khắc tôi đã không biết tôi ghét ai hơn: ghét Biba vì những gì cô đã làm, hay Rex vì đã giúp Biba thoát khỏi tội danh. “Cậu nên bớt căng thẳng đi”, cô nói, “cậu sẽ rũ bỏ được trách nhiệm khi anh ấy nhận tội.”

“Tôi không cần rũ bỏ trách nhiệm! Tôi muốn mình vẫn được gặp hai người!” Cô không trả lời nhưng rít nốt hơi cuối trước khi châm tiếp điếu khác. Tôi bắt đầu khóc, nước mắt giàn giụa và tiếng khóc khàn đặc. “Tôi muốn quay về để đưa anh ấy đi.”

“Đừng vô lý thế. Nhìn này, cậu có thể ngừng khóc được không?”

“Giờ đã quá trễ rồi! Hai người đàn ông đã chết!”

Khi tôi bắt gặp ánh mắt của cô, trong đó chỉ toàn sự tức giận.

Sau đó tôi biết rằng khóc lóc hay nói gì thêm cũng sẽ chẳng làm cô nao núng, trong lòng tôi đành buông xuôi.

“Tôi đi ngủ”, tôi nói câu cuối cùng, “đừng đến gần tôi.”

Dĩ nhiên tôi không ngủ. Lúc này giấc ngủ trở nên xa lạ với tôi, cũng như đồ ăn, hay hạnh phúc. Gối vẫn còn mùi hương của Rex và tôi suýt làm mình chết ngạt vì cố tìm kiếm dấu vết anh để lại trong những sợi bông. Đêm nay anh sẽ ngủ ở đâu? Chắc chắn không phải trong phòng của tôi hay của anh. Liệu họ có cho anh ngủ không? Liệu anh có trót lọt với kế hoạch nhận tội giết người thay em gái hay không? Cảnh sát vẫn sẽ tra hỏi anh hay họ sẽ kệ anh, vui mừng vì anh đã giúp công việc của họ trở nên dễ dàng hơn? Trong đầu tôi xuất hiện một ý nghĩ mà tôi không thể gạt bỏ được, đó là ở một mức độ nào đó, Rex sẽ tranh thủ cơ hội ngàn năm có một này để hy sinh bản thân vì em gái. Khi mặt trời bắt đầu lên, nước mắt nhường chỗ cho những cái rùng mình run rẩy sau khi đã khóc đến kiệt quệ. Khoảng hơn 6 giờ gần 7 giờ, tôi rơi vào một giấc ngủ chập chờn, phiền muộn.

Tôi không cố ý khóa cả hai chúng tôi ở trong nhà, nhưng tôi vẫn phải khóa cửa và cài chốt an toàn cẩn thận như một thói quen. Nếu tôi không làm thế thì Biba có thể ra đi mà không làm tôi thức giấc. Tôi giật mình tỉnh dậy khi nghe thấy tiếng Biba lạch cạch mở cửa sau. Tôi đứng ở đầu cầu thang và gọi tên cô ấy. Cũng như tôi, Biba vẫn mặc bộ quần áo từ đêm hôm trước, nhưng cô ấy đã tắm và gội đầu trước khi mặc lại bộ quần áo đó. Từ trên cầu thang nhìn xuống, tôi thấy đôi mắt nằm trên khuôn mặt nhỏ nhắn của cô trông lớn hơn bao giờ hết.

“Cậu đi đâu thế?” Tôi hỏi.

“Đến chỗ bố của tôi.” Cô nói.

“Đến chỗ bố cậu ư? Sau những gì đã xảy ra, liệu ông ấy có cho cậu vào nhà hay không?” Tôi không muốn câu nói của mình làm cô ấy đau lòng, nhưng không thể.

“Thì tôi về nhà.”

“Tôi sẽ đi với cậu.”

“Không, Karen. Rex nói đúng. Đây là rắc rối của chúng tôi. Cậu không cần phải dính dáng vào chuyện này.” Cô nói.

“Không dính dáng ư? Tôi đã ở đó. Tôi đã chứng kiến việc này. Cậu sẽ cần tôi làm nhân chứng, hoặc chứng cứ ngoại phạm hay một vai trò gì đó.” Tôi không thể tin rằng mình sẽ phải sử dụng những từ này trong bối cảnh cuộc sống của riêng tôi. “Cậu cần tôi.” Nếu cứ nói tiếp thì tôi sẽ không còn quả quyết như thế nữa.

“Nhìn đi, mọi thứ chấm hết rồi Karen ạ. Chúng tôi bị mất nhà. Chúng tôi không được ở bên nhau nữa. Còn gì nữa đây? Tôi và Rex sẽ để cậu đứng ngoài chuyện này.”

“Nhưng đồ đạc của tôi vẫn ở trong nhà của cậu!”

“Tôi sẽ nói chúng đều là của tôi.”

“Dấu vân tay của tôi có ở tất cả mọi thứ trong nhà.”

“Có dấu vân tay của rất nhiều người khác nữa. Chúng tôi sẽ nói đó là dấu vết để lại sau bữa tiệc.” Cô bắt đầu thiếu kiên nhẫn. Tôi nhận ra mình đang cầu xin Biba buộc tội tôi, chỉ vì nếu làm thế thì tôi sẽ không mất đi bạn bè, và tôi hiểu rằng điều này thật điên rồ. Cả hai người đều quyết định gạt bỏ tôi. Trong lòng tôi trĩu nặng bởi cảm giác buông xuôi bất ngờ này.

“Tôi thực sự nên rời khỏi đây.” Cô nói khi tôi không có động thái muốn cho cô ra ngoài.

“Cậu thậm chí còn không biết cậu đang ở đâu. Ít nhất hãy để tôi đưa cậu ra ga tàu điện.” Tôi tiễn Biba đến ga Brentford. Cô ngắm nghía mái tóc của mình qua gương, vén một sợi ra sau tai, vuốt phẳng tóc mái và dùng ngón tay trỏ lau một vết bẩn vô hình dưới mắt.

“Cậu có thể cho tôi vay 5 bảng Anh để mua vé về nhà được không?” Cách cư xử lịch thiệp của cô đánh dấu một sự thay đổi không hạnh phúc trong mối quan hệ giữa chúng tôi. Tôi lôi trong túi xách ra một tờ tiền. Đó là một tờ 20 bảng mới cứng, tôi đưa nó cho cô.

“Cậu sẽ nói gì khi quay về nhà?” Tôi hỏi.

“Tôi không biết nữa.”

“Khi nào chúng ta gặp lại nhau?” Tôi hỏi tiếp. Khuôn mặt của cô đanh lại và cô lắc đầu dứt khoát, nhưng có một chút nghẹn ngào trong giọng của Biba khi cô nói, “Tôi xin lỗi.” Cô không hôn tạm biệt tôi như tôi tưởng, nhưng đã nhẹ nhàng đóng của xe trước khi rời đi. Tôi chỉnh gương chiếu hậu để có thể nhìn cô ấy bước vào nhà ga.

Đường phố rất đông đúc và tôi không thể nán lại. Một thân một mình, tôi quay về nơi tôi sẽ phải ép bản thân coi đó là nhà.

☆ ☆ ☆

Tờ báo đầu tiên đăng tải vụ việc là Evening Standard phát hành vào thứ Hai. Tôi tự ép bản thân phải đi bộ qua ba con phố để đến một tiệm tạp hóa và mua báo đầu giờ chiều. Nhà cũ của tôi, ngôi nhà thực sự của tôi bị vây trong dải phân cách, nó được chụp ảnh trên trang nhất dưới tiêu đề cay nghiệt Hai phát đạn - Vụ giết người liên hoàn của nhà triệu phú. Tôi gấp tờ báo vào bên trong, để những ngưới khác chỉ thấy phần tin thể thao vì tôi dám chắc rằng những người nhìn thấy tôi đọc bài báo về vụ việc kia sẽ có thể suy ra sự liên hệ của tôi.

Tôi vào nhà, khóa cửa lại, ngồi quỳ gối trong sảnh rồi trải tờ báo ra trước mặt. Trang ba và bốn của bài báo in một bức ảnh mờ nhạt của Guy và một bức chân dung sắc nét của Tom Wheeler. Tôi vẫn không biết đám nhà báo làm thế nào để tìm ra những bức ảnh một cách nhanh chóng như thế. Chắc họ phải chạy nước rút đến nhà “người thân” của nạn nhân và xin phép được xem album ảnh gia đình trước khi nói lời chia buồn. Phần chữ chỉ chiếm chỗ bằng một nửa phần hình và chẳng cung cấp được nhiều thông tin, tuy vậy nhà báo cũng tiết lộ tuổi của Guy.

“Mười chín”, tôi thầm nhủ, “cậu ta mới chỉ mười chín.” Bài báo chỉ nói rằng một người đàn ông hai mươi bốn tuổi đã trợ giúp cảnh sát trong công tác thẩm vấn. Cách nói khéo léo này khiến tôi cảm thấy nhẹ lòng. Nó giúp tôi tưởng tượng ra cảnh Rex lấy tách trà cho vị cảnh sát thân thiện, chứ không phải run rẩy ngồi trong xà lim.

Người ta không đề cập đến việc một người phụ nữ hai mươi mốt tuổi bị bắt giữ hay tra hỏi.

Hai giờ sau, một tờ báo khác được phát hành với câu chuyện tương tự, nhưng lần này ảnh của Wheeler là một bức chân dung gia đình, một bức ảnh được chụp trong studio, trong đó có anh ta, Jenny và bốn đứa con của họ. Bà quả phụ Jenny Wheeler. Chắc hẳn chính cô ta là chủ nhân của những tiếng la hét mà chúng tôi nghe được khi chạy vào rừng. Tôi nhìn chằm chằm vào trang báo để tìm kiếm thông tin, sau khi nhận thấy không có gì mới tôi liền nhét tờ báo vào sọt rác trong bếp. Cả buổi tối hôm đó, tôi vẫn cảm nhận được sự hiện diện của tờ báo. Dù tôi chỉ nhìn thoáng qua bức ảnh gia đình Wheeler, nhưng nó vẫn in sâu vào võng mạc đến nỗi bây giờ tôi vẫn có thể nhìn thấy nó nếu nhắm mắt và cố nhớ lại.

6 rưỡi sáng, tôi bật ti vi xem Thời sự London, tôi lo lắng đến mức để lại một dấu tay đầy mồ hôi trên điều khiến từ xa. Trong mục tin nhanh, một phóng viên nam trẻ đứng ở hẻm Queenswood tóm tắt tin tức trong tờ Evening Standard và hứa hẹn sẽ kịp thời cập nhật diễn biến vụ án.

Vụ án này không được thông báo trên đài quốc gia vì mọi bản tin vẫn bị chi phối bởi cái chết của Công nương Diana và hậu quả của nó. Nếu không có lẽ vụ giết người sẽ được nhiều người biết đến hơn. Nhưng sự đã rồi, câu chuyện của chúng tôi bị chôn vùi như hàng đống hoa bị nghiền nát dưới sức nặng của giấy bóng kính bên ngoài Điện Kensington. Tôi quyết định ra khỏi nhà chỉ để mua một chai rượu vang, nó sẽ giúp tôi đi vào giấc ngủ. Tay tôi lướt qua một chai Shiraz bụi bặm nhưng nó có màu giống như vết máu trên áo Tom Wheeler, bởi vậy tôi chọn một chai Chardonnay. Loại rượu ấy vừa chua vừa đắng, nhưng chai rượu đã hết sạch trước khi trời tối, và giấc ngủ vẫn trằn trọc như tối hôm trước. Tôi tự hỏi không biết Rex đã được nghỉ ngơi chút nào chưa.

Báo chí siêng năng cần cù bao nhiêu thì tôi nản chí và nhàn rỗi bây nhiêu. Sáng thứ Ba, các tờ báo đều đăng tải vụ việc. Tờ Daily Mail mà bố mẹ tôi vẫn đọc đã dành hẳn ba trang cho vụ án. Nó cùng rất nhiều tờ báo khác được phát hành với tiêu đề Căn nhà khủng khiếp ở Highgate.

Rex được nhắc đến với bức ảnh chụp anh vào đêm tôi gặp anh. Tôi nhận ra chiếc sơ mi sờn cổ. Anh vừa mới cạo râu và trông rất trẻ, rất dễ tổn thương. Một cánh tay phụ nữ gầy gò vòng qua cổ anh và trong góc của khung hình đập vào mắt người ta là mái tóc tẩy màu vàng hoe. Rachael đã không bỏ lỡ cơ hội. Trong vòng hai mươi tư giờ từ lúc vụ việc vỡ lở đến bây giờ, đám nhà báo phát hiện ra tất cả mọi thứ, từ việc Guy - một kẻ bán lẻ ma túy đến công việc của Tom Wheeler và thậm chí là cả tiền lương của gã. Họ biết Biba đã quay cảnh ân ái trong một bộ phim sắp tới, mặc dù họ không nói cô ấy đang ở đâu. Họ liên kết từ Rex đến Roger Capel và kéo tới Jules Millar. Một phần tin vắn với tiêu đề Người đẹp bi thảm, phơi bày tiểu sử giật gân với cuộc đời và cái chết của Sheila Capel. Tôi hoàn toàn bị bỏ qua. Tôi đóng tờ báo và vuốt phẳng trang đầu, Công nưong Diana nhìn tôi qua hàng mi dưới đen dày nặng nề. Đúng lúc này chuông điện thoại reo vang.

Đó không phải một cuộc gọi đáng sợ của cảnh sát hoặc cuộc gọi bất ngờ của Biba, mà là bố mẹ tôi gọi đến. Bố mẹ tôi bình thường vẫn nói chuyện từ tốn qua điện thoại, nhưng lần này lời nói của họ nhào lên nhau như một đàn cá hồi đang bật nhảy.

“Đó là Rex, phải không?” Mẹ tôi hỏi, bố tôi cũng đồng thời lên tiếng, “Karen, con vẫn ổn chứ? Chuyện gì đã xảy ra vậy?”

Sau ba ngày im lặng, những lời đầu tiên tôi nói với người khác lại là những lời nói dối, và đó cũng là những lời nói dối đầu tiên có liên quan đến vụ án.

“Con cũng không biết gì giống bố mẹ thôi.” “Nhưng con phải biết gì đó chứ...”, bố tôi nói. “Người ta bảo là do ma túy.” Mẹ tôi tiếp.

“Con không liên quan đến chuyện đó phải không?” Tôi nói không, và đó là lời nói thật. Tôi biết mình sẽ không bao giờ động đến ma túy bất hợp pháp nữa.

“Mẹ đã có dự cảm xấu từ khi gặp cậu ấy.” Mẹ tôi nói, mâu thuẫn với những lời bà đã nói trước đó hai tuần.

“Bố mẹ đang đến đón con đây”, bố tôi nói, “bố mẹ không thể tìm thấy con từ khi con đi theo cậu ta. Bố muốn biết con đang ở đâu.”

Tôi tựa đầu vào cửa sổ, cổ họng tôi sưng lên vì cố ngăn bản thân nói tất cả mọi chuyện với họ và chấp nhận sự quan tâm của bố mẹ.

“Con sẽ tự lái xe về nhà”, tôi nói, “ngày mai. Nhưng con phải đến trường trước đã.” Đó là cái cớ luôn thành công trong mọi trường hợp của tôi. Tội lỗi xoắn lấy mảnh dạ dày trống rỗng của tôi thành một cái nút chặt khít. Để xoa dịu nó, tôi biến lời nói dối của tôi trở thành sự thật.

Từ khi rời Highgate, bây giờ tôi mới tắm và thay quần áo, nước chảy qua người tôi xám xịt. Tôi bật chiếc đài phát thanh yêu thích của tôi trong khi mặc quần áo. Elton John vẫn hát lời tạm biệt với đóa hồng của nước Anh, tay tôi đặt hờ trên nút tắt nhưng tôi quyết định nghe ông hát và chờ bản tin tiếp theo. Đến 9 giờ, phát thanh viên công bố bằng giọng đều đều rằng Rex Capel bị buộc tội giết Guy Grainger và Tom Wheeler và anh đang bị tạm giam. Qua điều tra, cảnh sát cho biết hiện nay họ không truy tìm thêm người nào có liên quan đến vụ án này. Tôi đã dành cả buổi sáng để chờ Biba gọi điện đến, cho tôi biết chuyện gì đã xảy ra và cô ấy đã khai gì, nhưng điện thoại vẫn im lặng.

Về lý thuyết, tôi không còn là sinh viên của đại học Queen Charlotte, nhưng tôi chưa cắt đứt mọi liên hệ với nhà trường. Trong vòng mười hai tháng sau khi nhận được kết quả tốt nghiệp, tôi vẫn nằm trong sự quan tâm của dịch vụ sau đại học do nhà trường quản lý. Kể cả không phải thế thì tôi vẫn tự tin rằng cô Caroline Alba sẽ giúp tôi với đăng ký học lên Thạc sĩ nếu vẫn còn thời gian. Ở giai đoạn cuối này, tôi sẽ đến bất cứ nơi nào có thể nhận tôi.

Cửa thang máy xịch mở khi đến tầng thứ tư, nơi tôi bước ra là đầu cầu thang. Tôi đến đứng đối diện với bảng thông báo, mọi thứ đã bắt đầu từ đây. Vì chưa đầy một tuần nữa sẽ có một đợt sinh viên mới, nên người ta đã bóc hết những mảnh tờ rơi và thông báo ra khỏi chiếc bảng. Trên tấm bảng ghim trống trải chỉ còn một tấm áp phích chào đón tân sinh viên đến với khoa Ngôn ngữ với hình ảnh của tất cả cán bộ khoa và một vài thông báo nhỏ bên dưới. Đó là một tấm áp phích lớn nhưng không thể che giấu hoàn toàn thông báo tìm một người Đức bản xứ được viết nguệch ngoạc trên tường từ hồi đầu tháng Sáu. Một dòng chữ nhỏ nhàn nhạt thò ra từ góc dưới bên phải của tấm áp phích. BIBA XXX. Tôi bước về phía trước để chạm vào nó, lướt tay qua từng chữ cái trong tên của cô và những chữ X. Tôi cảm thấy ngạc nhiên khi nhận ra rằng mình không hề luyến tiếc vì đã gặp cô ấy.

Ngăn tủ cá nhân của tôi không còn mang tên tôi. Những hốc rỗng nhét đầy những tờ rơi photo xấu xí với nội dung giống hệt nhau, quảng cáo công việc giáo viên tiếng Anh tại Thụy Sĩ dành cho sinh viên mới tốt nghiệp. Tôi nhặt hết những tờ rơi đó ra khỏi ngăn tủ đã từng là của tôi như một thói quen.

Những cánh cửa đôi ở cuối hành lang thường bị chặn bằng một bình cứu hỏa để nó luôn mở ra trong suốt cả học kỳ, nhưng lúc này cửa lại đang đóng. Qua cửa sổ hẹp, tôi có thể thấy cô Caroline Alba đang đến giữa hành lang, cô vừa đi vừa chuyện trò sôi nổi cùng một cán bộ khác. Tôi tì tay lên tay nắm cửa bằng thép và chuẩn bị đẩy cửa ra. Sau đó, tôi lại nhìn xuống tờ rơi trong tay mình một lần nữa. Những từ “bắt đầu ngay lập tức” hiện lên trước mắt tôi.

Tôi rời tay ra khỏi cửa, quay lưng về phía văn phòng khoa và nhấn nút thang máy.

Người phụ nữ trả lời điện thoại tên là Sylvia, là một người Anh sống ở Bern với gia đình và đang cố gắng thành lập một trường Anh ngữ trong thành phố, dù chẳng mấy thành công.

“Người giáo viên mà tôi sắp xếp từ trước đã bỏ bom tôi.” Cô nói. “Việc này đột ngột xảy ra khiến tôi lo sợ. Thậm chí tôi còn phát điên lên. Khóa học sẽ bắt đầu vào tuần tới và tất cả giáo viên ở Bern đều có việc cả rồi.”

“Tôi không có bằng cấp về lĩnh vực dạy tiếng Anh cho người nước ngoài.” Tôi nói với cô ấy như vậy, nhưng sau đó tuôn ra một tràng bằng cấp của tôi, những ngôn ngữ tôi có thể nói tốt và kinh nghiệm làm trợ giảng tại các trường và học viện trên khắp châu Âu.

Sylvia cười đầy lo âu. “Đừng hiểu lầm ý tôi”, cô nói, “nhưng có phải công việc này hơi tầm thường so với khả năng của cô hay không? Tại sao cô muốn đến đây?” Bằng những lời lẽ hòa nhã nhất mà tôi có thể nói ra, tôi bày tỏ mong muốn được đến một nơi khác, rằng tôi sẽ có cảm giác bứt rứt cồn cào nếu cứ phải ở lại London và rằng tôi không muốn nhìn thấy nơi này nữa.

“Tôi yêu thích sự thay đổi môi trường sống.” Tôi nói.

Sylvia sẽ trả tiền vé máy bay và tiền thuê nhà tháng đầu tiên cho tôi nếu tôi có thể có mặt ở chỗ cô ấy khi khóa học bắt đầu. Đây là yếu tố quan trọng, nếu không muốn nói là mang tính quyết định. Lúc đầu mùa hè tôi có dư dả tiền tiết kiệm, nhưng bây giờ số tiền đã giảm đi đáng kể, hơn nữa chỉ vài tuần nữa thôi, Sarah sẽ trở về và tôi sẽ không có nhà để ở.

Ba mươi giờ sau cuộc trò chuyện của tôi với Sylvia, tôi nhét hết đồ đạc của mình vào cốp xe và chạy đến một nhà để xe ở Wembley, tôi phát hiện ra nó khi chen lấn trên đoạn đường tắc lúc đến dự bữa tiệc chia tay của Nina. Nó giống một cái lán hơn một nhà để xe, nhưng chủ sở hữu không hỏi tên tôi hay đặt ra bất cứ câu hỏi nào khi tôi trả trước cho anh ta một năm chi phí và chỉ rời đi với chìa khóa xe cùng thẻ tín dụng quốc tế. Vì hèn nhát nên tôi không thể thẳng thắn nói chuyện với bố mẹ, tôi viết thư cho bố mẹ tôi và Sarah, cho họ biết nơi tôi đến. Sau đó, mang theo một ba lô quần áo mà tôi đã không mặc từ mùa đông năm trước, tôi bắt tàu điện đến sân bay Heathrow. Trong khi xếp hàng đợi check in cho chuyến bay của tôi đến Zurich, tôi nhận thấy một vài chiếc lá rụng vào túi xách của tôi, đó là dấu hiệu đầu tiên báo tin mùa hè đã qua.

Tôi gọi điện về nhà cũ bằng điện thoại trong phòng chờ. Tôi để chuông reo trong suốt năm phút đồng hồ, nhưng không ai nhấc máy.

☆ ☆ ☆

Bern là một thành phố cổ bị dây điện trói buộc. Những tòa nhà theo lối Gothic cổ xưa liên kết với nhau bằng dây điện và dây điện thoại, những sợi dây chồng chéo trên đầu những người đi bộ bên lề đường rải sỏi và những sợi cáp của xe điện chạy dọc theo phố như những dải kẹo cam thảo to đùng. Sau một vài ngày ở đây, bạn sẽ thôi chú ý đến mạng lưới dây điện giăng đầy trời, nhưng lúc mới tới thì bạn sẽ bị sự phi lý của chúng làm mất tập trung.

Tôi có ba ngày để dọn dẹp căn hộ mà Sylvia đã sắp xếp cho tôi và tôi dành cả ba ngày để lang thang trên phố, nhìn lên mớ dây trên đầu, chúng uốn vòng quanh và tránh không vướng vào nhau một cách dễ dàng, tao nhã như cách tiếng Pháp, Ý, Đức và Romansch 52 hòa hợp với nhau trong thành phố này. Tôi không tới những quán cà phê và quán bar để đề phòng bản thân nhớ lại thói cũ mà tôi vẫn cất giấu trong lòng. Đó là thói quen quay sang bên phải và chỉ một người qua đường thú vị cho Biba thấy.

* Tiếng Pháp, Ý, Đức và Romansch là bốn ngôn ngữ chính thức của Thụy Sĩ.

Dạy tiếng Anh ở nước ngoài là cách lý tưởng để giấu mình vào giữa những người không quen biết. Ở đây có một nhóm học sinh, họ đều trẻ trung, rất muốn nói chuyện và uống rượu với những người khác. Học sinh của tôi đến từ khắp nơi trên thế giới, họ bị thu hút bởi ngành công nghiệp ngân hàng hoặc được những người trong bộ máy đó thuê về làm công.

Họ đến rồi đi. Một số người ở lại đủ lâu để hoàn thiện vốn tiếng Anh của mình, những người khác chỉ học cho đủ điều kiện đến London và làm bồi bàn. Nhiều học sinh bỏ học mà không giải thích, nhưng luôn có người mới, và mỗi tuần đều có một bữa tiệc sinh nhật hoặc tiệc chia tay, luôn có lý do để đi vào quán bar khi buổi học kết thúc. Trong những buổi uống rượu ngoài giờ học, tôi làm thêm giờ không lương, nghe những câu chuyện của học sinh và uốn nắn họ bằng cách chỉnh ngữ pháp và yêu cầu họ lặp lại những câu nói để rèn luyện cách phát âm cho đến khi tôi hài lòng.

Tôi không cho họ biết chuyện của riêng tôi. Tôi chỉ có một câu chuyện để kể và nó không phải là điều tôi có thể chia sẻ với bất cứ ai.

Tôi sợ phải gọi điện cho bố mẹ vào mỗi tuần, những lúc ấy tôi quả quyết với họ rằng tôi vẫn ổn và họ giả vờ không biết rằng tôi đang nói dối. Tôi để mái tóc của mình trở về với màu vàng sẫm tự nhiên của nó. Tôi không vùi đầu vào những bài học mà chỉ chăm chăm vào đồ ăn, tôi béo lên vì sô cô la và bánh ngọt do học sinh mang đến lớp. Mì ống sốt kem là món duy nhất tôi nấu trong căn hộ của mình. Tôi nốc hàng lít bia mà không hề quan tâm đến hậu quả.

So với lúc mùa hè thì tôi đã béo đến nỗi không thể nhận ra. Tôi giấu cơ thể của mình trong những bộ quần áo rộng thùng thình. Khi chiều dần buông xuống, tôi để mùa đông bao trùm lấy mình, trong lòng thầm cảm ơn màn đêm đến sớm và khả năng ẩn mình mà nó mang đến cho tôi.

Tôi không biết gì về hệ thống tư pháp hình sự của Anh, nhưng tôi cho rằng Rex sẽ sớm phải ra hầu tòa. Thỉnh thoảng tôi đến thư viện trung tâm và liếc qua tờ báo The Times, nhưng vụ án không bao giờ được nhắc đến. Trong thời gian ở đó tôi luôn kiểm tra email của mình. Đó cách duy nhất để Biba liên lạc với tôi, nhưng chẳng bao giờ có thư. Tôi ước gì mình được nhìn lén khi cô gõ vào mật khẩu email của cô. Bằng cách đó, tôi có thể truy cập vào hộp thư của cô và để lại lời nhắn cho dù cô có thể bỏ qua tôi, hoặc cũng có thể email này chưa hề được động tới vì cô đã thực hiện tốt lời mình đã nói, rằng sẽ không bao giờ sử dụng địa chỉ email tôi lập cho cô.

Emma và cô Caroline Alba đều viết thư cho tôi bày tỏ sự quan tâm lo lắng. Simon gửi cho tôi một dòng thông báo rằng anh ta sẽ kết hôn với Isabel và hy vọng điều này sẽ không gây cho tôi cảm giác khó chịu. Tôi gửi cùng một lời nhắn ngắn gọn cho cả ba người, nói rằng tôi sẽ đi khoảng một năm và sẽ liên lạc khi tôi quay về. Đó là cách cắt đứt liên lạc hiệu quả nhất, từ đó về sau tôi không hề nhận được tin gì từ họ nữa.

Cuối tháng Mười một, trên phố xuất hiện đủ loại dây đèn, chúng nằm dọc theo cửa sổ và khoác những bóng đèn tròn nho nhỏ lên đám cây trụi lá. Ở đây người ta tổ chức lễ hội hành tây, một số học trò của tôi ăn mặc như củ hành tây và nhảy múa trên đường phố trong suốt thời gian diễn ra lễ hội. Trong một vài giờ, tôi thực sự quên đi rắc rối của tôi, cho đến khi tôi đột nhiên nghĩ xem Biba sẽ thích lễ hội này đến mức nào.

Giáng sinh mang đến những cơ hội mua sắm nhộn nhịp.

Giáng sinh dù chẳng kéo dài đến một ngày nhưng đó lại là một ngày lễ Quốc gia ở Thụy Sĩ, và tôi trải qua ngày hôm ấy cùng một số học sinh không thể về nhà. Ngày Giáng sinh, tôi được mời đến dự tiệc cùng Sylvia và gia đình cô trong căn hộ cẩm thạch của họ ở trung tâm phố cổ. Chúng tôi ăn thịt nướng kiểu Anh truyền thống và chơi kẹo pháo được họ đặt mua từ Harrods. Tôi nghĩ họ sẽ thở phào nhẹ nhõm khi tôi ra về. Tôi biết mình cũng thế. Đường đi từ nhà của họ đến căn hộ của tôi gần như chẳng có người và đài phun nước ở Bundesplatz đã dừng hoạt động.

Chuyện nhà Capel vẫn đau đáu trong lòng tôi. Hầu như đêm nào tôi cũng mơ về họ. Trước đây tôi nghĩ rằng nếu không biết gì thì mình sẽ được sống vui vẻ, nhưng thực ra mỗi ngày đều trôi qua trong khổ sở. Đến ngày nọ, một động lực vô hình cho tôi hiểu rằng, thà được biết những sự thật khủng khiếp, còn hơn là để những nỗi căng thẳng leo thang trong cuộc sống của mình. Động lực ấy dẫn tôi vào Thư viện Trung tâm và ở đó, thay vì đăng nhập vào trang email của tôi, tôi gõ vào công cụ tìm kiếm Lycos và ngồi ngẩn mặt trước trang tìm kiếm trống không. Tôi bình tĩnh lại, thầm cảm ơn động lực đã thúc đẩy tôi đến đây. Tôi tìm kiếm Bathsheba Capel. Tôi thấy cô trên trang web Thông tin Phim ảnh. Vai nhỏ của cô trong bộ phim về vua Charles Đệ nhị được nhắc đến và tên của cô còn xuất hiện trong phần giới thiệu của một bộ phim khác nằm ở phía dưới. Ngày phát sóng phim là vào mùa xuân năm 1998. Tôi liên tục kéo trang web lên lên xuống xuống, trong lòng không thể hiểu rõ được chuyện này, cho đến khi tôi đọc phần giới thiệu phim và điếng người khi nhận ra đó là bộ phim hài về những người trúng số. Trong khi anh trai cô bị cảnh sát thẩm vấn, Biba đã thử vai thành công cho vai diễn cô đã chuẩn bị cả tuần trước đó. Tôi cứ nghĩ cô ấy sẽ không khiến tôi sốc thêm lần nào nữa, nhưng chuyện này đã làm tôi vô cùng kinh ngạc.

Tên của Rex trả về nhiều kết quả khác nhau. Tôi tìm đọc chi tiết và khiếp sợ khi thấy một bài báo được đăng trên một tạp chí trực tuyến hợp pháp. Vụ của Rex được coi là một vụ điển hình trong việc thương lượng pháp lý một cách khôn khéo. Một luật sư đã viết ra bài báo đó và làm nó ngập ngụa trong những thuật ngữ pháp lý. Vụ án không hề được đưa ra xét xử. Rex ngay lập tức nhận tội ngộ sát Guy Grainger và giết hại Tom Wheeler. Việc nhận tội nhanh chóng đó đồng nghĩa với việc bản án của anh là một bản án đặc biệt khoan hồng đối với một kẻ đã giết hai mạng người. Anh bị kết án năm năm cho tội ngộ sát Guy và hai mưoi năm vì tội giết Wheeler, hai phán quyết này sẽ được thực thi đồng thời. Hai mươi năm nghe không hề khoan hồng đối với tôi: cuộc đời của tôi lại chìm trong sự giam cầm.

Họ có thể không cần đến tôi, nhưng bây giờ họ không thể ngăn cản tôi bằng lý lẽ rằng tôi đang mang sự tự do của tôi hoặc của họ ra để làm liều. Đã đến lúc về nhà. Tôi thông báo cho Sylvia trước hai tuần và đặt vé máy bay quay về London.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của erin kelly

Truyện bạn đang đọc dở dang