Mầm Ác

Lượt đọc: 638 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 25

Đoàn tàu lao vùn vụt qua Essex và đi vào ngoại ô phía Đông London. Tàu lướt qua những biển báo sân ga mờ mịt ở những đô thị vệ tinh và vùng ngoại ô. Cảnh vật yên bình và buồn tẻ hơn vùng biên giới Thụy Sĩ đầy ấn tượng - nơi đã dần trở nên quen thuộc với tôi. Tôi tưởng tượng rằng đám mây đen vẫn bám theo con tàu là một dãy núi đang ẩn mình. Tôi đến ga Liverpool Street trước khi bản thân kịp thích nghi với môi trường và trong lúc đi qua mấy căn nhà lớn để tới Moorgate, tôi cảm thấy mình giống như một người nước ngoài ở ngay tại thành phố mà tôi từng thuộc về. Trời đang mưa và những vũng nước mang màu đen của dầu loang. Thành phố bốc mùi bụi bẩn và khói xăng dầu. Mùi hương toả ra từ quán cà phê hay tiệm bánh bị chế ngự bởi tầng không khí nặng nề. Có rất nhiều ô tô. Có rất nhiều người.

Tôi dùng một tờ 50 bảng, tờ bảng Anh duy nhất tôi có, để mua một ly cà phê tại cửa hàng Pret A Manger cạnh ga Moorgate. Cô gái không cười đứng phía sau quầy đưa cho tôi một đống 5 bảng nhàu nát và mấy đồng tiền xu vừa quen vừa lạ. Số tiền này trông như đã qua tay tất cả mọi người ở London vậy. Sau khi ngước nhìn bầu trời lần nữa, tôi quyết định mua một chiếc ô. Hành động cuối cùng của tôi trước khi bước xuống ga tàu điện ngầm là đến một bốt điện thoại và gọi đến số điện thoại cũ của Biba. Dù đó là những phím kim loại lạ lẫm, tôi vẫn có thể bấm số mà không cần nhìn. Thông báo cuộc gọi không thể kết nối khiến tôi ngạc nhiên dù rằng tôi đã lường trước được điều đó.

Mấy con chuột đen thùi lùi vội vã chạy trên đường tàu, chúng ngụy trang trong lớp bồ hóng của máng xối nhưng đôi khi chúng bị bại lộ khi chạy trên đường ray thép trần trụi. Đường tàu phía Bắc bị tách làm hai tại điểm Camden Town và hành khách sẽ dễ bị đi nhầm hướng. Có mấy lần tôi lơ đãng đi nhầm lên chuyến tàu đến Edgware, chạy qua Golders Green, thay vì đi đúng chuyến tàu High Barnet qua Highgate. Nhưng lần này tôi để cho hai đoàn tàu High Barnet đi qua và cố ý bước lên tàu đi Edgware. Khoang tàu không đông nhưng vẫn lờ mờ làn hơi do nước mưa trên quần áo, túi xách, ô dù của hành khách bốc lên và ngưng tụ trên ô kính. Tôi ngồi xuống ghế và đặt ba lô của mình lên đùi, nhờ vậy tôi không thể nhìn thấy hình ảnh phản chiếu của chính mình trên cửa sổ phía đối diện. Bên cạnh tôi, một thiếu niên đang dùng tay viết chữ NGỚ NGẨN lên mặt kính phủ hơi nước rồi hà hơi vào kính để tác phẩm nghệ thuật của mình hiện rõ hơn.

Đây là lần đầu tiên tôi đến ga Hampstead. Đó là một ga tàu nằm sâu trong lòng đất, được lát gạch và vắng tanh, giống ga Công viên Regent. Khi ra đến bên ngoài, tôi phải mất một lúc để xác định vị trí của mình. Lần cuối cùng tôi ở đây là giữa tháng Bảy rực rỡ, những mầm non tươi tốt và gan dạ trồi lên từ mọi vết nứt và kẽ hở trên vỉa hè. Hôm nay, mưa rơi xuống theo một góc 45 độ hoàn hảo, rửa trôi mọi sắc màu trên đại lộ. Không còn màu xanh lá cây nữa, chỉ có một màu xám xịt. Tôi lần theo một biển chỉ dẫn đi về phía bệnh viện Royal Free và bắt đầu nặng nề lê bước xuống đồi, vật lộn với chiếc ô mới có cách đóng mở hết sức phức tạp của mình. Cửa sổ của các cửa hàng hắt ra ánh đèn sáng trưng và bầu trời dần tối, vì thế việc thoáng thấy bóng mình trên kính phản chiếu là điều không thể tránh khỏi. Tôi trông giống như một người phụ nữ trung niên, khuôn mặt đầy đặn, cơ thể nhìn sồ sề, mái tóc mỏng dán sát vào da đầu và bị một cái ô làm cho chật vật. Ở South End Green, tôi nhìn thấy một phụ nữ Tây Ấn già nua khoác áo da cừu, tay cầm những túi đựng giày, bà ta ngồi trên một băng ghế dưới đài tưởng niệm, đọc to tên và ngày tháng liên quan đến các vị vua của nước Anh.

Tôi phát hiện thấy địa điểm mà nãy giờ tôi đang tìm là quán The Magdala vẫn nằm ở chỗ cũ. Tôi quay lưng lại với quán rượu, cố gắng nhớ lại những con đường trước đây chúng tôi đã chạy qua một cách điên cuồng. Tôi cảm thấy tự tin hơn khi rẽ phải và tìm thấy Keats' House.

Tôi chạm vào đùi mình, nhớ lại vết bầm đã bám trên chân tôi suốt một tuần và nhớ cách Rex xoa dịu làn da màu vàng nhợt nhạt bằng đôi môi và bàn tay của anh. Tôi tự hỏi tại sao lúc đó tôi lại thấy đường đi phức tạp đến vậy. Trong khi điểm đến của tôi chỉ cách Heath Street hai con phố.

Hàng rào chắn đã thoát khỏi lớp trang phục mùa hè rối bời của mình, chỉ có một cây ông lão uốn éo như rắn còn sót lại bên hàng rào. Chiếc xe thể thao màu đỏ không đỗ trên đường lái xe vào nhà nữa, mà thay vào đó là một chiếc xe vận tải cỡ lớn và ánh đèn chiếu qua rèm cửa mờ đục treo trên cửa sổ phía trước. Tôi nhấn chuông, trong lòng cảm thấy nhẹ nhõm khi thấy họ không lắp camera ở ngoài cổng.

Một giọng nữ mềm mại trả lời tôi, tôi bèn nói, “Tôi đến giao bưu kiện chuyển phát nhanh cho Juliet Millar.”

“Cô cứ vào đi.” Cô ta trả lời. Tôi ngạc nhiên bởi mình được qua cửa quá dễ dàng, thậm chí suýt chút nữa tôi đã bỏ lỡ cơ hội của mình, cứ vậy ngẩn người nhìn cổng mở ra rồi khép lại trước khi vội vã trượt qua cổng. Tôi đến trước cửa đúng vào lúc Jules mở nó ra, khuôn mặt cô ta sáng bừng lên với những mong chờ. Nhưng biểu hiện của Jules thay đổi khi cô ta nhìn thấy tôi, không phải vì cô ta nhận ra tôi mà vì cô ta nhận ra mình đã bị lừa.

“Jules! Xin cô đừng đóng cửa lại. Tôi cần nói chuyện với cô.” Tôi nói. Cô ta cài xích cửa, chỉ để cánh cửa mở hé ra vài phân. “Trước đây chúng ta đã từng gặp nhau. Tôi là Karen. Là một người bạn của Biba.” Tôi nhìn rất khác so với lần trước cô ta nhìn thấy tôi, đôi mắt của cô ta nheo lại, cố gắng nhớ xem tôi là ai. “Tôi... tôi... là bạn gái của Rex.”

Cánh cửa đóng sầm lại trước mặt tôi, sau đó nó được mở rộng ra.

“Cô vào đi.” Cô ta nói.

Jules trông còn dễ thương hơn những gì tôi nhớ về cô ta. Một số phụ nữ mang cái tên ấy sẽ trông thật lố bịch với danh xưng “suối tóc mềm” 53* lố bịch, nhưng với Jules thì hoàn toàn xứng đáng. Ngay cả khi mặc quần áo giản dị, cô ta trông vẫn đẹp hơn những người phụ nữ ngắm vuốt hàng giờ trước gương. Mái tóc vàng óng của Jules xõa xuống mượt mà, cô ta quấn mình trong một cái áo cashmere hoặc mohair đắt tiền và không thể tìm thấy đường chỉ may.

* Tên Jules là tên trung tính, nếu là nữ thì có nghĩa là cô gái có suối tóc mềm.

Tôi nhận thức về sự tương phản giữa chúng tôi một cách sâu sắc và khó chịu. Jules mở một cánh cửa dẫn vào một phòng giặt là, sau đó trải áo khoác, ba lô và đôi giày ướt nhẹp của tôi lên một bộ tản nhiệt để làm khô. Lớp quần áo tôi mặc bên trong hầu như vẫn khô ráo, dù cảm thấy nóng nhưng tôi không cởi bớt quần áo ra. Tôi chưa biết mình sẽ ở đây bao nhiêu thời gian, hoặc việc Jules đón tiếp tôi trong tâm thế thăm dò trong bao lâu.

Trong ngôi nhà này, âm thanh duy nhất là tiếng của một chiếc đài phát thanh vang ra từ căn bếp. Những đứa trẻ dù chưa đến tuổi đi học nhưng rõ ràng là chúng đang ở chỗ khác. Có lẽ bố của chúng đưa chúng ra ngoài chơi, đi dạo hoặc đi ăn trưa. Sự quan tâm đến mức quá đáng của Roger đối với gia đình thứ hai khác hẳn thái độ không thèm để mắt mà ông ta dành cho gia đình đầu tiên, điều đó làm tôi cứng người vì giận dữ.

Tôi theo Jules đến một căn bếp thoáng mát rộng lớn, nó chiếm tới một nửa tầng trệt. Chỉ có những bức vẽ của lũ trẻ con mới có thể giúp cho căn bếp này trông không giống một phòng mổ. Bàn bếp màu trắng chạy dọc theo chiều dài của căn phòng, những trang thiết bị cùng màu nằm cách đều nhau khoảng một mét. Thứ duy nhất mang lại chút màu sắc là một cuốn sách của Jules được đặt bên phải bồn rửa trống không.

Jules pha cà phê bằng bình lọc. Tôi nghĩ cô ta rất vui khi được tỏ ra mình là kẻ có lễ nghĩa và mừng rỡ khi có cơ hội quay lưng lại với tôi, trong khi cô ta vật lộn với hạt cà phê, sữa và đường. Tôi nhớ lại lần đầu tiên mình gặp Nina, trong một căn bếp khác, một bình cà phê khác, một người mẹ trẻ khác, một cuộc đời khác.

Lúc tôi cầm lấy ly cà phê, Jules nói với giọng hết sức phấn khởi, “Dạo này cô sống thế nào?” Tôi không thể chịu đựng sự thống khổ khi phải nói những chuyện vặt vãnh như thế. Tôi đến đây chỉ vì tôi biết không còn cách nào khác để tìm địa chỉ liên lạc của bạn bè của tôi.

“Rex đang ở đâu?” Tôi hỏi. “Tôi biết anh ấy đang ở trong tù, nhưng chính xác là ở đâu?”

“Brixton.” Cô ta đáp. Việc Jules nói ra nơi giam giữ Rex khiến cho tình cảnh của anh trở nên thực tế đến mức không thể lay chuyển được.

“Còn Biba. Cô ấy ở chỗ nào?”

“Cô ấy đã ở đây một thời gian.” Jules nói. Hai tay cô ta nắm chặt lấy chiếc cốc to bè của mình, nó giúp cô ta thấy thoải mái, an tâm cũng như truyền cho cô ta sự ấm áp.

Trên ngón đeo nhẫn cưới của cô ta có đến ba chiếc nhẫn: một chiếc nhẫn trơn, một chiếc nhẫn đính đá to bự và một chiếc nhẫn được nạm những hạt đá nhỏ. “Chúng tôi nghĩ rằng đưa cô ấy về đây là cách làm tốt nhất sau khi... chuyện đó xảy ra.”

“Đó là ý kiến của cô hay của Roger?”

“Vâng, đó là ý tưởng của tôi. Nhưng tôi e rằng việc đó không có tác dụng gì cả.”

“Tại sao không?” Cà phê thật đặc. Chỉ cần một vài ngụm cũng đủ khiến tôi liều lĩnh đối chất một cách kích động.

“Biba là một người khó lường.” Jules thở dài. “Nhà chúng tôi có trẻ con. Và cô ấy đã lái xe đưa chúng ra ngoài chơi.”

“Nghe có vẻ tốt đẹp đấy chứ.” Tôi nói.

“Lúc đó cô ấy đang say, Karen ạ. Biba đâm vào đuôi một chiếc xe khác và khi cảnh sát kiểm tra hơi thở thì thấy nồng độ cồn trong hơi thở của cô ấy cao hơn mức quy định tới ba lần. Sau đó chúng tôi không thể để cô ấy ở lại được nữa, dẫu... trước đây cô ấy đã gặp nhiều rắc rối đến thế nào.”

“Cô có biết nơi Biba đang sống không?” Tôi hỏi. Đột nhiên trong đầu tôi nảy ra một ý nghĩ. Không. Không thể nào. “Chẳng lẽ cô ấy quay về...?”

“Ồ! Không, không, cô ấy không quay trở lại nhà cũ, chỉ về đó một lần để nhận lại những thứ mà cảnh sát đã... ừm, hẳn là cô cũng biết rồi. Cô có còn đồ đạc gì ở đó không? Tôi e rằng hầu hết những thứ chúng tôi không biết của ai đều đã được chuyển đến cửa hàng từ thiện, hoặc chúng tôi đã vứt chúng đi. Tôi biết Biba muốn giữ lại vài thứ đồ của Rex, nhưng... Chắc cô cũng hiểu tại sao chúng tôi khó có thể giữ những thứ đó lại.” Một nụ cười ngượng ngùng nhưng tự đắc hiện lên trên mặt cô ta và cô ta không thể cưỡng lại việc kể cho tôi nghe những gì đã xảy ra với ngôi nhà.

“Thực sự bây giờ cô không thể nhận ra ngôi nhà cũ nữa đâu. Chúng tôi đã biến nó thành năm căn hộ. Tôi rất ngạc nhiên khi nhận ra mình rất thích bất động sản. Đó là một việc rất đáng làm, tôi...” Sự vô cảm trong lời nói của cô ta bỗng trở nên sinh động hơn hẳn cùng đôi má ửng hồng. Ngay cả đôi má đỏ bừng của cô ta trông cũng thật nữ tính, như một cánh hoa đậm màu vương trên gò má.

“Cô có biết Biba đang sống ở đâu không?” Tôi hỏi lại.

“Chúng tôi biết Biba đã đi đâu.” Jules nói, ngụ ý rằng hai câu này không hề giống nhau. “Tôi có địa chỉ của cô ấy. Nhưng đã vài tháng trôi qua kể từ khi chúng tôi gặp nhau.” Cô ta quay lưng lại và lục lọi khắp tủ bếp và ngăn kéo. Cuối cùng cô ta tìm thấy một mảnh giấy được xé ra từ sổ ghi chép. Việc nhìn thấy chữ viết tay của Biba cũng khiến tôi sốc không kém việc nhìn thấy gương mặt cô. Một dòng địa chỉ được viết nguệch ngoạc, đó chỉ là một nửa mã bưu điện - NW1, dòng chữ ấy không có ý nghĩa gì cho đến khi tôi lật tờ giấy lại và nhìn thấy bản đồ do cô ấy vẽ ra, những nét vẽ dài để chỉ dòng nước và một hình vẽ chiếc thuyền trên làn sóng. Tôi mỉm cười vì đã biết chính xác Biba đang ở đâu và sống với ai.

“Chỗ này rất gần”, tôi nói, “đó Camden Town. Chỉ cần đi thẳng xuống đường lớn thôi, mất khoảng hai mươi phút đi bộ.”

“Biba và bố cô ấy, tất cả chúng tôi đã không giữ được mối quan hệ tốt đẹp.” Jules nói. “Hãy nói với Biba rằng chúng tôi luôn chào đón cô ấy ghé chơi bất cứ khi nào cô ấy muốn.”

“Chỉ cần không chuyển đến đây ở là được.” Tôi nhanh nhẹn đính chính hộ cô ta.

“Không”, Jules tỏ ra rất kiên quyết, “đến đây sống thì không được. Tôi phải lo cho con tôi. Khi nào có con thì cô sẽ hiểu.” Cô nhìn xuống cái bụng được ngụy trang dưới lớp len và bông của tôi. Dù Jules cũng giống những người chẳng may xúc phạm đến một người phụ nữ béo, nhưng khi nói ra câu này, cô ta đã khéo léo hỏi một câu hỏi hết sức rõ ràng.

☆ ☆ ☆

Tôi tiếp tục cuộc hành trình, đi xuống đồi Haverstock, rời khỏi Hampstead. Ở phía trên đồi, những quán rượu tôi đi qua đều quảng cáo các món ăn trên bảng đen đặt ở bên ngoài, và khi tôi đi tiếp xuống phía dưới, hàng quán lại sử dụng âm nhạc để lôi kéo khách hàng. Những vùng lân cận dần dốc xuống khi tôi đi qua dãy phố với những căn hộ trát vữa ở Belsize Park, tới những căn biệt thự ở Chalk Farm và cuối cùng là đến Camden Town với kiến trúc hỗn loạn, tù túng. Tôi bắt đầu nhớ lại cách để tỏ ra mình là người London. Tôi tránh khỏi đám buôn ma túy luôn miệng thầm thì thậm thụt và những đám sinh viên tò mò khoác theo ba lô Invicta. Khi tôi đến chỗ đập nước và bước xuống những bậc thang chật hẹp dẫn ra kênh, tôi phải hạ thấp người hết sức có thể.

Con đường chạy dọc bờ kênh trải ra trong màn sương mờ, khác hoàn toàn phố xá mưa phùn giăng giăng. Trời đã tối, tôi đi theo hơi thở của chính mình, con đường tôi đi mơ hồ như những chỉ dẫn của Biba. Tôi đi về phía Tây, rời khỏi đoạn cuối con kênh đẹp như tranh vẽ với những dây đèn nhỏ điểm xuyết trên cây cối và những chiếc đèn lồng thắp sáng lối đi. Khi đi ngang qua Sở thú London, tôi phải chun mũi lại khi mùi hôi thối từ những nóc chuồng chim phủ lưới xộc thẳng vào mũi tôi. Một chiếc sà lan du lịch vui chơi đang ầm ầm đi ngược hướng với tôi. Trên thuyền chứa đầy khách du lịch ngà ngà say, họ đang có một chuyến du ngoạn kết hợp bữa tối. Tôi đi sâu xuống gầm cầu ẩm thấp, nơi người ta vội vã qua lại mà không liếc nhìn nhau dù chỉ một lần. Có rất ít người đi qua đây, chỉ có một người dắt chó đi dạo, một tay lái xe đạp đơn độc, một cặp đôi chạy bộ có vẻ rất sung và vài người ngồi trên băng ghế uống rượu.

Tôi nhanh chóng nhận ra rằng con kênh biến mất vào một đường hầm trống hoác, và nguyền rủa bản thân mình vì đã bỏ qua con thuyền mà tôi đang tìm kiếm. Sau đó, tôi đã nhìn thấy nó, nằm ở cuối dãy sà lan đang neo đậu dọc theo con đường tôi đi. Chiếc thuyền màu đỏ ấy có lẽ là con thuyền tồi tàn nhất tôi từng thấy, dòng chữ Aminah in nghiêng màu vàng phai nhạt được sơn ở mạn thuyền. Nóc của những chiếc thuyền khác thường đặt các chậu phong lữ già cỗi và hàng rào nhỏ, nhưng trên nóc chiếc thuyền này chỉ có mấy cái hộp và khung gỗ nằm chênh vênh. Khoảng cách giữa thuyền và bờ khá rộng. Cách duy nhất để lên xuống thuyền là xoạc chân nhảy qua, còn tôi thì chưa từng thử làm việc đó. Một chút ánh sáng hắt qua cửa sổ của con thuyền. Tôi dừng lại, đột nhiên cảm thấy ngại ngần. Đây có thể sẽ là hồi kết cho những cố gắng tìm kiếm của tôi, tôi cảm thấy lo lắng vì đã lâu chưa gặp Biba. Sau vài giây do dự, tôi quyết định gọi tên một người khác, không phải Biba.

“Arouna?” Tôi hét vào bóng tối. “Arouna! Anh có ở đó không?”

Anh ta không đi ra từ bên trong thuyền, mà đi tới từ nơi nào đó trên boong. Anh ta như một cái bóng im lặng và tối tăm, rồi đột nhiên cái bóng ấy phát hiện khả năng tách ra khỏi bóng tối và biến bản thân trở thành người bằng xương bằng thịt. Đôi mắt và hoa tai của Arouna lấp lánh khi anh ta nheo mắt nhìn tôi.

“Xin chào, Arouna”, tôi nói nhẹ nhàng, “anh còn nhớ tôi không?”

Anh ta nhấc thân thể đồ sộ của mình lên và tôi tự hỏi một người đàn ông to lớn như vậy sống trên con thuyền nhỏ bé như thế bằng cách nào. Chắc hẳn anh ta phải chui ra ngoài thì mới có thể đứng thẳng lên được. Anh ta mặc một chiếc áo phao bên ngoài tấm áo muu-muu và một chiếc quần thể thao thò ống ra dưới vạt áo.

“Có!” Anh ta nói, nghiến răng đắc thắng sau một lúc tập trung cao độ. “Tôi nhớ ra cô rồi. Cô là một người bạn của Biba, vì thế cô cũng là bạn của tôi. Vào đi, vào đi.” Anh ta chìa bàn tay có đeo găng hở ngón về phía tôi. Tôi nắm chặt lấy cổ tay anh ta, tự tin đặt một chân lên đuôi thuyền và nhảy qua đó. Lực đẩy của túi đồ trên lưng tôi cho tôi biết mình vừa úp mặt vào ngực Arouna. Anh ta cười và hôn lên má tôi trước khi xoay tôi lại và giúp tôi thoát khỏi sức nặng của túi đồ. Mấy bậc thang gỗ dẫn tôi xuống khu sinh hoạt trên thuyền, ở đó như tỏa sáng bởi sắc đỏ, vàng và hồng rực rỡ của những tấm thảm. Một bếp dầu nhỏ làm khắp nơi ngập tràn mùi ẩm ướt. Dấu vết của Nina lấp đầy không gian nhỏ, những thứ đồ bằng bạc, kết hạt nằm la liệt khắp nơi, có cả ảnh của Nina và các con, nhưng không có khói thuốc lá hay mùi nước hoa gỗ đàn hương, hoặc thậm chí chẳng có lấy một mảnh quần áo cho thấy sự hiện diện của Biba. Chiếc thuyền này không đủ lớn để chứa hết quần áo của cô, nó chỉ đủ chỗ cho mình cô và Arouna mà thôi.

“Cô gái đáng thương”, Arouna nói, “trông cô có vẻ mệt mỏi. Uống với tôi một cốc nhé!”

Anh ta mang ra một bộ trà Morocco với những chiếc chén thủy tinh nhỏ xíu, còn trái tim tôi thì như thắt lại. Tôi mệt mỏi, dư âm của caffeine vẫn còn đọng lại trong tôi, thậm chí chỉ nghĩ về việc ngồi nhấm nháp trà đặc với đường cũng làm tôi run rẩy và cáu kỉnh. Tôi không thể giấu được niềm vui khi anh ta lấy ra một chai rượu mạnh thay trà.

Arouna rót rượu vào hai chén trà, rồi đưa một chén cho tôi. Anh ta nốc một hơi và bật cười trước biểu cảm chua chát trên mặt tôi.

“Tôi phải uống thứ này sau một ngày buôn bán.” Anh ta nói và rót đầy chén của tôi. Tôi quyết định chờ một lúc để những tác động của chén đầu tiên dần bình ổn trở lại. Anh ta nắm lấy hai tay tôi. “Còn bây giờ. Tôi nghĩ cô tới đây vì muốn gặp bạn của mình.” Tôi gật đầu. “Cô ấy sẽ rất vui khi nhìn thấy cô, Karen ạ.”

“Anh vẫn nhớ tên của tôi!” Tôi nói.

“Tất nhiên. Cô ấy suốt ngày nói về cô.”

“Cô ấy có ở đây không?” Giọng tôi như vỡ ra khi tôi nói những lời này, còn đôi mắt tôi thì đã ngân ngấn nước.

“Cô ấy không ở đây nữa.” Những giọt nước mắt của sự thất vọng tràn đến, tôi liền uống cạn chén rượu của mình. Arouna gạt nước mắt cho tôi bằng ngón tay cái đầy mùi tỏi. “Đừng khóc nào, cô gái. Cô ấy không đi xa đâu.”

“Cảm ơn anh. Tôi thực sự, thực sự rất vui vì điều này.” Cả rượu và tin tức anh ta vừa nói đều rất tuyệt.

“Cô ấy ở lại đây một thời gian. Tôi trông nom cô ấy thay Nina.”

“Dạo này anh có nghe được tin gì của Nina không?” Đây không phải là lần đầu tiên tôi mong Nina có mặt ở đây. Chị là người duy nhất trên thế giới mà tôi có thể chia sẻ chuyện của mình.

“Cứ vài tuần cô ấy lại gọi điện về một lần. Cô ấy vẫn đang đi du ngoạn. Tôi cũng sẽ đi theo họ khi nào họ ổn định chỗ ở. Bây giờ cô ấy đang ở Ấn Độ. Tuần trước Gaia vừa tròn ba tuổi, nhưng Nina bảo tôi đừng gửi quà cho con bé. Nếu gửi, lúc quà đến nơi thì họ cũng đi mất rồi.” Anh ta nói điều này một cách kiên nhẫn và không hề tỏ ra cay đắng chút nào.

“Biba có liên lạc với Nina không?”

“Họ luôn giữ liên lạc với nhau, phụ nữ mà. Nếu họ muốn thì dù đi đến đâu họ cũng tìm thấy nhau. Nhưng nghe này, cô muốn biết Biba đang ở đâu đúng không? Cô ấy đang ở trong một căn hộ nhỏ. Hội đồng thành phố cấp căn hộ đó cho bạn tôi và cô ấy đang trông nom nó trong thời gian bạn tôi đi du lịch. Con thuyền này quá ẩm ướt với cô ấy. Đây không phải một nơi tốt cho sức khỏe.”

“Cô ấy ở một mình à?” Tôi hỏi.

“Ừ. Tôi thường đến thăm cô ấy vào những ngày nghỉ bán hàng, nhưng cô ấy vẫn sống một mình thôi.”

“Xin anh hãy cho tôi địa chỉ của cô ấy.” Tôi nói. Trong lòng tôi vừa biết ơn sự giúp đỡ và lòng tốt của Arouna, vừa vật lộn với sự thiếu kiên nhẫn, tôi chỉ mong được gặp lại Biba.

“Tôi có thể làm nhiều hơn thế. Tôi sẽ đưa cô tới đó.”

Ở thời điểm này trong năm, sự sụt giảm nhiệt độ khiến cho không khí trở nên lạnh buốt, nhiệt độ giữa ngày và đêm khác nhau rõ rệt. Đôi chân dài của Arouna dễ dàng vượt qua khoảng cách giữa thuyền và bờ, thậm chí anh ta còn bế cả tôi lên bờ. Tôi đáp xuống một vũng nước và cảm nhận được sự ẩm ướt buốt giá thấm vào chân, nó cho tôi biết rằng đế giày đã long ra khỏi phần da giày phía trên. Arouna xách ba lô hộ tôi, điều đó làm tôi cảm thấy nhẹ nhõm hơn hẳn.

“Liệu cô ấy có ở nhà không nhỉ?” Tôi hỏi khi chúng tôi leo lên đồi Haverstock.

“Ồ, cô ấy luôn ở nhà.” Anh ta đáp. Chúng tôi rẽ phải vào đường Prince of Wales. Càng đi tôi lại càng thấy Biba sống ở một nơi xa xôi hơn tôi tưởng. Tôi cùng Arouna đi ngang qua một sân bóng đá được bật đèn pha sáng trưng nhưng trông tả tơi vì bị đám thanh niên phá hoại, rồi tới một trung tâm giải trí nằm liền kề và qua ga Kentish Town Tây - nơi mà tôi nhìn thấy trên bản đồ nhưng chưa bao giờ được nhìn ngoài đời thật. Tôi nhận ra rằng chúng tôi đang đi bộ trên một vùng đất không người nằm giữa hai nhánh của đường tàu phía Bắc. Hai bên đường đi chen chúc những tòa nhà thấp tầng nằm ngổn ngang, tất cả đều được treo ký hiệu của Hội đồng Camden. Có vài tòa nhà xây bằng gạch trông có vẻ thu hút ánh nhìn hơn, chúng được xây từ lâu nên có gắn logo của Hội đồng thành phố London. Arouna dừng chân bên ngoài một tòa tháp màu xám cao mười tầng, tường ốp những tấm bê tông lớn.

“Cô ấy sống ở đây à?” Tôi nói trong sự hoài nghi.

Tôi chỉ cần nhìn vào thang máy phủ kín những hình vẽ graffiti là đủ biết mùi trong đó như thế nào. Arouna cười lớn nhưng không hề có ác ý.

“Tầng sáu, căn hộ số 39.” Anh ta nói. Tôi nhìn lên, cố gắng xác định xem trong những ô cửa sổ sáng trưng kia, cái nào là của Biba.

“Tôi có thể lên đó một mình không?” Anh ta đặt ba lô lên vai tôi. Anh ta định nói với tôi điều gì sao?

Anh ta thở dài như quyết tâm nói điều gì đó, nhưng một lần rồi hai lần, anh ta đành ngậm miệng lại.

“Hãy gửi lời hỏi thăm của tôi đến cô ấy nhé!”

Tôi liều mình chui vào thang máy, cố nhịn thở trong lúc nó rầm rì chạy lên tầng sáu, rồi nó rung một cái trước khi nhả tôi ra ngoài. Một lối đi lộ thiên dẫn thẳng đến những căn hộ ở tầng sáu, tôi liếc nhìn qua mép lan can bong tróc chạy dọc theo lối đi đó. Ánh đèn hậu chạy dài ẩm ướt bám theo những chiếc xe đang bò chậm rì trên đường phố phía dưới. Nếu rơi từ trên này xuống thì cũng phải mất khá lâu mới tiếp đất được. Tôi nhìn qua cửa sổ đằng trước của căn hộ số 39. Nó nhìn vào một căn bếp nhỏ lờ mờ ánh sáng. Trong đó có một cái bếp điện gắn dây mayso bẩn thỉu. Một chai rượu nhét đầy đầu lọc thuốc lá nằm giữa chiếc bàn nhỏ đơn độc được kê dựa vào tường. Tôi nhận ra chiếc khăn lụa màu xanh treo trên chụp đèn, đúng là một mồi lửa đẹp đẽ đậm chất Biba.

Trên cửa không gắn vòng dùng để gõ cửa và hòm thư là loại sẽ cào xước da tay của bạn ra mà không hề gây nên một tiếng động dù là nhỏ nhất. Tôi gõ nhẹ bằng khớp ngón tay nhưng không thấy cô đáp lại, vì vậy tôi đập cửa thật mạnh. Tôi để cho mọi thứ bùng nổ, hét lên cái tên mà tôi đã phải giữ kín hàng tháng trời như một bí mật nhỏ nặng nề. Một giọng nói nhỏ và chói tai xuất hiện từ một góc khuất trong căn hộ.

“Là cậu phải không?”

Tôi áp mặt mình vào ô thủy tinh nhỏ mờ mịt bị dây điện giăng kín. Và rồi tôi đang mắt-đối-mắt với một phiên bản sắc nét đến từng chi tiết của khuôn mặt mà tôi đã biết quá rõ, đôi mắt đen ẩn dưới lớp tóc mái dày đang nhìn chăm chú ra ngoài. Tôi lại gí trán vào tấm kính, và rồi cô biến mất. Tôi nghe tiếng mở khóa, tiếng động ấy nghe ồn như cả nhà máy dệt đang hoạt động, sau đó cửa bật mở. Ban đầu, chỉ có đầu và vai của cô ấy thập thò xuất hiện. Tôi dang cánh tay ra và cô ấy ngã vào vòng tay tôi. Sau đó, tôi lùi lại vì kinh ngạc khi chạm phải cái bụng tròn vo như quả bóng của Biba, nó tương phản hoàn toàn với thân hình mảnh mai mà tôi vẫn mong được ôm lấy. Tôi lùi lại một bước và nhìn kỹ lại để chắc chắn rằng cô đang mang thai.

“Sao lâu thế cậu mới đến tìm tôi?” Cô ấy nói.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của erin kelly