Mầm Ác

Lượt đọc: 613 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 2

Mẹ tôi vẫn giữ lá thư ấy. Trên thư đề tháng Một năm 1993, nội dung là tôi được trao học bổng tại khoa Ngôn ngữ Hiện đại của trường Đại học Queen Charlotte. Nó được dán vào tấm gương đặt ở hành lang, tiêu đề thư bị ánh đèn và thời gian làm cho phai nhạt, nhưng nội dung thư thì vẫn đọc được. Sau khi tôi mở nó ra và cả nhà đọc ba hay bốn lần gì đấy, mẹ tôi dán nó lên gương để giữ được lâu, bà còn cao hứng dùng keo dán gỗ siêu cứng của bố nên nó bị dính chặt luôn. Rồi sau đó bà lại phát điên, không phải vì gương bị hỏng mà vì bà không thể rải lá thư khắp nơi từ điểm đậu xe buýt đến khắp hang cùng ngõ hẻm nữa. Thậm chí bà còn định xin nhà trường một bản sao khác để phục vụ cho mục đích này, tận khi bố tôi bảo bà thôi ngay đi thì bà mới chịu ngừng. Nhưng bố tôi cũng tự hào không kém. Bố mẹ nào chẳng tự hào khi con cái được học ở trường uy tín. Vài tháng sau tôi mới nhận ra điều đó, khi thấy nhiều người đến chơi hơn và mẹ tôi mời họ uống trà tại hành lang, nơi có ánh sáng rọi thẳng vào tấm gương.

Nếu mẹ tôi nhiệt tình như một cơn lốc thì tôi lại bình thản như ở giữa mắt bão, thờ ơ với những buổi tiệc tùng và mọi sự chuẩn bị, tôi đã như thế trong suốt một thời gian dài. Bởi tôi có một bí mật tội lỗi hoặc đôi khi tôi cảm thấy như thế, trước khi tôi thực sự hiểu tội lỗi và bí mật là như nào. Việc tôi không có lòng nào để nói cho người khác, ngay cả cha mẹ và thầy cô cũng không, thì họ lại thấy ở tôi đó là tham vọng lớn, nhưng thật ra tôi rất ì. Kỳ thực, bốn thứ tiếng mà tôi thành thạo khi mười sáu tuổi đến với tôi rất dễ dàng. Khi được khen ngợi vì những thành tích của bản thân và nhận hàng đống điểm A, tôi cảm thấy mình như đang gian lận. Tôi có khả năng uốn lưỡi theo ngữ điệu, điều khiển được cách chậc lưỡi, luyện láy, rung bật của tiếng nước ngoài, đó là điều tôi dễ dàng làm được. Khi còn nhỏ, tôi đã có khả năng bắt chước giọng trong vở opera mà bố mẹ tôi xem, nói được giọng vùng Liverpool, Manchester và London hoàn hảo. Lúc tôi lên mười, lần đầu tiên cả nhà đi du lịch nước ngoài đến Tây Ban Nha và khi trở về tôi gần như đã thành thạo ngôn ngữ ở đấy. Bí mật của tôi là: Tôi có thể học được ngôn ngữ mới dễ dàng như những đứa trẻ khác nhại theo nhạc hiệu radio hay câu nói cửa miệng của các nhân vật hoạt hình. Sau khi hiểu những kiến thức cơ bản về ngữ pháp và cú pháp, thường là bằng cách đọc kỹ một đến hai cuốn tiểu thuyết kèm theo một quyển từ điển hoặc xem vài bộ phim nước ngoài có phụ đề, thế là xong. Ngôn ngữ là khoa học chứ không phải nghệ thuật. Là điều tôi có thể làm, chứ không phải bản năng. Trước khi gặp Biba, tôi luôn giấu kín điều đó và nếu như không gặp cô ấy, tôi nghĩ sẽ mãi là vậy.

Cái tên của ngôi trường gợi nhắc về hình ảnh những tòa nhà xây từ thời kỳ Nhiếp Chính, dãy nhà thư viện kiểu Nash và những phòng họp sơn sọc kẻ trang nhã, hay ít nhất tôi đã nghĩ thế khi nộp đơn đăng ký. Thế mà thực tế lại không thể ít ỏi hơn. Cơ sở chính nằm ở phía Bắc của đường Marylebone là một tòa nhà xây từ những năm 60, sơn màu xanh cô-ban, lắp hai lớp kính để ngăn tiếng ồn ngoài đường. Dãy hành lang không cửa sổ được sơn màu xanh vỏ đậu nhờn nhợt giống màu ga giường ở những bệnh viện quân đội, sàn nhựa vinyl màu muối tiêu phản chiếu ánh đèn neon trên trần nhà. Sự kết hợp ấy thật kinh khủng, có thể khiến những cô cậu học sinh hồn nhiên, vô tư phải sợ đến mặt cắt không còn giọt máu. Sau khi tôi vượt qua những thất vọng ban đầu vì không thể vừa ôm đống đồ cồng kềnh của mình vừa lượn khắp trường, tôi bắt đầu đánh giá khách quan về nơi này. Có một cái nhìn trung lập chính là điều quan trọng khi bạn học tới mấy thứ tiếng khác nhau.

Những khu ký túc xá không những chẳng lãng mạn mà còn thiếu cả an toàn và sự riêng tư. Tôi được sắp xếp một phòng chung phủ đầy bụi bẩn ở Cricklewood, nơi đó có cả hai nhược điểm: tính từ trung tâm thành phố thì nó quá xa để được tiếp cận với phố xá sầm uất, nhưng lại chưa đủ xa để được sống tự do. Emma, bạn cùng phòng với tôi là dân vùng Surrey, thân thiện, yêu thích ngựa, mang nụ cưới ấm áp, phát âm nguyên âm rất rành mạch và tỏ rõ thái độ e sợ những người hàng xóm mới hơn cả tôi. Mấy bộ quần áo màu pastel 4* của chị được là lượt cẩn thận, chúng khiến chị nổi bật như một mục tiêu di động giữa những dải màu xám và đen của đường Broadway. Trong buổi học giới thiệu đầu tiên, chúng tôi đã gặp Claire và Sarah - hai sinh viên ở cùng chỗ. Tình bạn nảy nở ngay lập tức, như một điều tất nhiên và không thể tránh được.

* Chỉ gam màu phấn nhạt.

“Chị không chịu đựng nổi nữa.” Sarah nói thế khi chúng tôi chờ xe buýt trên đường Edgware với cánh tay mỏi nhừ vì đống giáo trình nặng trịch nhét đầy túi đựng của tiệm sách Blackwell. “Chị sẽ bảo bố chị mua một chỗ hoặc ông thuê nhà cho chúng mình thì sẽ đỡ tốn hơn chỗ này. Em có ở cùng chị không?” Tôi tưởng Sarah nói đùa, nhưng đến tháng Mười, cả bốn chúng tôi đã cuộn mình trong một căn hộ ở Brentford, một vùng nội thành phía Tây London, không có ga tàu điện ngầm. Căn nhà rất sạch sẽ, thoáng mát và đường phố thì an toàn. Dù đó không phải cuộc sống sinh viên mà tôi hằng mong đợi, chúng tôi không bao giờ đốt hương, chôm chỉa cọc tiêu giao thông hay ngủ nướng đến trưa, nhưng vẫn có những sự khác biệt, đủ để tôi cảm thấy nó tiến bộ hơn cuộc sống trước đây của mình.

Tôi mới mười bảy tuổi, còn họ đã mười chín cái xuân xanh, đã trải qua những năm tháng nghỉ xả hơi, với tôi mà nói, họ thật thời thượng và sành sỏi. Thế giới của họ nằm ở những câu lạc bộ quần vợt, lớp học aerobics, rạp chiếu phim và nhà hàng. Nếu tình bạn của họ thiếu sự gắn kết thông qua những chuyến phiêu lưu mạo hiểm, thì nó lại được bù đắp bằng những buổi chia sẻ kinh nghiệm, điều đó như khai sáng cho tôi sau những cô độc nơi trường học. Chúng tôi làm mọi thứ cùng nhau, kể cả đi du lịch. Trường Queen Charlotte có một mạng lưới tương hỗ rất độc đáo, họ có những chương trình trao đổi với các khoa Ngôn ngữ quái dị không kém gì nhau ở khắp châu Âu, khóa học kiểu này có liên quan đến những chuyến đi thường xuyên và chuyên sâu ở nước ngoài. Tôi luôn cảm thấy tiếc cho các sinh viên trao đổi, những người đến từ các trường đại học lớn và lâu đời, cuối cùng lại thấy bản thân bị tống vào nơi được đặt cái tên lạc quẻ là Ngôi nhà Quốc tế - một cái nhà nhỏ xập xệ nằm lọt thỏm dưới cầu vượt trên đường Edgware. Nhưng chúng tôi vẫn khiến hệ thống ấy mang lại lợi ích cho cả bọn, từ đó gom góp các khoản trợ cấp đi lại để có thể tự thuê lấy một chiếc xe cùng một căn nhà thay vì phải mua bốn vé xe cho mỗi người và ở ngoài khách sạn. Khi kết thúc bốn năm đại học, hiếm có bảo tàng hay phòng triển lãm nghệ thuật nào mà chúng tôi chưa từng đến. Chúng tôi cùng ăn uống, nấu nướng, mua sắm và việc lau dọn được phân công rõ ràng. Cứ tám tuần một lần, một thợ cắt tóc đến tận nhà và cắt cho chúng tôi kiểu đầu giống nhau. Và yêu đương cũng có chị có em, chúng tôi cùng hẹn hò với các thành viên của đội bóng bầu dục trường Queen Charlotte trong buổi khiêu vũ dịp Giáng sinh năm 1994, một bữa tiệc disco lộng lẫy diễn ra trên tàu HMS Belfast. Simon, chàng hậu vệ khoác trên mình bộ tuxedo đã mời tôi nhảy. Vào lúc tôi phát hiện ra rằng sự lịch thiệp và phối hợp trên sân bóng cũng như sàn nhảy không nhất thiết phải mang lên giường ngủ thì mối quan hệ được thiết lập. Bên cạnh đó, tôi thích và cũng rất ngưỡng mộ anh ta. Mỗi dịp cuối tuần, anh ta đều đọc tất cả các tờ báo từ đầu đến cuối. Anh ta luôn gọi tới khi đã nói rằng mình sẽ làm thế. Anh ta dạy tôi cách ướp thịt bít tết và chọn đúng loại rượu vang để uống cùng món đó. Anh ta là người đầu tiên mà tôi thấy sử dụng cụm từ “Tân Công đảng 5* ”.

Bố mẹ tôi lo rằng cuộc sống sinh viên sẽ làm tôi sa ngã.

* Tên gọi của Công đảng Anh giai đoạn giữa những năm 1990 - 2010, dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Tony Blair và Thủ tướng Gordon Brown.

Nhưng thực ra tôi lại khiến họ lo lắng vì một lý do trái ngược hoàn toàn: Đã có lần bố tôi nói tôi mới hai mươi mà già dặn quá. Tôi dùng điều đó để giảm bớt sự bất an trong ông. Tôi nghĩ hẳn sẽ khó cho ông khi phải thấy tôi dần rời khỏi thế giới nơi tôi sinh ra và hòa nhập vào một nơi khác với những quy tắc cũng như giá trị mới mẻ, đáng sợ. Tôi hạnh phúc vì có những người bạn, được sống thoải mái và được phát triển. Khi sắp tốt nghiệp, mối băn khoăn duy nhất của tôi là tiếp tục học lên hay xin thực tập trong Đại sứ quán nào đó. Khi ấy tôi quyết định phó mặc cho số phận, định chọn cơ hội đầu tiên đến với mình. Tôi nắm cuộc sống của mình trong tay một cách hờ hững, mà chẳng biết rằng nó sắp không còn gắn liền với tôi nữa. Trong một tuần, sự thờ ơ nhường chỗ cho những đam mê mà tôi chưa từng nghĩ là mình có thể.

Tôi chuyển tập tài liệu từ tay này sang tay kia. Đó là một tập tài liệu dày cộp, vuông vắn và được bó gọn lại. Trong đó là luận văn dài hai mươi nghìn từ với đề tài So sánh trường phái sân khấu kịch tự ý thức ở Ý và Đức 6* , một đề tài không buồn cười như cái tên của nó. Văn học là môn điều kiện để có được tấm bằng tốt nghiệp và cũng là môn duy nhất không dễ dàng với tôi. Nhưng sau khi tôi trình bày luận văn của mình thì cuối cùng cũng qua. Chỉ còn lại vài buổi thi nữa và những môn đó khá dễ vượt qua (dù từ kinh nghiệm quá khứ, tôi biết rằng tốt hơn hết là không nói cho ai biết suy nghĩ đó).

* Nguyên gốc: Comparing self - conscious theatre in Italian and German.

Tôi thả tập tài liệu vào khay đựng tài liệu của giáo viên hướng dẫn, nó rơi “bịch” một tiếng nghe đến là hài lòng.

Bên ngoài, mặt trời đang chiếu rọi. Tôi đã ở trong thư viện lâu đến nỗi quên mất bầu trời trong xanh trông thế nào. Tôi xắn hẳn tay áo lên và lần đầu trong năm, tôi cảm nhận được ánh nắng chạm lên da mình.

Họ đang ở nhà đợi tôi. Claire, Sarah và Emma ngồi thành hàng, hai người xỏ dép còn một người chỉ đi tất, họ ngồi nghỉ trên mép sofa màu kem nhạt mà giá của nó còn đắt hơn cả khoản hỗ trợ đi lại một năm của tôi. Họ đang xem phim, nhưng đã dừng lại khi nghe thấy tiếng tôi mở khóa. Miệng cười rộng ngoác của Julia Robert bị một vệt xước băng chập chờn trắng xóa xẹt qua, nhập nhằng trên màn hình. Sarah cầm điều khiển trên tay, xoay qua xoay lại. Chỉ mình chị được điều khiển kênh ti vi và video, đó là sự lộng quyền duy nhất mà Sarah có được nhờ việc cha chị là người sở hữu ngôi nhà.

Claire liếc xuống chân tôi đầy ẩn ý, tôi vội chạy ra phòng khách và đá tuột đôi giày ra. Một bã kẹo cao su dính kẹt vào đế giày bên phải. Với một hành động nhỏ, không nên làm nhưng thỏa mãn sâu sắc tính nổi loạn, tôi cố tình di nó vào tấm thảm.

“Sao các chị lại ngồi đây như ba chú khỉ thông thái 7* thế?” Tôi nói khi quay vào phòng. Tôi vỗ trán, “Hôm nay không phải phiên em nấu bữa tối, đúng không?” Dù nói thế nhưng tôi biết tối nay không phải lượt của mình. Tối qua chúng tôi đi chơi tennis, túc là hôm nay đến lượt Sarah. Cả ba lắc đầu, những mái tóc cụp bóng mượt rung rinh như ba cái mũ trùm đầu sáng loáng.

* Hình tượng ba chú khỉ ngồi cạnh nhau trong ba tư thế khác nhau: khỉ Mizadu bịt mắt, khỉ Kikazadu bịt tai, khỉ Iwazadu bịt miệng. Biểu thị rằng để đạt đến sự thông thái, phải bịt mắt để dùng tâm mà nhìn, bịt tai để dùng tâm mà nghe, bịt miệng để dùng tâm mà nói. Khi tâm ở trạng thái “tĩnh” mới “ngộ” ra chân lý, nhìn thấu bản chất thế giới, hướng đến điều thiện. Lúc này, hãy dùng tâm thiện, minh triết mà nghĩ/nói/làm.

“Simon đến đấy.” Claire đáp. “Cậu ta đang ở trong phòng em.” Thật bất ngờ, Simon và tôi không bao giờ gặp nhau vào thứ Năm. Ba người không thấy ánh mắt giả vờ ngạc nhiên của tôi, thay vào đó, họ chỉ hướng mắt xuống đùi mình.

Simon đang lật cuốn sách duy nhất mà anh ta nghĩ có thể hợp với một người đàn ông như anh ta: Một cuốn hồi ký của John Lennon 8* mà lần trước bố tôi để lại. Khi thấy tôi, anh ta bèn quẳng nó xuống một cách nhanh chóng, tôi biết thừa anh ta còn chẳng thực sự đọc nó.

* Tức John Winston Ono Lennon (1940 -1980): nhạc sĩ, ca sĩ người Anh, là người sáng lập và thủ lĩnh của ban nhạc huyền thoại The Beatles.

“Chào Karen.” Anh ta nói. Chúng tôi không hôn nhau như mọi lần. “Em thế nào rồi?”

“Vẫn ổn.” Tôi đáp rồi nằm vật xuống giường, hất chân anh ta gác lên đùi tôi. Tôi đã định kẹp lấy ngón chân của anh ta, nhưng lại thôi khi thấy đôi tất anh ta đi đẫm mồ hôi. “Ngạc nhiên thật đấy.”

“Anh sẽ đi thẳng vào vấn đề.” Anh ta ngắt lời tôi và nói chuyện theo kiểu những nhà tư vấn quản lý, tôi nghĩ sau này anh ta sẽ theo nghề đó. Tôi đã từng nghe anh ta nói giọng này qua điện thoại khi đặt hàng (cho hai chúng tôi) tại các nhà hàng, nhưng chưa bao giờ nói với tôi như thế. Anh ta nhấc chân ra, điều ấy khiến tôi cảm thấy bứt rứt.

“Chúng ta đã bên nhau được mấy năm rồi.” Thực tế này là không thể tranh cãi. “Rồi chúng ta cũng sẽ sớm tốt nghiệp.” Anh ta dừng lại, tôi gật đầu. “Và anh nghĩ đã đến lúc chúng ta bắt đầu lại mọi thứ khi bước vào cuộc sống trưởng thành. Cuộc sống có công ăn việc làm.”

Những tựa sách trên giá cứ phóng to rồi lại thu nhỏ trước mắt tôi. Tôi biết chuyện gì sắp tới và cảm thấy mình chỉ quan tâm về mặt ngôn ngữ học trong cách anh ta trình bày.

“Anh nghĩ chúng ta không nên gặp nhau nữa. Bắt đầu từ ngay lúc này.” Anh ta chờ tôi lấp đầy sự im lặng từ nãy đến giờ. Tôi nhớ về hai mươi bốn giờ quấn lấy nhau nhưng lại chẳng dễ chịu gì trên chiếc giường ọp ẹp của anh ta ở Fullham, tâm trí tôi lơ đãng truy tìm những bản phác thảo vẽ các nước châu Âu ở những vòng xoắn thạch cao trên trần nhà anh ta trong lúc Simon một mình làu bàu suốt vở diễn ngắn ngủi của chính anh ta. Tôi ngẫm lại hai năm đằng đẵng với những ngày Chủ nhật chỉ ngồi xem đấu bóng bầu dục ở quán rượu và cảm thấy nhẹ lòng đến mức xốn xang vì tôi sẽ không-bao-giờ phải đến quán Firkin nữa.

“Em thấy vẫn ổn.” Tôi ngộ ra.

“Thật chứ?”

“Vâng. Em cũng nghĩ như thế là tốt nhất. Em sẽ nói cho các chị biết.”

Simon gật đầu. “Anh muốn nói chuyện một cách nghiêm túc và họ... Anh nghĩ họ sẽ... Trừ khi em...”

Có lẽ ba bọn họ vẫn dừng phim ở đó, lo lắng chờ đợi tiếng tôi kêu la ai oán trong buồn đau hoặc cũng có thể họ đã nhìn lén, chờ xác Simon xuyên vỡ trần nhà giữa đám thạch cao, đổ nát và khuôn mặt khổ sở khóc lóc của tôi sẽ xuất hiện ở dưới lỗ thủng đó. Tôi không để tâm tưởng tượng đến cuộc trò chuyện mà bạn trai tôi nói với những người bạn của tôi rằng anh ta đang lên kế hoạch đá tôi, vậy nên tôi ngăn nó ra khỏi tâm trí. Tôi có thể làm thế với những điều tôi không muốn nghĩ tới, dễ như gập một cuốn sách vậy.

“Em có muốn biết lý do không?” Anh ta hỏi. Tôi có một ý tưởng khá hay ho, dựa trên hình ảnh mẹ anh ta, với mái tóc quăn tít trông như chiếc mũ bảo hiểm, ngón tay nhọn như ngọn giáo. “Không phải loại con gái đó... Lúc học đại học thì còn tạm, nhưng bây giờ con phải bắt đầu suy nghĩ về phần đời còn lại đi Simon... Những điều lúc còn trẻ con thấy chẳng là gì sẽ trở nên quan trọng khi con bước vào đời... Mẹ biết nó cũng lanh lợi, nhưng cảm giác mới lạ ấy sẽ nhạt dần. Nó sẽ đi làm, con biết mà... Còn cha mẹ của nó nữa, cái giọng quê mùa đó...”

“Không hẳn.” Tôi đáp. Simon trông đầy giận dữ. Tôi nhận ra anh ta đã chuẩn bị một bài diễn văn có thể sẽ không khiến tôi bị sỉ nhục và tôi tận hưởng cảm giác tước đoạt cơ hội trình bày của anh ta.

“Em nghĩ anh nên đi rồi.” Tôi vừa nói vừa đứng lên. Đôi chân tôi tê rần, cảm giác khoan khoái tràn ngập cơ thể. “Nói với các chị rằng em sẽ ở trên này một lúc.”

Tôi vuốt phẳng vết lõm mà anh ta để lại trên chăn của tôi. Một sợi tóc đen, dày của anh ta rụng trên gối, tôi tóm nó bằng ngón cái và ngón trỏ rồi bỏ vào thùng rác cạnh giường. Tôi đặt cuốn hồi ký John Lennon về chỗ cũ và kiểm tra khắp phòng xem anh ta còn bỏ lại cái gì không. Chỉ còn cái khung ảnh trên tường là tôi không thấy khó chịu đến mức phải gỡ nó ra. Anh ta đang nói chuyện với bạn bè tôi. Giọng nói trầm thấp của anh ta không bao giờ ép được xuống thành tiếng thì thầm, tôi nghe thấy tiếng anh ta len lỏi qua khe cửa. Tôi thắc mắc không biết họ trở thành bạn tâm giao của anh ta từ khi nào?

Tôi ngồi trên giường và chờ những giọt nước mắt tìm đến, nhưng ngay cả khi tôi nhìn vào gương và cố hết sức thương cho bản thân mình, tôi vẫn chỉ có thể để một vài giọt tràn khỏi khóe mắt. Hình phản chiếu của tôi nở một nụ cười khơi gợi. Thay vì đau buồn hay giận dữ, tôi chỉ thấy một cảm giác được ân xá và tự do.

Đêm ấy, tôi không ngủ được. Tôi còn tỉnh táo hơn khi biết chuyện có khả năng thành hiện thực, rằng tôi được tiếp tục tồn tại với những tiềm năng phát triển rõ ràng và tươi sáng. Tôi chỉ nghĩ về những điều mình có thể làm mà không bị mối quan hệ nào trói buộc, cắt tóc ngắn. Vung tiền tiết kiệm vào một vé đến Trung Quốc và học tiếng Quan Thoại. Kiếm một công việc ở hộp đêm. Đã đến lúc tôi tái lập lại cuộc sống. Tôi có cảm giác mình đã mộng du suốt bốn năm đại học và tôi chỉ còn một mùa hè để lấy lại sự cân bằng.

Quả thật đúng như là mộng du. Bạn có thể đi lại, ăn uống, trò chuyện, thậm chí lái xe vô cùng an toàn. Còn nguy hiểm lại đến từ sự thức tỉnh quá vội vàng.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của erin kelly