Đôi khi tôi tự hỏi, nếu hôm đó tôi như chú gà mới nở và nghĩ rằng sinh vật đầu tiên nó nhìn thấy là mẹ thì liệu tôi có thể thân thiết với bất cứ ai dang đôi tay ra với tôi hay không? Có thể lắm. Nhưng tôi ngờ rằng mình sẽ lún quá sâu. Tôi gặp cô vào một buổi chiều và chỉ đến buổi tối thôi, mọi thứ đã thay đổi. Cả buổi sáng hôm đó cô ở trong cùng một tòa nhà với tôi, chỉ cách nhau vẻn vẹn có vài phòng hay vài tầng nhưng tôi lại không cảm nhận được tiếng tĩnh điện nổ lách tách tỏa ra từ nguồn năng lượng mạnh mẽ trong cô. Điều khác biệt duy nhất trong bầu không khí ở Đại học Queen Charlotte là sự yên tĩnh ngày càng siết chặt lấy chúng tôi khi kỳ thi tốt nghiệp đang đến gần.
Vào cái ngày tôi gặp cô, tôi đang suy nghĩ và quyết định mình sẽ học lên tiến sĩ ở một ngôi trường đẹp đẽ và cổ kính. Nơi ấy sẽ có những cánh cửa gỗ, cầu thang uốn lượn và trong phòng tôi là các khung cửa sổ lắp kính cọc cạch. Dù vậy, tôi không thể ngăn một hiện thực tàn khốc, rằng điều đó có nghĩa là tôi phải tự mình cố gắng ở một mức độ nào đó, có khi còn phải một mình gắng sức, hủy hoại luôn niềm vui khi nghĩ đến mộng ước đẹp như tranh vẽ này. Tôi len qua những cánh cửa chống lửa nặng nề màu xanh rồi hướng thẳng về phía thang máy.
Chỗ đầu cầu thang chẳng có ai ngoài một cô gái đang viết thông báo lên bảng ghim thông tin của khoa. Ý tôi là, cô đang viết trực tiếp lên tấm bảng bằng một cây bút dạ đỏ to đùng. Cô quay lưng lại với tôi, còn tôi đúng nhìn cô viết trong im lặng. Cách cô viết trông thanh lịch mà phóng khoáng.
Cần tìm: người Đức bản địa có khả năng dịch thuật và hướng dẫn luyện giọng.
Cô dừng lại để cân nhắc câu tiếp theo. Bởi vậy tôi có thêm thời gian để quan sát cô. Hè năm đó, nhóm Spice Girls rất nổi tiếng, các sinh viên nữ còn chạy theo thời trang của giới ca sĩ, cách họ ăn mặc có lúc trông như những chú hề, lúc lại giống bọn trẻ con hay có khi mặc như mấy cô bán nước hoa. Cô gái trước mặt tôi mặc giống cả năm người trong Spice Girls. Cô mặc quần ống loe nhung màu tím, đi đôi giày thể thao đế cao ngất ngưởng, nó khiến cô cao hơn tôi một chút và mặc chiếc áo thun bóng đá Anh bé tí rách một lỗ ở nách, trông có vẻ còn cổ lỗ hơn cả tuổi của cô. Cô xách một chiếc túi da hiệu Gucci mới tinh, quai đeo là chuỗi xích màu vàng.
Tôi sẽ trả thù lao cho bạn - Liên hệ với Biba - Cảm ơn!!! xxx
Biba. Tôi lẩm nhẩm cái tên đó trong đầu và muốn cô quay người lại. Cô thả chiếc bút đỏ vào túi và đã có thể bước ra khỏi cuộc đời tôi mãi mãi nếu sự táo bạo của cô không khiến tôi bị sốc, vừa há hốc miệng vừa cười lớn. Cô nàng phá hoại của công quay lại nhìn tôi bằng ánh mắt nhạo báng, nhưng thật vô tư, “Gì thế?”
Tiếng cười gằn của cô khiến trong đầu tôi lập tức nảy ra một âm mưu. Cô cười, đôi mắt nâu lấp lánh dưới bầu mắt tròn to và đôi mi dày. Tôi đã từng thấy đôi mắt như thế, giống hệt đôi mắt búp bê thuở ấu thơ. Tôi nghĩ nếu muốn cô mở to mắt ra thì phải bế cô trên tay, nâng lên và nghiêng đầu cô đi cho đến khi đôi mắt mở đủ mọi kiểu.
“Cậu định đi mách vì tôi phá hoại tài sản của trường hả?” Cô hỏi tôi bằng ngữ điệu hoàn toàn tin rằng tôi sẽ không làm thế.
“Không”, tôi đáp, “tôi chỉ muốn nhắc cậu, nếu cậu không để lại số điện thoại thì chẳng ai biết lối mà liên hệ với cậu đâu.”
“Bố khỉ...” Cô nói. Một lần nữa, tiếng cười của tôi bắt chước tiếng cười của cô.
“Tôi luôn quên những điều như thế.” Cô nói như bình luận viên của đài BBC ở những năm 50. Nếu tiếng nói có thể so với tiếng chuông thì tiếng của cô giống như tiếng chiếc chuông bạc nho nhỏ chuyên dùng để gọi người giúp việc, chứ không phải loại chuông sắt nhà thờ. Cô lại lục tìm chiếc bút đỏ trong túi. Những miếng giấy lau dính bã kẹo cao su đung đưa trên bề mặt của nó trông như đàn ngựa trắng trên biển. “Có lẽ tôi giúp được cậu”, tôi đề nghị, trước khi cô có cơ hội xóa dòng chữ. “Tôi thông thạo tiếng Đức.”
“Cậu trông không giống người Đức”, cô nói, điều đó khiến tôi ngạc nhiên: nhiều người ở Bắc Âu còn tưởng tôi là người bản địa trước cả khi tôi kịp lên tiếng, đôi khi là sau khi tôi nói.
“Tôi không phải.” Tôi đáp. “Cậu muốn dịch cái gì?” “Tôi là diễn viên.” Cô nói tiếp, đủ có thể tôi đã biết. “Tôi đang diễn một vở về người nữ ca sĩ hộp đêm ở Đức. Ừm, cô ta vốn vẫn làm nghề đó, nhưng cô ta đã bị mất trí nhớ và thực ra cô ta là người Ý. Sao tôi lại nói với cậu điều này nhỉ? Vấn đề là họ mới quyết định rằng họ muốn lúc mở màn, tôi phải hát một bài tiếng Đức chết giẫm.”
“Come Tu Mi Vuoi. Như Anh Khát Em.” Tôi nói.
“Của Pirandello 9* .”
“Cậu biết câu đó sao?” Nụ cười kèm theo nở trên khuôn miệng nhỏ mím chặt.
* Nhà viết kịch người Ý (1867 -1936).
“Tôi học được câu đó ở khóa tiếng Ý năm ngoái.” Tôi chẳng cho cô biết rằng mình ghét nó.
“Tôi tưởng cậu học tiếng Đức.” Cô nói.
“Tôi học hết.”
“Thế thì cậu đúng là con nhà nòi rồi. Cậu thấy không? Định mệnh giúp tôi tìm được cậu. Không thể là trùng hợp, đúng chứ? Cậu có thể giúp tôi nhỉ?” Sự thay đổi từ ôn hòa sang mãnh liệt khiến tôi thấy hoảng hốt, theo bản năng tôi lùi lại một bước khi cô nắm lấy khuỷu tay tôi và nhẹ nhàng lắc đôi tay đang khoanh lại của tôi lên xuống trông như một động tác bơm kỳ cục. Tuy vậy, tôi cũng hãnh diện bởi sự chú ý của cô. Thế nhưng tôi lại xem thường bản thân ngay sau khi thừa nhận trò nịnh nọt tầm thường đó, thay vì bị mê hoặc bởi giọng nói của cô. “Quá tuyệt vời. Giờ thế nào đây?” Tôi nghĩ đến cậu thiếu niên cáu kỉnh mà tôi phải dạy kèm lúc 5 giờ. Chắc chắn tôi chẳng mặn mà gì khi nghĩ về mùi tất thối, mồ hôi và sự giận dữ lúc nào cũng vây lấy cậu ta. Cậu ta luôn chậm trễ, dù là tới chính phòng ngủ của cậu ta. Thế mà chỉ chờ tôi vài phút thôi, cậu ta cũng làm như chết đến nơi vậy.
“Ừ, chúng ta có thể bắt đầu ngay bây giờ.” Tôi nói.
“Tôi là Biba Capel.” Cô tiếp lời. Tôi thích cách cô phát âm họ của mình: nghe vần với “apple” - trái táo.
“Karen Clarke.” Tôi đáp lại và giơ tay ra. Bàn tay cô nằm gọn trong tay tôi.
“Karen”, cô nói, và lần đầu tiên trong đời tôi thích cách tên tôi vang lên trên môi người khác, “cậu có phiền không nếu chúng ta đi thang bộ? Tôi không thể chịu nổi cái thang máy. Đành thế thôi chứ chẳng làm khác được.” Cô đá tung hai cánh cửa bằng một chiếc giày kềnh càng và khiến chúng đong đưa đập ngược vào mặt tôi. Trước khi đi theo cô, tôi đã nhanh tay gỡ và gắn đè một tờ quảng cáo thông báo về buổi khiêu vũ cuối kỳ lên chỗ cô vừa viết. Những dấu mực đỏ vẫn nằm lấp ló ở rìa tấm quảng cáo, nhưng phải nhìn kỹ mới thấy được. Tôi theo cô tới đầu cầu thang, cô nàng đang nghển cổ nhìn lên nóc của viện bảo tàng Madame Tussauds và một tay vê vê điếu thuốc lá. Cô liếm mép giây phết keo. “Vấn đề duy nhất đó là thực ra tôi không có tiền, nếu như thế”, cô nói tiếp, “cậu vẫn sẽ giúp tôi chứ?” Biba chạy xuống cầu thang, đôi chân vững chãi đạp uỳnh uỵch trên mỗi bước đi, tàn thuốc lá thả về sau lưng cô khiến tôi như trôi xuống theo bước chân cô.
Buổi dạy kèm không được lên kế hoạch từ trước của chúng tôi diễn ra trong quán Charlie, một quán bar sinh viên nằm khuất dưới tầng hầm của trường. Đây quả là một điều mới mẻ. Bởi chỉ vài ngày sau sinh nhật lần thứ mười bảy đầy tự hào của tôi, khi đến trường Queen Charlotte, tôi được cấp một tấm thẻ sinh viên, mà theo đó nhân viên quay bar sẽ biết rằng phục vụ rượu cho tôi là bất hợp pháp. Tôi không nghĩ sẽ có người hỏi số chứng minh thư của tôi nhưng nỗi lo bị đuổi học cũng đủ để tôi tránh né trong suốt năm đầu đại học, và sau đó, không đi bar đã trở thành thói quen.
Bên trong quán tối om, những chiếc ghế nhung màu xanh navy xếp thành hàng sát tường, trông khá hợp với mấy cái ghế đẩu được gắn chặt xuống sàn. Cố tìm một ghế ngồi không bị xổ ruột ra ngoài hoặc bị bia làm cho ẩm ướt là một việc khó khăn, nhưng Biba chẳng bận tâm, cô nàng chiếm một chỗ ở chiếc bàn chưa lau cạnh quầy bar.
“Người thương ơi, mua cho tôi một chai vang đỏ có được không? Vang Merlot nhé, nếu họ có loại đó.” Cô nói. Tôi tự hỏi tại sao một người có giọng nói nghe như được giáo dục ở chỗ đắt tiền và xách chiếc túi sặc mùi cao cấp lại nghèo đến mức không trả được mức giá bình dân ở đây. “Thế sẽ rẻ hơn nhiều so với mua từng ly, mà chúng ta cũng không phải chạy ra quầy bar nhiều lần.” Vang đỏ lúc nào cũng làm tôi thấy đau đầu, nhưng tôi vẫn gọi, và bởi thỉnh thoảng Biba và Rex sẽ nhấm nháp đôi chút nên mùa hè năm đó tôi đã tập để yêu thích nó hơn. Dẫu vậy, chưa bao giờ tôi uống được dù chỉ là hớp nhỏ. Với tôi, hương vị của vang đỏ xa hoa sẽ chẳng thể lẫn với bất kỳ mùi hương nào khác, trong đó có đủ cả vị kim loại, vị thịt và cả sự ấm áp. Hương vị ấy gợi lên trong đầu tôi một chuỗi hình ảnh ớn lạnh như đống ảnh nằm trong phòng vật chứng của cảnh sát.
Cô xòe ra một tập bản nhạc trước mặt tôi. Tôi nhìn lướt qua: Tôi không biết ca khúc này và cũng chẳng hiểu những khuông nhạc hay nốt nhạc ấy, nhưng lời bài hát thì khá đơn giản.
“Điều đầu tiên cậu cần phải biết đó là cậu đang hát cái gì, thế nên tôi sẽ dịch nó ra cho cậu.” Tôi nói, tay lục tìm bút chì trong túi và viết từ tiếng Anh tương đương dưới từng chữ. “Cậu có muốn làm một điếu trong lúc làm việc không?” Biba vừa hỏi vừa đổ rượu vào tráng hai chiếc ly.
“Tôi không hút thuốc, cảm ơn.”
“Cậu may mắn thật đấy”, cô nói với giọng buồn bã. Cô ngồi xích lại để có thể đọc chữ qua vai tôi. Cô quàng tay qua tôi làm cho má chúng tôi sát lại với nhau và đôi môi mấp máy đọc theo khi tôi dùng bút chì viết ra từng từ. Rõ ràng “không gian riêng” là một khái niệm xa lạ với Biba. Điều đó, cùng với trang phục lập dị và sự hoàn toàn thiếu ý thức của cô khiến giờ đây tôi chắc chắn rằng mình đang làm việc với một kẻ điên, một kẻ quyến rũ và thân thiện, khác hoàn toàn với tôi từ trước đến giờ. Nếu tôi nhắm mắt lại, hình bóng không thể xóa mờ của cô vẫn in dấu dưới hàng mi. Cô mang mùi hương dầu gội, thuốc lá và nhiều thứ khác mà tôi chẳng thể gọi tên. Tôi không thể nhớ nổi liệu mình đã bao giờ gần gũi với ai đậm hơi người và mùi thơm phụ nữ như vậy chưa.
“Trước hết, cái từ buồn cười này là gì vậy?” Cô nói rồi chỉ vào chữ eszett.
“Giống như hai chữ 's' ấy”, tôi đáp, “và cậu đang chắn ánh sáng của tôi rồi đấy.” Tôi bấm chiếc bút bi của mình ra sau, gõ lên mũi cô. Cô còn gí sát hơn.
“Lúc nào cậu cũng hách dịch thế này à?” Cô hỏi.
“Khi tôi đang dạy học thì đúng thế đấy. Tiếp theo tôi sẽ viết phiên âm giúp cậu có thể biết làm thế nào để đọc chính xác. Tiếng Đức rất khó học, nhưng phát âm thì không khó lắm đâu. Chỉ cần luyện tập một chút thì nói được hết thôi.”
Cô đọc lớn tiếng những từ tôi đã viết phiên âm. Tôi khá ngạc nhiên vì sự tự tin và cách cô giấu đi lối phát âm tiếng Anh chói tai của mình. Tôi nhận thấy những người có khẩu âm nặng sẽ phải vật lộn để định hình lại vòm miệng khi làm quen với những ngôn ngữ khác, nhưng cô biết cách đặt lưỡi lên vòm miệng để phát ra âm “sch” khó nhằn mà không cần tôi hướng dẫn tỉ mỉ.
“Tôi làm tốt chứ?” Cô hỏi, sau vài lần đọc đi đọc lại. “Rất tốt, cậu cần tập cách phát âm 'u' ngắn và 'u' dài, nó không khác biệt rõ rệt như tiếng Anh mà khá giống nhau, nhưng chỉ cần luyện tập là được.” Tôi khiến cô phải bĩu môi sau vài lần chỉnh sửa âm sắc.
“Cảm ơn cậu, rất rất nhiều.” Cô gấp tập giấy, nhét vào trong túi, sau đó hỏi một câu như biết bao người khác.
“Cậu không phải người Đức sao có thể nói tốt như vậy?”
“Nó đến với tôi một cách dễ dàng.” Tôi đáp. Tôi ghét phải giải thích cái mà mẹ tôi gọi là “món quà của mẹ”, còn bố tôi thì bảo đây là “kế hoạch trợ giúp của bố”.
Biba kết luận. “Tôi hiểu rồi”, cô nói, “là bẩm sinh, người ta có thể làm được việc này, không thể làm được việc khác. Giống như diễn xuất. Đó là thiên hướng.”
“Cũng không hẳn.” Tôi thú thực. “Chỉ là động não thôi.”
“Thế thì giống một cái máy ngôn ngữ.” Cô nói tiếp, càng đào sâu hơn, “Một máy dịch tự động. Như trong truyện có con cá biết dịch mọi thứ tiếng ấy. Nó tên là gì nhỉ?”
“Cá Babel 10* .” Tôi đáp. Cô nói trúng biệt danh mà bố đặt cho tôi.
* Nguyên gốc: Babel fish - vừa là tên phần mềm dịch tự động của Yahoo! vừa là tên nhân vật trong bộ truyện The Hitchhiker's Guide to the Galaxy (Tạm dịch: Đi nhờ xe tới dải Ngân Hà) của nhà văn Mỹ, Douglas Adams.
“Cá Babel, chính là nó! Anh tôi có quyển truyện đó. Có vẻ nó thu hút mấy gã ngốc ấy nhỉ?”
“Tôi cũng chẳng biết.” Tôi quyết định mạo hiểm, thử xem Biba bạo gan đến đâu và tìm lấy sự hòa hợp giữa chúng tôi. “Tôi không ngốc, tôi là thiên tài.”
“Cậu có thể vẽ tay một vòng tròn hoàn hảo chứ?”
“Hả? Tôi nghĩ là không, không đâu.”
“Cậu nên thử xem. Người ta bảo đó là dấu hiệu nhận biết thiên tài đấy.” Cô nói, “Leonardo da Vinci có thể làm thế. Hồi bé tôi đã cố nhiều lần nhưng không làm được. Tôi đã rất thất vọng khi nhận ra mình không phải thiên tài. Chẳng hợp với tôi, đúng không? Tuy nhiên, cậu lại có vẻ khá bình thường so với một thiên tài, cậu còn có các kỹ năng xã hội.”
Cô nhìn tôi từ trên xuống chân. Tôi giữ chặt ly rượu bằng cả hai tay vì tôi chẳng biết làm gì với chúng. Đôi mắt cô dừng lại trên những ngón tay đan của tôi, như nói với tôi rằng cô có thể đọc được ngôn ngữ cơ thể dễ dàng như khi tôi nhẹ nhàng vượt qua các ngôn ngữ khác nhau. “Ý tôi là, họ khá đơn thuần, nhưng trên đời chẳng có gì mà chúng ta không thể cải thiện được.” Ngay cả khi nói những lời xúc phạm, ở cô vẫn bùng lên ngọn lửa của sự quyến rũ.
“Chúng ta sẽ gọi đó là một sự trao đổi kỹ năng.” Tôi nói và cô cười phá lên cùng tôi. Tôi duỗi tay ra khỏi cái ly, và như một sự thử nghiệm, tôi để tay mình thả lỏng trên bàn, nó nằm yên chứ không còn ngọ nguậy liên hồi như một chú cá bị tóm nữa. Với một ánh nhìn sâu kín, cô tỏ ra tán thưởng sự tiến bộ này.
“Cậu may mắn thật đấy, cậu không nhất định phải làm một nghề nào cả.” Đột nhiên cô nói vậy.
Cô bâng khuâng nhìn ra ngoài cửa sổ, tôi cũng dõi theo ánh nhìn của cô, nhưng ngoài đó chẳng có gì ngoài nửa dưới của một dãy thùng rác có bánh xe.
“Cậu thấy không? Tôi phải diễn, dù diễn xuất có cần tôi hay không. Đó không phải một công việc có thể dễ dàng có được hay từ bỏ.”
Cuộc nói chuyện đầy say mê và ngập tràn xúc cảm kiểu này có thể rất thường thấy trong giới sinh viên khoa Kịch nhưng với tôi thì hoàn toàn mới mẻ, tôi thấy sự thiếu kiềm chế của cô đang dần hỗn loạn. Cuốn hút và hấp dẫn, nhưng chủ yếu vẫn làm tôi thấy khó hiểu. Biba chuyển về chỗ ngồi của mình và tôi nhận ra cô gầy như thế nào. Chân cô vắt hẳn lên đùi, và bụng không xồ ra khi cô nghiêng người về phía trước mà gập vào trong giống một miếng bìa mỏng.
“Mẹ kiếp...”, cô dùng từ này lúc nghĩ đến việc phải nói gì tiếp theo, giống như từ “alors” trong tiểng Pháp. “Mẹ kiếp, diễn xuất còn đòi hỏi không chỉ thiên hướng, nó là sự đấu tranh”, cô giải thích, vung vẩy điểu thuốc gần mắt tôi đến nỗi nước mắt như sắp trào ra. Tôi băn khoăn không biết cô phải đấu tranh với cái gì.
“Tôi không hiểu tại sao người ta lại không muốn làm diên viên. Bởi dù có chuyện gì xảy đến với cậu, dù nó có kinh khủng đến đâu, hay thậm chí nó là một kinh nghiệm tuyệt vời thì cậu cũng sẽ vượt qua bằng cách nghĩ rằng mình sẽ nắm giữ được nó. Hãy nhớ lấy cảm giác ấy, rồi một ngày nào đó chính mình sẽ cần dùng đến. Cậu không thể là một diễn viên xuất sắc nếu cậu thiếu vốn sống. Đó là lí do tôi một làm mọi thứ, thủ mọi điều, gặp nhiều ngưới, trải nghiệm thật nhiều. Cậu thấy không? Bởi tôi càng nỗ lực góp nhặt được nhiều, tôi lại càng gần với nghiệp diễn. Thật ra...” Tự trải lòng dường như là để đúc kết lại. Cô nói bằng giọng vênh vang từng trải, “một khi đã mang nợ với cái nghề, người ta sẽ sống một cuộc đời khác thường và đầy ý nghĩa.” Tôi cười, thở phào vì cô đã phá vỡ sự căng thẳng và nhìn thấy cơ hội để tôi chuyển chủ đề. Tôi phải kéo cuộc trò chuyện trên trời này xuống nếu như muốn được nói góp đôi lời.
“Vậy hồi còn con gái, mẹ cậu là là tín đồ của phong cách Biba những năm 60 à? Tên của cậu được lấy từ đó phải không?”
“Được thế đã tốt”, Biba nhăn mặt, “thật ra tên tôi là Bathsheba. Nghe kinh nhỉ?”
“Tôi thấy dễ thương đấy chứ.” Tôi đáp. “Bốn phụ âm trong cùng một từ. Không tầm thường đâu.”
“Thật ư? Trước đây chưa có ai nhận ra điều đó cả. Có lẽ cậu đúng là thiên tài. Lúc tôi còn nhỏ, anh tôi không đọc nổi cái tên Bathsheba - anh ấy hơn tôi có ba tuổi thôi, anh ấy chỉ có thể đọc thành 'Biba', ơn trời. Nhưng tôi chẳng giúp anh ấy được, anh ấy còn bị vố đau hơn: Tên anh tôi là Rex, tên như thế thì làm được gì chứ? Cậu chẳng thu gọn cái tên ấy lại được, và tên đệm của anh là Caspian, cũng không làm gì được luôn. Nhưng đó là cái tên các vị phụ huynh hồi những năm 70 hay đặt, đúng không? Cả thế hệ của chúng ta đã phải gánh những cái tên hippy dễ sợ như thế đấy.”
“Kể cho tôi nghe với.” Tôi nói, trong lòng thầm nghĩ đển Dean, Scott và Tracey học cùng lớp với tôi.
“Còn cậu thì sao?” Cô hỏi.
“Không có gì nhiều để kể”, tôi đáp, vì trước khi tôi gặp cô, vốn dĩ đã chẳng có gì. Những câu hỏi dành cho cô ấy cứ cuồn cuộn trong cổ họng của tôi như đoạn thắt cổ chai trên đường phố. Cậu học kiểu nói chuyện ấy ở đâu? Anh trai cậu cũng là diễn viên phải không? Mẹ cậu làm nghề gì? Bà có xinh đẹp như cậu không? Còn điều quan trọng nhất, làm thế nào để cậu trở thành bạn của tôi? Tôi giữ cho riêng mình một nỗi ngượng ngùng, đó là dù tôi đã thành công trong việc sửa giọng nói, nhưng khi độc thoại nội tâm, tôi vẫn dùng giọng mũi vùng West Midlands. Trong sự chán nản, tôi nhận ra ly rượu của Biba đã cạn trơ đáy, còn tôi vẫn chưa uống hết ly thứ hai, chai rượu thì đã hết.
“Tiền khô cháy túi rồi.” Tôi nói.
“Giờ cậu đi đâu?” Cô hỏi.
“Tôi định ra ga tàu điện.”
“Tuyệt vời! Tôi cũng thế. Cậu đi ga nào?”
Tôi rất thích ga chỗ công viên Regent. Không gần trường Đại học, nhưng đường vòng dẫn đến đó rất đẹp. Nó chưa được nâng cấp hiện đại như một số ga tàu khác ở London, lớp gạch ốp màu xanh thẫm phủ lên đường ngầm và nơi bán vé vẫn được tu sửa chứ không hề thay mới, nó khiến cho bạn có cảm giác như bước vào một viện bảo tàng. Thậm chí những cửa soát vé bằng thép cũng không thể làm vẻ đẹp ấy giảm đi. Tôi nhét thẻ xe của mình qua khe soát vé, sự nhả vé nhanh như chớp của nó vẫn luôn khiến tôi ngạc nhiên, nhưng lần này còn kinh ngạc hơn bởi một cú huých hông đẩy tôi qua cửa. Tôi loạng quạng bước qua và Biba nhào đến ngay đằng sau tôi, vượt qua cửa soát vé tự động bằng vé của tôi. “Đi tiếp đi”, cô thì thầm. Biba vung cái túi của mình lên và mỉm cười ngọt ngào với bóng lưng của ngưới tiếp viên đang giải thích cho một khách du lịch đang khoác ba lô nặng trĩu về cách sử dụng máy bán vé.
Chúng tôi đứng giữa hai sân ga. Sự phối hợp màu sắc ở dưới này sẽ được mẹ tôi gọi là màu cà phê và kem, gạch ốp trên tuyến tàu Bakerloo màu nâu và trắng ngà tạo cảm giác như một bức ảnh vàng ố. Tôi nghĩ rằng những viên gạch mang màu vàng nhàn nhạt không phải vì đó là màu sắc vốn có của chúng, mà chúng bị nhuốm vàng bởi nicotine của những người London trú ẩn dưới ga tàu điện ngầm trong thế chiến thứ hai.
“Từ đây cậu sẽ đi đâu?” Tôi hỏi.
“Highgate.” Cô trả lời. Tôi lục lại trong đầu tấm bản đồ tàu điện ngầm mà tôi đã thuộc nằm lòng. Cô sẽ phải đi hết đường đến ga Bờ Kè, sau đó phải rẽ ngược lại hai lần trên tuyến Phía Bắc.
“Đây không phải đường đến thẳng Highgate.”
“Tôi cần phải đi cùng cậu lên tàu. Tôi nói với cậu rồi. Tôi không có tiền. Hơn nữa, chuyện đó sẽ giúp tôi dành thêm chút thời gian bên cậu. Đã nhiều năm rồi tôi mới gặp được một người thú vị như cậu.” Cô siết chặt lấy cánh tay tôi. Tầm bảy, tám phút nữa là tàu đến ga Bờ Kè, tôi cố kiếm cớ để sau này có thể gặp lại cô. Tôi vô cùng tò mò về Biba, nhưng tôi phải tỏ ra thật tự nhiên vì không muốn giống một cu cậu mười ba tuổi si tình mời cô nàng người yêu chip hôi đi xem phim.
Tôi chuẩn bị sẵn trong đầu một lời tạm biệt ngại ngùng khi chúng tôi đối mặt với nhau trong đường hầm giữa tuyến Phía Bắc và tuyến Bakerloo. Những bức tường trắng và sáng bóng với các sọc màu cơ bản nhìn rất trừu tượng. Tôi không bao giờ hiểu được lí do. Có chắc là những du khách đổ dồn về tuyến tàu điện ngầm này vì muốn tìm thứ gì đó truyền thống và cổ kính? Hay chỉ mình tôi nghĩ vậy? Điều đó có biến tôi thành một du khách hay không? Một cơn gió bụi ấm áp cuốn qua đường hầm. Vài sợi tóc của Biba bay vào mặt tôi, quất thẳng lên mắt tôi. Tôi chớp mắt và đưa tay lên dụi thay vì lùi ra khỏi cô.
“Thứ Bảy này cậu định làm gì?” Cô hỏi. “Tôi và Rex sẽ mở tiệc. A, là tôi mở tiệc, Rex cũng chẳng ý kiến gì.”
“Cậu sống cùng gia đình à?”
“Ờ, chỉ có tôi và Rex thôi. Chúng tôi là trẻ mồ côi.” Một đống câu hỏi mới lại chen lấn lộn xộn nơi đầu lưỡi. “Sinh nhật lần thứ hai mươi mốt của tôi”, cô nói tiếp, “vậy nên phải tổ chức thật lớn mới được. Lớn dã man luôn ấy. Số N6 Queenswood. Cậu nhớ được không? Tôi chẳng có gì để ghi lại cả. Cuối tuần này sẽ chẳng có bữa tiệc nào tuyệt hơn đâu, đừng giả vờ như cậu có việc gì đó hay ho hơn.”
Số N6, Queenswood. Tôi khắc ghi vào trí nhớ. Tôi vốn chẳng quen với cảm giác hoang mang, nhưng tôi vẫn cảm nhận được hàng loạt trở ngại đang dần xuất hiện. Tôi sẽ mặc gì đây? Tôi đến đó bằng cách nào?
“Hãy dẫn theo những người tuyệt vời.” Cô gợi ý. Khuôn mặt tôi hẳn đã lộ rõ sự hoang mang. Các bạn cùng nhà của tôi... Ôi Chúa ơi ko? ! Tôi có thể mường tượng ra mối ác cảm giữa họ, chúng nổ lép bép như tĩnh điện trên những tấm nylon.
Cô nói những lời tiếp theo với sự dịu dàng đến bất ngờ. “Đừng lo. Cậu không phải dẫn theo ai đâu. Chỉ cần hứa với tôi rằng cậu sẽ tới.” Trong ánh hào quang tỏa ra từ sự thấu hiểu của cô, lần đầu tiên trong đời tôi cảm thấy mình bị đọc vị, bị mở ra và nghiên cứu như một tấm bản đồ nằm lãng quên trong ngăn kéo quá lâu đến nỗi các vết nhăn và nếp gấp đã ghi dấu thành những con đường của riêng chúng. Cảm giác ấy vừa bất an lại vừa yên lòng.
“Tôi hứa.” Tôi đáp.
Từ lúc ấy, tôi đã mất rất nhiều thời gian, ít nhất một giờ mỗi ngày, để tự hỏi đâu là điểm dừng trong chuỗi sự việc dẫn tôi đến vị trí hiện tại, nơi mà tất cả chúng tôi có hoặc không thuộc về. Cuộc đời tôi đã có thể đi tiếp theo quỹ đạo đã định, khác đến không thể nhận ra. Không có Alice. Không có Rex. Nhưng nếu phải thành thật với bản thân thì số phận của tôi, của Biba và của những người khác đều đã được định đoạt ngay vào giây phút tôi gặp cô.