Mầm Ác

Lượt đọc: 618 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 7

Cái tuần tôi gặp lại cô dài đằng đẵng và nóng nực, nó lê bước chậm rì như một cậu học sinh của tôi ở lớp gia sư sau buổi học. Những cơn nắng nóng lan tràn trong ngày sinh nhật của Biba giờ đã kéo dài suốt mùa hè. Mặt trời như hút cả con sông gần Brentford, khiến cho không khí trở nên nóng ẩm và đầy bụi. Tôi chẳng thể tập chạy ở đâu ngoài khu giữa công viên hoặc trong phòng tập lắp máy lạnh ở câu lạc bộ quần vợt - nơi mà tôi không muốn tới do phải tránh mặt Simon. Trong nhà là một bầu không khí im lặng và nặng nề, khi Claire, Emma cùng Sarah đang cố nhồi nhét vì kỳ thi tốt nghiệp đang tới gần. Tôi nhìn họ mải mê nghiền ngẫm những cuốn từ điển, cố gắng hiểu những từ mà họ chưa biết. Tôi tự hỏi sao họ phải lo lắng vậy nhỉ. Đã đến lúc này rồi, được ăn cả ngã về không thôi. Ngay cả khi mọi người không học hành gì, trong nhà vẫn có một sức ép nào đó. Câu chào nhẹ bẫng mà họ nói lúc tôi bước vào phòng đồng nghĩa với việc họ đột ngột dừng cuộc trò chuyện và vội vàng quăng nó đi như quăng mớ thuốc lá lậu. Giữa họ luôn có nhiều điểm chung hơn tôi, nhưng cảm giác này khiến tôi như một kẻ ngoài cuộc, mới tới và chẳng được hoan nghênh.

Tôi ngồi cả ngày ở thư viện, không phải vì tôi cần tập trung học hành, mà để tôi được ra khỏi nhà và tăng cơ hội gặp lại Biba. Thậm chí tới đâu tôi cũng chỉ đi thang bộ, vì nhớ lại mối ác cảm của cô với thang máy. Thư viện của trường Queen Charlotte là một khối vuông nằm cạnh tòa nhà khoa Nhân văn. Lúc này là giữa đông mà không khí bên trong vẫn rất ngột ngạt, nó đã tự phát triển thành vùng tiểu khí hậu nhiệt đới. Những khung cửa sổ đẹp như tranh của khu ngôn ngữ chỉ mở được vài phân, rõ ràng là để ngăn đám sinh viên tự tử mỗi khi đến đợt thi cử. Quạt trần chầm chậm quay, giảm nhiệt thì ít mà thổi bụi thì nhiều, bụi tung bay trong những tia nắng đang tẩy trắng khoảng trống giữa những giá sách. Tôi đổ lỗi cho hơi nóng hầm hập làm da tôi ẩm ướt, mắt và miệng tôi khô khốc, dẫn đến việc tôi bị mất tập trung. Nhưng tôi lại chẳng ý kiến với bầu không khí trong lành đã khiến tôi phải sang tòa nhà của khoa Kịch đôi ba lần mỗi ngày. Tôi đến thăm tủ đồ của Biba thường xuyên hơn cả về nhà, nhưng mỗi ngày nước chảy đá mòn, căn nhà chúng tôi chung sống suốt ba năm thuận hòa nay đã chẳng làm vơi bớt nỗi thất vọng khi không có Biba bên cạnh.

Cả dịp cuối tuần tôi đã ở Brentford để dạy kèm các cô cậu thiếu niên, và tra tấn bản thân mình với mộng tưởng rằng Biba đang nóng lòng chờ đợi tôi ở tòa nhà khoa Ngôn ngữ. Đến thứ Hai, điều tôi sợ hãi nhất đã được xác nhận: Ngăn hộc của cô trông, chẳng hề có một lời nhắn gửi nào gửi cho tôi.

Nếu cô không đến với tôi, vậy tôi sẽ đi tìm cô. Tôi đi bộ một quãng dài cả dặm từ trường dọc theo đường Euston tới phố Warren, hy vọng rằng bầu không khí và bài thể dục nhẹ nhàng sẽ khiến đầu óc tôi thanh thản. Nhưng tôi đã sai ở hai điều: không khí nặng nề và xám trắng bởi khói bụi giao thông hiện rõ trong ánh nắng, và việc đi bộ khiến tôi mướt mồ hôi nên khói bụi bám đầy da tôi. Tôi bước xuống đường tàu điện ngầm và mệt lả vì cái nóng trên suốt chặng đường đến Highgate.

Sau chuyến đi mệt mỏi, bản nhạc lúc chập tối ở hẻm Queenswood thật êm dịu và tươi mát. Tiếng ồn từ những ngôi nhà hòa vào tiếng lá cây xào xạc. Tiếng lanh canh của dao dĩa và tiếng leng keng của những viên đá lạnh, giai điệu của một vở nhạc kịch nhẹ nhàng len qua một cửa sổ nhô cao, tất cả như một bản nhạc nền được xây dựng khéo léo mà bạn thường nghe trên kịch truyền thanh, khi đạo diễn muốn thể hiện cảnh nghỉ ngơi của tầng lớp trung lưu giàu có. Khi tôi nhớ lại từng bước chân tôi đã bước trên bậc thang đá tuần trước, tôi lại cảm nhận được dư âm của con kích động lúc đó. Nhưng hôm nay lại khác. Thế rồi, tôi lo lắng bởi thế giới của Biba là không thể định lượng. Giờ đây, tôi sợ hãi vì tôi biết mình muốn được trở thành một phần của thế giới ấy đến nhường nào.

Cửa trước hơi khép hờ khiến tôi cảm thấy ngại ngần hơn khi nó đóng hẳn. Một tiếng “Mời vào”, như có như không vang lên từ đâu đó dưới sàn nhà ngay trước khi tôi kịp gõ cửa. Tôi đẩy cánh cửa ra và cẩn thận khép nó lại đúng như cũ. “Ở dưới này” - một giọng nữ không phải của Biba. Tôi đi theo giọng nói ấy cùng tiếng rít và tiếng lè rè của đài phát thanh, đi xuống một cầu thang võng hẹp, tiến vào một hầm bếp lớn tồi tàn, nó rộng rãi và lắm đồ đạc bao nhiêu thì gian bếp nho nhỏ phía trên lại chật hẹp và trống trải bấy nhiêu - dù rằng chúng đều dơ dáy như nhau. Những bức tranh của trẻ nhỏ được đóng vào bức tường vôi trắng bẩn thỉu, các thiết bị và đồ gia dụng nằm lộn xộn ở bất cứ nơi nào có thể. Giữa hầm, giống như một cái bệ, là một chiếc bàn mòn vẹt có lẽ được làm từ gỗ thông hoặc gỗ thông rụng lá gì đó, nhưng bây giờ trông nó bạc hết cả màu rồi. Một người phụ nữ đang ngồi ở đầu bàn, những ngón tay đang để trong một cái bát trộn thức ăn. Chị ấy khiến tôi nghĩ đến người phụ nữ mập ú tôi đã gặp trong bữa tiệc. Chị ấy lớn tuổi hơn tôi, chắc cũng tầm ba mươi, và chị ấy cười như thể đang chờ đợi tôi vậy.

“Nina Vitor”, chị ấy nói, đưa một tay dính đầy bột về phía tôi. Khi tôi bắt tay chị ấy, chiếc vòng trên cổ tay Nina kêu lên chói tai như những chiếc chuông của người Di-gan. “Hẳn cô là Karen. Chúng ta đã không chính thức làm quen tại buổi tiệc, nhưng tôi vẫn nhận ra cô nhờ sự mô tả của Rex.” Tôi cảm thấy bực mình khi Rex kể về tôi, đồng thời cũng thất vọng vì em gái anh lại chẳng làm vậy.

Nina chỉ vào một chiếc ghế. “Ngồi xuống đi! Uống cà phê nhé. Tôi lỡ pha hơi nhiều cà phê, nên tôi có thể uống cùng những người bạn đã trưởng thành.” Chị ấy đảo mắt và rung mạnh chữ “r 15* ” khi nói. Giọng nói nhịp nhàng của Nina khẳng định cái gốc Bồ Đào Nha trong tên chị. Chị ấy là con lai, dù tôi chẳng thể nhận ra chị là con lai những nước nào. Nina có đủ cả đường lượn đường cong: mái tóc màu mật ong trông giống một đống dấu hỏi, đôi lông mày uốn lượn nhìn như hai dấu ngã. Những ngấn mỡ xổ ra trên tấm sarong màu tím chị đang mặc và làn da màu nâu hạt dẻ ở hông và ngực bị xen lẫn bởi những vết rạn da nâu vàng nhợt nhạt, nhưng xương gò má chứng minh rằng béo mập đến mấy cũng chẳng thể che giấu được gương mặt xinh đẹp của chị ấy. Tôi trượt vào một chiếc ghế dài nằm dọc theo chiếc bàn, thầm mong rằng tôi không nhìn chằm chằm vào chị ấy. Bỗng nhiên Nina mỉm cười thật tươi.

* Đoạn gốc câu của nhân vật Nina: “Sit down. Have a drink. I've made far too much coffee to drink on my own, and I could do with some adult company.”

“Ôi bé cưng của tôi”, chị nói lớn. Tôi vẫn nghĩ chị ấy đang nói về Biba và Rex cho đến khi hai đứa trẻ ranh nhỏ xíu, dơ dáy chầm chậm đi vào bếp. Thằng bé đang mút tay và vuốt thẳng lọn tóc xoăn của nó.

“Con bốn tuổi rưỡi rồi đấy”, nó thông báo.

“Đây là Inigo”, Nina vừa nói vừa vò rối mái tóc của nó, vậy nên lọn tóc xoăn của thằng bé lại tung ra. Chị ấy nhấc bổng đứa bé gái lên ngang bờ hông vĩ đại, “Còn đây là Gaia.” Cô bé con ngoáy mũi và lờ tôi đi.

“Em ấy chưa đến bốn tuổi đâu”, Inigo nói, “Cô làm gì trong nhà cháu thế?”

“Tôi cứ nghĩ đây không phải nhà chị.” Tôi buột miệng nói, nhưng tôi không hề có ý xúc phạm Nina.

“Toàn bộ tầng hầm là của chúng tôi”, chị ấy nói, phần nào giải thích cho tôi hiểu. “Đằng sau kia có mấy phòng ngủ, nằm ngay dưới những bậc thang ngoài vườn. Chẳng lẽ đêm hôm trước cô không nhận ra sao?” Tôi xoay cả người lại để thấy rõ bức tường làm bằng những cánh cửa chớp cao, dài đằng sau căn bếp. Một trong những tấm gỗ ấy rõ ràng là đang đu đưa bởi lũ trẻ đẩy cửa chạy vào.

“Tôi không để ý nhiều đến thế.” Tôi trả lời nhưng Nina lại chẳng chú tâm. Gaia kéo mạnh chiếc khuyên tai của mẹ, một thứ trang sức tinh xảo và xinh đẹp như chuỗi DNA của con người. Những hạt màu vàng và xanh hổ phách tựa như hạt mưa lớn treo trên cái vặn nút chai bằng bạc. Tôi lướt tay lên hạt cà phê bằng bạc trên chuỗi dây chuyền chạm khắc đeo trên cổ tôi, đó là một món quà của Simon và tôi ước mình không đeo khuyên tai hợp với nó.

“Chị ở đây bao lâu rồi?” Tôi hỏi và nhấm nháp ly cà phê của mình. Nó nóng và đắng, hoàn toàn không giống cà phê kiểu Anh, nhưng tôi biết nó sẽ giúp tôi tỉnh táo trong nhiều giờ. “Khoảng một năm rưỡi. À không, hai năm. Tôi gặp Biba vào mùa hè năm 95”, chị ấy nhớ lại. “Và tôi bắt đầu hẹn hò với Rex vào dịp Lễ hội cuối tuần.”

“Rex?” Tôi vừa nói vừa hình dung về một dáng hình mong manh và lóng ngóng, như lần cuối tôi thấy thì anh mải xì xụp húp trà và nhìn xoáy vào ngày mới trong cô quạnh. Sau đó tôi nhìn Nina, cảm giác nhục dục trong chị cũng màu mỡ như chính thân hình ấy. Bảo rằng chị ấy ăn thịt được Rex còn dễ tin hơn là nói họ yêu nhau. “Rex?” Tôi hỏi thêm lần nữa, “Thật sao?” Gaia trượt ra khỏi lòng mẹ, lạch bạch đi lên cầu thang. Tôi cố tìm một cách lịch sự để hỏi một câu cho rõ ràng. “Vậy tại sao... Tôi không tưởng tượng... Cái gì đã... Hai người gặp nhau như thế nào?” Tôi hỏi.

“Cô không phải tỏ ra lịch sự làm gì, tôi biết chúng tôi là một cặp đôi kỳ lạ.” Nina nhún vai một cách vui vẻ. “Tôi cần một nơi để sống. Lúc đó chúng tôi đang sống trên một cái sà lan ở Camden và nó rất... khó chịu. Lần đầu tiên chúng tôi ngủ với nhau, tôi đã biết cậu ấy cảm thấy phải kiếm chỗ ở cho chúng tôi.” Những lời này còn khó nuốt hơn cả cà phê của Nina. “Cô nghĩ tôi là kẻ bất chấp đạo lý, tôi biết mà. Nhưng mọi chuyện sẽ khác khi cô có con. Vì nơi ăn chốn ở, tôi đã từng phải ngủ với những kẻ tồi tệ hơn thế”, chị ấy nói, để tôi ở lại với mối băn khoăn, liệu chị ấy chia sẻ thân thể phì nhiêu đó với ai? Trong hoàn cảnh thế nào? Nina đổ đầy cốc của chị ấy và tôi đặt bàn tay đè lên cốc của mình, dù nó đã gần như trống rỗng. “Cậu ấy là một chàng trai ngọt ngào, giữ được lâu thì cũng đáng yêu, nhưng chắc cô cũng hiểu chuyện đó sẽ thế nào. Trớ trêu thay, Rex có thể là một bạn tình hoàn hảo, nhưng không phải với tôi. Tôi muốn chuyện ấy phải Latin hơn một chút, cô hiểu ý tôi chứ?”

“Ờ... ừm”, tôi đáp mà không hề mảy may biết kiểu Latin là như thế nào, và tự hỏi nếu thiếu nó thì cuộc sống riêng của tôi có phiền nhiễu gì không. Gaia lộn cù mèo, lăn qua cánh cửa và đưa cho tôi mấy viên thuốc tròn có in dấu $ trên bề mặt trắng ởn. Nina giật lấy viên thuốc từ tay con bé, rồi nó bắt đầu tru tréo.

“Dù vậy, khi những chuyện này xảy ra, tôi cũng thấy mừng vì mình không ở đây lâu nữa.” Chị ấy nói.

“Chị rời khỏi đây ư?” Tôi hỏi. “Tại sao? Đây là nơi thú vị nhất mà tôi từng đến. Nếu tôi được sống ở đây, tôi sẽ muốn ở lại đây mãi mãi.”

“Nói vậy thôi, chứ sống ở đây không phải lúc nào cũng dễ dàng.” Nina vừa đáp vừa nhặt bột thừa ra khỏi vòng tay có gai đeo trên cổ tay chị ra. “Tôi đã có hai đứa con. Tôi không muốn ôm đồm cả việc làm mẹ của hai đứa nữa, trong khi họ đã đủ lớn để tự chăm sóc bản thân.”

Tôi thấy cơ hội của mình đã tới.

“Cha mẹ họ đã... ra đi khi nào?” Tôi hỏi, hy vọng rằng lối nói tránh sẽ khiến câu hỏi trở nên dễ chịu hơn. “Lạy Chúa, mọi chuyện đã xảy ra từ trước lúc tôi gặp họ”, Nina nói, “đó là một thảm kịch. Thỉnh thoảng tôi vẫn nghĩ làm sao họ có thể ở lại đây sau những chuyện ấy. Có lẽ họ không có nhiều lựa chọn.”

“Ồ?” Tôi nhướn mày.

“Chẳng có gì phải thắc mắc, họ có con đường của họ.” Chị ấy kéo đứa trẻ lại gần, tâm trí chuyển về với gia đình của riêng mình và cuộc trò chuyện lại bị lái ra khỏi tầm kiểm soát của tôi. “Như tôi vừa nói, tôi nợ lũ trẻ của tôi một tương lai. Tôi phải dạy bảo chúng. Không phải là tống chúng đến trường. Hai điều này khác nhau. Ý tôi là thực sự dạy dỗ chúng, đưa chúng đi du ngoạn khắp nơi. Inigo đã đến tuổi đi học, nhưng tôi muốn giữ nó tránh khỏi những điều đó.” Nina bắt đầu diễn thuyết một cách ngắn gọn về sự tai hại của giáo dục cơ bản trước khi trình bày chi tiết kế hoạch tự dạy lũ trẻ bằng cách đưa chúng đi theo những di sản mà cha ông truyền lại. Chặng đường ấy trải dài khắp các đất nước nằm bên Địa Trung Hải bởi Nina mang nguồn gốc Algérie và Bồ Đào Nha, còn họ nhà nội của Inigo thì chẳng cần để ý. Tôi chỉ nghe được đôi ba câu khi chị ấy nói về việc “sống tự do” dễ dàng thế nào. Sau đó, tôi đã ước gì mình có thể chú tâm hơn.

“Nếu cô tự tay kiếm tiền và không mong cầu lợi ích thì sẽ chẳng ai tới làm phiền cô. Tôi làm nghề thiết kế trang sức.” Chị ấy cười toe toét và mân mê đôi hoa tai bạc, to bằng bàn tay. “Đó là nghề nghiệp lý tưởng cho những kẻ phải sống phiêu bạt. Cô chỉ cần gói ghém đống đồ trang sức lại và đi thôi.” Tôi nghĩ về cuộc sống của chính mình cùng những tháng ngày đằng đẵng của cuộc sống ấy. Quãng đời học tập của tôi bị chia đều cho những phiếu cam kết, các tấm đơn xin trợ cấp, những bài kiểm tra và các tài liệu học thuật.

Đấy mới chỉ là để tồn tại, chưa tính đến việc có thành công hay không. Còn nếu vượt ra khỏi hệ thống giáo dục thì quả là điều mới mẻ. Tôi vừa kích động vừa run lên vì vui sướng. Nếu tôi không được chứng kiến Nina sống tự tin và bất cần đời như vậy, thì liệu tôi có đủ can đảm để làm những việc mà sau này tôi đã làm không? Những gì chị ấy nói với tôi trong lúc uống cà phê đã ảnh hưởng đến cách tôi phản ứng khi mọi chuyện xảy ra. Chị ấy dạy tôi biến mất một cách dễ dàng như thế nào. Và giấu một đứa trẻ khỏi thế giới bên ngoài đơn giản ra sao.

☆ ☆ ☆

Chúng tôi ngại ngùng mời nhau lên giường nghỉ bởi không biết người kia muốn nằm bên nào. Trước đây vị trí nằm của tôi và Rex thường không cố định, nó tùy thuộc vào căn phòng mà chúng tôi ngủ: anh luôn muốn ngủ bên cạnh tường. Nhưng trong phòng này, cả hai bên đều sát tường. Chúng tôi thường không mặc quần áo khi ngủ, vì mùa hè quá nóng nên chẳng còn lựa chọn nào khác. Lúc này đây, anh đang nhìn chằm chằm vào bộ đồ ngủ được gấp gọn gàng mà tôi đưa.

“Không còn muốn bên anh nữa sao?” Anh nói, lông mày biến mất sau một lọn tóc. Ngược lại mới đúng. Cân nặng tăng lên khiến quai hàm của anh trông mềm mại hơn, yết hầu bớt lộ khiến nét hấp dẫn của anh hạ xuống múc dễ kiểm soát hơn. Tóc anh hợp mốt một cách vô tình. Nghĩ lại thì đàn ông ở tầm tuổi Rex đều có chung kiểu tóc, cắt rất ngắn hoặc nuôi dài hay rẽ ngôi giữa, thế mà Rex lại luôn khác với số đông. Bây giờ người ta phải chi tiền để vuốt cho tóc chia ngược ra sau, còn anh lại luôn đánh vật để kiểm soát mái tóc trời sinh đúng mốt ấy.

“Không phải tại em”, tôi đáp, “là Alice. Đến đêm nó sẽ chạy sang... Em nói với anh rồi mà.”

Từ hồi Alice biết chập chững chạy từ phòng nó sang phòng tôi, gần như đêm nào con bé cũng ngủ cùng mẹ. Mỗi tối tôi đều cho con bé ngủ giường của nó, nhưng tôi lại chẳng bao giờ thức dậy một mình, ngay cả khi chúng tôi đi nghỉ hoặc về thăm nhà bố mẹ tôi. Khoảng bốn giờ sáng mỗi ngày, góc chăn sẽ bị kéo mạnh và một giọng nói trẻ con vang lên, “Con chui vào nhé?” rồi con bé quấn lấy tôi. Thậm chí lắm khi tôi còn chẳng biết nó chui vào lúc nào.

“Ồ”, anh nói, “em bảo anh rồi, nhưng anh quên mất. ừ, không mặc thì cũng kỳ cục.”

Rex biết rằng một đứa bé mười tuổi sẽ không leo vào một chiếc giường có ông bố trong bộ dạng đó. Những năm tháng khi con bé có thể làm bố giật mình lúc đang tắm hay lúc nửa đêm đã qua lâu rồi, Rex đã để thuở thơ ngây ấy ra đi cùng mớ tã lót và những bước đi đầu đời của Alice. Mọi gia đình đều có quy tắc riêng về những điều này, những luật bất thành văn về nơi bạn có thể và không thể khỏa thân, nó được xây dựng ngầm và tự nhiên trong nhiều năm ròng rã. Còn chúng tôi lại bị đẩy

vào guồng quay lập ra những luật lệ và quy tắc mới mẻ để đối phó với những tình huống mới mẻ không kém.

Anh giũ chiếc quần ngủ còn nguyên hồ với những sọc kẻ mảnh dẻ nhiều màu và một chiếc áo thun trắng cộc tay cũng được gấp gọn gàng. Anh ngẩn mặt nhìn chúng, tự tôi hiểu ra rằng mua hàng hiệu cho anh đúng là phí thời gian và tiền bạc. “Sẽ có nhiều điều nhỏ nhặt như thế này, đúng không?” Anh vừa hỏi vừa trượt vào nằm phía bên phải giường. “Anh còn nhiều thiếu sót. Càng không biết bao nhiêu thì càng dễ sai bấy nhiêu.”

“Chỉ trong một thời gian ngắn thôi”, tôi cố trấn an Rex.

Tôi mặc một chiếc áo hai dây và quần soóc để thay thế cho bộ đồ ngủ bằng nỉ thường dùng của mình, cũng ngại nhưng tôi cố ý làm thế. Đã 10 giờ rồi, phòng ngủ bên cạnh vẫn không có động tĩnh gì. Có lẽ sau cả ngày trời Alice sẽ ngủ suốt đêm nay. Rex bắt gặp tôi đang xem đồng hồ.

“Dù sao anh vẫn nhớ đúng giờ đi ngủ mà.” Anh nói với giọng giả vờ tự mãn đầy hài hước.

“May cho anh đây.”

“Con bé vui mừng vì anh trở về. Anh nghĩ thế đấy. Liệu có đúng không nhỉ?” Tôi nằm xuống chỗ của mình, cằm tôi tựa vào ngực anh. Anh thở dài thật sâu, tôi liền nhích vào trong thêm vài phân nữa.

“Con bé rất phấn khởi. Mẹ con em đều vui.”

Một chiếc xe đi ngang qua đường, lướt tia sáng lấp loáng qua rèm phòng ngủ, một ánh đèn pha chớp nhoáng quét qua chiếc giường chúng tôi đang nằm. Tiếng “brừm” trầm thấp của chiếc ô tô nhạt dần trong đêm. Âm thanh duy nhất còn lại là tiếng thở mềm nhẹ của anh, và tiếng xào xạc lạ kỳ ở ngoài cửa sổ. Lần cuối cùng tôi nằm cùng Rex, cái đêm trước khi mọi chuyện xảy ra cũng như thế này, thế rồi tiếng xì xì vọng từ đường A1 như điểm xuyết thêm chút ồn ào vào sự im lặng của màn đêm.

“Chúng ta có nên nói với con bé hay không?” Đột nhiên anh hỏi.

Chúng tôi đều biết đây chỉ là câu hỏi tu từ. Là “khi nào” chứ không phải là “có nên hay không”. Chúng tôi phải kể cho con bé nghe, chẳng bao lâu nữa đâu. Câu chuyện mà nó biết không quá khác với sự thật - rằng đã có một vụ tranh chấp đầy hoang mang sợ hãi và hai người đã chết, dù rằng bố nó không phải kẻ xấu, nhưng anh vẫn phải vào tù để hối lỗi. Về phần lòng tin của con bé, nó chẳng bao giờ trăn trở về việc phải chấp nhận chuyện một người tốt sống trong tù và chưa từng hỏi về tiếng xấu của Rex. Nó còn nhỏ nên chẳng hỏi han gì nhiều. Đôi khi tôi nghĩ vì lý do này mà tôi cứ bắt con bé phải non dại mãi. Nhưng sang năm con bé đã lên mười, nó sẽ sớm rời khỏi trường làng nho nhỏ, nơi mà bấy lâu nay nó được bao bọc, rồi bị đẩy vào một ngôi trường trung học rộng lớn, nơi tôi chẳng thể bảo vệ nó. Mà bí mật của chúng tôi là kiểu giấu được ngày nào hay ngày ấy.

“Anh biết mà, chúng ta phải làm thế.”

“Sớm thôi nhưng chưa phải bây giờ.” Anh đáp. “Trước tiên chúng ta cứ đi nghỉ trăng mật vài hôm được không? Cũng đến lúc phải hòa nhập rồi chứ?”

Anh cần bao lâu? Chúng tôi có bao nhiêu thời gian? Lỡ như ngày mai kẻ gọi điện thoại bí ẩn kia quyết định nhúng tay vào cuộc sống của chúng tôi? Tôi vẫn đang bảo vệ Rex khỏi những cuộc điện thoại, vờ như thất vọng khi một “tổng đài” nào đó gọi đến giữa bữa ăn hay lúc xem ti vi. Chúng tôi đang sống trong cảnh ngàn cân treo sợi tóc, nhưng chỉ mình tôi biết điều đó.

“Một hoặc hai tuần cũng chẳng hại gì”, tôi nhượng bộ, “nhưng phải nói với con bé đấy.”

“Nói gì? Kể hết ư?”

“Lạy Chúa, em không biết.” Tôi đẩy mình ra khỏi Rex và chống khuỷu tay lên. “Em đã dành mười năm để suy nghĩ về việc đó và em vẫn không biết phải làm sao. Chẳng lẽ chỉ kể những đoạn quan trọng nhất?”

“Em hiểu con bé hơn anh.” Anh nói trong lo lắng. “Hay cứ giấu cho đến lúc con bé đủ lớn để hiểu?”

Giờ đến lượt tôi thở dài.

“Em không chắc làm thế có tác dụng hay không. Chính em thỉnh thoảng cũng cảm thấy mình chưa đủ trưởng thành để hiểu được chuyện đó, bởi vậy mới ra nông nỗi này đây.”

“Xin em đừng nói thế.” Anh cao giọng và khuôn mặt trưng ra một biểu cảm quen thuộc mà tôi rất ghét. Nỗi hoang mang và thiếu thốn khắc sâu vào nếp gấp giữa đôi lông mày của anh. “Em phải hiểu. Nếu không thì ai mới hiểu đây? Không ai ngoài em. Nếu em không hiểu, vậy anh làm tất cả những chuyện này vì ai? Mười năm nay để làm cái gì?”

“Này, em xin lỗi. Em không cố ý. Lại đây nào.” Tôi ngửa người, Rex quấn lấy tôi như một đứa trẻ. Hơi thở của anh chầm chậm, dần thành tiếng ngáy nhẹ, nhưng tôi thì vẫn tỉnh táo.

Rex nghĩ rằng việc một ngày nào đó chúng tôi phải kể chuyện đó với Alice là trở ngại cuối cùng mà anh phải vượt qua, trước khi anh được nhẹ lòng và sống tiếp. Anh nghĩ chúng tôi chỉ cần thắt lại cái kết lỏng lẻo ấy là xong. Dĩ nhiên là Rex đã sai. Vẫn còn một bí mật khác to lớn hơn mà tôi đang nắm giữ. Câu hỏi thực sự chẳng phải “chúng tôi có nên nói với con bé không?”, mà là “tôi có nên nói với anh không?”

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của erin kelly