1.
“Thưa bà, bà bằng lòng gặp quý ông này chứ ạ?”
Dolorès Kesselbach cầm tấm danh thiếp người hầu bàn đưa cho mình và đọc: André Beauny .
“Không!” Nàng đáp. “Tôi không biết người này.”
“Quý ông này có vẻ rất nóng lòng muốn gặp bà, thưa bà. Ông ấy nói rằng bà đang đợi ông ấy.”
“Ồ... có lẽ vậy... Được, đưa ông ta đến đây.”
Sau những biến cố làm cuộc sống của nàng bị đảo lộn và không ngừng hằn học bám đuổi, vùi dập nàng, Dolorès tạm trú ở khách sạn Bristol một thời gian rồi chuyển sang sống trong một ngôi nhà yên tĩnh ở đường Vignes, cuối khu phố Passy. Phía sau nhà nàng là một khu vườn xinh xắn, được những khu vườn sum sẽ khác ôm xung quanh. Khi những cơn đau dữ dội hơn thường lệ không thể giữ nàng cả ngày trong căn phòng đóng kín, nàng sai người hầu đưa mình ra vườn. Nàng - nạn nhân của sầu muộn, không có khả năng kháng cự số phận nghiệt ngã - sẽ nằm dài dưới những tán cây mát rượi.
Có tiếng bước chân lạo xạo trên con đường nhỏ lát sỏi, người hầu bàn đã quay lại, theo sau là một người đàn ông trẻ tuổi, dáng vẻ lịch lãm, ăn mặc rất giản dị, theo lối hơi lạc mốt của vài người trong giới họa sĩ với áo sơ mi cổ bẻ và cà vạt chấm bi trắng trên nền màu xanh dương để lợi.
Người hầu bàn rút lui.
“Anh đây là André Beauny, phải không ạ?” Dolorès hỏi.
“Vâng, thưa bà!”
“Tôi không có vinh hạnh...”
“Vâng, xin bà thứ lỗi. Biết tôi là bạn của bà Ernemont - bà của Geneviève - bà đã viết thư cho bà ấy ở Garches, nói rằng bà muốn được nói chuyện với tôi. Tôi xin trình diện trước bà đây.”
Dolorès đứng dậy, vẻ rất xúc động. “Ôi, anh là...”
“Vâng!”
Nàng lắp bắp: “Có thật không?... Là ngài ư?... Tôi không nhận ra ngài.”
“Bà không nhận ra Thân vương Paul Sernine sao?”
“Không... Không có gì giống nhau cả... Trán... Mắt... Và không phải là...”
“Báo chí đã miêu tả phạm nhân ở Santé như thế nào vậy?” Anh ta mỉm cười, nói. “Nhưng, quả thật, chính là tôi đây.”
Một khoảng lặng kéo dài, cả hai người đều ngượng ngùng và lúng túng.
Cuối cùng, anh ta lên tiếng: “Liệu tôi có thể biết lý do...?”
“Geneviève không nói với... anh ư?”
“Tôi chưa gặp cô ấy... Nhưng hình như bà cô ấy cho rằng bà đây cần giúp đỡ...”
“Phải... Đúng là như vậy...”
“Bằng cách nào, thưa bà? Tôi rất sẵn lòng...”
Nàng ngập ngừng một lúc, rồi thì thầm: “Tôi sợ.”
“Sợ ư?” Anh ta kêu lên.
“Phải!” Nàng nói thật nhỏ. “Tôi sợ, tôi sợ hãi tất cả mọi thứ, sợ hãi những gì đang xảy ra và sẽ xảy ra vào ngày mai, ngày kia... sợ hãi cuộc đời. Tôi đã phải gánh chịu rất nhiều điều... Tôi không thể chịu đựng được nữa.”
Anh ta nhìn nàng với niềm xót thương vô hạn. Cảm xúc mơ hồ luôn kéo anh ta về phía người phụ nữ này nay đã trở nên rõ nét. Giờ đây, nàng đang xin anh ta bảo vệ mình. Trong lòng anh ta dâng lên một nhu cầu cháy bỏng được dâng hiến hết mình cho nàng toàn bộ, và không chút mong mỏi được đền đáp.
Nàng tiếp tục: “Giờ đây tôi chỉ có một mình, cô độc, với những người hầu tôi thuê ngẫu nhiên, và tôi sợ... Tôi cảm thấy mọi người xung quanh mình đều quá kích động.”
“Nhưng vì lý do gì?”
“Tôi không biết. Nhưng kẻ thù đang rình rập và tiến sát hơn rồi.”
“Bà đã thấy hắn rồi? Bà có để ý thấy gì không?”
“Phải, mấy ngày nay có hai người đàn ông đi qua phố này mấy lần và còn dừng xe ngay trước cửa nhà.”
“Bà tả lại họ được chứ?”
“Tôi nhìn rõ được một người thôi. Hắn cao, khỏe, râu tóc cạo nhẵn và mặc một chiếc áo khoác nhỏ màu đen, rất ngắn.”
“Một người bồi bàn chăng?”
“Vâng, là người giám sát phục vụ [39] . Tôi đã cho một người hầu của mình đi theo hắn. Hắn xuống đường Pompe và đi vào một ngôi nhà bên ngoài trông rất bình dân. Dưới tầng trệt có một cửa hàng rượu, là ngôi nhà đầu tiên trên phố đó, phía bên trái. Rồi một đêm khác...”
“Một đêm khác ư?”
“Từ cửa sổ phòng ngủ, tôi nhìn thấy một bóng đen trong vườn.”
“Chỉ vậy thôi à?”
“Phải!”
Anh ta ngẫm nghĩ và đề nghị: “Bà có bằng lòng cho hai người của tôi ngủ ở tầng dưới, tại một trong những phòng dưới tầng trệt không?”
“Hai người của anh ư?...”
“Ồ, bà không việc gì phải sợ cả! Họ là người tốt, ông Charolais và con trai của ông ấy. Họ không giống như vẻ bề ngoài đâu... Bà sẽ an toàn khi có họ ở bên... Còn phần tôi...”
Anh ta ngập ngừng. Anh ta chờ nàng ngỏ ý xin anh ta quay lại. Thấy nàng im lặng, anh ta nói: “Còn phần tôi, tốt hơn hết, không nên để ai nhìn thấy tôi ở đây... Phải, như vậy sẽ tốt hơn... cho bà. Người của tôi sẽ báo cáo mọi việc cho tôi.”
Anh ta muốn nói nhiều hơn, muốn được ở lại, được ngồi cạnh nàng và an ủi nàng. Nhưng anh ta có cảm giác cả hai đều đã nói hết những gì cần nói, và chỉ cần thêm một lời nữa thôi, từ phía anh ta, đó sẽ là một sự xúc phạm.
Vì thế, anh ta cúi đầu thật thấp và trở gót.
Anh ta băng ngang khu vườn, bước đi thật nhanh, thật vội để rời khỏi đó và kiểm soát được cảm xúc của mình. Người hầu bàn đợi anh ta ở ngưỡng cửa ngoài sảnh. Khi anh ta bước chân ra khỏi cửa, có người tới bấm chuông. Đó là một cô gái trẻ.
Anh ta giật mình. “Geneviève!”
Cô kinh ngạc nhìn anh ta, và dù bối rối trước ngoại hình trẻ trung tột bậc của anh ta, cô vẫn nhận ra anh ta ngay lập tức; điều đó khiến cô sửng sốt đến mức loạng choạng suýt ngã và phải tựa mình vào cửa.
Anh ta bỏ mũ xuống, nhìn cô mà không dám chìa tay ra cho cô. Cô sẽ chìa tay ra cho anh ta chứ? Anh ta không còn là Thân vương Sernine nữa... Anh ta là Arsène Lupin. Cô biết anh ta là Arsène Lupin và anh ta vừa ra tù.
Bên ngoài, trời đang đổ mưa. Cô đưa ô cho người hầu bàn và nói: “Xin hãy mở ô ra và cất vào một góc cho khô.”
Rồi cô bước thẳng vào trong.
“Ông bạn già tội nghiệp của tôi!” Lupin nói với chính mình khi trở gót. “Tận mấy cú sốc liền giáng vào một người dễ xúc động và nhạy cảm như ông. Hãy coi chừng trái tim ông đó, nếu không... Ôi thôi, mắt ông ướt mất rồi! Đó là một dấu hiệu xấu, ông Lupin a, ông già rồi.”
Anh ta vỗ vai một thanh niên đang băng qua đường Muette và chuẩn bị đi đến đường Vignes. Cậu thanh niên dừng lại, nhìn anh ta chăm chú và nói: “Xin ông thứ lỗi, nhưng tôi không nghĩ mình có vinh hạnh...”
“Thế có vẻ không ổn rồi, cậu Leduc. Hay là do trí nhớ của cậu giảm sút nghiêm trọng? Cậu nhớ Versailles... căn phòng nhỏ ở khách sạn Deux-Empereurs chứ?”
Cậu thanh niên nhảy lùi về sau vì kinh hãi. “Ngài ư?”
“Chúa ơi, phải, tôi, Thân vương Sernine, hay đúng hơn là Lupin đây, vì cậu đã biết tên thật của tôi rồi! Cậu nghĩ rằng Lupin đã từ giã cuộc đời rồi chăng?... Ồ, phải, tôi hiểu, nhà tù... Cậu đã hy vọng... Thôi nào, cậu nhóc!”
Anh ta nhẹ nhàng vỗ vai cậu. “Thôi, thôi, anh bạn trẻ, đừng khiếp hãi thế. Cậu vẫn còn mấy ngày yên lành để viết nên những vần thơ kia mà. Vẫn chưa đến lúc. Cứ làm thơ đi, thi sĩ!”
Anh ta thô bạo tóm lấy cánh tay cậu, nhìn thẳng vào mặt cậu và nói: “Nhưng thời khắc ấy đang đến gần lắm rồi, nhà thơ ạ. Chớ có quên cậu là của tôi, cả thể xác lẫn linh hồn. Và hãy chuẩn bị diễn phần mình đi. Phần của cậu sẽ rất khó nhưng cũng lộng lẫy lắm. Và vì Chúa, tôi sống tới từng này tuổi rồi, tôi tin chắc cậu là người thích hợp để đảm trách phần ấy!”
Anh ta phá lên cười, trụ bằng một chân, xoay người thật điệu nghệ rồi bỏ đi, để cậu Leduc trẻ tuổi đứng chết lặng trên đường.
Xa hơn một chút, ở góc đường Pompe là cửa hàng rượu mà bà Kesselbach đã nói với anh ta. Anh ta bước vào và trò chuyện rất lâu với chủ cửa hàng. Sau đó, anh ta bắt một chiếc xe hơi và được chở đến khách sạn Grand, nơi anh ta đang lưu lại dưới cái tên André Beauny.
Anh em nhà Doudeville đang chờ anh ta ở đó.
Dẫu đã quá quen với niềm vui sướng kiểu này, Lupin vẫn rất thích thú trước lòng ngưỡng mộ và sự tận tâm mà bạn bè dành trọn cho mình.
“Thưa thủ lĩnh, hãy kể cho chúng tôi nghe... Chuyện gì đã xảy ra vậy? Chúng tôi đã quen với những điều kỳ diệu của ngài... Nhưng, dẫu sao, mọi chuyện đều có giới hạn... Vậy là ngài đã tự do? Và ngài ở đây, ngay trung tâm Paris này, hầu như không cải trang...”
“Xì gà nhé?” Lupin mời.
“Không ạ, cảm ơn ngài.”
“Cậu sai rồi, Doudeville a. Mấy điều này đáng hút lắm đấy. Tôi lấy chúng ở chỗ một người rất sành, một người rất tuyệt, xứng đáng nhận mình là bạn của tôi.”
“Ồ, chúng tôi có thể hỏi đó là ai không ạ?”
“Là Hoàng thượng... Coi nào, làm gì mà sững người ra thế kia, hai cậu? Báo cáo tình hình cho tôi nghe đi. Tôi vẫn chưa đọc báo. Vụ vượt ngục của tôi tác động thế nào đến dư luận vậy?”
“Cực kỳ dữ dội, thưa ngài thủ lĩnh.”
“Cảnh sát nói thế nào?”
“Ngài bỏ trốn ở Garches trong khi dựng lại hiện trường vụ ám sát Altenheim. Nhưng thật không may, các ký giả lại chứng minh được điều này là không thể.”
“Rồi sao?”
“Sau đó, dư luận lại náo động như thường lệ. Người ta tò mò, cười cợt và thích thú.”
“Còn Weber?”
“Ông Weber bị chỉ trích nặng nề.”
“Ngoài việc ấy ra, Phòng Điều tra có gì mới không? Không có phát hiện gì mới về tên sát thủ à? Không có manh mối nào giúp chúng ta xác định danh tính của Altenheim sao?”
“Không ạ!”
“Bọn họ ngốc thật đấy! Thế mà chúng ta phải trả hàng triệu mỗi năm để nuôi những người này. Nếu những chuyện như vậy cứ tiếp tục, tôi sẽ không trả các khoản đóng góp của mình nữa. Chuẩn bị chỗ ngồi và giấy bút cho tôi. Tôi sẽ đọc cho các cậu viết, rồi các cậu phải mang lá thư này tới tòa soạn tờ Đại nhật báo ngay tối nay. Cả thế giới đã chờ tin tôi suốt một thời gian rất dài rồi. Chắc thế giới đang bực bội vì mất kiên nhẫn đấy. Viết đi!”
Anh ta đọc:
“Kính gửi ngài Tổng Biên tập tờ Đại nhật báo ,
Tôi phải gửi lời xin lỗi đến toàn thể độc giả vì đã khiến mọi người hoài công chờ đợi.
Tôi đã ra khỏi nhà tù, nhưng tôi không thể tiết lộ cách mình vượt ngục. Tương tự như vậy, kể từ khi trốn thoát, tôi cũng khám phá ra một bí mật nổi tiếng, nhưng tôi không thể tiết lộ bí mật này là gì và mình đã vén bức màn bí ẩn đó ra sao.
Tất cả những điều này, vào một ngày nào đó, sẽ trở thành chủ đề của một câu chuyện rất độc đáo mà người viết tiểu sử của tôi cho xuất bản dựa trên các ghi chép của tôi. Đó sẽ là một trang đây thú vị trong lịch sử nước Pháp mà con cháu chúng ta sẽ thích thú vô cùng khi đọc.
Còn bây giờ, tôi còn nhiều việc quan trọng hơn phải làm. Quá chán nản khi thấy các nhiệm vụ mình từng đảm nhận rơi vào những bàn tay vô dụng, quá mệt mỏi khi thấy vụ án Kesselbach-Altenheim vẫn mãi giậm chân tại chỗ, tôi bãi nhiệm ông Weber, và sẽ tiếp tục vị trí danh dự mà mình từng đảm nhiệm, với sự lỗi lạc và được đông đảo công chúng hài lòng, dưới cái tên ông Lenormand.
Kẻ hầu cận trung thành của ngài,
Arsène Lupin,
Trưởng phòng Điều tra.”
2.
Tám giờ tối, Arsène Lupin và Jean Doudeville cùng bước vào nhà hàng Caillard, một nhà hàng sang trọng. Lupin mặc quần áo dạ tiệc, nhưng vẫn theo phong cách nghệ sĩ, với chiếc quần khá rộng và cà vạt để lơi, còn Doudeville mặc áo khoác đuôi tôm, dáng vẻ và khí chất nghiêm nghị như một vị quan tòa.
Cả hai ngồi xuống một góc hơi khuất, bị hai cây cột ngăn cách với gian phòng lớn.
Một viên giám sát phục vụ ăn mặc chuẩn mực, điệu bộ khinh khỉnh, tay cầm cuốn sổ nhỏ tới bàn của họ để ghi món. Lupin chọn món rất khéo, cho thấy mình là một người rất sành về ẩm thực.
“Dĩ nhiên rồi.” Anh ta nói. “Cuộc sống trong tù cũng tạm chấp nhận được, nhưng thưởng thức một bữa ăn được chọn lựa cẩn thận vẫn là nhất.”
Anh ta dùng bữa một cách rất ngon miệng và không nói năng gì, thỉnh thoảng mới thốt ra đôi câu ngắn gọn thể hiện mối bận tâm trong lòng.
“Tất nhiên, mình sẽ xoay xở được... nhưng sẽ khó nhằn lắm... Đúng là tay đối thủ xứng tầm!... Mình chỉ phân vân ở chỗ, sau sáu tháng vật lộn, mình thậm chí vẫn không biết hắn ta muốn gì!... Đồng phạm chính thì đã chết, cả hai đều đi đến gần đoạn cuối trận chiến, thế mà đến tận giờ mình vẫn không hiểu rốt cuộc hắn muốn giở trò gì... Ngươi muốn gì thế hả, tên khốn?... Kế hoạch của mình rất rõ ràng: Nắm giữ Đại công quốc, đưa Đại công tước của mình lên ngôi, gả Geneviève làm vợ cậu ta... và trị vì. Những chuyện này mình thấy sáng suốt, chính đáng và công bằng. Nhưng còn hắn, kẻ thấp hèn, con ma trong bóng tối đó, hắn muốn nhắm đến mục tiêu nào?”
Anh ta gọi: “Anh bồi!”
Người giám sát phục vụ ban nãy tiến lại gần.
“Vâng, thưa ngài?”
“Xì gà.”
Người nọ quay gót, một lúc sau, anh ta mang tới vài chiếc hộp và mở nắp ra.
“Anh muốn giới thiệu loại nào?” Lupin hỏi.
“Hãng Upman này rất xuất sắc, thưa ngài.”
Lupin lấy một điếu Upman cho Doudeville, rồi lấy một điếu cho mình và cắt ra. Người giám sát quẹt một que diêm và giữ diêm cho anh ta. Bất thình lình, Lupin tóm chặt lấy cổ tay người đó.
“Im miệng... Tôi biết anh là ai... Tên thật của anh là Dominique Lecas!”
Người đàn ông to khỏe cố giằng tay ra. Y cố nén tiếng kêu đau đớn. Lupin đang vặn cổ tay y.
“Tên anh là Dominique... Anh sống ở đường Pompe, trên tầng bốn, nơi anh trú ngụ sau khi nghỉ việc cùng một khoản nhỏ có được khi làm cho - này nghe đây, thằng ngốc, im lặng mà nghe không tôi vặn gãy hết xương trên người anh đấy! - khi làm cho Nam tước Altenheim, cụ thể là làm quản gia cho nhà hắn.”
Người kia chết sững, mặt tái mét vì sợ hãi.
Xung quanh họ, gian phòng nhỏ vắng tanh. Kế bên, trong gian nhà hàng lớn, chỉ có ba quý ông đang hút thuốc, và hai cặp đôi vừa nói chuyện vừa uống rượu.
“Anh thấy đấy, chúng ta hãy yên lặng... Chúng ta có thể nói chuyện tử tế mà.”
“Anh là ai? Anh là ai?”
“Anh không nhớ tôi sao? Chà, hãy nhớ lại bữa trưa trứ danh ở đường Villa Dupont đi!... Chính anh, ông bạn già, chính anh là người đã mời tôi đĩa bánh ngọt... Thứ bánh đó!”
“Thân vương... Thân vương..” Người nọ lắp bắp.
“Phải, phải, Thân vương Arsène, chính Thân vương Lupin bằng xương bằng thịt đây... A ha! Anh thở đều lại rồi đấy!... Anh đang tự nhủ rằng là Lupin thì không việc gì phải sợ, đúng không? Chà, bạn thân mến ạ, anh phải sợ đủ thứ đấy.” Lupin lấy trong túi ra một tấm danh thiếp và đưa cho người giám sát phục vụ xem. “Đây này, nhìn mà xem, tôi bây giờ là người của phía cảnh sát. Không tránh được. Đó là chốn tất cả chúng ta cuối cùng đều phải dừng chân, tất cả những vua trộm và ông hoàng tội phạm.”
“Vậy thì sao?” Người giám sát nói, nhưng giọng vẫn lo lắng tợn!
“Vậy thì sao à? Tới chỗ vị khách đang gọi anh ở đằng kia, phục vụ anh ta rồi quay trở lại đây. Trên hết, nhớ cho kĩ, chớ có giở trò, chớ có tìm cách trốn. Tôi có mười người ngoài đó đang theo dõi từng bước chân anh đấy. Đi đi!”
Người giám sát phục vụ vâng lời. Năm phút sau, y quay lại, đứng ở trước bàn, lưng quay ra phía gian chính, làm bộ như đang trò chuyện với khách về chất lượng xì gà của nhà hàng, nói: “Rồi, anh muốn gì?”
Lupin xếp mấy tờ một trăm franc lên mặt bàn.
“Mỗi câu trả lời chính xác cho câu hỏi của tôi, anh sẽ được một tờ.”
“Được!”
“Bắt đầu nhé! Các anh có bao nhiêu người làm việc cho Nam tước Altenheim?”
“Bảy, không tính tôi.”
“Không còn ai nữa?”
“Không! Chỉ có một lần chúng tôi thuê mấy công nhân từ Ý sang để đào các lối ngầm dưới biệt thự Hoa Tử Đằng ở Garches thôi.”
“Có hai nhánh đường hầm à?”
“Đúng vậy, một nhánh dẫn đến căn nhà Cẩm Tú Cầu, nhánh kia rẽ từ đường đầu tiên ra và chạy bên dưới nhà bà Kesselbach.”
“Để làm gì?”
“Bắt cóc bà Kesselbach.”
“Hai cô hầu, Suzanne và Gertrude, có phải là đồng phạm không?
“Phải!”
“Họ ở đâu rồi?”
“Ra nước ngoài rồi.”
“Còn bảy người bạn cùng băng đảng với Altenheim của anh đâu?”
“Tôi đã ra khỏi nhóm đó rồi. Họ thì vẫn tiếp tục làm.”
“Tôi có thể tìm họ ở đâu?”
Dominique ngập ngừng. Lupin lần lượt giở hai tờ bạc một trăm franc ra và nói: “Tính thận trọng mang lại vinh dự cho anh, Dominique a. Nhưng anh phải nuốt nó xuống và trả lời thôi.”
Dominique trả lời: “Số 3, đường Đồng Khởi, Neuilly. Một người trong số đó được gọi là Lái Buôn.”
“Tốt lắm! Còn bây giờ, tên... là tên thật của Altenheim ấy... Hắn tên là gì? Anh biết chứ
“Biết, là Ribeira.”
“Dominique, anh muốn gây chuyện đấy à? Ribeira chỉ là tên giả. Tôi đang hỏi anh tên thật kia mà.”
“Parbury.”
“Đó vẫn là tên giả.”
Người giám sát phục vụ ngần ngại. Lupin lại giở ra ba tờ bạc một trăm franc.
“Xì! Mình còn sợ cái gì nữa chứ!” Người giám sát phục vụ nói. “Rốt cuộc thì anh ta đã chết rồi, phải không? Chết từ đời tám hoánh nào rồi!”
“Tên hắn là gì?” Lupin hỏi.
“Tên anh ta ư? Kỵ sĩ de Malreich.”
Lupin giật nẩy mình.
“Gì cơ? Anh vừa nói gì? Kỵ sĩ?... Nhắc lại... Kỵ sĩ...?”
“Raoul de Malreich.”
Đôi bên im lặng một lúc lâu. Lupin, mắt nhìn chằm chằm vào khoảng không trước mặt, miên man nghĩ đến cô gái điên ở lâu đài Veldenz, cô gái đã chết vì bị đầu độc. Isilda cũng mang họ Malreich. Họ của một quý tộc nhỏ bé người Pháp đã bước vào triều đình Veldenz hồi thế kỷ XVII.
Anh ta hỏi tiếp: “Tay Malreich này là người nước nào?”
“Người gốc Pháp, nhưng sinh ra ở Đức... Tôi từng xem qua vài giấy tờ của anh ta... Vì thế tôi mới biết được tên thật của anh ta... Ái chà, nếu anh ta mà biết chuyện đó, chắc anh ta sẽ vặn cổ tôi.”
Lupin ngẫm nghĩ một hồi và nói: “Anh ta là người ra lệnh trực tiếp cho các anh à?”
“Đúng vậy!”
“Nhưng liệu anh ta có đồng phạm, hay cộng sự nào nữa không?”
“À! Suỵt... suỵt...!”
Vẻ sợ hãi tột cùng đột nhiên hiện rõ trên mặt người giám sát. Lupin nhận thấy đó chính là nỗi kinh hãi và ghê tởm mà bản thân anh ta cũng cảm thấy mỗi khi nghĩ đến kẻ sát nhân.
“Đó là ai? Anh đã gặp hắn bao giờ chưa?”
“Ôi, đừng nói về người đó... Chúng ta không nên nói về người đó.”
“Hắn là ai, tôi đang hỏi anh đấy!”
“Người đó là trùm... là thủ lĩnh... không ai biết người đó cả.”
“Nhưng anh đã nhìn thấy hắn... Trả lời tôi. Anh đã nhìn thấy hắn bao giờ chưa?”
“Đôi khi, trong bóng tối... Vào ban đêm. Chưa bao giờ vào ban ngày cả. Người đó ra lệnh qua những mẩu giấy nhỏ... hoặc qua điện thoại.”
“Tên của hắn?
“Tôi không biết. Chúng tôi chưa bao giờ nói về người đó. Gở lắm!”
“Hắn ta mặc đồ đen, phải không?”
“Phải, đồ đen. Người đó thấp và mảnh khảnh... tóc vàng….”
“Và hắn ta giết người, đúng chứ?”
“Đúng vậy, người đó giết người... giết người mà cứ như véo trộm một mẩu bánh mì vậy.”
Giọng người giám sát phục vụ run run. Y nài nỉ: “Xin hãy dừng chủ đề này lại... Không nên nói về người đó... Tôi nói thật với anh... Gở lắm!”
Lupin im lặng. Dẫu không muốn, anh ta vẫn bị nỗi thống khổ của người đàn ông to lớn kia gây ấn tượng mạnh. Anh ta ngồi trầm ngâm hồi lâu rồi đứng dậy và nói với người phục vụ: “Đây, đây là tiền của anh; nhưng nếu anh muốn sống yên ổn, hãy khôn ngoan, chớ hé với bất kỳ ai một lời về cuộc nói chuyện ngày hôm nay của chúng ta.”
Lupin rời nhà hàng cùng Doudeville, lẳng lặng đi bộ đến cổng vòm Saint-Denis [40] . Dọc đường, anh ta không nói một lời nào, chỉ đắm chìm trong suy nghĩ về tất cả những gì mình vừa được biết. Cuối cùng, anh ta nắm lấy cánh tay người bạn đồng hành và nói: “Nghe cho kĩ này, Doudeville. Cậu đến nhà ga phía bắc, bắt chuyến tàu tốc hành đi Luxembourg. Rồi cậu đến Veldenz, thủ phủ của Đại công quốc Deux-Ponts-Veldenz. Tới tòa thị chính, cậu sẽ dễ dàng lấy được giấy khai sinh của kỵ sĩ de Malreich và thông tin về gia đình của anh ta. Ngày mốt, tức thứ Bảy, cậu hãy trở về đây.”
“Tôi có phải báo với Phòng Điều tra không?”
“Cứ để tôi lo. Tôi sẽ cáo ốm cho cậu. À, còn một chuyện nữa: Trưa thứ Bảy, đúng mười hai giờ, tới gặp tôi ở quán cà phê nhỏ trên đường Đồng Khởi, tên là quán Buffalo. Hãy ăn mặc như giới thợ thuyền.”
◇
Ngày hôm sau, Lupin mặc áo ngắn, đầu đội mũ lưỡi trai, đi xuống Neuilly và bắt đầu điều tra căn nhà số 3 trên đường Đồng Khởi. Từ cổng đi vào là một cái sân, và ở đó, anh ta thấy một khu nhà rộng lớn dành cho tầng lớp lao động một loạt lối đi và nhà xưởng tập trung rất đông thợ thủ công, phụ nữ và trẻ em. Chỉ mất có mấy phút, anh ta đã giành được thiện cảm của bà gác cổng và anh ta tiếp tục tán gẫu với bà cả tiếng đồng hồ về mọi chủ đề. Trong thời gian đó, anh ta để ý thấy có ba người lần lượt đi vào cổng, cung cách của họ khiến anh ta chú ý.
“Những con thú phải săn đây rồi.” Anh ta nghĩ. “Và là những con thú bốc mùi nồng nặc... Con nọ theo sau con kia nhờ đánh hơi thấy mùi của nhau... Nhìn cũng đàng hoàng lắm thay, nhưng con mắt lại là của con thú đang bị săn đuổi, con thú biết kẻ thù rình rập xung quanh và mọi bụi rậm, mọi ngọn cỏ đều có thể che giấu một cạm bẫy.”
Chiều hôm đó và sáng thứ Bảy, anh ta tiếp tục theo dõi và đã biết chắc chắn bảy tên đồng bọn của Altenheim đều sống cả trong khu nhà này. Bốn kẻ trong đó công khai hành nghề buôn bán quần áo cũ. Hai kẻ khác bán báo, người thứ bảy tự nhận là người buôn đồ cũ, vì thế người ta mới gọi hắn bằng biệt danh Lái Buôn.
Chúng đi ra đi vào, tên nọ theo sau tên kia và luôn tỏ ra không hề quen biết nhau. Nhưng đến tối, Lupin phát hiện ra chúng gặp nhau ở một nơi kiểu như nhà để xe ngựa nằm ở cuối con đường trong cùng, chỗ tên buôn đồ cũ dùng làm kho chứa đống hàng hóa của mình: bàn là cũ, bếp lò hỏng, ống khói lò gỉ sét... Và chắc chắn, trong đống lộn xộn kia còn có những món đồ chúng ăn cắp được.
“Xem nào!” Lupin tự nhủ. “Công việc đang tiến triển tốt. Mình đã xin “ông anh họ” bên Đức một tháng, nhưng mình thấy chỉ hai tuần là đủ. Và điều khiến mình hạnh phúc nhất là: Mình sắp được xử lý đám vô lại đã dìm mình xuống đáy sông Seine. Gourel tội nghiệp của tôi, cuối cùng tôi cũng trả thù cho cậu được rồi. Sắp rồi!”
Mười hai giờ trưa, anh ta vào nhà hàng Buffalo, một quán ăn nhỏ xíu, trần thấp tè, nơi cánh thợ xây và đánh xe đến ăn trưa. Có người đến và ngồi xuống bên cạnh anh ta.
“Xong rồi, thưa thủ lĩnh.”
“A! Là cậu, Doudeville đấy à? Tốt lắm! Tôi sốt ruột lắm rồi đây. Cậu có các thông tin cần thiết rồi chứ? Giấy khai sinh? Nhanh, nói đi!”
“Chà, là thế này: Cha và mẹ của Altenheim đã chết ở nước ngoài.”
“Bỏ qua họ đi.”
“Họ để lại ba đứa con.”
“Ba à?”
“Đúng vậy! Năm nay, người anh cả sẽ tròn ba mươi tuổi. Tên anh ta là Raoul de Malreich.”
“Chính là Altenheim của chúng ta. Sao nữa?”
“Người con út là con gái, Isilda. Trong sổ đăng ký có ghi một dòng mới, còn tươi màu mực: Đã mất.”
“Isilda... Isilda...” Lupin nhắc lại. “Đúng như tôi nghĩ: Isilda là em gái của Altenheim... Nhìn mặt cô gái, tôi cứ thấy nét gì đó quen quen... Vậy là giữa hai người họ có một sợi dây liên kết... Thế còn người còn lại, người thứ ba, hay đúng hơn là người con thứ hai?
“Một người con trai. Năm nay anh ta hai mươi sáu tuổi.”
“Tên anh ta là gì?”
“Louis de Malreich.”
Lupin giật mình. “Đúng rồi! Louis de Malreich... Viết tắt là L. M. Chữ ký khủng khiếp và kinh hoàng đó!... Tên giết người là Louis de Malreich... Hắn là em trai của Altenheim và là anh trai của Isilda, hắn đã giết cả hai người họ vì sợ họ tiết lộ...”
Lupin ngồi thừ ra một lúc lâu, im lặng và ủ dột vì ám ảnh với kẻ bí ẩn nọ - chắc chắn là thế.
Doudeville gạt đi. “Hắn có gì mà phải sợ cô em Isilda của mình chứ? Cô gái đó bị điên mà, tôi nghe người ta nói thế.”
“Điên, đúng là như vậy, nhưng vẫn có khả năng nhớ được một vài chi tiết về thời thơ ấu của mình. Cô gái hẳn sẽ nhận ra người anh trai lớn lên cùng mình... Và ký ức đó đã khiến cô ấy phải trả giá bằng mạng sống.”
Và anh ta nói thêm: “Điên! Tất cả những người đó đều điên... Người mẹ - điên... Người cha - nghiện rượu... Altenheim - con thú hung ác thực sự... Isilda, một cô gái điên tội nghiệp... Còn kẻ kia, tên cuồng sát, hắn là một con quái vật, tên tâm thần mất trí...”
“Mất trí ư? Ngài nghĩ vậy thật ư, thủ lĩnh?”
“Đúng, mất trí! Với trí óc thiên tài, sự xảo quyệt và trực giác của quỷ, nhưng lại là một kẻ loạn trí, một kẻ điên như tất cả những người trong gia đình Malreich này. Chỉ có những kẻ điên mới giết người và nhất là hạng điên cuồng như hắn. Bởi vì, suy cho cùng...”
Anh ta dừng lại, mặt cau vào, rúm ró, khiến Doudeville không khỏi giật mình.
“Có chuyện gì vậy, thưa thủ lĩnh?”
“Nhìn kìa!”
3.
Một người đàn ông vừa bước vào, treo mũ lên trên móc - một chiếc mũ phớt mềm màu đen. Hắn ngồi xuống chiếc bàn nhỏ, xem thực đơn mà một bồi bàn đưa cho mình, gọi món và chờ đợi. Hắn ngồi yên bất động, người thẳng băng, hai tay bắt tréo trên mặt bàn trải khăn.
Và Lupin nhìn trọn gương mặt hắn.
Mặt hắn gầy gò, thô cứng, hoàn toàn nhẵn nhụi, không râu cũng không tóc, hõm vào hai cái hốc sâu hoắm đính cặp mắt xám xịt màu thép. Da của hắn cứ như bị căng từ mẩu xương này sang mẩu xương khác, giống như một tờ giấy da, cứng, dày đến nỗi không sợi lông nào có thể xuyên qua được.
Bộ mặt đó tối tăm và ảm đạm. Không một biểu cảm nào xuất hiện trên gương mặt để giúp nó có một chút sống động. Không một ý nghĩ nào có vẻ như đang tồn tại dưới cái trán màu ngà kia; và mí mắt của hắn hoàn toàn không có lông mi, không thấy chớp bao giờ, làm cho cặp mắt trơ trơ bất động hệt như mắt tượng.
Lupin ra hiệu cho một bồi bàn trong quán.
“Quý ông kia là ai thế?”
“Người đang ngồi ăn ở đằng kia ạ?”
“Phải!”
“Anh ta là thực khách ở đây. Mỗi tuần, anh ta ghé quán chúng tôi chừng hai, ba lần.”
“Anh có biết tên anh ta không?”
“Tất nhiên!... Léon Massier.”
“Ồ!” Lupin buột miệng, vẻ xúc động mạnh. “L. M... Cũng là hai chữ cái đó... Có lẽ nào là Louis de Malreich?”
Anh ta hau háu nhìn hắn. Quả thật, vẻ bề ngoài của gã đàn ông kia hoàn toàn khớp với những gì Lupin ước đoán, với những gì anh ta biết về hắn và sự tồn tại ghê tởm của hắn. Nhưng điều khiến anh ta bối rối nhất chính là cái nhìn đầy chết chóc của gã nọ. Anh ta những mong sẽ nhìn thấy sự sống và nhiệt huyết, nỗi giày vò, sự hỗn loạn, nét mặt nhăn nhó đớn đau trước số phận hẩm hiu, nhưng chỉ thấy vẻ vô cảm tuyệt đối.
Lupin nói với cậu bồi bàn: “Anh ta làm nghề gì vậy?”
“Chà, tôi cũng chẳng biết đằng nào mà lần. Anh ta lập dị lắm... Lúc nào anh ta cũng chỉ đi một mình... Anh ta không bao giờ nói chuyện với ai... Chưa một ai trong số chúng tôi ở đây từng nghe thấy giọng của anh ta... Anh ta chỉ tay vào các món trên thực đơn để gọi món... Anh ta dùng bữa trong khoảng hai mươi phút, rồi trả tiền và ra về...”
“Sau đó, anh ta quay lại chứ?”
“Cứ cách ba, bốn ngày anh ta lại đến chứ không ghé thường xuyên.”
“Chính là hắn, chỉ có thể là hắn mà thôi, không phải ai khác.” Lupin tự nhủ. “Đó là Malreich. Hắn kia rồi... đang hít thở... ngay trước mặt mình, cách mình chỉ có bốn bước chân. Kia là đôi bàn tay giết chóc. Kia là bộ não say mùi máu... Kia là con quái vật, ma cà rồng!...”
Dẫu vậy, liệu có thể như thế không? Khi nhìn thấy hắn bằng xương bằng thịt, đến và đi, và cử động, Lupin không còn coi Malreich là một sinh vật kỳ quái khiến anh ta phải hoang mang mỗi khi nghĩ tới nữa. Anh ta không thể hiểu tại sao gã nọ lại có thể ăn bánh mì và thịt giống như bao con người khác, và hắn cũng uống bia như những người xung quanh. Trong tưởng tượng của anh ta, anh ta cứ ngỡ kẻ kia sẽ giống như loài súc sinh bẩn thỉu, sống nhờ ăn thịt và hút máu nạn nhân của mình.
“Đi thôi, Doudeville!”
“Có chuyện gì vậy, thủ lĩnh? Nhìn ngài tái lắm.”
“Tôi cần chút không khí. Chúng ta hãy ra ngoài đi.”
Ra đến bên ngoài, Lupin hít một hơi thật sâu, lau vầng trán đẫm mồ hôi và nói khẽ: “Thế tốt hơn rồi. Tôi muốn nghẹt thở.”
Và, sau một lúc trấn tĩnh, anh ta tiếp tục: “Doudeville ạ, ta sắp thu được kết quả rồi. Tôi cứ mò mẫm tìm đường chống lại kẻ thù vô hình đã hàng tuần liền. Rồi đột nhiên, tình cờ hắn lại xuất hiện ngay trước mặt tôi! Bây giờ, hai bên đều cân sức.”
“Chúng ta có nên chia tay nhau không, thưa thủ lĩnh? Gã đàn ông của chúng ta đã nhìn thấy chúng ta đi cùng nhau. Ta đi riêng sẽ khiến hắn bớt chú ý hơn.”
“Hắn đã nhìn thấy chúng ta rồi ư?” Lupin trầm ngâm, nói. “Tôi cứ tưởng hắn chẳng thấy gì, chẳng nghe gì, và cũng chẳng nhìn vào đâu cả. Đúng là một gã khó hiểu!”
Và, quả thật, mười phút sau, Léon Massier xuất hiện, cứ thế rảo bước, không hề để ý xem mình có bị theo dõi hay không. Hắn châm một điếu thuốc và hút, đặt một tay ra sau lưng, tha thẩn như một người đi tản bộ đang tận hưởng ánh nắng và không khí trong lành ngoài trời, không mảy may ngờ rằng có người đang theo dõi từng bước chân của mình.
Hắn băng ngang qua cổng thu phí, đi bộ dọc theo các công sự, rồi lại ra ngoài qua cổng Champerret và quay ngược về đường Đồng Khởi.
Hắn sẽ vào khu nhà ở số 3 đường này chứ? Lupin nóng lòng muốn hắn rẽ vào đó, vì đấy sẽ là một bằng chứng chắc chắn chứng minh hắn đồng lõa với băng đảng Altenheim; nhưng hắn lại rẽ sang hướng khác và đi về phía đường Delaizement, rồi cứ đi dọc đường này cho đến khi vượt qua trường đua xe đạp Vélodrome Buffalo.
Phía bên trái, đối diện với trường đua xe đạp, giữa các sân quần vợt cho thuê và những cái lán bé tí nằm dọc theo đường Delaizement, có một căn nhà đơn lập, bao xung quanh là một khu vườn nhỏ xíu. Léon Massier dừng lại, lấy ra chùm chìa khóa, mở cổng vườn trước, rồi mở cửa nhà và khuất dạng.
Lupin thận trọng bước tới. Anh ta ngay lập tức nhận ra phần đuôi của khu nhà bên đường Đồng Khởi kéo dài đến tận tường khu vườn này. Đến gần hơn, anh ta thấy bức tường này rất cao, và có một căn nhà nhỏ xíu dùng để cất xe ngựa dựng ở cuối vườn, sát vào tường. Quan sát vị trí, anh ta biết chắc chắn nhà để xe bên này áp lưng vào nhà để xe bên sân trong khu số 3 đường Đồng Khởi - chỗ dùng làm kho chứa đồ của gã Lái Buôn.
Như vậy, Léon Massier sống trong một ngôi nhà liền kề với chỗ bảy tên đồng bọn trong băng đảng Altenheim gặp nhau. Từ đó suy ra, Léon Massier thực sự là ông trùm, là thủ lĩnh tối cao chỉ huy băng đảng này, và rõ ràng, có một đường thông giữa hai nhà để xe, hắn đi qua lối đó để gặp gỡ đàn em.
“Quả như mình nghĩ.” Lupin nói. “Léon Massier và Louis de Malreich là một. Chuyện hóa ra lại đơn giản đến vậy.”
“Chắc chắn là như vậy rồi.” Doudeville đồng tình. “Vài hôm nữa, mọi chuyện sẽ được giải quyết xong xuôi.”
“Thế nghĩa là tôi sẽ lãnh một nhát dao vào cổ họng.”
“Ngài đang nói gì vậy, thủ lĩnh? Phỉ phui!”
“Xì! Ai mà biết được! Tôi luôn có linh cảm con quái vật kia sẽ mang lại vận rủi cho mình.”
◇
Kể từ lúc đó, việc cần làm chỉ là theo dõi sát sao cuộc sống của Malreich, để không một động tĩnh nào của hắn bị bỏ qua. Cuộc sống của hắn, theo lời mấy người hàng xóm mà Doudeville dò hỏi, kỳ quặc vô cùng. “Người trong căn nhà đó”, như cách họ gọi hắn, chỉ mới ở đó được vài tháng. Hắn chẳng gặp và cũng chẳng tiếp ai. Chẳng thấy hắn có người hầu, người ở gì. Và cửa sổ, dù lúc nào cũng mở toang, kể cả vào ban đêm, vẫn luôn tối như hũ nút, chẳng bao giờ thấy trong nhà thắp đèn hay thắp nến.
Chẳng những thế, Léon Massier đa phần đều không ở nhà, mãi đến tối muộn... thậm chí là tới lúc mặt trời mọc, mới thấy hắn về nhà - những người vô tình gặp hắn lúc bình minh nói như vậy.
“Có ai biết hắn làm nghề gì không?” Lupin hỏi người bạn đồng hành vào lần gặp tiếp theo.
“Không! Cách sinh hoạt của hắn vô cùng bất thường. Thỉnh thoảng hắn biến mất suốt mấy ngày liền... Hay đúng hơn là, ở lì trong nhà. Tựu trung không một ai biết gì về hắn cả.”
“Chà, chúng ta sẽ biết, sớm thôi.”
Anh ta đã nhầm. Sau tám ngày nỗ lực điều tra liên tục, anh ta vẫn không biết gì thêm về con người kỳ dị này. Có một điều quái lạ xảy ra liên tục: Khi Lupin bám theo hắn, hắn - con người kỳ dị - vẫn đang chậm rãi thả bộ dọc các con phố, không rẽ cũng không dừng lại ở bất kỳ đâu, bỗng bất thình lình biến mất như thể có ma thuật nào phù phép. Đúng vậy, thỉnh thoảng, hắn khuất dạng giữa những dãy nhà có hai lối vào. Nhưng những lúc khác, hắn cứ như tan biến vào trong không khí, ngay giữa phố đông hệt như một bóng ma. Và Lupin bị bỏ lại, chết sững kinh ngạc, điên lên vì giận dữ và bối rối.
Anh ta lập tức chạy như bay đến đường Delaizement và đứng canh bên ngoài căn nhà. Thời gian cứ thế trôi qua, từng phút một, rồi từng nửa giờ một. Đêm đã trôi được một phần. Rồi, đột ngột, lại thấy gã đàn ông bí ẩn lởn vởn ngay phía trước. Hắn có thể đang làm gì được nhỉ?
4.
“Có tin khẩn gửi cho ngài, thưa thủ lĩnh.” Doudeville nói với Lupin lúc họ gặp nhau trên đường Delaizement, khi đó khoảng tám giờ tối.
Lupin xé phong bì. Bà Kesselbach cầu xin hắn tới giúp. Lúc màn đêm buông xuống, hai người đàn ông dừng lại phía dưới cửa sổ nhà và một trong hai kẻ đó đã nói: “May thật, lần này chúng ta đã khiến chúng lóa mắt hoàn toàn... Vậy là hiểu rồi nhé, đêm nay, chúng ta sẽ ra tay.”
Bà Kesselbach nghe vậy, bèn chạy xuống cầu thang và phát hiện ra cửa chớp ở phòng cất thức ăn không còn đóng nữa, hoặc ít nhất, người bên ngoài có thể mở được cửa.
“Vậy là cuối cùng…” Lupin nói. “Chính kẻ thù là kẻ khiêu chiến. Hay lắm! Tôi quá mệt với việc quanh quẩn dưới cửa sổ nhà Malreich rồi.”
“Bây giờ hắn có nhà không?”
“Không, hắn lại giở trò cũ ở Paris với tôi, ngay lúc tôi định chơi cho hắn một võ. Nhưng, trước hết, nghe tôi nói đây, Doudeville. Đi tập hợp mười người mạnh nhất của chúng ta lại đường Vignes. Nghe này, đưa cả Marco và Jérôme tới nữa. Sau chuyện ở khách sạn Palace, tôi đã cho họ nghỉ ngơi từ đó tới giờ. Lần này hãy để họ tham gia. Bố già Charolais và con trai ông ta giờ này chắc đang tuần tra ở đó rồi. Cậu tới sắp xếp với họ nhé, và tới mười một giờ rưỡi, cậu sẽ cùng tôi đến góc đường Vignes và đường Raynouard. Chúng ta sẽ theo dõi ngôi nhà từ chỗ đó.”
Doudeville quay gót. Lupin đợi thêm một tiếng nữa, cho đến khi con đường Delaizement yên tĩnh hoàn toàn vắng lặng, và rồi, thấy Léon Massier vẫn không về nhà, anh ta quyết định đến chỗ ngôi nhà.
Xung quanh không có ai... Anh ta chạy lấy đà và nhảy lên gờ đá đỡ chấn song ở hàng rào bao quanh khu vườn. Mấy phút sau, anh ta đã vào được bên trong.
Kế hoạch của anh ta vốn là bẻ khóa cửa ngôi nhà, lục soát các căn phòng để tìm những bức thư nổi tiếng của Hoàng đế bị Malreich đánh cắp ở Veldenz. Nhưng anh ta nghĩ, tới kiểm tra nhà để xe là việc cấp thiết hơn.
Anh ta rất ngạc nhiên khi thấy cửa nhà để xe đang mở, và khi soi đèn vào trong, anh ta càng bất ngờ hơn khi bên trong hoàn toàn trống rỗng, cũng không có cánh cửa nào trên bức tường phía cuối gian nhà. Anh ta tìm một lúc lâu nhưng hoàn toàn không được gì. Tuy nhiên, ở bên ngoài, anh ta thấy có một cái thang bắc vào nhà để xe và rõ ràng, cái thang đó dùng để leo lên cái gác xép nhỏ dưới mái nhà bằng đá phiến.
Trên gác xép chất đầy những thùng gỗ cũ, những bó rơm và các loại khung dùng để làm vườn, hoặc là trông nó có vẻ chất đầy những thứ đó, vì chẳng mấy chốc, Lupin phát hiện ra một lối nhỏ dẫn anh ta đến một bức tường. Tới đó, anh ta thấy có một cái khung dùng để cho dưa chuột leo chắn trước mặt. Anh ta tìm cách nhấc cái khung ra mà mãi không được. Anh ta bèn quan sát kĩ hơn và nhận ra cái khung bị đóng cố định vào tường chưa hết, cái khung này bị khuyết một ô. Anh ta thử thò tay xuyên qua chỗ khuyết. Hóa ra, bên kia là một không gian trống. Anh ta giơ ngọn đèn qua và thấy đó là một nhà kho lớn, lớn hơn nhà để xe của ngôi nhà bên này và chứa đầy những món đồ bằng sắt đã cũ cùng đủ các loại đồ vật khác.
“Ra thế!” Lupin nhủ thầm. “Khung cửa này trổ sang nhà kho của gã Lái Buôn, ngay trên đỉnh. Chính từ đây, Louis de Malreich có thể nhìn, nghe và theo dõi đồng bọn của mình mà không bị chúng nhìn hay nghe thấy. Giờ thì mình đã hiểu vì sao chúng không biết tay đầu lĩnh.”
Phát hiện ra thứ mình muốn, anh ta tắt đèn và toan trở gót, đúng lúc đó, cánh cửa bên dưới phía đối diện anh ta mở ra. Có người bước vào. Một ngọn đèn được thắp lên. Anh ta nhận ra đó là gã Lái Buôn. Thấy vậy, anh ta quyết định ở lại, vì phi vụ của chúng chắc chắn chưa thể thực hiện khi gã Lái Buôn còn có mặt ở đây.
Gã Lái Buôn rút trong túi ra hai khẩu súng lục. Gã kiểm tra cò súng, thay băng đạn, vừa làm vừa huýt sáo theo một bài hát đại chúng.
Cứ thế, một tiếng đồng hồ trôi qua. Lupin bắt đầu sốt ruột, nhưng vẫn chưa quyết rời khỏi chỗ này.
Mấy phút nữa trôi qua, rồi nửa giờ, một giờ...
Cuối cùng, gã đàn ông nói lớn: “Vào đi!”
Một tên trong băng cướp chui vào nhà kho, sau đó là một tên khác, rồi đến tên thứ ba, thứ tư...
“Cả bọn đã tập trung đầy đủ cả rồi.” Lái Buôn nói. “Thằng Dieudonné và thằng Múp sẽ gặp chúng ta ở đó. Nào, không còn thời gian đâu... Mày có vũ khí chưa?”
“Tới tận răng.”
“Tốt lắm! Việc hôm nay hấp dẫn lắm đấy.”
“Sao mày biết hả Lái Buôn?”
“Tao gặp ông trùm rồi... Ừm... không phải gặp, mà là ông ta nói với tao...”
“Phải!” Một tên phụ họa. “Trong bóng tối, ở một góc đường, vẫn như mọi khi. Chà, tao thích cách làm việc của Altenheim hơn nhiều. Ít nhất bọn mình còn biết mình đang làm cái gì.”
“Mày không biết á?” Lái Buôn vặn lại. “Bọn mình sẽ đột nhập vào nhà vợ tay Kesselbach.”
“Thế còn hai tên canh gác ở đó thì sao? Hai tên mà gã Lupin cắt cử ấy.”
“Xúi quẩy cho bọn chúng, bọn ta có tới bảy người. Tốt nhất là chúng chớ có quấy rầy bọn ta quá.”
“Thế còn ả Kesselbach đó thì sao?”
“Đầu tiên là bịt miệng ả lại, bịt mắt rồi đưa ả tới đây... Kia, ném ả lên chiếc ghế xô pha cũ kia... Rồi chờ lệnh thôi.”
“Vụ này được trả nhiều tiền không?”
“Đầu tiên là đồ trang sức của Kesselbach.”
“Phải, ấy là nếu vụ này thành công... Nhưng tao đang nói đến khoản đã chắc chắn rồi kia!”
“Trả trước ba trăm franc cho mỗi người rồi. Xong việc thì được gấp đôi.”
“Mày cầm tiền rồi chứ?”
“Rồi!”
“Tốt lắm! Mày muốn nói sao cũng được, nhưng nói đến chuyện chia chác, không ai bằng được tay kia đâu.”
Và chúng hạ giọng nói nhỏ đến nỗi Lupin hầu như không nghe thấy gì.
“Này, Lái Buôn, nếu mình bắt buộc phải dùng đến dao thì có tiền thưởng không?”
“Vẫn như cũ thôi. Hai ngàn.”
“Nếu là Lupin thì sao?”
“Ba ngàn.”
“Chà, giá mà chúng ta bắt được hắn.”
Chúng lần lượt rời khỏi nhà kho. Lupin nghe thấy Lái Buôn nói trước khi đi khuất: “Kế hoạch tiến công thế này: Ta chia thành ba nhóm. Nghe tiếng huýt sáo thì cả bọn cùng chạy về phía trước...”
Lupin vội vã rời khỏi nơi ẩn nấp, leo xuống thang, chạy vòng qua ngôi nhà nhưng không vào mà trèo qua hàng rào.
“Tay Lái Buôn nói đúng, phi vụ này hấp dẫn thật... A, chúng muốn khử mình! Được thưởng nếu khử được Lupin cơ đấy! Quân vô lại!”
Anh ta chạy qua cửa thu phí và nhảy vào một chiếc taxi.
“Đường Raynouard.”
Anh ta cho xe dừng cách đường Vignes chừng hai trăm mét và đi bộ đến nút giao giữa hai con đường. Anh ta kinh ngạc khi không thấy Doudeville ở đó.
“Lạ thật!” Lupin nhủ thầm. “Đã quá nửa đêm rồi còn gì... Vụ này có vẻ đáng ngờ.”
Anh ta đợi mười phút, hai mươi phút. Đến mười hai giờ rưỡi, vẫn không có ai đến. Càng chậm trễ càng nguy hiểm. Xét cho cùng, nếu Doudeville và những người khác không đến được thì Charolais, con trai ông ta và Lupin vẫn đủ sức chống lại cuộc tấn công của bảy tên vô lại, ấy là chưa tính tới sự hỗ trợ của mấy người hầu trong nhà.
Nghĩ vậy, anh ta tiến lên phía trước. Nhưng anh ta trông thấy ngay bóng hai người đàn ông đang cố nấp trong bóng tối ở một góc tường.
“Chết tiệt!” Anh ta rủa thầm. “Đây là đội tiền trạm của băng cướp, Dieudonné và Múp. Mình ngốc thật, bị chúng vượt lên trước mất rồi.”
Anh ta mất nhiều thời gian ở đây nhất. Liệu anh ta có nên lao thẳng tới chỗ chúng, vô hiệu hóa chúng rồi trèo vào nhà qua cửa sổ phòng đựng thức ăn, nơi anh ta biết chắc không bị khóa? Đó là lối chắc chắn nhất, hơn nữa, còn có thể giúp anh ta đưa bà Kesselbach ra ngoài ngay lập tức và chuyển nàng đến một nơi an toàn.
Đúng, nhưng như vậy cũng có nghĩa là kế hoạch của anh ta sẽ thất bại; anh ta sẽ bỏ lỡ cơ hội có một không hai này để tóm gọn toàn bộ băng đảng, và chắc chắn, có cả Louis de Malreich trong đó nữa.
Đột nhiên, một tiếng huýt sáo vang lên từ đâu đó ở phía bên kia ngôi nhà. Những tên khác trong băng đã tới rồi chăng? Và sẽ có một mũi tấn công từ khu vườn vào nhà?
Nhưng khi nghe tín hiệu, hai gã đàn ông lại trèo qua cửa sổ và khuất dạng.
Lupin phóng một phát lên ban công và nhảy vào phòng cất thức ăn. Nghe tiếng bước chân, anh ta đoán những kẻ tấn công đã đi vào vườn, và tiếng động rất rõ khiến anh ta yên tâm hơn hẳn. Charolais và con trai ông ta nhất định cũng sẽ nghe thấy.
Yên trí, anh ta lên trên lầu. Phòng ngủ của bà Kesselbach ở ngay chiếu nghỉ đầu tiên. Anh ta vội bước vào trong.
Dưới ánh đèn ngủ, anh ta thấy Dolorès đang nằm là trên một chiếc ghế dài. Anh ta lao về phía nàng, bế bổng nàng lên, và với giọng uy nghiêm, buộc nàng phải trả lời: “Nghe này... Charolais đâu? Con trai ông ấy đâu?... Họ đang ở đâu rồi?”
Nàng lắp bắp: “Sao? Ý anh là sao?... Tất nhiên là họ đi rồi!...”
“Gì cơ? Đi rồi?”
“Anh đã nhắn tôi vậy mà... một tiếng trước... nhắn qua điện tín...”
Anh ta nhặt một mẩu giấy màu xanh rơi bên cạnh nàng và đọc:
“Cho hai người canh gác đi ngay lập tức... và tất cả người của tôi... Tôi đợi họ ở khách sạn Grand. Đừng sợ.”
“Trời ơi! Bà tin lời nhắn này?... Thế còn những người hầu của bà đâu?”
“Đi hết rồi.”
Anh ta bước tới cửa sổ. Bên ngoài, có ba người đàn ông từ cuối khu vườn đang đi tới. Qua cửa sổ ở căn phòng bên cạnh, chỗ nhìn thẳng ra đường, anh ta thấy hai người nữa trên vỉa hè.
Anh ta nghĩ tới Dieudonné, tới Múp, và trên hết, tới Louis de Malreich - kẻ chắc chắn đang rình mò đâu đây, hoàn toàn vô hình và vô cùng ghê gớm.
“Chết tiệt!” Anh ta lẩm bẩm. “Lần này, chắc mình xong thật rồi.”